1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về quyền con người trong triết học tây âu thế kỉ XVII XVIII

90 1,5K 30

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 484,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, có thể nhận thấy, ởViệt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu về quan niệm quyền con người trongtriết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII mới chỉ dừng lại ở việc khai thác những tư tưởng

Trang 1

xã hội nào, trong bất cứ kiểu nhà nước nào quyền con người cũng tồn tại vàđược thừa nhận một cách đầy đủ Vì thế, quyền con người là một phạm trùlịch sử và là kết quả của cuộc đấu tranh không ngừng của toàn nhân loại,vươn tới những lý tưởng, giải phóng hoàn toàn con người, nhằm xây dựngmột xã hội thật sự công bằng và dân chủ.

Ở Việt Nam, kể từ khi giành được độc lập (tháng 8/1945), Đảng và Nhànước ta luôn chú trọng tới vấn đề quyền con người Tuyên ngôn độc lập củanước Việt Nam dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảngtrường Ba Đình, Hà Nội ngày 2/9/1945 được coi là một văn kiện có tính lịch

sử trên phương diện quốc tế về quyền con người Trong bản tuyên ngôn đó,chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh

ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự

do Trên cơ sở đó, quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp nướcta: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiếnpháp năm 1992 Điều 50 Hiến pháp năm 1992 của nước ta khẳng định: Ởnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị,dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng và đảm bảo thực hiện

Vấn đề nhân quyền có vai trò quan trọng như vậy, nên việc giải quyếtvấn đề nhân quyền cả về mặt lý luận và thực tiễn đang là bài toán đặt ra đối

Trang 2

với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay Việc nắm vững lýluận về vấn đề này trở nên rất cần thiết trên con đường hội nhập và phát triểncủa đất nước Chính ngài Sergio Vieira De Mello, nguyên Cao ủy nhân quyềnLiên hợp quốc từng nói: “Văn hóa nhân quyền có được sức mạnh lớn nhất từnhững mong muốn hiểu biết của mỗi cá nhân Trách nhiệm bảo vệ nhânquyền là thuộc về các nhà nước Nhưng chính những hiểu biết, tôn trọng vàmong muốn về nhân quyền của mỗi cá nhân là điều mang lại kết cấu và sứcbật hàng ngày cho nhân quyền” [Dẫn theo 28, tr 6] Muốn hiểu rõ về nhânquyền, chúng ta cần nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu sắc quan niệmcủa các nhà tư tưởng trong lịch sử về nhân quyền F.Engel đã từng khẳng

định: “Một dân tộc đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể

không có tư duy lý luận, nhưng tư duy lý luận ấy cần phải được hoàn thiện vàmuốn hoàn thiện nó thì cho tới nay không còn cách nào khác hơn là phải đinghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” [36, tr 489]

Tư tưởng về nhân quyền đã có mầm mống từ thời cổ đại, được bànnhiều ở thời cận đại, đặc biệt trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII Đây

là thời kỳ mà những quan niệm về quyền con người đã có một bước phát triểnmới, tiến bộ, cách mạng và hoàn thiện hơn Tuy nhiên, có thể nhận thấy, ởViệt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu về quan niệm quyền con người trongtriết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII mới chỉ dừng lại ở việc khai thác những

tư tưởng của các triết gia riêng lẻ mà chưa có sự tổng hợp, khái quát để thấy

rõ đặc trưng trong quan niệm về quyền con người ở thời kỳ này

Với những lý do trên đây, tôi quyết định lựa chọn: “Quan niệm về quyền con người trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII” làm đề tài

nghiên cứu cho luận văn của mình

Trang 3

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những thập kỉ trước đây, do những lý do chủ quan và khách quankhác nhau, việc nghiên cứu các học thuyết triết học của các triết gia Tây Âuthế kỉ XVII - XVIII nói chung và tư tưởng về quyền con người nói riêng ởViệt Nam còn khá khiêm tốn Những tư tưởng của các nhà triết học Tây Âucận đại như: Th.Hobbes, B.Spinoza, J.Locke, Ch.S.Montesquieu,J.J.Rousseau… bắt đầu được nhắc tới trong các Tân văn, Tân thư, cũng nhưtrong các tư liệu sách báo du nhập vào Việt Nam đầu thế kỉ XX Những nămgần đây, việc nghiên cứu các tư tưởng của các nhà triết học Tây Âu thế kỉXVII - XVIII ngày càng được chú trọng nhiều hơn, do nhu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nhà nước pháp quyền Những côngtrình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề nhân quyền trong triết học Tây Âu thế kỉXVII - XVIII có thể chia thành 2 nhóm chính như sau:

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về quan niệm triết học của

các triết gia Tây Âu nói chung, trong đó có đề cập đến quyền con người:

Trước hết phải kể tới cuốn Lịch sử triết học - Triết học thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa Đây là công trình do Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô xuất

bản năm 1957 và đến 1962 được dịch sang tiếng Việt Công trình này trongkhi trình bày khái quát những tư tưởng triết học cơ bản của các nhà triết họctrong lịch sử đã đề cập tới những tư tưởng triết học cơ bản của các triết giaTây Âu thế kỉ XVII - XVIII, trong đó có một phần quan niệm chính trị - xãhội

Cuốn sách 106 nhà thông thái do P.S.Taranop biên soạn (Đỗ Minh Hợp

dịch và hiệu đính, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2000)cũng đã trình bày về cuộc đời, sự nghiệp và học thuyết chính trị của các triếtgia Tây Âu cận đại

Trang 4

Năm 2002, nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã cho tái bản cuốn Lịch sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên Công trình này đã giới thiệu một cách

khái quát về các quan niệm triết học của các triết gia Tây Âu thế kỉ XVII XVIII, trong đó chủ yếu về phương diện bản thể luận và nhận thức luận

-Cuốn sách Đại cương lịch sử triết học phương Tây của Đỗ Minh Hợp,

Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn, do nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh

ấn hành năm 2006 đã dành một thời lượng đáng kể để phân tích quan niệmchính trị - xã hội của các triết gia Tây Âu cận đại trong đó có quan niệm vềquyền con người

Tiếp theo là các công trình nghiên cứu trên bình diện chính trị học:

Lịch sử các học thuyết chính trị trên thế giới do nhà xuất bản “Đại học”

Mátxcơva xuất bản, được Phạm Hồng Thái và Lưu Kiếm Thanh dịch sang

tiếng Việt (nhà xuất bản Văn hóa thông tin, năm 2011); Đại cương lịch sử các

tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới do Nguyễn Thế Nghĩa chủ biên; Lịch sử tư tưởng chính trị của tập thể tác giả Khoa Chính trị học - Học viên

báo chí và tuyên truyền, do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm

2001; Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam do tiến sĩ Lê Tuấn Huy biên soạn và nhà xuất bản thành phố

Hồ Chí Minh xuất bản năm 2006… Các công trình trên đây đã trình bày kháiquát quan niệm chính trị - xã hội của các triết gia Tây Âu thế kỉ XVII - XVIIItrong dòng chảy của các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới

Ngoài ra, nghiên cứu về những tư tưởng triết học cơ bản của các triếtgia Tây Âu cận đại còn có một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành như:

Bài viết: Tư tưởng của J.J.Rousseau về quyền con người của tác giả

Nguyễn Thị Thanh Huyền đăng trên Tạp chí Triết học số 6/2014, tác giả đãgiới thiệu những nội dung cơ bản trong tư tưởng của triết gia người Pháp

Trang 5

J.J.Rousseau về quyền con người, qua đó đánh giá một cách khái quát tưtưởng này của ông.

Bài viết: John Locke - Nhà tư tưởng lớn của phong trào khai sáng của

tác giả Phạm Văn Đức (Tạp chí Triết học số 2/2008), tác giả đã giới thiệu vềnhững nội dung cơ bản trong tư tưởng của Locke, trong đó có tư tưởng về cácquyền tự nhiên của con người

Tác giả Lê Công Sự với bài viết “Locke và triết lý về con người” đăng

trên tạp chí Nghiên cứu con người số 3(42) năm 2009, tác giả phân tích quanniệm của J.Locke về trạng thái tự nhiên, sự phát sinh của trạng thái nô lệ vànhững quyền cơ bản của con người trong trạng thái tự nhiên, sự ra đời củakhế ước xã hội để chuyển sang trạng thái xã hội công dân Qua đó tác giả đưa

ra một số nhận xét, đánh giá quan niệm về con người của J.Locke và nhậnđịnh: “cần phải nghiên cứu, tham khảo, khai thác và tiếp biến tư tưởng tiến bộ

về con người của J.Locke trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam hiện nay” [53, 54]

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu trực tiếp tới đề tài luận văn: Cuốn Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chính quyền dân sự của

J.Locke do Lê Tuấn Huy dịch năm 2007 đã cung cấp những thông tin về thờiđại của J.Locke, thân thế sự nghiệp của triết gia này cùng những quan niệmcủa ông về vấn đề quyền con người, về phương thức đảm bảo quyền conngười, về nguồn gốc, bản chất của nhà nước và cơ chế tổ chức quyền lực nhànước

Năm 2004, nhà xuất bản Lý luận chính trị đã tái bản tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật do Hoàng Thanh Đạm dịch Đây là một công trình khoa

học thực sự, bởi ngoài nội dung tác phẩm, dịch giả còn giới thiệu một cáchngắn gọn về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Ch.S.Montesquieu Ngoài

ra, dịch giả còn cung cấp thêm những sự kiện xã hội, phần phụ lục giới thiệu

Trang 6

các tác phẩm chính của Ch.S.Montesquieu Bảo vệ tác phẩm tinh thần phápluật, một vài phần trong các tác phẩm khác của Ch.S.Montesquieu như

“Những bức thư Ba Tư và Những nhận định về nguyên nhân cường tịnh và quy thoái của Rome”, ngoài ra còn hai tác phẩm văn học của ông Trong tác

phẩm này Ch.S.Montesquieu đã phác thảo những nét cơ bản về xã hội côngdân và nhà nước pháp quyền Trong đó, theo Ch.S.Montesquieu, nhà nướcpháp quyền với ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là công cụ để bảođảm quyền con người

Cũng trong năm 2004, cuốn “Bàn về khế ước xã hội” của J.J.Rousseau

do Hoàng Thanh Đạm dịch đã cung cấp một số tư tưởng cơ bản của Rousseau

về xã hội, vạch ra định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền Thông qua đó,

J.J.Rousseau đưa ra quan niệm của mình về quyền con người Cuốn “Emile hay là về giáo dục” của J.J.Rousseau do Lê Hồng Sâm, Trần Quốc Dương

dịch có thể coi là một tác phẩm về triết lý giáo dục với nhân vật hư cấu là cậu

bé Emile Với câu chuyện về cậu bé này, Rousseau muốn nhấn mạnh mụcđích của giáo dục là đạo tạo ra một con người tự do, có khả năng tự bảo vệ vàchống lại mọi sự gò ép khiên cưỡng Qua đó, ông cũng nêu lên quan niệmrằng, con người có quyền được tự do, quyền được giáo dục thuận theo bảntính tự nhiên và được tôn trọng

Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứunhững vấn đề liên quan tới đề tài nghiên cứu:

Luận án “Triết học chính trị về quyền con người” của Nguyễn Văn

Vĩnh năm 2005 đã trình bày một cách khái quát quan niệm của các nhà triếthọc trong lịch sử về vấn đề quyền con người

Luận văn của Nguyễn Thị Thanh Minh: “Tư tưởng của G.G Rútxô về quyền tự do, về bình đẳng và về nhà nước” năm 2006 đã đi sâu tìm hiểu về

vấn đề tự do và bình đẳng trong tư tưởng của Rousseau

Trang 7

Luận văn “Vấn đề tự do và bình đẳng trong triết học Ch.S.Montesquieu

và J.J.Rousseau” của Trần Hương Giang, năm 2008 đã phân tích và lý giải tư

tưởng tự do và bình đẳng của J.J.Rousseau qua việc đối chiếu với tư tưởngcủa Ch.S.Mongtesquieu

“Quan niệm chính trị - xã hội của John Locke”, luận văn thạc sĩ triết

học của Nguyễn Thị Dịu, năm 2009 đã có những luận giải cơ bản trong quanniệm của J.Locke về quyền con người

Công trình “Quan niệm về nhà nước pháp quyền của Ch.S Montesquieu trong Bàn về tinh thần pháp luật và ý nghĩa của nó với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của tác giả

Nguyễn Thị Hoàn, 2009 Luận văn đã góp phần làm rõ cơ chế, phương thứcđảm bảo quyền con người đó là thiết lập một nhà nước dựa trên cơ sở khế ước

xã hội

Đề tài “Quan niệm của John Locke về quyền sở hữu của con người trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự”, khóa luận tốt nghiệp, năm 2010 của tác giả Đặng Thị Loan; “Quan niệm của John Locke về quyền con người trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền - chính quyền dân sự”, khóa luận tốt nghiệp, năm 2011 của tác giả Ngô Thị Thanh Thủy; “Quan niệm của J.J.Rousseau về vấn đề quyền con người”,

khóa luận tốt nghiệp, năm 2011 của tác giả Nguyễn Thị Nguyệt… Các tác giả

đã phân tích quan niệm về quyền con người của các triết gia Tây Âu thế kỉXVII - XVIII, qua đó đưa ra một số nhận xét, đánh giá chung về những quanniệm đó

Nhìn chung, những nghiên cứu trên, ở những phương diện khác nhauđều có những đóng góp đáng kể vào việc nghiên cứu quan niệm về quyền conngười trong Triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII Tuy nhiên, hầu hết cáccông trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu quan niệm của một triết gia

Trang 8

cụ thể về quyền con người hoặc chỉ chủ yếu tập trung vào quyền tự do và bìnhđẳng Nói cách khác, vấn đề quyền con người trong triết học Tây Âu cận đạikhông phải là một vấn đề mới, tuy vậy vẫn cần thiết có thêm các công trìnhnghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về vấn đề này

Kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước, luận văn tiếptục đi sâu, nghiên cứu một cách hệ thống quan niệm về quyền con ngườitrong triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII thông qua việc khảo cứu một sốtác phẩm của các triết gia tiêu biểu thời kì này

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn là làm rõ quan niệm về quyền con người trongtriết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII, từ đó đưa ra một số nhận định, đánh giá

về giá trị cũng như hạn chế của những tư tưởng này

- Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung vào thực hiệnnhững nhiệm vụ sau đây:

+ Nghiên cứu hoàn cảnh kinh tế- xã hội và tiền đề lý luận cho sự ra đờiquan niệm về quyền con người trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII

+ Phân tích quan niệm về các quyền cơ bản của con người trong triếthọc Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII như: quyền sống, quyền tự do, quyền bìnhđẳng, quyền sở hữu

+ Nghiên cứu quan niệm về phương thức, cơ chế đảm bảo quyền conngười trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII

+ Đánh giá những giá trị và hạn chế trong quan niệm về quyền conngười của các nhà triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủnghĩa Marx - Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xã hội

Trang 9

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và một số phươngpháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, lịch sử và lôgíc, nghiên cứu văn bản,…

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan niệm về quyền con ngườitrong triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII

- Phạm vi nghiên cứu của luận: Quan niệm về quyền con người trongtriết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII là đề tài khá rộng Trong khuôn khổnghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ tập trung vào những nội dung cơ bản nhấtcủa quan niệm về quyền con người trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII -

XVIII, thông qua một số tác phẩm tiêu biểu như: “Leviathan”, “Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chính quyền dân sự”, “Bàn về tinh thần pháp luật”,

“Bàn về khế ước xã hội”, “Emile hay là về giáo dục”.

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần nghiên cứu một cách có hệ thốngquan niệm của các triết gia Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII về quyền con ngườitrong sự đối chiếu, so sánh để làm nổi bật lên điểm chung trong quan niệm vềquyền con người của các triết gia thời kì này

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo chosinh viên trong nghiên cứu về lịch sử triết học phương Tây nói chung, về cáchọc thuyết triết học chính trị, triết học con người ở Tây Âu thế kỉ XVII -XVIII nói riêng

7 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 5 tiết

Trang 10

B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHO SỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỈ XVII - XVIII

1.1 Hoàn cảnh kinh tế - xã hội Tây Âu thời kỳ cận đại

Vào cuối thời trung đại, trong lòng xã hội phong kiến ở Tây Âu đã xuấthiện những mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và diễn ranhiều biến đổi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Về mặt kinh tế: Vào thế kỉ XV - XVI, con đường giao lưu buôn bán củathương nhân châu Âu qua Tây Á và Địa Trung Hải bị người Ả Rập chiếm giữ

Do nhu cầu về kinh tế, việc tìm con đường mới đến phương Đông, đặc biệt làsang Ấn Độ - nơi có nhiều vàng bạc, hương liệu quý ngày càng trở nên cấpthiết Đó là nguyên nhân khiến cho nhiều nước Tây Âu, mà Tây Ban Nha và

Bồ Đào Nha là những nước đi tiên phong, đã tiến hành những cuộc phát kiếnđịa lí Đáng chú ý nhất là các cuộc phát kiến địa lý của Vasco da Gama(1497), Christophe Colomb (1492), Ferdinand Magellan (1519) Nguyên nhânsâu xa dẫn đến các phát kiến địa lí chính là sự phát triển của kinh tế Tây Âuthời điểm cuối thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI Các cuộc phát kiến địa lí đượcxem như một cuộc cách mạng thực sự trong lĩnh vực giao thông và tri thức.Một thành quả đặc biệt quan trọng của các phát kiến địa lí là đem về cho châu

Âu, cho giai cấp tư sản nguồn hương liệu, vàng bạc, đá quý dồi dào với khốilượng lớn, tạo thành một cơ sở quan trọng cho quá trình tích lũy tư bảnnguyên thủy: “Năm 1503, chuyến tàu đầu tiên chở kim loại đến từ Antilles;năm 1519, bắt đầu cuộc cướp kho báu của người Azteques ở Mêhicô; năm

1534, cướp kho báu của người Incas ở Pêru Tại Pêru: những kẻ chinh phụcnhìn thấy 1300000 onces vàng chất thành đống Họ tìm thấy bốn pho tượng

Trang 11

lama (lạc đà không bướu) lớn và khoảng mười hai pho tượng phụ nữ bằngvàng to như người thật” [2, tr 44]

Các cuộc phát kiến địa lí đã mở đường cho thương nghiệp châu Âuphát triển, làm cho thành thị ở khu vực này trở nên phồn thịnh hơn Khônggian buôn bán của thương nhân châu Âu giờ đây không bị bó hẹp trong phạm

vi nhỏ hẹp trước đó mà có quan hệ chặt chẽ với các lục địa khác

Những cuộc phát kiến địa lí thời hậu kỳ trung đại gắn liền với quá trìnhcướp bóc thuộc địa, cướp biển, đã đem lại cho châu Âu một nguồn vốn lớn vàchỉ trong một thời gian ngắn, nhiều tư sản Tây Âu đã tích lũy cho mình mộtkhối lượng tư bản đáng kể: “Theo tài liệu nghiên cứu của nhà nghiên cứungười Pháp Michel Beaud thì chỉ trong khoảng hơn một thế kỉ (1521 - 1660)

có tới 18000 tấn bạc và 200 tấn vàng được chuyển từ Mỹ sang Tây Ban Nha;theo số liệu thống kê của nhà sử học Detbero, thì trong quãng thời gian từnăm 1493 đến những năm đầu thế kỉ XVI, lượng vàng tích lũy ở Châu Âutăng từ 55000 kg lên 1192000kg, bạc từ 7 triệu lên 21 triệu kg” [Dẫn theo 31,

tr 13] Rất nhiều vàng, bạc cướp bóc ở châu Mỹ được chở về châu Âu làmcho giá cả hàng hóa tăng lên gấp 4 - 5 lần Giá cả tăng vọt là động lực thúcđẩy nền sản xuất ở các nước Tây Âu, đặc biệt là Hà Lan và Anh, làm chonăng suất lao động không ngừng tăng lên

Thế kỉ XVI - XVIII, ở Tây Âu, nhiều công trường thủ công tư bản chủnghĩa được xây dựng thay cho phường hội trước kia, hình thức tổ chức sảnxuất mới tiến hành theo dây chuyền xuất hiện Những công trường nàythường được dựng lên ở các thành thị ven biển, và không chịu tác động củacác quy chế phường hội Năng suất lao động tăng lên rất nhiều, số lượng sảnphẩm làm ra nhiều, với tốc độ nhanh, giá thành hạ Do đó, các chủ xưởng thuđược nhiều lợi nhuận hơn Nhiều trung tâm công nghiệp được hình thành

Trang 12

Thời kỳ này được K.Marx và F.Engel nhận xét như sau: “Giờ đây lầnđầu tiên người ta đã thật sự phát hiện ra trái đất và đặt nền móng cho buônbán quốc tế sau này và… đại công nghiệp hiện đại” [37, tr 459] Nói cáchkhác, thời kỳ này đã có cơ sở để khẳng định và đề cao vai trò của con ngườitrong sản xuất Đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành quan niệm vềcon người và quyền con người trong thế kỉ XVII - XVIII ở Tây Âu Mặt khác,nền sản xuất hàng hóa cũng tạo cơ sở cho con người ý thức được mối quan hệgiữa con người với con người ngày càng trở nên mật thiết hơn.

Ở Hà Lan, từ đầu thế kỉ XVI nền kinh tế công nghiệp và mậu dịch hànghải đã phát triển sầm uất và thịnh vượng vào bậc nhất châu Âu Vốn cần cù vàtháo vát, ba triệu dân sống ở dải đất ven biển Đại Tây Dương này đã xây dựngđược 60 thành phố và hải cảng Nổi bật nhất là Amsterdam và Antwerpen -những trung tâm thương mại và hàng hải quốc tế Một trong những ngànhcông nghiệp phát triển nhất của Hà Lan là ngành đóng tàu biển, có khả năngđóng được những con tàu vượt đại dương, với trọng tải lớn Ngành dệt len dạ

và nhuộm cũng rất nổi tiếng Trong hầu hết các ngành sản xuất đều xuất hiệncông trường thủ công tư bản chủ nghĩa, có công trường thủ công đã thuê tớihàng trăm công nhân

Ở Anh, thế kỉ XVII, công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa ngày mộtkhởi sắc Bắt đầu từ cuối thế kỉ XV, ngành công nghiệp dệt len, dạ phát triểnmạnh nhất; bởi lẽ đây là ngành truyền thống Từ thế kỉ XVI, ngành dệt len dạ

đã mang tính chất tư bản chủ nghĩa Đến thế kỉ XVII, cả nước Anh đều dệtlen, dạ Len, dạ của Anh sản xuất ngày một tăng, không những cung cấp chonhu cầu trong nước, mà còn xuất khẩu sang Hà Lan, Đức, Ý Một số ngànhcông nghiệp mới như đóng tàu, làm thủy tinh, giấy, luyện sắt, khai tháckhoáng sản cũng phát triển khá mạnh, nhất là ngành khai thác than đá Đếngiữa thế kỉ XVII, Anh đã chiếm tới 4/5 sản lượng than đá sản xuất của châu

Trang 13

Âu Tuy ngành công nghiệp sắt còn dùng kỹ thuật thủ công, song trong côngtrường thủ công luyện sắt đã có sự phân công lao động Đầu thế kỉ XVII, Anh

có 800 lò luyện sắt, với trung tâm lớn nhất là khu rừng Đin

Thế kỉ XVII - XVIII, khu vực bờ biển Đại Tây Dương cực kì sầm uất,

nó đã trở thành trung tâm thương mại của châu Âu thay thế cho Địa TrungHải trước đây Nhu cầu vốn và thị trường rộng lớn để đáp ứng cho sự pháttriển nhanh của nền kinh tế được đặt ra Hơn nữa, do có nhiều vàng bạc cướpbóc được ở Châu Mĩ nên nhu cầu tiêu thụ hàng hóa xa xỉ của quý tộc châu Âungày càng gia tăng Thời điểm này, các loại gia vị của phương Đông, vốn làthứ xa xỉ lâu năm ở đây, nay trở nên cực kỳ đắt đỏ do khan hiếm, đặc biệt là

hồ tiêu - một loại hương liệu rất được ưa thích ở Tây Âu, trong thời điểm này

có giá trị ngang với vàng Chính vì thế, mục tiêu hướng ra thị trường bênngoài được thương nhân Tây Âu đặt lên hàng đầu Trong nông nghiệp, sựxâm nhập của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ vào nông thôn đã làm thay đổi hìnhthức bóc lột của địa chủ phong kiến đối với nông dân: địa tô hiện vật, rồi địa

tô tiền dần thay thế cho địa tô lao dịch

Trước sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, hìnhthức sản xuất nhỏ của nông dân đã bị loại bỏ nhanh chóng, vì không đáp ứngkịp thời nhu cầu hàng hóa của thị trường Trong khi sản xuất của những đồnđiền hay trang trại với quy mô lớn xuất hiện, ngày càng gắn bó chặt chẽ vớithị trường

Sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nôngnghiệp Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII diễn ra điển hình ở Anh Nước Anh, tronggiai đoạn thế kỉ XVII - XVIII, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xâm nhậpmạnh mẽ vào nông nghiệp Bắt đầu từ cuối thế kỉ XV - đầu thế kỉ XVI, dothương nghiệp và sản xuất len dạ ở nước Anh phát triển nhanh chóng, nhu cầu

Trang 14

về lông cừu ngày một lớn, giá tăng vọt Để thu được nhiều lợi, các lãnh chúaphong kiến chiếm đoạt ruộng đất của công xã, đuổi tá điền ra khỏi ruộng đất

mà họ đang canh tác để lập các đồng cỏ Hàng vạn gia đình nông dân mấtruộng đất trở thành những người không có nhà cửa, không tài sản, phiêu bạtkhắp nơi Thảm cảnh của nông dân đã được triết gia Thomas More miêu tả lạikhá trung thực khi dùng hình ảnh “cừu ăn thịt người”

Từ đầu thế kỉ XVII, một yếu tố khiến quý tộc địa chủ đẩy mạnh việcxua đuổi nông dân ra khỏi ruộng đất là do quá trình tăng nhanh dân số thànhthị đã kéo theo sự tăng vọt nhu cầu về lương thực, thực phẩm Nhiều chủ đấtnhận thấy rằng, nếu tập trung đất đai thành mảnh lớn và canh tác theo phươngpháp mới (sử dụng phân bón, giống mới, sử dụng nhân công tự do, trồng cácloại cây mà thị trường có nhu cầu cao,…) thì sẽ thu lợi nhuận lớn hơn so với

số địa tô thu được từ nông dân lĩnh canh Ngoài việc đẩy mạnh hoạt động “ràoruộng cướp đất”, nhiều quý tộc còn đem đất đai của mình cho nhà tư bảnthuê, hình thành kiểu kinh doanh tay ba (Quý tộc mới - Tư sản nông nghiệp -Công nhân nông nghiệp)

Từ sau các phát kiến địa lí, ven bờ Đại Tây Dương trở thành nơi xuấtphát của những trục đường hàng hải mới Bên cạnh các trục đường thươngmại ở châu Âu có từ các thế kỉ trước, do nhu cầu vận chuyển hàng hóa qua lạihai chiều giữa châu Âu - Tân lục địa, châu Âu - phương Đông đã làm hìnhthành hai trục đường hàng hải mới sau phát kiến

Trục thứ nhất, từ bờ biển Tây Âu qua Đại Tây Dương tới vùng biểnphía Đông Tân lục địa Đậy là trục thương mại rất đặc biệt, bởi mặt hàng kinhdoanh chủ yếu của trục thương mại này là người da đen Nhờ việc buôn bánngười da đen mà trục thương mại hàng hải này phồn vinh, tấp nập trong suốt

ba thế kỉ XVI, XVII và XVIII

Trang 15

Trục thứ hai xuất hiện và ngày càng sầm uất đó là trục Tây Âu - Ấn ĐộDương - phương Đông Thời kỳ đầu, thương nhân Bồ Đào Nha làm chủ trụcthương mại này Nhưng từ nửa sau thế kỉ XVI, thương nhân Hà Lan, Anh,Pháp đã cạnh tranh gay gắt với Bồ Đào Nha Cuối cùng ưu thế thuộc về HàLan và sau đó là người Anh Đây là trục đường thương mại quan trọng nhấttrong việc giao lưu Đông - Tây

Sự xuất hiện của các trục đường thương mại lớn đã có tác động tích cựctrong việc thúc đẩy hoạt động thương mại của các thương nhân châu Âu đếnnhững vùng đất xa xôi nhất trên thế giới Vàng, bạc và các sản phẩm quý từchâu Mĩ và các nước phương Đông được đem về các nước châu Âu, nhiềunhất là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, làm cho các nước ven biển này trở nêngiàu có

Những con đường hàng hải trên lại được mở rộng trong bối cảnh châu

Âu chứng kiến những tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật đóng tàu khiến cho việc đilại của thương nhân châu Âu đến những khu vực khác trên thế giới trở nênthuận tiện hơn Ngay ở cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, người châu Âu đãđóng được những chiến tàu lớn, chuyên dụng, có thể trở được những hànghóa cồng kềnh, chở khách hoặc làm phương tiện chiến đấu Những tàu buôncủa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha xuất phát từ các cảng bên bờ Đại TâyDương đi vòng qua Ấn Độ Dương sang Ấn Độ hoặc vượt Đại Tây Dươngtheo hướng Tây sang châu Mỹ, rồi lại qua Thái Bình Dương sang châu Á tạothành một hệ thống thương mại thế giới nối liền cả bốn châu Á, Âu, Phi, Mỹ.Trên cơ sở đó, các hoạt động thương mại cũng trở nên náo nhiệt hơn, phạm vilẫn quy mô được mở rộng hơn rất nhiều so với trước đây Các sản phẩm thủcông nghiệp truyền thống của châu Âu như len dạ, vải lụa, đồ mĩ phẩm, rượuvang,… đến thời điểm này đã tìm được những thị trường rộng lớn còn đầy

Trang 16

tiềm năng để tiêu thụ như châu Mĩ, châu Phi và châu Á Ngược lại, các sảnphẩm, hàng hóa từ châu Á, châu Phi và châu Mĩ như hồ tiêu, ca cao, cà phê,hương liệu, gỗ quý,… cũng đã bắt đầu phổ biến ở thị trường châu Âu Hoạtđộng thương mại giữa châu Âu với các khu vực khác trên thế giới đến thờiđiểm này không còn manh mún, lẻ tẻ như trước đây nữa mà nó đã trở thànhđộng lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế châu Âu.

Sự giao lưu thương mại giữa châu Âu với châu Mĩ, Phi, Á đã tạo ranhững con đường buôn bán nối liền ba khu vực, tạo thành tam giác mậu dịchnhộn nhịp ở khu vực Đại Tây Dương Là những nước đi tiên phong tổ chứccác cuộc phát kiến địa lí, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được lợi trước tiên từnhững thành quả phát kiến của họ Chính quyền hai nước này đã trực tiếp nắmlấy ngành ngoại thương, buôn bán với thương nhân các nước để thu về nhữngmón lợi khổng lồ

Hoạt động buôn bán, cướp bóc đã mang về cho các nước Tây Âu mộtlượng vàng bạc rất lớn Các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Hà Lan đã sử dụng

số của cải đó để phát triển kinh tế trong nước, tập trung sản xuất hàng hóahàng loạt nhằm thu hút vàng bạc về nước mình Chính phủ các nước này còngiúp đỡ giai cấp tư sản trong nước giành thị trường buôn bán, kinh doanh,chiếm thuộc địa nhằm kiếm nguyên liệu rẻ tiền và tạo ra thị trường tiêu thụsản phẩm Nhờ phát đạt từ thương mại, giá cả hàng hóa tăng lên nhanh chóng,tạo ra cuộc cách mạng giá cả, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trìnhtích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản Quá trình tích lũy vốn ban đầu củachủ nghĩa tư bản vì thế mà được rút ngắn thời gian, thúc đẩy nhanh sự ra đời

và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu

Nhìn chung, thế kỉ XVII - XVIII chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ củakinh tế công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp theo phương thức tư bản

Trang 17

chủ nghĩa ở Tây Âu Đó là sự xâm nhập mạnh mẽ của phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa vào nông nghiệp, hình thành những đồn điền, trang trại quy

mô lớn sản xuất hàng hóa theo nhu cầu của thị trường Trong công nghiệp, đó

là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các công trường thủ công, sản xuấttheo dây chuyền với sự chuyên môn hóa cao, đã tạo ra một khối lượng củacải, vật chất lớn Trong thương nghiệp, là sự phát triển rực rỡ của “chủ nghĩatrọng thương” gắn với sự bùng nổ của cách mạng thương nghiệp (từ thế kỉXVI đến đầu thế kỉ XVII) Chính sự bùng nổ của cách mạng thương nghiệp

đã thúc đẩy quan hệ thương mại giữa phương Đông và phương Tây tăng lênnhanh chóng

Lúc này ở Tây Âu, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với nền sảnxuất hiện đại, tiên tiến xuất hiện đã tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với phương thứcsản xuất cũ Phương thức sản xuất mới không thỏa mãn với những kiến thứckhoa học tự nhiên còn lạc hậu Con người không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm

đi biển thông thường và dùng thuyền gỗ để chuyên chở khối lượng hàng hóalớn vượt các đại dương Họ cần phải có kỹ thuật đóng tàu mới, có máy mócmới để sản xuất, trao đổi được nhiều hàng hóa và tăng nhiều lợi nhuận hơncho các nhà tư bản Thực tế đó đòi hỏi khoa học tự nhiên như cơ học, toánhọc, thiên văn học, vật lý học,… phải có bước phát triển mới để đáp ứng.Chính vì vậy, một loạt các thành tựu to lớn về khoa học tự nhiên được ra đời

và trở thành những tiền đề khoa học tự nhiên vững chắc cho các nhà duy vậtluận giải về thế giới, chẳng hạn như:

“Thuyết nhật tâm” của Nicolaus Copernicus - nhà bác học người Ba

Lan, ông đã phủ nhận thuyết trái đất là trung tâm của Ptolemacus vốn tồn tạitrong tầng lớp thống trị phương Tây trước đấy giáo hội tuyên truyền.Copernicus khẳng định mặt trời là trung tâm và đem thành quả nghiên cứu đó

Trang 18

viết thành cuốn “Sự vận hành của thiên thể” Sự ra đời của tác phẩm này là

nhận thức đầu tiên của con người về hệ mặt trời, xác lập vũ trụ quan mới.Đồng thời, nó đã làm lung lay học thuyết thần học Kitô giáo về Thượng đếsáng thế Copernicus trở thành nhà khoa học cận đại đầu tiên dám chống lạithần học

“Cơ học cổ điển” của nhà khoa học Anh nổi tiếng Issac Newton Ông

là nhà khoa học cận đại đạt được rất nhiều thành tựu thiên tài trong nhiều lĩnhvực Trong những tác phẩm ghi tên ông vào lịch sử, chúng ta phải kể đến

cuốn “Nguyên lý toán học của triết học tự nhiên” được xuất bản năm 1687.

Newton đã chứng minh mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều vận động vàphát triển theo quy luật cơ học chứ không phải do bất cứ một lực lượng thầnthánh hay Chúa trời nào sai khiến

“Tính di truyền máu” của nhà khoa học người Anh William Harvay.

Với phát minh này, ông đã phát hiện ra quá trình lưu thông máu trong cơ thểngười, qua đó, đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa thể xác và tinh thần;

“các phát minh toán học” của René Descartes, Gottfried Lepniz; “các phát minh hóa học” của Ropepolo

Về mặt chính trị - xã hội, tầng lớp tư sản mới xuất hiện và ngày càng có

vị trí quan trọng Trong bối cảnh đó, tại Ý - nơi được coi là quốc gia tư bảnchủ nghĩa sớm nhất của Tây Âu đã bắt đầu một trào lưu văn hóa mới - vănhóa Phục hưng Phong trào Phục hưng đã trở thành trào lưu văn hóa tư tưởngtrong suốt thế kỉ XIV - XV, đạt tới cực thịnh ở thế kỉ XVI Trong phong tràonày, những giá trị văn hóa, tinh thần, nhân văn cổ đại, kể cả Cơ đốc giáo sơ

kỳ, sau mười thế kỉ bị lãng quên nay đã được phục hồi Những di sản văn hóa

đó có ý nghĩa lớn đối với xã hội Tây Âu thời kỳ này Nhiều công trình kiếntrúc, những giá trị văn hóa tinh thần quật khởi và anh hùng thời cổ đại saugiấc ngủ dài giờ đây đã được sống lại và mang lại một luồng sinh khí mới cho

Trang 19

cả Châu Âu Con người Châu Âu khao khát một cuộc sống mới - một cuộcsống tự do.

Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã thay thế cho phương thức sản xuấtphong kiến Tuy nhiên, chế độ phong kiến vẫn chưa suy yếu hoàn toàn và vẫnkìm hãm sự phát triển của nền kinh tế tư bản của nghĩa Giai cấp tư sản nắmtrong tay quyền lực về kinh tế, nhưng lại không có chút địa vị chính trị nào,vẫn phải phụ thuộc vào chế độ phong kiến, vào giai cấp quý tộc, địa chủ lúcnày đã trở nên lạc hậu Do đó, để có thể tự do phát triển sản xuất, tự do buônbán, giai cấp tư sản cần phải lật đổ chế độ phong kiến, giành quyền lực chínhtrị và thiết lập nền thống trị của giai cấp tư sản Vì vậy, tầng lớp thứ 3, đạidiện là giai cấp tư sản đang trưởng thành, lớn mạnh ở các nước phát triểnngày càng nhận rõ vai trò của mình Họ khát khao giải phóng một cách mãnhliệt Chính khao khát đó đã dẫn đến việc hàng loạt các cuộc cách mạng tư sảndiễn ra ở nhiều nước Tây Âu

Cuộc cách mạng tư sản đầu tiên nổ ra ở Hà Lan năm 1566, sau đó làcuộc cách mạng tư sản Anh nổ ra năm 1642, kết thúc năm 1648 Tiếp đó làcuộc đại cách mạng Pháp nổ ra năm 1789, kết thúc năm 1794 Sau khi cuộccách mạng Pháp kết thúc, chế độ phong kiến đã hoàn toàn sụp đổ và mởđường cho lực lượng sản xuất của xã hội tư bản phát triển Đây là một sự kiệngây tiếng vang lớn, có ý nghĩa thời đại và ảnh hưởng không nhỏ tới lịch sử thếgiới nói chung cũng như lịch sử triết học Tây Âu cận đại nói riêng

Mục tiêu của những cuộc đấu tranh giai cấp lúc đó là đem lại quyền lợicho con người Việc giải quyết vấn đề về quyền con người được đặt ra mộtcách bức thiết từ sau “đêm trường trung cổ” đến đây đã trở thành một trào lưuchung của xã hội Tây Âu lúc bấy giờ Xu hướng đó đã trở thành tiền đề trựctiếp cho sự ra đời của các quan niệm về quyền con người trong thời kì này

Trang 20

Thế kỉ XVI, ở châu Âu xuất hiện phong trào cải cách tôn giáo và phongtrào này có tác động không nhỏ tới đời sống chính trị, văn hóa tại châu lụcnày Phong trào này thu hút sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dânđấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình Các tầng lớp xã hội khác nhau hìnhthành nên các học thuyết chính trị - xã hội khác nhau Từ trong phong trào cảicách tôn giáo, khái niệm “tự do”, “bình đẳng” được sử dụng Những kháiniệm này bắt nguồn từ tư tưởng của cộng đồng Cơ đốc giáo khi cho rằngkhông ai là kẻ dưới của người khác Sau đó, hai khái niệm “tự do” và “bìnhđẳng” đã trở thành nền tảng cho tư tưởng dân chủ của giai cấp tư sản cấp tiến

“người khổng lồ David” của nhà điêu khắc Mikelan Gielo đã trở thành biểutượng của con người thời phục hưng và cận đại Đó là con người đầy sức sống

tự do và hoài bão Giờ đây không phải là quan hệ của Chúa với thế giới màchính là quan hệ của con người và thế giới là vấn đề trung tâm của triết học

Có thể nói, hoàn cảnh lịch sử Tây Âu cận đại với sự chuyển giao từ chế

độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa là nền tảng thực tiễn xã hội choquan niệm về quyền con người nảy sinh và phát triển Quan niệm về quyềncon người ở thời kỳ này không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu và khôi phục các

tư tưởng truyền thống, mà còn mang những dấu ấn riêng của thời đại lịch sử

Trang 21

1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm về quyền con người trong triết học Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII

1.2.1 Quan niệm về quyền con người trong thời cổ đại phương Tây

Quyền con người gắn liền với con người và xã hội loài người Tư tưởng

về quyền con người chỉ trở thành luật thành văn và được thực hiện vào thế kỉXVII - XVIII ở phương Tây Tuy nhiên, ý tưởng về sự tồn tại của quyền tựnhiên đã có từ xa xưa, xưa đến mức: “không thể xác định chính xác sự ra đờicủa nó vào lúc nào Về mặt logic, sự tồn tại của các quyền thuộc về con ngườivới tư cách con người, đã bắt nguồn từ khi có đời sống xã hội” [50, tr 20] Do

đó, chúng ta cần phải đề cập tới quan niệm về quyền con người trong triết họcphương Tây cổ đại đầu tiên

Ở thời cổ đại, mặc dù dưới dạng sơ khai nhưng các nhà tư tưởng đã cónhững sự bàn luận và yêu cầu về các quyền Tư tưởng về quyền bình đẳng tựnhiên và tự do cho tất cả mọi người đã xuất hiện Những tư tưởng này ra đờitrong hoạt động thực tiễn cũng như trong công cuộc đấu tranh của con người

để chống lại sự áp bức, bóc lột, xâm phạm thô bạo đến phẩm giá của họ

Nhà triết học duy vật vĩ đại Heraclitus (khoảng 530-470 TCN) cho rằngquyền là con đẻ của chiến tranh và sự tất yếu Nó dường như là sự phản ánhcủa quy luật thiên định muôn đời Theo Heraclitus, bất công và công bằngđược hình thành bởi chính con người, bởi lẽ đối với trời (trời của ông đồngnhất với thiên nhiên, vũ trụ tồn tại một cách khách quan) tất cả đều hoàn mỹ

và cân bằng Quan niệm về quyền của Heraclitus ở một vài điểm đã xa rời vớinhững quan niệm của giới quý tộc thị tộc truyền thống, tầng lớp kiên trì bảo

vệ những tập tục cổ truyền nhằm củng cố những đặc quyền của mình

Theo Heraclitus, quy luật cơ bản của thế giới là quy luật chuyển hóathành các mặt đối lập Ông đã đi đến nguồn gốc của vận động, chính mâuthuẫn là cái thúc đẩy thế giới tiến lên Ông không đi tìm ở một vị thần nào sự

Trang 22

thúc đẩy đầu tiên đối với thế giới Tất cả đều sinh ra từ đấu tranh và kết quảcuối cùng là tùy thuộc vào sự đấu tranh đó Hoạt động của con người tiếnhành đấu tranh dựa vào sự hiểu biết những quy luật tất yếu của tự nhiên chính

là tự do Đấu tranh là mẹ của tất cả mọi sự vật và thống trị tất cả mọi sự vật.Đấu tranh đã tạo ra những thần thánh và những con người Đấu tranh đã làmcho những người này là nô lệ và biến những người khác thành dân tự do

Như vậy, tư tưởng về tự do, bình đẳng của Heraclitus đã chứa đựngnhững yếu tố hợp lý khi ông xem nó là sản phẩm của chiến tranh, của cuộcđấu tranh giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc, của sự tất yếu phân hóa giàunghèo Tuy nhiên, Heraclitus mới chỉ nói đến quyền với nội dung hạn hẹp ởquyền chính trị Nhìn chung, ông cũng đã đưa ra được một cơ sở vững chắccho quan niệm về những quy luật tự nhiên và lịch sử

Democritos (460-370) - “bộ óc bách khoa đầu tiên trong số nhữngngười Hy Lạp” - là người đại diện cho tầng lớp chủ nô dân chủ tuyên bố:

“Trong mọi thứ, bình đẳng là điều tuyệt diệu… Sự thừa thãi và thiếu thốn

không làm tôi ưa thích” [trích theo 35, tr 65] Đứng trên lập trường của tầng

lớp dân chủ chủ nô chống lại chủ nô quý tộc, Democritos cho rằng ở đâu có

sự tương phản về sở hữu giảm đi, người giàu ưu ái đối với người nghèo thì ở

đó sẽ có sự cảm thông, tình hữu ái, sự bảo vệ lẫn nhau và bao điều phúc đứckhác không thể tính được Đồng thời, Democritos cũng chỉ rõ để bảo vệ đượcchế độ dân chủ chủ nô thì phải có được sự phát triển của thương mại và côngnghiệp Bên cạnh đó, ông cho rằng, “hoạt động chính trị, quản lý nhà nước lànghệ thuật cao nhất đem lại vinh dự và vinh quang cho con người, làm chocon người hạnh phúc và được tự do” [Dẫn theo 63, tr 212] Từ việc so sánh

sự khác nhau giữa cuộc sống của nhân dân trong chế độ dân chủ và chế độquân chủ, Democritos đi đến kết luận: “Cần phải ưa thích cái nghèo trong mộtnhà nước dân chủ hơn với cái gọi là cuộc sống hạnh phúc trong chế độ

Trang 23

chuyên chế, tựa như tự do tốt hơn so với nô lệ” [Dẫn theo 65, tr 176] Phương

châm của Democritos là thà nghèo còn hơn là giàu có nhưng mất dân chủ và

tự do Ông cho rằng, hạnh phúc là ở sự thanh thản tâm hồn Democritoskhông nêu ra một cách rõ ràng về quyền con người, nhưng qua đó, ta thấyđược khát vọng cháy bỏng về quyền tự do, dân chủ luôn ẩn chứa trong tưtưởng của ông Tuy nhiên, hạn chế của Democritos (cũng là hạn chế của thờiđại) là ở chỗ tự do mà ông đề cập là của giai cấp chủ nô chứ không phải củatất cả mọi người

Trong những nhà tư tưởng thời kì cổ đại, không thể không nhắc tớiSocrates (470-399 TCN) - “ông tổ của triết học nhân học” Socrates, theo cáctác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh nhận xét trong tác

phẩm “Đại cương lịch sử triết học phương Tây” - là nhà triết học có những quan điểm nhân học “độc đáo” Socrates đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Con người hãy tự nhận thức chính mình” thể hiện rõ quan niệm của ông về tự do.

Theo Socrates, tự do chính là sự tự ý thức của con người về chính bản thânmình Tự do còn là sự tự chủ, biết cách điều khiển và biết hạn chế những hammuốn, những dục vọng của bản thân Như vậy, nhà triết học này đã dànhquyền tự do lựa chọn cho các cá nhân Sự tự do mang tính ý thức được đề caochỉ trong chừng mực nó được gắn với mục đích đạo đức cao nhất - cái Thiệnphổ quát

Thành bang của Hy Lạp (nhất là ở Aten) tới giữa thế kỉ IV trước côngnguyên đã gần như sụp đổ hoàn toàn Chế độ chiếm hữu nô lệ đã lung lay tớitận gốc rễ Kế tục và bảo vệ chế độ này cùng với chính quyền của nó làAristotle (384-322 TCN) Aristotle đưa ra quan niệm về tự do và bình đẳng,tuy nhiên, những quan niệm này của ông còn rất mâu thuẫn với nhau Mộtmặt, ông cho rằng: “Thượng Đế tạo ra mọi người đều là người tự do, tự nhiênkhông biến ai thành người nô lệ” [5, tr 31] Mặt khác, ông lại cho rằng tự

Trang 24

nhiên sinh ra con người để một số làm nô lệ, một số khác làm người tự do.Như vậy, quan niệm về tự do của Aristotle đã rơi vào mâu thuẫn, một mặtthừa nhận quyền tự do nhưng mặt khác lại muốn duy trì cái trật tự chủ nô - nô

lệ vốn có, muốn duy trì địa vị thống trị của giai cấp chủ nô, còn nô lệ thì chỉ

là “công cụ biết nói” Aristotle bảo vệ sở hữu tư nhân và cho rằng, sở hữu tưnhân sẽ hòa giải tất cả các mối bất hòa giữa người với người, là cơ sở để đoànkết các thành viên trong xã hội

Theo Aristotle, người này phải làm nô lệ và kẻ khác được làm chủ nô,

đó là lẽ phải Ông còn xác minh điều này một cách duy tâm khi cho rằng, ởngười nô lệ thì thể xác điều khiển linh hồn, còn ở người chủ nô thì linh hồnđiều khiển thể xác Như vậy, người nô lệ mà phục tùng chủ nô như thể xácphục tùng linh hồn là lẽ phải thông thường

Trong lịch sử tư tưởng chính trị ở phương Tây thời kỳ cổ đại, việc nhấnmạnh sự bình đẳng của con người tuy đã có, nhưng nội hàm khái niệm nhânquyền mới chỉ dừng lại ở những tri thức phản ánh cái bề ngoài, hiện tượng,phiến diện mà chưa lý giải được nguyên nhân của sự bất bình đẳng với tưcách là khái niệm đối lập một cách rõ ràng Mặt khác, ngoại diên của kháiniệm quyền con người ở thời kỳ này còn rất hẹp, nội dung các quyền chỉ dừnglại ở một số những nhu cầu tối thiểu của tầng lớp chủ nô quý tộc Nội hàm vàngoại diên của khái niệm nhân quyền tiếp tục được tăng lên do sự phát triểncủa sản xuất và cuộc đấu tranh giành quyền của nô lệ với chủ nô

Epicurus (341-270 TCN) - nhà triết học thời kì Hy Lạp hóa, cùng vớiSocrates, là người đem đến những suy tư mới về vấn đề tự do Tác giả ĐỗMinh Hợp đã từng nhận xét: “Epicurus đã xây dựng một thứ triết học an ủiđích thực, trong đó tinh thần lo âu, bất an của con người có thể tìm thấy sự an

ủi và thanh thản Trong thời đại đầy rẫy những đau khổ, tai họa và mối nguyhiểm khủng khiếp, ông đã ban tặng cho cá nhân một lối sống thanh bình, hoàn

Trang 25

trả lại hy vọng và khát vọng sống cho cá nhân” [21, tr 86] Đối với Epicurus,vấn đề số phận và hạnh phúc con người chính là vấn đề cơ bản trong họcthuyết của ông Những vấn đề có liên quan đến cấu tạo của vũ trụ, tổ chức xãhội, những vấn đề chuyên sâu về nhận thức và logic học vì thế mà được đẩyxuống hàng thứ yếu Tất cả những vấn đề này đều chỉ có ý nghĩa bổ trợ thuầntúy Chỉ có một thực tại thường xuyên được ông quan tâm đó là cuộc sống của

cá nhân cụ thể, của bất kỳ người nào Ông đã luận chứng quan niệm về tự doqua việc cải tiến học thuyết nguyên tử luận của Democritos theo một hướngmới Theo Epicurus, tự do, trước hết phải được hiểu như sự giải thoát của conngười khỏi mọi sự ràng buộc của số phận, lấy sự thư thái, tĩnh tâm làm điềukiện cho đời sống cá nhân Tự do là sự tự chủ, tự quyết định hành động vươntới hạnh phúc, tránh mọi khổ đau và không bị cám dỗ bởi những thú vui vậtchất tầm thường Tự do như thế mới là tự do mang tính người Tự do là không

bị lệ thuộc vào thói quen ý thức và tín ngưỡng truyền thống, không bận tâmđến cái chết, không thừa nhận vai trò của thần thánh cả ở trên trời lẫn trần thế.Quan niệm về tự do của Epicurus có một ý nghĩa nhân văn sâu sắc Ở đây, tự

do gắn với bản chất con người, tự do mang tính người, là quyền “thiên bẩm”không thể tước đoạt của con người Bên cạnh việc xem xét mối quan hệ giữa

tự do và tất yếu, Epicurus còn đưa ra ý tưởng về khế ước xã hội, ông cho rằngnhà nước dựa trên sự giao ước giữa người với người, một khế ước xã hội Vớinhững ý tưởng này, nhà triết học thời kì Hy Lạp hóa đã đóng góp rất nhiềucho kho tàng lý luận về quyền con người

Nhìn chung, trong triết học phương Tây cổ đại, quan niệm về quyềncon người vẫn còn mờ nhạt, trừu tượng, chung chung, chưa thực sự mang tính

lý luận cao Tuy nhiên, những quan niệm đó đã đóng góp một phần quantrọng cho sự xuất hiện những cuộc đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do,bình đẳng hay chính là đòi quyền con người Những quan niệm sơ khai này đã

Trang 26

đặt nền móng để xây dựng hệ thống lý luận về quyền con người sau này, đặcbiệt là giai đoạn thế kỉ XVII - XVIII ở Tây Âu.

1.2.2 Quan niệm về quyền con người trong triết học Tây Âu trung cổ

là sự tuyên truyền cho lối sống bình đẳng, dân chủ, không phân biệt giàunghèo, sang hèn, nam nữ” [30, tr 53]

Dựa trên bối cảnh xã hội như vậy, nên sau thời kỳ cổ đại, nhữngkhuynh hướng do các nhà triết học Hy Lạp đề xướng tiếp tục được củng cốbởi các nhà thuyết giáo kinh phúc âm của đạo Kitô Xã hội loài người trongcuộc sống này phơi bày những trái ngược giữa xa hoa và nghèo túng, giữaquyền lực và thấp hèn Những giá trị tâm hồn con người, phần hồn có thểsống bên ngoài cơ thể phải được phán xét không do con người mà do Chúatrời Trên cơ sở nguồn gốc của thế giới này tất cả đều do Chúa sáng tạo, họcho rằng Chúa là cha của nhân loại nên đã làm cho mọi người là anh em.Dưới thước đo vô tận về lòng tốt thần thánh, công lý và bình đẳng, mọi sựkhác biệt giữa con người đều không đáng kể Mọi người được bình đẳng với

Trang 27

nhau bằng tâm hồn mình Với bối cảnh xã hội như vậy, quan niệm về quyềncon người ở thời kỳ này cũng có những điểm đáng chú ý, đó là quyền conngười liên hệ mật thiết với giai cấp thống trị và đem lại một sự xác nhận về lýluận khá đặc sắc cho sự duy trì chế độ áp bức, bóc lột phong kiến Các triếtgia tiêu biểu trong thời kỳ này có những tư tưởng về quyền con người có thể

nô của mình Ông cũng tuyên bố sự tồn tại của kẻ giàu, người nghèo trong xãhội là do ý Chúa: “sinh ra người giàu để giúp người nghèo, sinh ra ngườinghèo là để thử thách người giàu” [Dẫn theo 35, tr 109]

Thomas Aquino (1225-1274), nhà triết học kinh viện lớn thời kỳ Trung

cổ ở Châu Âu cho rằng, Chúa đã sáng tạo ra vô số loại vật thể cần cho sự toànvẹn của vũ trụ và con người giữ một vị trí quan trọng trong những tạo phẩm

ấy Con người khác với giới động vật ở năng lực nhận thức Đó là năng lựcthực hiện hành vi lựa chọn tự do có ý thức, lựa chọn này đóng vai trò làm cơ

sở cho những hành vi đích thực có đạo đức, có nhân tính của con người Tuynhiên, việc Chúa cai quản thế giới và tiên định mọi sự kiện không ngoại trừquyền tự do lựa chọn Vì vậy, con người không có bất kỳ sự tự do nào ngoài

sự tự do vâng theo lời Chúa để được giải thoát ở thế giới bên kia, sự tự do chỉtồn tại trong lĩnh vực tâm hồn ở một góc độ nào đó

Tóm lại, những nhà triết học thời kì Trung cổ đều phân biệt một thứ “tự

do tự nhiên”, chỉ có nghĩa là cái quyền tách khỏi tự nhiên, đoạn tuyệt với thế

Trang 28

giới động vật và một thứ tự do cao hơn, được soi sáng bởi “luật” Tự do là sảnphẩm được tạo ra từ Chúa Ở đây, họ nhấn mạnh cái định lý cơ bản nhất củatất cả các học thuyết duy tâm về tự do, tức là sự độc lập triệt để của tinh thầnđối với tự nhiên Tuy nhiên, đó mới chỉ là một mặt của tự do, không phải làcái quyền muốn làm bất cứ cái gì mà phép tắc và quy luật của tự do là ở trongcái luật vĩnh hằng của đức Chúa trời, không chỉ cho những cá nhân mà cho cả

xã hội con người nữa… Mục đích tối cao mà tự do của con người cần hướngtới là Chúa trời Các triết gia thời kỳ này lên án bất cứ thứ tự do nào mà có thểlàm cho con người thoát ra khỏi quyền hành tuyệt đối của nhà thờ Nói tómlại, họ muốn xóa bỏ tất cả mọi tự do, trừ các quyền tự do vâng theo nhà thờ

Như vậy, trong thời kỳ phong kiến, lý thuyết về tự do thống trị trong xãhội là lý thuyết hoàn toàn duy tâm và có tính chất thần học Vấn đề trung tâmcủa nó là vấn đề quan hệ giữa ý chí con người với ý chí của Chúa, nó gạt vấn

đề quan hệ giữa hoạt động của con người và hoạt động của tự nhiên xuốnghàng cuối cùng Định nghĩa cơ bản của lý thuyết đó về tự do như là khả nănghành động phù hợp với mục đích hợp lý mà Chúa trời tối cao đã định trước,

về thực chất là một thứ triết học Aristotle đã bị làm cho nghèo nàn đi, quanniệm đó không giúp ích gì cho việc đặt ra cũng như cho việc giải quyết vấn đề

tự do, thậm chí còn là một bước lùi so với chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại

Tư tưởng về quyền con người tiếp tục dòng chảy của mình trong thời

kỳ Phục hưng Thời phục hưng (thế kỉ XV đến thế kỉ XVI), thời đại màF.Engel đánh giá là đã sản sinh ra những con người “khổng lồ về năng lực suynghĩ, về nhiệt tình và tính cách, khổng lồ về mặt có lắm tài, lắm nghề và vềmặt học thức sâu rộng…” [37, tr 459-460] Thuật ngữ “Renaissance” cónghĩa là tái tạo, khôi phục; theo nghĩa rộng là quá trình khôi phục, làm sốnglại những giá trị văn hóa cổ đại đã bị lãng quên dưới thời Trung cổ Trong tác

phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, F.Engel chỉ rõ: “Trong những sách viết tay

Trang 29

còn sót lại sau khi thành Bidăng xơ bị diệt vong, qua những bức tượng cổ đàođược ở các di chỉ của thành La Mã, một thế giới mới đã hiện ra trước mắtphương Tây kinh ngạc: đó là thời cổ Hy Lạp; trước những hình thức huyhoàng của nó những bóng ma của thời Trung cổ đã biến mất” [37, tr 468].Thời kì này xuất hiện nhiều nhà tư tưởng tiến bộ như: Thomas More (1477-1535), Rabelais (1494-1553), Montainge (1533-1592)…

Điều cảm nhận đầu tiên trong các tác phẩm của thời Phục hưng là sựkhám phá mới về con người và vũ trụ trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn,cải cách tôn giáo và chủ nghĩa duy lý Thời đại ấy, từng bước trả lại cho conngười những giá trị thiêng liêng nhất, thay chủ nghĩa khổ hạnh, lối ép xác, tưtưởng giáo điều bằng sự đề cao năng lực tự do lựa chọn, chứng minh chonhững khát vọng trần tục của con người Thông qua những tác phẩm văn học

và nghệ thuật, các nhà tư tưởng thời kỳ này quan tâm về bản chất người vànhững phẩm chất tự nhiên thuần túy của bản chất người Đó là bức tượngDavid của thiên tài nghệ thuật người Ý Michelangelo (1475-1564), bức tượng

là sự mô tả ấn tượng về cái đẹp và sức mạnh thể chất được trở nên mạnh mẽhơn qua hình ảnh khỏa thân trong sáng và dáng vẻ cương quyết đi tới ánhsáng tự do và sự sống

Có thể nói, thời Phục hưng là thời kỳ con người trở về với chính mìnhsau cuộc hành trình gian khổ suốt 10 thế kỉ Điều này thể hiện rõ nét trongchủ nghĩa nhân văn với hai khía cạnh quan trọng là đề cao nhân tính và nhữnggiá trị đích thực của con người, đồng thời thay thế sự thống trị của Thượng

Đế bằng sự thống trị của con người trên thế gian này Niềm khao khát cháybỏng của các nhà văn thời Phục hưng là làm sao để giải phóng con người khỏiảnh hưởng nặng nề của giáo điều Thiên Chúa, làm cho họ trở thành một nhâncách tự do, tự do cả về mặt thể xác lẫn tâm hồn

Trang 30

Tóm lại, quan niệm về các quyền tự nhiên của con người xuyên suốttrong thời kỳ Phục hưng là sự đề cao con người và khát vọng giải phóng conngười khỏi sự thống trị của chế độ phong kiến và giáo hội Mặc dù còn cónhững hạn chế, nhưng bao trùm lên tất cả các tư tưởng lớn của thời kỳ này đó

là chủ nghĩa nhân văn Chính những tư tưởng nhân văn đó đã thực sự mởđường cho cuộc đấu tranh thực sự chống lại thần quyền và thế quyền trongthời cận đại, qua đó tác động tới các quan niệm của các triết gia về quyền conngười trong thời kỳ này

1.3 Vị trí quan niệm quyền con người của triết học Tây Âu cận đại trong lịch sử quan niệm quyền con người

Khái niệm “quyền con người” (human rights) là một phạm trù đa diện,

do đó có nhiều định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ mộtgóc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩanào đến nay được công nhận là bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyềncon người Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủyLiên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi nhiều nhànghiên cứu Theo định nghĩa này: quyền con người là những bảo đảm pháp lýtoàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hànhđộng hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và

tự do cơ bản của con người

Như vậy, quyền con người cũng được xác định như là những chuẩnmực mà cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ Những chuẩn mực này kếttinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, chotất cả mọi người Nhờ có những chuẩn mực này, nhân loại mới được bảo vệnhân phẩm và có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tưcách là một con người Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định,

Trang 31

quyền con người vẫn là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệtrong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.

Về nguồn gốc của quyền con người, có hai trường phái cơ bản đưa rahai quan niệm trái ngược nhau:

Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) nhưZeno, Th.Hobbes, J.Locke… cho rằng quyền con người là những gì bẩm sinh,vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi vì họ làthành viên của loài người Do đó, các quyền con người không phụ thuộc vàocác phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân,giai cấp, tầng lớp, cộng đồng hay nhà nước nào; và không một chủ thể nào, kể

cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người bẩm sinh, vốn

có của các cá nhân

Ngược lại với học thuyết về quyền tự nhiên là học thuyết về các quyềnpháp lý (legal rights) Những người theo học thuyết này như Edmund Burke(1729-1797), Jeremy Bentham (1748-1832)… cho rằng các quyền con ngườikhông phải là những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do nhànước xác định và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc xuất phát

từ truyền thống văn hóa Như vậy, theo học thuyết về quyền pháp lý, phạm vi,giới hạn và ở góc độ nhất định, các thời hạn hiệu lực của các quyền con ngườiphụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tậpquán, truyền thống văn hóa… của các xã hội Ở đây, trong khi các quyền tựnhiên có tính đồng nhất trong mọi hoàn cảnh, mọi thời điểm, thì các quyềnpháp lý mang tính chất khác biệt tương đối về mặt văn hóa và chính trị

Cho đến nay, cuộc tranh luận về tính đúng đắn của hai học thuyết trênvẫn còn tiếp tục Việc phân định đúng hay sai, hợp lý hay không hợp lý giữahai học thuyết này là không đơn giản, bởi nó liên quan đến các vấn đề triếthọc, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý… trong phạm vi rộng lớn Tuy vậy,

Trang 32

mọi quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyết nào đều khôngphù hợp Bởi vì, về hình thức, hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc giađều thể hiện các quyền con người là các quyền pháp lý, tuy nhiên, trong

“Tuyên ngôn toàn thế giới về vấn đề nhân quyền” năm 1948, một số văn kiện

pháp luật và văn kiện chính trị pháp lý ở một số quốc gia, nhân quyền đượckhẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thểchuyển nhượng được của các cá nhân

Trong những năm gần đây, nhiều nhà lý luận dựa vào trình độ pháttriển của lịch sử nhân loại để phân chia quyền con người thành ba thế hệ.Người đưa ra ý tưởng này là một nhà luật học người Czech tên là KarelVasak Lý luận của Vasak bắt nguồn và phản ánh lịch sử phát triển của tưtưởng và pháp luật về quyền con người ở Châu Âu, nhưng chúng vẫn cónhững ý nghĩa trong việc nghiên cứu về lịch sử phát triển của quyền conngười nói chung trên thế giới Ba thế hệ quyền con người gồm có:

Quyền con người thế hệ thứ nhất gắn liền với cách mạng tư sản nhằm

chống lại các hành vi xâm hại của nhà nước đối với các quyền và tự do củacông dân Quyền con người thế hệ thứ nhất khẳng định mạnh mẽ các quyền

cá nhân, chủ yếu là các quyền dân sự, chính trị, các quyền tự do, bình đẳngcủa con người theo các “quy luật tự nhiên” Quyền con người thế hệ thứ nhất

có một số đặc điểm đáng chú ý sau đây:

Thứ nhất, tư tưởng bình đẳng xuất hiện từ thời cổ đại, không bị lãng

quên ở thời trung cổ, được đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ cáchmạng tư sản với những hình thức khác nhau và những khuynh hướng khácnhau, nhưng đều khẳng định bản thân chính quyền nhà nước được thiết lậpchỉ để hoàn thành các nhiệm vụ và thực hiện các mục đích bảo vệ quyền conngười Tư tưởng tự do, bình đẳng là cơ sở và là thành quả của cuộc cáchmạng thông qua việc phê phán chế độ phong kiến Nó luận chứng cho những

Trang 33

ý niệm mới về quyền bình đẳng và tự do cá nhân, về tính thiết yếu có sự ngựtrị của pháp luật trong quan hệ giữa cá nhân với nhà nước

Thứ hai, học thuyết “pháp quyền tự nhiên” là sản phẩm của thời kỳ cải cách, là cơ sở tư tưởng của quyền con người thế hệ thứ nhất Thế hệ quyền

con người này căn cứ vào bản năng của con người thực thể để xây dựng kháiniệm nhân quyền và giải thích những tiêu chuẩn nhân quyền như những giá trị

tự nhiên, cơ bản, là sản phẩm vốn có của tự nhiên, là thiên phú bẩm sinh, làđặc quyền tự nhiên không thể bị tước bỏ của con người Con người, cả trongtrạng thái tự nhiên lẫn ở vị thế công dân, đều hành động theo luật tự nhiên củabản thân mình, suy lý theo lợi ích của mình, được thôi thúc bởi sự sợ hãi hayước vọng của mình Việc tước đoạt các quyền tự nhiên của con người sẽ dẫnđến sự bạo hành Các công trình của Hugo De Groot, B.Spinoza, J.Locke,Ch.S.Mongtesquieu, J.J.Rousseau… đã đóng góp vào thuyết duy lý mới vềquyền tự nhiên và sự hình thành thế giới quan luật học, chuẩn bị tư tưởng chocác cuộc cách mạng tư sản

Quyền con người thế hệ thứ hai xuất hiện và phát triển gắn liền với sự

bùng nổ của hai cuộc chiến tranh thế giới Quyền con người thế hệ thứ haichịu ảnh hưởng của thuyết “nhà nước phúc lợi chung”, đòi hỏi nhà nước phảitích cực hành động thực hiện những quyền cơ bản của con người, trong đó cócác quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Quyền con người thế hệ thứ nhất đấutranh cho các quyền dân sự và chính trị, cho sự bình đẳng giữa người vớingười, chống chế độ phong kiến tàn bạo và tàn dư của chế độ nô lệ Cònquyền con người thế hệ thứ hai mở rộng cuộc đấu tranh cho các quyền kinh

tế, xã hội và văn hóa, quyền dân tộc tự quyết, quyền độc lập dân tộc, chống sự

áp bức, nô dịch của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phânbiệt chủng tộc, vì sự bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các quốc gia Gắn liềnvới hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, các tư tưởng và học

Trang 34

thuyết về quyền con người thế hệ thứ hai chứa đựng nội dung chống chủnghĩa Phát xít, ngăn ngừa và phản đối chiến tranh, chống thần quyền, chuyênchế, chống đặc quyền đặc lợi của giai cấp thống trị Từ chỗ yêu cầu về cácquyền và phản đối chính trị bạo ngược, các tư tưởng về quyền con ngườichuyển sang đòi hỏi nhà nước đem lại phúc lợi

Quyền con người thế hệ thứ ba bao gồm các quyền tiêu biểu như quyền

tự quyết dân tộc, quyền phát triển, quyền với các nguồn tài nguyên thiênnhiên, quyền được sống trong hoà bình, quyền được sống trong môi trườngtrong lành… Danh mục các quyền này vẫn đang được bổ sung, trong đónhững quyền được đề cập gần đây bao gồm: quyền được thông tin và cácquyền về thông tin, quyền được hưởng thụ các giá trị văn hoá… Những văn

kiện cơ bản phản ánh thế hệ quyền này bao gồm: “Tuyên ngôn về bảo đảm độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa” năm 1960, hai “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá” năm 1966 (Điều 1), “Tuyên bố về quyền của các dân tộc được sống trong hoà bình” năm 1984; “Tuyên bố về quyền phát triển” năm 1986,…

Về tính chất, quyền con người thế hệ thứ ba là sự trung hoà nội dungcủa cả hai nhóm quyền dân sự, chính trị và quyền kinh tế, xã hội, văn hoá,nhưng đặt chúng trong những bối cảnh mới và trong khuôn khổ các quyền củanhóm Về tính pháp lý, ngoại trừ một số quyền như quyền tự quyết dân tộc,hầu hết các quyền trong quyền con người thế hệ thứ ba chưa được pháp điểnhoá bằng các điều ước quốc tế, mà mới chỉ được đề cập trong các tuyên bố,tuyên ngôn Tính pháp lý và tính hiện thực của hầu hết các quyền trong thế hệquyền con người thứ ba hiện vẫn đang là chủ đề gây tranh cãi

Trên đây là một số luận giải cơ bản về quyền con người, qua đó chúng

ta có thể thấy rằng nội hàm của khái niệm quyền con người vô cùng rộng lớn.Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ trình bày quan niệm về quyền con

Trang 35

người của các triết gia Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII xung quanh thế hệ quyền con người thứ nhất, cụ thể là các quyền dân sự và chính trị hay còn gọi là các

quyền tự nhiên của con người

Kết luận chương 1

Có thể nói rằng, bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa đầy biến động củaChâu Âu nói chung, Tây Âu nói riêng thế kỉ XVII - XVIII cùng với những tưtưởng của các bậc tiền bối và những nhà tư tưởng cùng thời là những tiền đề

vô cùng quan trọng cho sự hình thành quan niệm triết học nói chung và quanniệm về quyền con người nói riêng của các triết gia Tây Âu thời kỳ này

Được xây dựng trên nền tảng lý luận phong phú và hiện thực ấy, nhữngquan niệm về quyền con người trong triết học Tây Âu trong thế kỉ XVII -XVIII không chỉ dừng lại ở việc kế thừa các tư tưởng truyền thống mà còn là

sự phát triển những nét riêng, độc đáo và cách mạng, thực sự là sản phẩmsáng tạo của những con người tài năng Vấn đề quyền con người được cáctriết gia kiến giải vô cùng mới mẻ, phong phú và có giá trị thời đại Nội dungvấn đề này sẽ được luận văn làm rõ trong chương tiếp theo

Trang 36

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUAN NIỆM VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU THẾ KỈ XVII - XVIII

2.1 Quan niệm về quyền sống, quyền tự do, bình đẳng và quyền sở hữu tài sản

2.1.1 Quan niệm về quyền sống

Trong các quyền tự nhiên cơ bản của con người, quyền sống được cáctriết gia Tây Âu thế kỉ XVII - XVIII bàn tới đầu tiên Các triết gia hiểu quyềnsống ở hai góc độ là quyền bảo toàn sinh mạng và quyền sống xứng đáng vớibản chất người

Ở góc độ thứ nhất, quyền sống là quyền bảo toàn sinh mạng thìB.Spinoza (1632-1677) - nhà triết học xuất thân trong một gia đình Tây BanNha gốc Do Thái, sống tại Hà Lan, cho rằng, trong các quyền của con người,quyền sống là quyền thiêng liêng nhất và trở thành động cơ cơ bản nhất củacon người Cùng với B.Spinoza, triết gia người Anh J.Locke (1632-1704)cũng đưa ra quan niệm của mình về quyền sống của con người Ông cho rằngmục đích của con người khi tới với thế giới này trước tiên là để sống Chúatrời tạo ra con người và cho con người quyền sở hữu đối với chính bản thânmình Con người phải tự bảo đảm sự sống cho mình và không được làm tổnhại tới sự sống của người khác dù trong trạng thái tự nhiên J.Locke nhấnmạnh: “con người ta có một quyền tự do không có sự kiểm soát để sắp đặtcon người hay tài sản của mình, nhưng anh ta không được tự do hủy diệt bảnthân, hay làm việc đó cho dù là đối với một sinh vật bất kỳ nào thuộc tài sảncủa anh ta” [33, tr 35]… “bất kỳ người nào cũng không được phép làm tổnhại đến sinh mạng, sức khỏe… của người khác, vì tất cả đều là tuyệt tác củamột đấng Sáng tạo toàn năng và thông thái vô hạn” [33, tr 36] Như vậy, điềuđầu tiên J.Locke đề cập tới khi luận bàn về quyền sống của con người chính là

quyền bảo toàn sinh mạng

Trang 37

Con người, ngoài bản thân mình ra “còn cần phải bảo toàn cho toàn thểphần loài người còn lại ở mức tối đa có thể” [33, tr 36] Một điều đáng lưutâm khi tìm hiểu quan niệm của J.Locke về quyền sống, đó là ông cho rằng:

“con người ta không thể lấy đi hay làm suy yếu đi tính mạng hay nhữngkhuynh hướng nhằm bảo toàn sự sống, quyền tự do, thân thể hay tài sản củangười khác, trừ khi là để thực hiện công lý với kẻ vi phạm” [33, tr 36] Conngười có quyền tuyệt đối với sinh mạng của mình, thể hiện ở việc một người

có quyền “tự bảo vệ lấy mình và thực hiện quyền chiến tranh, một quyền tự

do để giết kẻ gây hấn” [33, tr 52], bởi vì người gây hấn này đã vi phạm vào

“luật tự nhiên” khi làm hại tới quyền sống của người khác Đây có thể coi làmột hạn chế trong quan niệm của nhà triết học Anh về quyền sống, bởi lẽ ông

đã cho phép người bị hại có “quyền tự do giết kẻ gây hấn” với mình Điều này

đã được triết gia người Pháp J.J.Rousseau khắc phục

Ngay từ đầu tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”, J.J.Rousseau

(1712-1778) đã trình bày quan điểm của mình về quyền sống Ông viết: “Luật đầutiên của tự do là mỗi người phải được chăm lo sự tồn tại của mình Nhữngđiều quan tâm đầu tiên là quan tâm đến bản thân” [51, tr 53] Trong tác phẩm

“Emile hay là về giáo dục”, J.J.Rousseau đã làm rõ hơn vấn đề này Không ít

lần J.J.Rousseau đề cập tới cụm từ “chăm lo”, “tự bảo tồn” trong tác phẩmnày Ông viết: “Các bổn phận đầu tiên của chúng ta là đối với chúng ta; cáctình cảm nguyên sơ của chúng ta tập trung vào bản thân chúng ta; mọi độngthái tự nhiên của chúng ta trước hết quy vào việc tự bảo tồn và sự an lạc củachúng ta” [52, tr 115] Khi luận giải về những đam mê của con người,J.J.Rousseau khẳng định: “Tình yêu bản thân thì bao giờ cũng tốt lành, baogiờ cũng phù hợp với trật tự… chúng ta phải tự yêu bản thân mình đểbảo tồn lấy chúng ta, chúng ta phải yêu chúng ta hơn là yêu tất cả mọithứ khác [52, tr 284]

Trang 38

Như vậy, điều đầu tiên J.J.Rousseau đề cập trong quyền sống của conngười chính là việc tự bảo tồn sinh mạng Sự bảo tồn sinh mạng trở thành

“bổn phận” đối với mỗi người Đó không chỉ có quyền mà còn phải có nghĩa

vụ Điều này đã được J.J.Rousseau nhấn mạnh trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” như sau: “Ở tuổi lý trí, con người phải tự mình định đoạt các

phương tiện sinh tồn của mình” [51, tr 53] Xuất phát từ học thuyết về tựnhiên, J.J.Rousseau cho rằng con người không phải do Thượng đế hay mộtđấng siêu nhiên nào đó sinh ra Con người trong quan niệm của ông là mộtsản phẩm đích thực của giới tự nhiên và thuộc về giới tự nhiên Cũng chính vìnguồn gốc tự nhiên của mình mà con người sẽ có được những đặc tính bẩmsinh về quyền lợi như nhau do tự nhiên ban tặng Do đó, con người không thểtrông chờ ở sự cứu giúp của Thượng đế mà phải tự mình có trách nhiệm vớichính bản thân mình, mà điều đầu tiên chính là có trách nhiệm với sự tồn tạicủa bản thân

Theo J.J.Rousseau, quyền sống không chỉ là thiêng liêng mà còn là tốithượng, nó vượt lên trên tất cả các quyền khác Con người có thể từ bỏ nhữngquyền khác để đánh đổi lấy quyền sống của mình Với ông: “Thủ lĩnh cũngnhư dân chúng đều sinh ra bình đẳng, tự do và họ chỉ từ bỏ quyền tự do của

họ khi phải lo toan lợi ích của bản thân họ mà thôi” [51, tr 53-54] Quyềnsống là nhu cầu khẳng định sự hiện hữu của con người như một thực thể tựnhiên sống động, đồng thời là nhu cầu về những điều kiện cần thiết để duy trì

và phát triển trạng thái hiện tồn của con người Khi con người không đảm bảođược quyền sống của chính mình, những quyền khác cũng trở nên vô nghĩa.Con người bị tước đoạt mất sự sống không thể là chủ thể để thực hiện nhữngquyền liên quan đến sinh mạng và sự tồn tại của chính mình

Chính từ quan niệm về quyền sống này, J.J.Rousseau đã lên tiếng phêphán của điểm của Hugo Grotius và một số người khác khi họ cho rằng, trong

Trang 39

chiến tranh, kẻ thắng trận có quyền giết kẻ thua trận Bởi quyền sống của conngười là tự nhiên, nó mang giá trị phổ quát, bất biến, vĩnh hằng Không mộtđiều gì có thể tước đoạt quyền sống của con người, ngay cả trong trạng tháichiến tranh Đối với J.J.Rousseau, “Chiến tranh không phải là quan hệ giữamột người với một người mà là quan hệ giữa quốc gia với quốc gia Trongchiến tranh, những con người cá biệt trở thành kẻ thù của nhau không phảivới tư cách công dân mà là với tư cách người lính bảo vệ tổ quốc” [51, tr 61].

Vì thế, cái quyền lực được giết kẻ bại trận chỉ là mạo nhận, tình trạng chiếntranh không có cách gì để dẫn đến quyền ấy

Ở góc độ thứ hai, quyền sống xứng đáng với bản chất người thì các triếtgia cho rằng con người sống không đơn giản chỉ là sự hiện hữu của một thểxác mà con người sống còn là để khẳng định chính bản thân mình, thể hiệnmình với tư cách là một sinh vật tự do có tính người Bởi nếu chỉ là sự hiệnhữu của một thể xác, cơ thể con người sẽ không khác với con vật là bao, điềuquan trọng làm nên sự khác biệt chính là việc xác định ý nghĩa của cuộc sốngnày, là ở chỗ con người đã làm được gì trong cuộc đời này J.J.Rousseaukhông đồng tình với quan niệm của những người đương thời về cách chăm locho con cái của họ Ông chỉ ra: “Mọi người chỉ nghĩ đến bảo tồn con mình;như thế không đủ; cần dạy nó tự bảo tồn khi là người trưởng thành, dạy nóchịu đựng các đòn của số phận, dạy nó không sợ giàu sang và nghèo khổ, dạy

nó sống nếu cần trên băng giá miền Islande hay trên núi đá nóng bỏng vùngMalte Vấn đề là làm cho nó sống hơn là ngăn cản nó chết” [52, tr 39].J.J.Rousseau hiểu sống trong cuộc đời không chỉ là hiện hữu, là có mặt, mà làsống để khẳng định, là để lại ý nghĩa và ghi dấu trong cuộc đời Ông đòi hỏi ởcon người một thái độ đúng đắn với sự sống của mình J.J.Rousseau khẩnthiết yêu cầu con người tự tìm cho mình một cuộc sống, một cách sống ýnghĩa trên cả phương diện thể xác lẫn tinh thần Theo ông, “Sống không phải

Trang 40

là hít thở, đó là hành động; đó là sử dụng các khí quan của chúng ta; sử dụngcác giác quan; các năng lực; mọi bộ phận của bản thân chúng ta, chúng cho tacảm giác về sự tồn tại của mình Con người đã sống nhiều nhất không phải làngười đã đếm được nhiều năm nhất, mà là người đã cảm nhận cuộc đời đượcnhiều nhất Có kẻ sống đến trăm tuổi mà đã chết từ khi ra đời Giá như người

đó xuống mồ ở tuổi thanh xuân lại hơn nếu như người đó sống ít ra là cho tớilúc ấy” [52, tr 39] Với J.J.Rousseau, sống là một nghệ thuật cảm nhận cuộcsống Để đạt được nghệ thuật ấy, con người phải hành động, phải sử dụngchính các giác quan, các năng lực của bản thân để khẳng định sự hiện tồn củamình Chính những giác quan, những năng lực thông qua quá trình hoạt độngthực tiễn trong đời sống sẽ giúp con người phát triển và hoàn thiện nhân cách,bản tính người thực thụ của mình chứ không phải một bàn tay vô hình, siêunhiên nào đó Bởi vậy, có những người được J.J.Rousseau coi là chết từ khi rađời, không để lại ý nghĩa nào cho cuộc sống Đối với họ, sống chỉ là để thỏamãn những nhu cầu vật chất như: ăn, uống, ở, mặc… Họ cảm nhận cuộc sốngqua những hưởng thụ tầm thường nhất, không hề xác định cho mình ý nghĩathực sự của việc cảm nhận cuộc sống là gì

Như vậy, có thể nói quyền sống đối với J.J.Rousseau không bó hẹptrong cái nhìn thiên lệch về sự bảo tồn bản thân mà còn hướng con ngườisống một đời sống đích thực, tự tìm cho mình con đường riêng, những cảmnhận riêng trong cuộc sống Cuộc sống ấy gắn liền con người với hạnh phúc

Tóm lại, quan niệm của các triết gia Tây Âu thể kỉ XVII - XVIII vềquyền sống đều có một điểm chung là coi quyền sống là quyền đầu tiên,

thiêng liêng, tối cao nhất và không thể bị tước đoạt của con người Quyền

sống ở thời kỳ này có một nội hàm vô cùng rộng lớn, nó không chỉ là sự chăm

lo, bảo tồn sinh mạng con người mà còn khẳng định nhân cách của con ngườithông qua việc tự định đoạt cuộc sống của bản thân mình

Ngày đăng: 24/06/2016, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Michel Beaud (2002), Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000, Huyền Trang dịch, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000
Tác giả: Michel Beaud
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2002
3. C. Brinton (2007), Con người và tư tưởng phương Tây, Nguyễn Kiên Tường dịch, NXB Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người và tư tưởng phương Tây
Tác giả: C. Brinton
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2007
4. Vũ Thị Minh Chi (2007), “Văn hóa nhân quyền”, tạp chí Nghiên cứu con người, số 2 (29) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nhân quyền”, tạp chí" Nghiên cứu con người
Tác giả: Vũ Thị Minh Chi
Năm: 2007
5. Tống Văn Chung, Nguyễn Quang Thông (1990), Lịch sử triết học cổ đại Hy - La, tập 2, tủ sách trường Đại học tổng hợp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử triết học cổ đại Hy - La
Tác giả: Tống Văn Chung, Nguyễn Quang Thông
Năm: 1990
6. Nguyễn Thị Dịu (2009), Quan điểm chính trị - xã hội của John Locke, Luận văn thạc sĩ triết học, Đại học KHXH&NV (ĐHQGHN), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm chính trị - xã hội của John Locke
Tác giả: Nguyễn Thị Dịu
Năm: 2009
7. W. Duart, Câu chuyện Triết học (2007), NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện Triết học
Tác giả: W. Duart, Câu chuyện Triết học
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 2007
8. Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hạn chế quyền lực nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
9. Đại học tổng hợp Hà Nội, Khoa Luật (1992), Việt Nam với công ước quốc tế về quyền con người, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam với công ước quốc tế về quyền con người
Tác giả: Đại học tổng hợp Hà Nội, Khoa Luật
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1992
10. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Nguyễn Văn Đức, Trần Văn Trị, Phạm Gia Hải, Phan Ngọc Liên (1971), Lịch sử thế giới cận đại, quyển I (1640-1870), Tủ sách Đại học sư phạm, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Nguyễn Văn Đức, Trần Văn Trị, Phạm Gia Hải, Phan Ngọc Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1971
13. Phạm Văn Đức (2008), “John Locke - Nhà tư tưởng lớn của phong trào khai sáng”, tạp chí Triết học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: John Locke - Nhà tư tưởng lớn của phong trào khai sáng”, tạp chí" Triết học
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 2008
14. Trần Ngọc Đường (2004), Bàn về quyền con người và quyền công dân, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền con người và quyền công dân
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
15. Trần Hương Giang (2008), Quan niệm về tự do và bình đẳng trong triết học Mongtesquieu và Rousseau, Luận văn thạc sĩ triết học, ĐH KHXH&NV (ĐHQGHN) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về tự do và bình đẳng trong triết học Mongtesquieu và Rousseau
Tác giả: Trần Hương Giang
Năm: 2008
16. Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992), (1995), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
18. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2001), Lịch sử tư tưởng chính trị, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng chính trị
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người (1997), Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị
Tác giả: Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu quyền con người
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
20. Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh (2006), Đại cương lịch sử triết học phương Tây, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Tây
Tác giả: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
Năm: 2006
21. Đỗ Minh Hợp (2010), Lịch sử triết học đại cương, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học đại cương
Tác giả: Đỗ Minh Hợp
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
22. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2014), “Tư tưởng cuả J.J. Rousseau về quyền con người”, Tạp chí Triết học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng cuả J.J. Rousseau về quyền con người”, Tạp chí "Triết học
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w