Còn tác giảSinger đã đối chiếu các xúc động phân hóa với sự tưởng tượng và với tròchơi tưởng tượng, ông đề xướng một phương pháp rất lý thú để nghiêncứu sự biểu hiện cảm xúc của trẻ em t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-NGÔ THỊ QUỲNH TRANG
GIÁO DỤC CẢM XÚC CHO TRẺ MẪU GIÁO
4 – 5 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ
MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội, 2015
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới luôn tồn tại, vận động và phát triển theo quy luật tuầnhoàn không ngừng nghỉ; con người chính là một trong những nhân tốtrong thế giới luôn vận động ấy Con người tồn tại và phát triển không chỉbằng cơ thể mà trong con người còn tồn tại đời sống tinh thần vô cùngphong phú vì chúng ta sống trong xã hội, có mối quan hệ giữa người vớingười đa dạng: đối với người này thì yêu thương, đối với người kia thìghét bỏ, đối với người nọ thì giận hờn Thái độ tình cảm đó bao giờcũng được biểu hiện ra bên ngoài bằng những cử chỉ, lời nói khiến ngườingoài có thể nhận ra khi giao tiếp và để lại những rung động tích cực haytiêu cực cho cả đôi bên
Khi trẻ bước vào lứa tuổi mẫu giáo, nhiều cha mẹ than phiềnnhững vấn đề liên quan đến cảm xúc của trẻ như bướng bỉnh, nhút nhát,kém hòa đồng Những vấn đề này ảnh hưởng lớn đến khả năng giao tiếp
xã hội và sự xuất hiện nhiều hành vi sai lệch của trẻ Vì vậy, làm sao đểtrẻ biết làm chủ cảm xúc, tinh tế nhận ra cảm xúc của người khác để kịpthời điều chỉnh hành vi và thái độ của bản thân là điều vô cùng cần thiết
Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều học thuyết về cảm xúc, nhưng cómột nhận xét chung cho tất cả các thuyết về cảm xúc đó là một sự kết hợpcủa kích thích, sự thể hiện của khuôn mặt, hành vi, các sự kiện của môitrường, và sự diễn dịch của nhận thức Những thay đổi ở bất kỳ nhân tốnào trong số đó có thể sẽ thay đổi cảm xúc được trải nghiệm
Sự hình thành cảm xúc là một điều kiện tất yếu của sự phát triểncon người như là một nhân cách Cảm xúc có nhiều loại: cảm xúc đạođức, cảm xúc thẩm mỹ, cảm xúc trí tuệ Một đặc trưng của cảm xúc là
có tính đối cực: yêu và ghét, ưa thích và không ưa thích, xúc động vàdửng dưng Cảm xúc như là sự rung động về một mặt nhất định của con
Trang 3người đối với các hiện tượng nào đó của hiện thực Cảm xúc có đặc điểm
là mang tính chất chủ quan
Cảm xúc là cơ sở hình thành tình cảm, tình cảm là cốt lõi nhâncách con người Chúng ta thường nói phẩm chất đạo đức là mặt quantrọng nếu không muốn nói là nền tảng của nhân cách Trong thời đại côngnghệ thông tin, tri thức, nhiều công cụ, kỹ thuật do con người sáng tạo
ra mang những chức năng “trí tuệ nhân tạo”, nhưng các công cụ, kỹ thuậtnày không có cảm xúc (không biết vui, buồn, tức giận, sợ hãi ) như conngười Do vậy, suy cho đến cùng, giáo dục để hình thành cảm xúc, tìnhcảm cho trẻ chính là xây dựng nền tảng của đạo đức, xây dựng nhân cáchcon người Nếu không GDCX ngay từ thời thơ ấu thì quan hệ giao tiếp xãhội chỉ còn là lí trí, trí tuệ, lạnh lùng mà thiếu đi cái nhân bản, lòng nhân
ái, tính người
Ở trường MN việc GDCX được tiến hành dưới nhiều hình thứckhác nhau và lồng ghép trong tất cả các hoạt động của trẻ như: hoạt độnghọc tập, hoạt động vui chơi, sinh hoạt hàng ngày Trong đó hoạt độngKPMTXQ có nhiều cơ hội tốt hơn để GDCX cho trẻ Trường MN làtrường học quan trọng giúp trẻ hình thành những cảm xúc tích cực Giáodục trẻ phát triển những cảm xúc thông qua hoạt động KPMTXQ ởtrường MN góp phần giáo dục trẻ phát triển toàn diện về tình cảm, thẩm
mỹ, hình thành nhân cách con người
Hiện nay việc GDCX cho trẻ đã được quan tâm hơn, tuy nhiên sốlượng trẻ/ lớp đông, giáo viên khó khăn hơn trong việc quan tâm chămsóc từng trẻ, một số giáo viên chưa biết cách tạo cảm xúc cho trẻ trongcác hoạt động, câu hỏi giáo viên đưa ra thường là câu hỏi đóng Trẻ ítđược bày tỏ ý kiến, cảm xúc của mình Hoạt động trong lớp học thườngtĩnh nhiều hơn động…
Trang 4Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Giáo dục cảm xúc cho
trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh”.
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và đề xuất một số biện phápGDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ nhằm giúptrẻ tích lũy cảm xúc và hình thành tình cảm tích cực Từ đó, làm cơ sở đểxây dựng mối quan hệ tốt đẹp của trẻ với mọi người và MTXQ
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi ở trường MN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi qua hoạt động KPMTXQ
4 Giả thuyết khoa học
Nếu phối hợp sử dụng các biện pháp kích thích trẻ tích cực thựchành, trải nghiệm cảm xúc trong quá trình KPMTXQ một cách nhẹnhàng, thoải mái và hợp lý thì cảm xúc tích cực của trẻ sẽ được tích lũytốt hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc “GDCX cho trẻ MG 4– 5 tuổi qua hoạt động KPMTXQ”
5.2 Đề xuất một số biện pháp GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi qua hoạtđộng KPMTXQ
5.3 Thực nghiệm các biện pháp GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi qua hoạtđộng KPMTXQ
6 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi giới hạn phạm vinghiên cứu ở một số vấn đề sau:
Trang 5- Nghiên cứu một số biểu hiện cảm xúc thường gặp ở trẻ như: vui,buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi cũng như cách thể hiện, nhận biết vàđiều khiển nó.
- Nghiên cứu một số biện pháp GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi thông quahoạt động KPMTXQ
- Nghiên cứu và TN trên trẻ MG 4 - 5 tuổi ở một số trường MNthuộc tỉnh Nam Định
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài và sử dụng cácphương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa đểlàm rõ vấn đề GDCX cho trẻ MG 4 - 5 tuổi thông qua hoạt độngKPMTXQ
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát các biểu hiện cảm xúc của trẻ trong quá trình hoạt động
và hoạt động GDCX cho trẻ của giáo viên MN để làm rõ mức độ hìnhthànhcảm xúc của trẻ MG 4 - 5 tuổi, cách thức tổ chức GDCX cho trẻ 4 -
5 tuổi ở trường MN
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên để tìm hiểu nhận thức, kinh nghiệm, khókhăn của giáo viên trong việc GDCX tích cực cho trẻ 4 - 5 tuổi thông quahoạt động KPMTXQ
Đàm thoại với trẻ để tìm hiểu nhận thức, đặc điểm, khả năng, nhucầu, hứng thú của trẻ trong hoạt động, sinh hoạt, trong quan hệ với bảnthân và mọi người xung quanh
7.2.3 Phương pháp điều tra
Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi để tìm hiểu nhậnthức của giáo viên về nội dung, hình thức, biện pháp và cách thức tổ chức
Trang 6quá trình GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ Đồngthời tìm hiểu những hạn chế trong việc thực hiện quá trình giáo dục này ởtrường MN
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Áp dụng các biện pháp đã đề xuất trong việc GDCX cho trẻ 4 - 5tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ nhằm kiểm nghiệm tính khả thi vàhiệu quả của các biện pháp đã đề ra tại một số trường MN trên địa bànthành phố Nam Định
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Nhằm thu thập, xử lý các số liệu trong quá trình nghiên cứu vàtổng kết, thống kê số liệu điều tra thực trạng
8 Những đóng góp của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành cảm xúc cho trẻ 4
-5 tuổi thông qua hoạt động KPMTXQ
- Làm rõ thực trạng việc GDCX cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường MN
- Đề xuất một số biện pháp GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi thông qua hoạtđộng KPMTXQ
9 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận chung và kiến nghị sư phạm, Tài liệutham khảo và Phụ lục, phần Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Một số biện pháp GDCX cho trẻ MG 4 – 5 tuổi thôngqua hoạt động KPMTXQ
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC CẢM XÚC CHO TRẺ MẪU GIÁO 4 – 5 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH
1 Cơ sở lý luận
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về cảm xúc.Trước tiên phải kể đến nghiên cứu của các nhà thần kinh học, sinh lý họcnhư Delgado, Ximônôp, Đeglin Trong đó, hai tác giả là Delgado vàXimonop đã nghiên cứu về não và các cảm xúc, còn tác giả Đeglin đã chỉ
ra vai trò khác nhau trong những cảm xúc tích cực và tiêu cực của cácvùng ưu thế và cận ưu thế của các bán cầu não Đây là những đóng gópquan trọng để phát triển ngành tâm lí học giáo dục Các kết luận này giúpchúng ta hiểu về tâm lí chung của con người và tâm lí riêng của tuổi mẫugiáo Ta thấy rằng cảm xúc ảnh hưởng lớn tới sự phát triển não bộ của trẻnhỏ, càng nhỏ ảnh hưởng của cảm xúc lại càng quan trọng Nhưng có hainguồn cảm xúc: tích cực và tiêu cực Nó sẽ gây ra các hành động, tư duyhoàn toàn khác nhau ở con người
Các nhà phân tâm học, điển hình là Freud đã xem xét khái niệmcảm xúc, động cơ của cảm xúc Ông làm rõ nó qua các thuật ngữ đam mê,kết hợp tư duy và xúc động Kế tục ông là Rado, Schachtel Còn một sốtác giả hiện nay của phân tâm học như Holt, Schaier đã sử dụng nhữngkhái niệm cảm xúc Đặc biệt là Dahl đã xây dựng lý luận phân tâm như làmột lý luận giải thích các cảm xúc với tư cách là những động cơ nền tảngcủa các quan hệ lẫn nhau giữa con người Rõ ràng, nghiên cứu về thế giớicảm xúc của con người rất thú vị, nó tạo nên nhiều trường phái song phântâm học gần gũi, biện chứng hơn Các nhà khoa học mà bắt đầu tiênphong là Freud đã đi sâu vào tiềm thức của con người, phát hiện ra vai trò
Trang 8lớn của cảm xúc và cao hơn là nguyên nhân dẫn tới cảm xúc ấy Thuyếttính dục của Freud bị nghi hoặc một thời gian dài song rồi người ta cũngphải công nhận nó khi có quá nhiều bằng chứng chứng minh điều đó.Freud và các nhà khoa học đã nhận thấy rõ vai trò giới tính trong thể hiệncảm xúc Có khi cảm xúc còn đến từ tiềm thức xa xôi Tuy nhiên, cáccông trình trên rõ ràng có thiên lệch trong việc ưu ái hết cho các hành vixúc cảm tự nhiên Với các ông, tình cảm là cái gốc quan trọng quyết địnhtất cả mối quan hệ giữa người với người.
Nghiên cứu mới đây của các nhà tâm lý học thực hành và tâm thầnhọc đã chứng minh một cách rõ ràng hiệu quả của liệu pháp tâm lý vớimột mức độ đáng kể phụ thuộc vào năng lực của người thầy thuốc tâmthần ghi nhận được những biểu hiện phi ngôn ngữ của các cảm xúc(Ekman, Friesen) Trong tác phẩm của hai tác giả này đã nêu lên yêu cầudạy các bác sĩ tâm thần “đọc” những biểu hiện cảm xúc Còn tác giảSinger đã đối chiếu các xúc động phân hóa với sự tưởng tượng và với tròchơi tưởng tượng, ông đề xướng một phương pháp rất lý thú để nghiêncứu sự biểu hiện cảm xúc của trẻ em trước tuổi học, ông và các cộng sự
đã xây dựng phương pháp đo thiên hướng về trò chơi, nội dung và nhữngcảm xúc khác nhau liên quan đến trò chơi tự phát và tưởng tượng, họ đãxem xét những tưởng tượng và trò chơi tưởng tượng trong mối quan hệvới những cảm xúc như hứng thú, vui mừng, căm giận, khổ đau, khiếp sợ,xấu hổ
Ngoài ra, còn có nghiên cứu của các nhà tâm lý học xã hội (Ekman,Mehrabian, Fxline, Argyle) đã nghiên cứu về sự biểu hiện cảm xúc vànhững giao lưu phi ngôn ngữ, những giao lưu thường bao gồm cả giaolưu cảm xúc Đặc biệt nhóm nghiên cứu Ekman, Freisen và Tomkins đãxây dựng phương pháp phân tích chi tiết sự biểu hiện của vẻ mặt [3].Nghiên cứu này đi vào một nội dung ít người để ý Cảm xúc đôi khikhông thể hiện ở lời nói mà còn là nét mặt, ánh mắt, cử chỉ,… Nghiên
Trang 9cứu ấy giúp chúng ta hiểu thêm một phương tiện tạo nên cảm xúc, từ đó
ta có thể áp dụng trong việc dạy dỗ, giao tiếp với trẻ Trẻ nhỏ sẽ thích một
nụ cười hiền dịu hơn một câu nói khen ngợi song với khuôn mặt vô hồn
Tác giả Carroll E.Izard đã cho ra đời cuốn sách rất có ý nghĩa về
cảm xúc, đó là cuốn “Những cảm xúc của người” [3] Ông đã chỉ ra cảm
xúc nền tảng là một hiện tượng phức tạp bao gồm yếu tố sinh lý thầnkinh, yếu tố vận động biểu cảm nét mặt và sự thể nghiệm chủ quan Ôngcùng các tác giả khác đã chia phản ứng hành vi cảm xúc thành 10 cảmxúc nền tảng, đồng thời ông còn chứng minh vai trò đặc biệt của các tiếpxúc cảm xúc trong lứa tuổi thơ ấu về mặt phát triển lĩnh vực cảm xúccũng như toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ
Bên cạnh đó, còn có tác giả Iacovson, Rubinstein đã nghiên cứu vềcảm xúc, tình cảm của con người và biện pháp GDCX của học sinh trong
cuốn “Giáo dục và phát triển tình cảm” [23] và “Đời sống tình cảm của
học sinh” [22] Tác giả Daniel Goleman nhà tâm lý kiêm nhà báo Mỹ
-trong cuốn “Trí tuệ cảm xúc – Làm thế nào để biến những cảm xúc của
mình thành trí tuệ” Trong cuốn sách “Hãy lắng nghe và hiểu con bạn”
[1], tác giả Adele Faber – Elaine Mazlish đã chỉ rõ cảm xúc là gì và sựcần thiết phải GDCX cho trẻ nhỏ trong nhà trường với những nội dung cụthể Các tác giả đã chỉ rõ cảm xúc có ý nghĩa không kém trí tuệ của conngười, vì vậy giáo dục phải được trau dồi từ tuổi ấu thơ và nó cũng cầnthiết như giáo dục trí tuệ Các công trình nghiên cứu này đã gần hơn vớiviệc giáo dục trẻ song chưa đi sâu vào trẻ MN Tuy vậy, nó có nội dungđáng quan tâm là việc GDCX cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trước đây hầu như khái niệm cảm xúc, tình cảm chỉ được các nhàtâm lý học Việt Nam đề cập đến trong các giáo trình tâm lý học đạicương mà việc đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực này còn rất hạn chế.Những năm gần đây, người ta đã quan tâm đến cảm xúc tình cảm, trí tuệ
Trang 10cảm xúc của con người, họ đã nhận thấy được vị trí quan trọng của cảmxúc đối với cuộc sống và hoạt động của con người
Tác giả Phạm Thị Thanh nghiên cứu về cảm xúc trong luận án
“Ảnh hưởng của cảm xúc đến trí nhớ của học sinh trung học cơ sở”, tác giả Dương Thị Hoàng Yến trong luận án “Trí tuệ cảm xúc của giáo viên
tiểu học Hà Nội”, luận văn “Tìm hiểu ảnh hưởng của trạng thái cảm xúc
ở sinh viên đến chất lượng ghi nhớ của họ” của tác giả Vương Thị Kim
Oanh cũng đã đề cập đến một số khái niệm cảm xúc, tình cảm và vai tròcủa cảm xúc đối với hoạt động của con người, đặc biệt học sinh Các tácgiả khẳng định cảm xúc cũng là một loại trí tuệ, nó có ảnh hưởng lớn tớitrí nhớ Càng có cảm xúc sâu về bài học, học sinh càng nhớ lâu và càngyêu thích bài Bên cạnh đó, luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị
Dung “Bước đầu tìm hiểu trí tuệ cảm xúc và thử đo đạc loại trí tuệ này
của giáo viên tiểu học” cũng đã ít nhiều nói lên bản chất, nguồn gốc và
một số loại cảm xúc của con người Tác giả đi vào từng loại trí tuệ cảmxúc, chỉ ra cách xác định cảm xúc của giáo viên Với những đề xuất “đolường” mà tác giả đề ra, ta khá bất ngờ khi thấy rằng giáo viên lâu nămhay học sinh giỏi chưa chắc đã có trí tuệ cảm xúc tốt Nhưng may thay,loại trí tuệ này có thể rèn luyện được Tóm lại, các luận văn trên đã tạonên phần cơ sở lí luận vững chắc về cảm xúc của học sinh, tuy nhiên nóvẫn chưa đi vào cảm xúc của trẻ MG
Ngày nay trong xu thế hội nhập với thế giới và trong khu vực, cácnhà nghiên cứu về tâm lý – giáo dục trẻ em đã quan tâm nhiều hơn đếncảm xúc, tình cảm và GDCX tình cảm của trẻ em lứa tuổi MN
Tác giả Ngô Công Hoàn là người đã đi nghiên cứu sâu về vấn đề
cảm xúc Trong đề tài “Những biểu hiện cảm xúc và những biện pháp
giáo dục cảm xúc cho trẻ từ 1 – 3 tuổi” [8], tác giả đã chỉ ra các biểu hiện
cảm xúc của trẻ và xây dựng một số biện pháp GDCX cho trẻ ở gia đình.Bên cạnh đó, trong các tài liệu biên soạn của mình tác giả cũng đều đề
Trang 11cập đến vấn đề GDCX cho trẻ: Giáo trình “Tâm lý học và giáo dục học” – Sách bồi dưỡng giáo viên, hay cuốn “Giá trị đạo đức và giáo dục giá trị
đạo đức cho trẻ lứa tuổi mầm non” [7]
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn sách “Tâm lý học lứa tuổi
mầm non” [28] và “Tâm lý học trẻ em – tập 2” [29] cũng đã chỉ ra vai trò
của cảm xúc, tình cảm, các biểu hiện cảm xúc, tình cảm của trẻ mẫu giáo.Đặc biệt, tác giả cũng bước đầu chỉ ra rằng trong hoạt động vui chơi, trẻbộc lộ tình cảm chân thực nhất Hoạt động vui chơi là một hình thứcKPMTXQ của trẻ, tuy vậy còn nhiều hình thức khác nữa: làm việc, giaotiếp,…
Gần đây nhất, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục (Trungtâm nghiên cứu chiến lược và phát triển chương trình giáo dục mầm non)
đã biên soạn tài liệu tổ chức hoạt động giáo dục tình cảm – xã hội cho trẻmầm non theo hướng tích hợp Trong đó, hướng dẫn giáo viên tổ chứcgiáo dục tình cảm xã hội cho trẻ dưới nhiều hình thức khác nhau Tôithấy đây là cuốn sách hữu ích nhất cho quá trình giảng dạy của tôi và cho
đề tài luận văn này Cuốn sách được viết súc tích song đa dạng về biệnpháp Trong đó, phải kể tới biện pháp giáo dục trẻ qua việc KPMTXQ.Sách đề cao hoạt động trải nghiệm của trẻ Trẻ càng trải nghiệm nhiều,càng nhớ lâu và thông minh Trải nghiệm ấy phong phú vô cùng Đó làhoạt động tham quan dã ngoại; tự mình trồng, chăm sóc cây; thử các thứmới lạ hoặc đơn giản là giao tiếp với người lạ,…
Tóm lại, các tài liệu trên đều chỉ ra được vai trò của cảm xúc, coi nó
là một loại trí tuệ Nhiều tài liệu Việt Nam chỉ được cảm xúc của lứa tuổimẫu giáo và cách giáo dục, bồi dưỡng cảm xúc ấy Tuy nhiên, nội dungGDCX của trẻ qua khám phá môi trường chưa được đi sâu Tôi mong vớiluận văn này, vấn đề ấy sẽ được làm rõ phần nào
1.2 Cảm xúc và việc giáo dục cảm xúc cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
1.2.1 Khái niệm “Cảm xúc” và “Giáo dục cảm xúc”
Trang 121.2.1.1 Khái niệm “Cảm xúc”
Cảm xúc là cơ sở hình thành các loại tình cảm của con người Cảmxúc của con người từ lâu đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứuvới nhiều cách giải thích khác nhau Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu,cách định nghĩa khác nhau về cảm xúc:
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên – 1977) “Cảmxúc” là rung động trong lòng do tiếp xúc với sự việc gì đó
Từ điển tâm lí (Nguyễn Khắc Viện chủ biên – 1991) “Cảm xúc” làphản ứng rung chuyển của con người trước một kích thích vật chất hoặcmột sự việc gồm hai mặt:
- Những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật như tim đập nhanh,toát mồ hôi hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa
- Phản ứng tâm lí qua những thái độ lời nói, hành vi và cảm giác dễchịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát chủ thể kiềm chếkhó khăn
Lúc phản ứng chưa phân định gọi là cảm xúc, lúc phân định rõ nétgọi là cảm động, lúc biểu hiện với cường độ cao gọi là cảm kích
Carroll E.Izard định nghĩa cảm xúc: đó là một hiện tượng phức tạpbao gồm những yếu tố sinh lý thần kinh, những yếu tố vận động biểu cảm
và sự thể nghiệm chủ quan Sự tác động lẫn nhau của các yếu tố này trongquá trình bên trong cá nhân tạo nên cảm xúc như là một hiện tượng tiếnhóa – phát sinh sinh vật, ở con người sự biểu hiện và sự thể nghiệm cảmxúc mang tính chất bẩm sinh, có tính văn hóa chung và phổ biến [3]
Các nhà tâm lý học Nga có hai cách quan niệm về cảm xúc:
Quan niệm thứ nhất: cho rằng cảm xúc có liên quan đến nhu cầu
của con người
Trước hết phải kể đến tư tưởng của K.K Platônôp, ông định nghĩa:cảm xúc hay tình cảm, đó là một hình thái đặc biệt của mối quan hệ giữacon người đối với các đối tượng và hiện tượng của hiện thực được qui
Trang 13định bởi sự phù hợp hay không phù hợp giữa các đối tượng và hiện tượngđối với nhu cầu của con người [12].
Rubinstein cho rằng: “Cảm xúc là một khía cạnh đặc biệt của sựtrải nghiệm những hành vi cũng như của sự chế biến thông tin và đặc biệt
là liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu” [33]
Ximonov định nghĩa: “Cảm xúc như là sự tác động qua lại giữanhu cầu và khả năng đạt được mục tiêu”
Như vậy các quan điểm trên đều cho rằng cảm xúc của con người
có liên quan đến nhu cầu Ở mỗi thời điểm khác nhau, nhu cầu đối vớimỗi một sự vật hiện tượng và ý nghĩa của chúng cũng khác nhau Hơnnữa, những sự vật khách quan tác động vào cơ thể mỗi con người, đem lạicho họ sự thỏa mãn hay không thỏa mãn một hay một số nhu cầu, thì sẽtạo ra những rung cảm khác nhau ở họ
Quan niệm thứ hai: cho rằng cảm xúc, tình cảm của con người
thực chất là toàn bộ thái độ của họ đối với thế giới xung quanh
Tác giả P.M Iacovson định nghĩa: “Cảm xúc tình cảm là nhữngrung động trong đó biểu thị thái độ của con người đối với người khác, đốivới những sự vật hiện tượng xung quanh, đối với cái mà họ nhận biết vàhành động Và ông cho rằng toàn bộ cảm xúc tình cảm của con người vềthực chất là toàn bộ thái độ của con người đối với thế giới và trước tiên làđối với những người khác trong cuộc sống và trong ấn tượng trực tiếp của
cá nhân [22] P.M Iacovson cũng cho rằng: “Cảm xúc hoặc tình cảm, đó
là một hình thái đặc biệt của mối quan hệ giữa con người với các đốitượng và hiện tượng của hiện thực, được qui định bởi sự phù hợp haykhông phù hợp giữa các đối tượng đó với nhu cầu con người” [22]
Rubinstein cũng cho rằng: “Toàn bộ thế giới cảm xúc, tình cảm củacon người, về thực chất là toàn bộ thái độ của họ đối với thế giới và trướctiên là đối với người khác trong cuộc sống và trong ấn tượng trực tiếp của
cá nhân” [33]
Trang 14Hiện nay trong tâm lý học, khi nói đến cảm xúc, người ta thườnggắn nó với khái niệm tình cảm Cảm xúc – tình cảm là những hiện tượngtâm lý có liên quan mật thiết, không tách rời nhau.
Theo hướng nghiên cứu này, ở Việt Nam, tác giả Nguyễn QuangUẩn trong cuốn Tâm lý học đại cương cũng định nghĩa: tình cảm lànhững thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật,hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ [31] Hay trongmột số giáo trình tâm lý học của Việt Nam đã viết: Cảm xúc là nhữngrung cảm của cá nhân đối với các sự vật hiện tượng, hoàn cảnh có liênquan đến nhu cầu của con người
Tác giả Ngô Công Hoàn – Nguyễn Thị Mai Hà định nghĩa: “Tìnhcảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những
sự vật, hiện tượng có liên quan tới nhu cầu và động cơ của họ” [10]
Trong tâm lý học hiện nay, khi nói đến cảm xúc người ta thườnggắn liền với khái niệm tình cảm Cảm xúc – tình cảm là những hiện tượngtâm lý có liên quan mật thiết không thể tách rời nhau
Tóm lại, khi bàn về khái niệm cảm xúc các nhà tâm lý học đều nhấttrí rằng:
- Cảm xúc phản ánh ý nghĩa của mỗi quan hệ giữa sự vật hiệntượng với nhu cầu của con người
- Cảm xúc bao gồm quá trình sinh lý thần kinh và quá trình tâm lýcủa cá thể
- Các cơ chế thần kinh cơ của bộ mặt thực hiện những biểu hiệncảm xúc
- Cảm xúc người rất phong phú, mang bản chất xã hội
- Cảm xúc là phương thức thích nghi của con người với môitrường
Từ những quan điểm về cảm xúc ở trên, có thể hiểu cảm xúc nhưsau:
Trang 15Cảm xúc là những rung động biểu thị thái độ của cá nhân đối với thế giới khách quan và đối với bản thân, có liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ, đồng thời nó mang tính chủ quan, độc đáo của mỗi người
1.2.1.2 Khái niệm “Giáo dục cảm xúc”
a) Khái niệm “Giáo dục”
Trong giáo trình “Giáo dục học” của hai tác giả Hà Thế Ngữ vàĐặng Vũ Hoạt, khái niệm “Giáo dục” được định nghĩa theo hai cách,nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là một quá trình toàn vẹn hình thànhnhân cách, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông quacác hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáodục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loàingười [18,20]
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của quá trình giáo dụctheo nghĩa rộng – là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ tìnhcảm, thái độ, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi và thóiquen cư xử đúng đắn trong xã hội [18,22]
Chức năng của quá trình giáo dục chỉ được thực hiện trên cơ sởvừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến hành vi, vừa lĩnh hội hệ thốngkiến thức và các giá trị, vừa thí nghiệm những kinh nghiệm tri thức củabản thân
b) Khái niệm “Giáo dục cảm xúc”
Trên cơ sở phân tích hai khái niệm “Giáo dục” và “Cảm xúc”,chúng tôi xác định khái niệm “GDCX” như sau:
GDCX là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm hình thành những rung động tích cực biểu thị thái độ của người được giáo dục đối với thế giới xung quanh và bản thân có liên
Trang 16quan đến nhu cầu, động cơ và mang tính khách quan, độc đáo của mỗi người.
1.2.1.3 Khái niệm “Biện pháp giáo dục cảm xúc” cho trẻ
Biện pháp là cách thức tác động cụ thể của giáo viên trong các tìnhhuống giáo dục cụ thể
Biện pháp GDCX là cách thức tác động có mục đích, có kế hoạchcủa nhà giáo dục lên trẻ nhằm tạo ra những rung động tích cực biểu thịthái độ của trẻ đối với bản thân và thế giới xung quanh có liên quan đếnnhu cầu, động cơ của trẻ, đồng thời thể hiện tính khách quan độc đáo củachúng
Để có được những rung động tích cực của trẻ, giáo viên không chỉtác động đến nhận thức, tình cảm mà phải đến hành vi của chúng
1.2.2 Phân loại cảm xúc
1.2.2.1 Các loại cảm xúc phổ biến
Có rất nhiều cách phân loại khác nhau về các loại cảm xúc của conngười Những căn cứ để xác định cảm xúc nền tảng đó là:
- Cơ chất thần kinh chuyên biệt bị chế ước ở bên trong
- Những phức hợp biểu cảm bằng nét mặt đặc trưng hay là nhữngphức cảm biểu hiện thần kinh cơ
- Sự thể nghiệm chủ quan khác biệt hay chất lượng hiện tượng bênngoài
- Căn cứ vào chuẩn mực xã hội có tính ước lệ cho các cộng đồngdân cư, cộng đồng xã hội và toàn nhân loại
Các nhà khoa học DarWin (1872), Ekman, Friesen, Ellsworth(1972), Izard (1971), Tomkin (1962) đã chia phản ứng hành vi cảm xúcthành 11 loại cảm xúc nền tảng, đó là: hứng thú, hồi hộp, vui sướng, ngạcnhiên, đau khổ, đau xót, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xấu hổ, tội lỗi
Trang 17Tác giả Adele Faber lại cho rằng có 8 loại cảm xúc: giận dữ, buồn,
sợ, vui, yêu, ngạc nhiên, kinh tởm, hổ thẹn và mỗi loại cảm xúc có nhữngsắc thái khác nhau về mức độ và về những khía cạnh đặc thù
Ở phương Đông, các nhà triết học lại phân chia thành 7 loại cảmxúc cơ bản của con người: vui mừng, tức giận, buồn rầu, sợ hãi, yêuthương, căm ghét, ham muốn (thất tình) [6]
Tác giả Daniel Goleman thì chia thành 8 loại cảm xúc mà chúng tathường quan sát thấy trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người
mê ly, hài lòng, sảng khoái, ngông, ngây ngất
(3) Ngạc nhiên: choáng váng, ngơ ngác, kinh ngạc
(4) Giận: cuồng nộ, phẫn nộ, oán giận, nổi giận, bực tức, gay gắt,hung hăng, bất mãn, cáu kỉnh, thù địch, tột cùng là thù hằn và bạo lựcbệnh lý
(5) Buồn: buồn phiền, sầu não, rầu rĩ, u sầu, cô đơn, ủ rũ, thất vọng
và trầm cảm sâu
(6) Sợ: khi trở thành bệnh lý lo hãi, e sợ, bị kích thích, lo âu rụngrời, sợ sệt, rón rén, bải hoải, khiếp hãi, khủng khiếp, ghê sợ và khi trởthành bệnh lý là chứng sợ và chứng hoảng hốt
(7) Ghê tởm: khinh miệt, coi thường, kinh tởm, chán ghét, phátngấy
(8) Xấu hổ: ý thức phạm tội, bối rối, phật ý, ăn năn, nhục nhã, hốitiếc
Trong đề tài nghiên cứu này, dựa trên cơ sở lý luận của các nhàkhoa học, các học thuyết về cảm xúc, chúng tôi giả định cho rằng trẻ MG
Trang 184 – 5 tuổi có thể nhận biết và thể hiện được hầu hết các loại cảm xúc củacon người Tuy nhiên có những cảm xúc khó nhận diện và khó mô tả.Hơn nữa, thời gian nghiên cứu có hạn và không có các phương tiện kỹthuật nghiên cứu những chức năng hoạt động của các vùng, miền trên vỏnão, hệ thần kinh tự chủ và giao cảm, các tổ chức cơ thể tham gia vào quátrình biểu hiện của tất cả các cảm xúc, nên trong đề tài này chúng tôi chỉtiến hành nghiên cứu 5 loại cảm xúc cơ bản mà trẻ dễ nhận biết và có thể
mô tả được hoặc có thể chụp ảnh được thông qua hoạt động khám phámôi trường xung quanh, đó là: vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi.Biểu hiện của 5 cảm xúc cơ bản ấy trên trẻ có thể khái quát như sau:
Vui: Các cơ mặt dãn nở, mặt mày rạng rỡ, cơ mắt kéo ra, mắt long
lanh hướng về đối tượng giao tiếp, môi miệng kéo dài bật thành tiếngcười Chân tay cử động có xu hướng muốn ôm lấy, cầm lấy đối tượng gây
ra cảm xúc Hành vi ngôn ngữ đầy diễn cảm qua giọng điệu và cách phát
âm “Mẹ, mẹ ” trong tình huống cả ngày mới gặp mẹ một lần (trẻ 18tháng tuổi)
Buồn: Năng lượng cơ thể sụt giảm, không còn tha thiết đến sự việc,
chán nản, mệt mỏi Sự chuyển hóa năng lượng trong cơ thể chậm lại, dễ
bị tổn thương Nếu bệnh trầm cảm dễ u sầu buồn bã, ít nói, mặt mày ủ rũ,
mi mắt cụp xuống
Ngạc nhiên: Trước những kích thích mới lạ, hấp dẫn, phản xạ định
hướng hoạt động tích cực Các quá trình sinh lý thần kinh được kíchthích, hoạt hóa hoạt động tim mạch, nội tiết Mắt mở to, há mồm, nhăntrán, lông mày dướn cao, chân tay ngừng cử động, mắt nhìn chằm chằmvào đối tượng kích thích, tập trung chú ý với cường độ mạnh, dễ dàng cóhành động thích hợp, hành vi ngôn ngữ thường hét lên “A!” hoặc im lặngtheo dõi đối tượng kích thích, xúc cảm thường xảy ra thời gian ngắn
Tức giận: Máu dồn lên mặt, mắt long lanh rực sáng, môi bặm lại,
mím chặt như gắng kiềm chế, dồn sức mạnh vào động tác tay, chân, đập
Trang 19phá Lượng các chất nội tiết tăng đặc biệt là ađrênalin, la hét, kêu toánglên hoặc bập miệng lại không nói, tay chân cử động, bàn tay nắm chặtxông vào đánh bạn, đẩy bạn ngã
Sợ hãi: Mắt mở to, mồm như mếu, cơ mặt nhăn nhúm, máu dồn về
các cơ bắp điều khiển các động tác chạy trốn, mặt tái đi Chú ý, tập trungcao sẵn sàng hành động chạy và đi vội vã, giọng nói run rẩy và lo sợ, đổ
mồ hôi, toát mồ hôi
Theo xu hướng hiện nay, dựa vào ảnh hưởng của cảm xúc đối vớihoạt động của con người, dựa vào tính chất và tác dụng của cảm xúc đốivới đời sống, hoạt động, các nhà tâm lý học, giáo dục học đã chia cảmxúc thành hai loại: cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực để dễ dàng địnhhướng giáo dục
1.2.2.2 Phân biệt cảm xúc tích cực và tiêu cực
a) Cảm xúc tích cực
Về hiện tượng bên ngoài, cảm xúc tích cực có những đặc điểm bẩmsinh, những đặc điểm này có khuynh hướng tăng cường cảm giác an toàn,duy trì và kích thích con người hướng tới nó Chúng tác động lẫn nhau,cũng như sự tìm hiểu các tình huống và các mối quan hệ, liên hệ giữa cánhân trở nên dễ dàng Cảm xúc tích cực làm tăng nghị lực, lòng tự tin, sựlạc quan, tin tưởng, góp phần xây dựng, củng cố ý chí, thôi thúc hoạtđộng Trong cuộc sống, những cảm xúc tích cực sẽ thôi thúc con ngườihoạt động, đem lại sức khỏe thể chất và tâm lý con người
Có người đã nói “Nụ cười là viên ngọc vô giá”, hay “Tiếng cườivui vẻ không chỉ có lợi cho sức khỏe, mà nó còn có thể giúp đạt đượchiệu quả giao tiếp mà lời nói khó có thể đạt được”, dân gian Việt Namcũng nói “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” Những cảm xúc tíchcực làm cho con người có sức làm việc tốt hơn, sức sáng tạo mạnh mẽhơn, năng suất lao động cao hơn Đồng thời còn giúp con người nhanhnhẹn, linh hoạt hơn trong giải quyết công việc kể cả lao động trí óc hay
Trang 20tay chân Đặc biệt là cảm xúc tích cực sẽ làm cho mối quan hệ giữa conngười tốt lên Khi có cảm xúc tích cực, con người trở nên hảo tâm hơn,giàu lòng vị tha, nhân ái, quan tâm đến nhau và sống chân thành hơn.
ta nhìn thấy mọi cảnh vật xung quanh đường như cũng đều u ám, tẻ nhạt,mọi cử chỉ, hành vi trở nên sai lệch nhiều hơn, thiếu đi sự nhiệt tình, nhãnhặn, lịch thiệp mà ngược lại sẽ tỏ ra một thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, hờihợt, thô bạo, khắt khe, khó tính
Từ đó ta thấy rằng cảm xúc có vai trò rất quan trọng đối với đờisống và sinh hoạt của cá nhân mỗi con người, nó góp phần vào việc hìnhthành, phát triển nhân cách con người khi trưởng thành
1.2.3 Phương tiện thể hiện cảm xúc
Sự biểu đạt cảm xúc được biểu hiện rất phức tạp, tinh tế, vậy làmthế nào để nhận diện các loại cảm xúc của con người Có các phương tiệnthể hiện cảm xúc sau:
1.2.3.1 Phương tiện phi ngôn ngữ
Cảm xúc là hiện tượng tâm lý được biểu hiện qua phản ứng hành vicủa con người Phản ứng hành vi cảm xúc được thể hiện ở nhiều góc độ
Trang 21rất khác nhau và hết sức tinh tế, khó nhận biết nếu không có vốn sốngkinh nghiệm trong giao tiếp, hợp tác, không có những hiểu biết về chúng.Những thông tin, tín hiệu trên nét mặt truyền cảm mạnh tới đối tượnggiao tiếp Nó mang tính xã hội, theo nghiên cứu của Wolf thì tuần thứ ba,trẻ đã bắt đầu đáp lại cái nhìn chăm chú đối với người nhìn nó.
Nhiều nghiên cứu của Stifter và Fox (1986), của Ngô Công Hoàn(2004) và Lê Thị Luận (2007) đã cho thấy trẻ em lứa tuổi MN đã có thểnhận diện được các cảm xúc vui, buồn, tức giận trên khuôn mặt, gươngmặt biểu cảm ở những người xung quanh gần gũi như cô giáo, cha me.Gương mặt biểu cảm phần nào giúp chúng ta nhận diện thuận lợi và chínhxác các nội dung tâm lý Hai nhà tâm lý học Boucher và E.Kman (1975)
đã cắt khuôn mặt người của một bức ảnh ra thành ba phần: phần từ chânmày lên trán, phần mắt, phần miệng Các hình ảnh này được đưa ra chomọi người dự đoán xem các loại cảm xúc nào được thể hiện (ngạc nhiên,giận dữ, sợ hãi, kinh tởm, buồn bã và hạnh phúc) Các nhà nghiên cứucác phần khác nhau của khuôn mặt thể hiện cảm xúc khác nhau Ví dụ:mắt là bộ phận quan trọng nhất thể hiện nỗi buồn, còn miệng thể hiệnniềm hạnh phúc và sự khinh bỉ, trán có tầm quan trọng thể hiện sự ngạcnhiên Sự phối hợp cả ba phần thể hiện sự giận dữ một cách rõ ràng
Tomkins và Mc Cater (1964) đã phát hiện mỗi loại cảm xúc có một
sự thể hiện đặc trưng trên khuôn mặt
Loại cảm xúc Thể hiện trên khuôn mặt
Thích thú – kích động Lông mày thấp xuống, mắt chăm chú, nhìn
và lắng ngheKhoái trá – vui mừng Mỉm cười, môi mở rộng lên trên và ra
ngoài, mắt hớn hở (những nếp nhăn tròn)Ngạc nhiên – giật mình Lông mày dướn lên, chớp mắt
Buồn – đau đớn Khóc, lông mày cong, miệng trễ xuống,
thổn thức theo nhịp
Sợ hãi – kinh khiếp Mắt mở không chớp, gương mặt xanh xám,
Trang 221.2.3.2 Phương tiện ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ khá phức tạp biểu lộ không chỉ các loại cảm xúc
cơ bản của con người mà nó còn phản ánh các sắc thái của từng loại cảmxúc
Lúc đầu khi mới sinh, trẻ truyền tín hiệu cho người thân là các âmthanh như khóc, hét lên để thông tin cho họ về trạng thái sinh lý của mình
là dễ chịu hay khó chịu Dần dần khi trẻ đã lớn hơn (từ 1 đến 2 tuổi) thìngôn ngữ được hình thành, trẻ nói được một số âm, từ, câu đơn giản Khitrẻ bước sang tuổi mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ đã phát triển mạnh mẽ Lúcnày, giọng điệu âm thanh ngôn ngữ của trẻ đã ở mức độ to – nhỏ khácnhau, đồng thời ngữ điệu âm thanh ngôn ngữ cũng có cường độ cao –thấp rõ ràng Trẻ sử dụng chúng để thông tin, truyền tín hiệu các trạngthái cảm xúc cơ bản của mình như sợ hãi, tức giận, vui mừng, ngạc nhiên,thích thú
Mức độ ngôn ngữ từ, câu thể hiện sự phức tạp những biểu hiệncảm xúc Thông qua giọng điệu, cách phát âm đã thể hiện không chỉ cáccảm xúc cơ bản mà còn thể hiện được một số sắc thái cơ bản của từngloại cảm xúc Ví dụ: khi vui vẻ, trẻ có thể nói giọng nói nhẹ nhàng, vuitươi hay khi tức giận trẻ nói rất to, giọng đanh lại
Trang 23Mức độ ngôn ngữ tình huống hoàn cảnh: giọng điệu, cách phát âm,tốc độ lời nói, thanh điệu cao thấp, giọng nặng nhẹ, ngắn dài thể hiện phùhợp với đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp.
Mức độ ngôn ngữ mạch lạc: sự biểu cảm không những mang yếu tốchủ quan mà còn mang tính khách quan, chuẩn mực xã hội của phản ứnghành vi cảm xúc được hình thành Tùy thuộc vào sự giáo dục của gia đình
và môi trường xã hội, phong tục tập quán, truyền thống của nhóm vàcộng đồng xã hội mà tín hiệu ngôn ngữ đã thực sự trở thành công cụ biểucảm quan trọng của con người
Ngoài ra, các nhà sinh lý học còn nghiên cứu tầng sâu của nhữngbiểu hiện cảm xúc Đó là sự hoạt hóa của trương lực cơ bắp, các tổ chức
cơ thể như tim mạch, hệ nội tiết, hệ thần kinh và não Chúng thể hiệnđồng thời với phản ứng hành vi trên nét mặt, tay, chân, tư thế và biểuhiện qua giọng điệu, cách phát âm của hành vi ngôn ngữ
Sự phân chia các phương tiện biểu cảm trên mang tính tương đối,bởi lẽ mỗi phản ứng hành vi cảm xúc thể hiện sự phối hợp đan xen, phứctạp xảy ra nhanh trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của con người, đếnnỗi phương pháp chụp ảnh cũng khó nhận biết một cách chính xác
1.2.4 Đặc điểm cảm xúc của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
Tác giả Wallon chủ yếu nhấn mạnh vai trò của cảm xúc trong sựphát triển ban đầu của con người, có giá trị ưu tiên về chức năng Nhữngphản ứng mà ông gọi tên cảm xúc âm điệu là những dấu hiệu đầu tiên của
sự phát triển tâm lý, là bước phát triển trung gian giữa trình độ sinh lý,những phản ứng có tính phản xạ và trình độ tâm lý cho phép trẻ thích ứngdần với thế giới bên ngoài, từ đó đứa trẻ nhận được sự an ủi, chăm sóc,làm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của nó
Độ tuổi MG 4 – 5 tuổi thì đời sống cảm xúc, tình cảm của trẻ cóbước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú lại vừa sâu sắc hơn so với lứatuổi khác, mà nổi bật lên trên đó là tính đồng cảm và tính dễ cảm xúc
Trang 24sẽ có những biểu hiện cảm xúc khác nhau Những rung cảm do hoàn cảnhgây ra chiếm một vai trò quan trọng trong phạm vi cảm xúc của trẻ, do ấntượng cụ thể, thường là ngẫu nhiên gắn liền với sự xuất hiện bất ngờ củangười, sự vật nào đó gây ra Trẻ có phản ứng cảm xúc đối với những gìmới lạ mà ở mức độ nào đó làm cho nó phải sửng sốt thích thú hoặc chánghét, sợ hãi hoặc vui mừng.
b) Sự biệt hóa
Cảm xúc của trẻ ở giai đoạn này đã thể hiện sự biệt hóa rõ rànghơn lứa tuổi trước Nó được phân biệt, phân định bằng những biểu hiện rabên ngoài với thái độ cụ thể, rõ ràng, tương ứng với những tác động củađối tượng liên quan tới việc thỏa mãn nhu cầu và động cơ khác nhau củatrẻ
Ví dụ: nếu được cô giáo khen ngoan vì khi bạn ngã đã biết giúp đỡnâng bạn dậy thì trẻ sẽ có thái độ vui vẻ (cảm xúc tích cực xuất hiện).Ngược lại, khi bị các bạn trêu chọc và không chơi cùng thì trẻ tỏ thái độrất buồn (cảm xúc tiêu cực xuất hiện) Có thể thấy, trẻ thực sự vui mừngkhi bố mẹ, cô giáo hay bạn bè yêu thương, khen ngợi và cũng thực sự đaubuồn khi bị người lớn, bạn bè ghét bỏ
c) Các sắc thái
Trang 25Ở độ tuổi MG 4 – 5 tuổi, quan hệ của trẻ với những người xungquanh được mở rộng, tình cảm của trẻ cũng phát triển về nhiều phía,phạm vi những sự vật, hiện tượng mà trẻ quan tâm trở nên phức tạp vàphong phú hơn, không chỉ là những con người, đồ vật và sự vật riêng lẻ
mà còn là những qui tắc hành vi ứng xử
Ở giai đoạn này, trẻ đã phát triển khá rõ các sắc thái cảm xúc,chính xác hơn với các tình huống, hoàn cảnh cụ thể Đặc biệt trẻ phảnứng cảm xúc qua lời nói, sự vận động, điệu bộ và hành vi của mình, sắcthái cảm xúc của trẻ thay đổi dần theo giọng điệu âm thanh và nội dungcâu chuyện Những lời đánh giá, khuyến khích, động viên, ngăn cấm,trách phạt của người lớn đối với trẻ giai đoạn này cũng làm cho sắc tháicảm xúc của trẻ thay đổi
Mối quan hệ của trẻ với người thân, cô giáo, bạn bè, em nhỏ là nộidung quan trọng trong đời sống cảm xúc, tình cảm của trẻ Nhu cầu đượctiếp xúc với mọi người, được âu yếm, được chăm sóc để có thể chia sẻ,bộc lộ những ấn tượng ngạc nhiên, nhu cầu được đánh giá , tất cả nhữngcái đó gây cho trẻ những cảm xúc khác nhau như vui mừng, ngạc nhiên,giận dỗi, buồn phiền, hổ thẹn, ghen tị, xấu hổ
Cảm xúc, tình cảm của trẻ không chỉ biểu lộ đối với con người màcòn cả với động vật, cỏ cây, đồ chơi, đồ vật và các hiện tượng trong thiênnhiên Trẻ thường nhìn sự vật bằng con mắt “nhân cách hóa”, gán chochúng những sắc thái cảm xúc của con người, trẻ xót thương cho nhữngcành cây bị gẫy, tức giận vì một cơn mưa đã ngăn cản cuộc đi chơi củanó
Như vậy, có thể khẳng định rằng trẻ 4 – 5 tuổi đã thể hiện tất cả cácsắc thái cảm xúc của con người, trẻ nắm được hình thức thể hiện sắc tháicảm xúc tình cảm một cách tế nhị bằng ánh mắt, nụ cười, nét mặt, điệu
bộ, cử chỉ, ngữ điệu của giọng nói Vì thế, những lời khen ngợi, động
Trang 26viên, khuyến khích thậm chí trách mắng trẻ hợp lý sẽ góp phần quantrọng vào sự phát triển các sắc thái cảm xúc của trẻ.
d) Tính đồng cảm phát triển rõ rệt
Trẻ 4 – 5 tuổi luôn có nhu cầu muốn mọi người chia sẻ cảm xúctình cảm với trẻ và trẻ cũng muốn chia sẻ cảm xúc tình cảm với ngườikhác Nhu cầu được yêu thương của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi là rất lớn,nhưng đáng lưu ý hơn là sự đồng cảm của trẻ cũng rất mạnh mẽ đối vớinhững người xung quanh
Trẻ bắt đầu có các biểu hiện buồn, vui, khi người lớn gần gũi trẻvui vẻ, cười nói thì trẻ cũng rất phấn chấn Bên cạnh đó, trẻ cũng rất quantâm đến bạn bè, thể hiện sự đồng cảm với bạn, khi bạn buồn, khóc thì trẻ
đã biết dỗ dành, an ủi bạn, cho bạn mượn đồ chơi, khi bạn vui vẻ, trẻcũng vui lây và cùng nhau cười vui vẻ Sự đồng cảm đó còn được bộc lộvới cả em bé hơn mình, khi em bé ốm đau trẻ cũng tỏ ra thương xót,buồn Hay khi nghe truyện kể, trẻ cũng tỏ ra thương cảm đối với nhữngnhân vật tốt mà rơi vào hoàn cảnh éo le
e) Khả năng kiềm chế các phản ứng hành vi cảm xúc
Ở tuổi này trẻ biết kiềm chế những biểu hiện mạnh mẽ trong cảmxúc – tình cảm của mình, trẻ có khả năng kiềm chế các cảm xúc khi đanglàm việc gì thì bị vướng mắc, cản trở, không sinh chuyện hờn dỗi, khóclóc như lứa tuổi trước Tuy nhiên, sự kiềm chế đó không diễn ra thườngxuyên vì ở tuổi này trẻ còn có những đòi hỏi đáp ứng nhu cầu mãnh liệt
và rất khó kiềm chế
g) Cảm xúc chi phối mạnh hoạt động nhận thức của trẻ
Khi ở trong tâm trạng khác nhau, hình ảnh tri giác sự vật xungquanh của trẻ phụ thuộc vào cảm xúc của nó Trên cơ sở nhận thức cảmtính, trẻ sẽ hình thành và phát triển nhận thức lý tính, mức độ nhận thứccao hơn như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa
Trang 27Ngược lại, cảm xúc cũng có ảnh hưởng trở lại đến quá trình nhậnthức của trẻ, các cảm xúc tiêu cực không những làm rối loạn các quá trìnhsinh lý mà cả quá trình tâm lý Khi trẻ buồn thì việc tiếp nhận thông tin,lĩnh hội tri thức kém hơn, hứng thú với ngoại cảnh kém hơn, suy nghĩ trởnên hời hợt, hơn.
h) Cảm xúc tham gia điều khiển, điều chỉnh hành vi hoạt động củatrẻ
Do hiểu được nhiều hành vi ngôn ngữ và biết sử dụng hành vi ngônngữ trong giao tiếp với mọi người xung quanh nên ở trẻ đã hình thànhnhững cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết Khi trẻ biết sửdụng ngôn ngữ nói làm phương tiện giao tiếp với mọi người, cảm xúc đã
có tác dụng định hướng điều chỉnh, điều khiển hành vi hoạt động của trẻ
Có thể thấy, hành vi, hành động của trẻ bị chi phối bởi cảm xúc, trẻ yêuthích cái gì thì hứng thú tìm hiểu về cái đó và hành động vì cái đó Trẻhành động tốt hay xấu là do sự yêu hay ghét, thích hay không thích điềukhiển hành động của trẻ Đây là cơ sở hình thành thái độ của cá nhân đốivới hành động, hoạt động
Trẻ có thể hờn dỗi để được thỏa mãn nhu cầu hay trẻ tức giận quátmắng bạn để bạn không nghịch đồ chơi của mình Trẻ có thể vui mừng,thích thú khi có đồ chơi mới, trẻ say sưa, hứng thú khám phá những đồchơi đó mà không biết chán, hay trẻ có thể ngồi hàng giờ chăm chú, saysưa vẽ một ly kem chỉ vì nó rất thích ăn kem, hoặc trẻ thích cái gì thì đòibằng được, không thích thì vứt đi, cho đi mặc dù chúng là đồ vật quý giá,đắt tiền Khi đó, người lớn cần phải giúp trẻ định hướng để sự điều chỉnhhành vi, hành động của mình sao cho phù hợp theo yêu cầu, đòi hỏi củachuẩn mực hành vi quy tắc trong xã hội
1.2.5 Nội dung giáo dục cảm xúc cho trẻ 4 - 5 tuổi
Một vấn đề đặt ra ở đây là cần phải xác định được nội dung giáodục cảm xúc cho trẻ Điều này đã được các nhà tâm lý học Daniel
Trang 28Goleman, Adele Faber – Elaine Mazlish đề xuất những nội dung giáo dụccảm xúc cho trẻ như sau:
- Giáo dục tự ý thức (ý thức về bản thân): đây chính là sự nhận biếtđược tên gọi của mình, các diễn biến sinh lý, cảm xúc của mình, nhậnbiết được mối liên hệ giữa các ý nghĩ, các cảm xúc và các phản ứng hành
vi của mình Mức độ cao của tự ý thức là nhận biết được điểm mạnh,điểm yếu của mình để có thể nhận thức về mình một cách tích cực, thực
tế hơn nhận biết mình trong mối liên hệ với những người xung quanh biếtmình là ai
- Làm chủ được các cảm xúc của mình: đây là một nội dung quantrọng, nhận thức được các cảm xúc của mình do nguyên nhân nào, nguồngốc từ đâu gây nên mà biết kiềm chế cơn giận dữ, sự lo âu, biết nhậntrách nhiệm về các quyết định và hành động của mình Tôn trọng điềumình thỏa thuận, biết giữ đúng lời hứa
- Giáo dục khả năng đồng cảm với người khác: người ta ít khi thểhiện cảm xúc của mình bằng lời nói mà thể hiện qua giọng nói, điệu bộ,
cử chỉ, vẻ mặt, ánh mắt, nụ cười Các thể hiện này là ngôn ngữ của cảmxúc, cũng được hình thành khi trẻ biết nói Từ trẻ mẫu giáo trở đi, khảnăng đồng cảm phát triển sẽ khác nhau về mức độ nhạy cảm đối với cáccảm xúc của người khác, sự khác nhau về cách thức thể hiện thái độ đồngcảm phần lớn do cha mẹ, những người thân dạy bảo và cách thể hiện khảnăng đồng cảm trong các tình huống người lớn thể hiện với nhau tronggia đình và ngoài xã hội mà trẻ lĩnh hội được
- Giáo dục khả năng hợp tác với mọi người: khả năng này được nảysinh từ nhiều cảm xúc, ban đầu từ đồng cảm đến biết chia sẻ, an ủi bạn bèkhi bạn ngã đau, quan tâm đến bạn Để sống trong xã hội, điều chủ yếuphải biết nhận ra và lí giải những cảm xúc của người khác đồng thời đápứng lại những cảm xúc ấy một cách phù hợp Biết xin lỗi khi làm sai cũngnhư biết tha thứ cho lỗi lầm của người khác Những tình huống này được
Trang 29giáo dục ngay từ tuổi mầm non để lớn lên trẻ biết hòa hợp với nhữngngười xung quanh, theo Hatch và Gardner khả năng hợp tác đó là trí tuệliên hệ cá nhân mà sau này phát triển thành các năng lực tổ chức nhómthương lượng về các giải pháp, thiết lập các liên hệ cá nhân và năng lựcphân tích xã hội.
Những nội dung GDCX trên là những thái độ căn bản của đạo đức
cá nhân, là nền tảng của nhân cách Sự hình thành các nội dung này ở trẻ
MN diễn ra rất nhẹ nhàng bằng nhiều hình thức từ sự chăm sóc giáo dụccủa cha mẹ, các thành viên trong gia đình đến các hoạt động giáo dục ởtrường mầm non như hoạt động vui chơi, trò chơi đóng vai theo chủ đề,trò chơi học tập, hoạt động KPMTXQ, lao động tự phục vụ, tham quan,trải nghiệm, hoạt động ngoài trời Các tình huống trong trò chơi, trongsinh hoạt hàng ngày cần được người lớn chủ tâm định hướng giáo dụccho trẻ, trẻ cần nhận biết và thể hiện các xúc cảm của mình, trẻ đượcđánh giá, khích lệ động viên, khen chê kịp thời Các phản ứng hành vicảm xúc được củng cố sẽ trở thành kiểu hành vi cảm xúc của nhân cách,phẩm chất nhân cách con người
1.3 Hoạt động khám phá môi trường xung quanh và vai trò của nó đối với việc giáo dục cảm xúc cho trẻ
1.3.1 Khái niệm “Hoạt động khám phá môi trường xung quanh”
1.3.1.1 Khái niệm “Hoạt động”
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động:
Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượngthần kinh và cơ bắp của con người khi tác động vào hiện thực kháchquan, nhằm thoã mãn những nhu cầu của mình
Về phương diện triết học, tâm lý học quan niệm hoạt động làphương thức tồn tại của con người trong thế giới
Trang 30Như vậy “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa conngười với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới cả vềphía con người (chủ thể)”.
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người thể hiện hai cấpđộ:
- Cấp độ vi mô: là cấp độ họat động của cơ thể, các giác quan, các
bộ phận tuân theo quy luật sinh học Nhờ có hoạt động mà con người tồntại và phát triển, nhưng hoạt động ở cấp độ này không phải là đối tượngcủa tâm lý học
- Cấp độ vĩ mô: là hoạt động có đối tượng của con người với tưcách là một chủ thể của hoạt động có mục đích Đây chính là đối tượngnghiên cứu của tâm lý học
Hoạt động là quá trình con người thực hiện các quan hệ giữa mìnhvới thế giới bên ngoài - thế giới tự nhiên và xã hội giữa mình với ngườikhác, giữa mình với bản thân Trong quá trình quan hệ đó có hai quá trìnhdiễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau
1.3.1.2 Khái niệm “Môi trường xung quanh”
MTXQ là tất cả những gì bao quanh chúng ta như tự nhiên, conngười, các đồ vật… Theo nghĩa hẹp, MTXQ là những hoàn cảnh cụ thể(các sự vật, hiện tượng, con người ) bao quanh một đối tượng có liênquan mật thiết với nó
MTXQ bao gồm cả môi trường tự nhiên và xã hội Môi trường tựnhiên bao gồm tự nhiên vô sinh và hữu sinh Môi trường xã hội bao gồmmọi người, đồ vật và xã hội loài người Các môi trường trên có mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau Mọi cá nhân ngay từ khi sinh ra đã có quan
hệ mật thiết với môi trường xung quanh Kết quả của mối quan hệ này là
cá nhân trở thành người
1.3.1.3 Khái niệm “Hoạt động khám phá môi trường xung quanh”
Trang 31Con người có quan hệ nhất định với MTXQ Vì thế nảy sinh hoạtđộng khám phá môi trường của con người Hoạt động này bắt đầu từ nhỏ
và diễn ra trong suốt đời người Nhờ có nó mà cá nhân trở thành người và
xã hội loài người được hình thành Có nhiều quan điểm khác nhau về việckhám phá môi trường của con người Theo Từ điển tiếng Việt, “khámphá” tức là tìm ra cái mới chưa biết còn ẩn chứa bên trong đối tượng
Như vậy, hoạt động KPMTXQ là quá trình tiếp xúc, tìm tòi tích cực của
trẻ nhằm phát hiện ra cái mới, chưa biết đối với trẻ còn ẩn chứa trong các sự vật hiện tượng xung quanh.
1.3.2 Đặc điểm hoạt động khám phá môi trường xung quanh ở trường mầm non
Hoạt động KPMTXQ là hoạt động nhận thức quan trọng ở trườngmầm non với mục đích:
- Trang bị cho trẻ tri thức về MTXQ và bản thân
- Hình thành thái độ tích cực của trẻ đối với MTXQ
- Rèn luyện cho trẻ kỹ năng, hành vi trong mối quan hệ vớiMTXQ
Việc thực hiện mục đích được thể hiện qua các nhiệm vụ cụ thể là:rèn luyện và phát triển các quá trình tâm lý nhận thức; củng cố tri thức,
mở rộng sự hiểu biết của trẻ về MTXQ; kích thích hứng thú và phát triểntính ham hiểu biết của trẻ về MTXQ; giáo dục đạo đức, thẩm mĩ, laođộng, thể chất trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen với MTXQ Trong
đó ba nhiệm vụ đầu tiên hướng đến việc giáo dục trí tuệ cho trẻ Việcgiáo dục đạo đức, thẩm mĩ, thể chất, lao động là hệ quả tất yếu của nó
Nội dung KPMTXQ rất đa dạng, bao gồm cả môi trường tự nhiên
và xã hội Các đối tượng thuộc môi trường tự nhiên là động vật, thực vật,thực vật vô sinh, hiện tượng tự nhiên Các đối tượng của môi trường xãhội là nghề nghiệp của người lớn, bản thân, thế giới đồ vật, gia đình…Trong mỗi đối tượng có nhiều loại với các đặc điểm khác nhau Để giúp
Trang 32trẻ có biểu tượng về mỗi đối tượng, giáo viên cần cung cấp hệ thống trithức về mỗi đối tượng đó.
Trong quá trình giúp trẻ KPMTXQ, có thể sử dụng các phươngpháp và biện pháp khác nhau Có thể phối hợp sử dụng các phương pháptrực quan (gồm quan sát, sử dụng tài liệu trực quan), phương pháp dùnglời (đàm thoại, kể chuyện, đọc truyện, giải thích, chỉ dẫn…), phươngpháp thực hành (trò chơi, thí nghiệm, lao động) Việc lựa chọn cácphương pháp để sử dụng trong một hoạt động cụ thể phụ thuộc vào đốitượng khám phá và đặc điểm trẻ các lứa tuổi
Có nhiều hình thức tổ chức hoạt động KPMTXQ Chúng ta có thểtận dụng tất cả các hình thức tổ chức hoạt động ở trường MN để thựchiện mục đích cho trẻ KPMTXQ sau đây: Hoạt động học tập, hoạt độngvui chơi, hoạt động ngoài trời, hoạt động tham quan, hoạt động lao động,hoạt động lễ hội
Mỗi hình thức có ưu thế nhất định trong việc thực hiện hoạt độngKPMTXQ Do vậy, để thực hiện mục đích chung, chúng ta cần phối hợpcác hình thức một cách hợp lý
Trong đề tài này, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc sửdụng hình thức tổ chức cho trẻ KPMTXQ thông qua hoạt động học tập
1.3.3 Cấu trúc hoạt động KPMTXQ ở trường mầm non
Hoạt động học tập với mục đích KPMTXQ có cấu trúc gồm baphần: mở đầu, trọng tâm và kết thúc Mỗi phần có nhiệm vụ và nội dungkhác nhau đảm bảo giúp trẻ thực hiện mục đích khám phá đối tượng nhấtđịnh
Việc xác định cấu trúc hoạt động KPMTXQ dựa trên quy trìnhnhận thức gồm ba giai đoạn:
- Giai đoạn I: Khảo sát
Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Việc khảo sátđối tượng diễn ra nhờ sử dụng các giác quan, các bộ phận cơ thể Do vậy,
Trang 33tính tích cực nhận thức của trẻ chỉ được thể hiện trong điều kiện nếuchúng được tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng và biết cách khảo sát đốitượng.
- Giai đoạn II: Hình thành khái niệm
Để có biểu tượng, khái niệm về sự vật, hiện tượng, trẻ cần biết dựatrên kết quả khảo sát mà so sánh, đối chiếu, phân loại đặc điểm đối tượng.Nhờ đó, tri thức của trẻ về đối tượng ngày càng trở nên đầy đủ, chính xác,được hệ thống hóa, khái quát hóa
- Giai đoạn III: Ứng dụng
Việc lưu giữ thông tin chỉ được đảm bảo trong điều kiện nếu trẻbiết vận dụng các tri thức về đối tượng trong các hoạt động của chúng
Do vậy, giáo viên nên tạo cơ hội cho trẻ được sử dụng các tri thức đã cótrong các hoạt động hấp dẫn và phù hợp với trẻ Trong quá trình tổ chứccác hoạt động nhằm củng cố tri thức cho trẻ nên giúp trẻ kết nối những ýtưởng mới và cũ, đưa ra những tình huống mới và tự giải quyết dựa trênnhững kiến thức đã tiếp thu được ở giai đoạn đầu
Quá trình lĩnh hội tri thức về một đối tượng nào đó đều phải trảiqua các giai đoạn này Do vậy khi tổ chức hoạt động KPMTXQ cho trẻcũng phải dựa trên các giai đoạn của quá trình nhận thức, gồm ba phầnnhư sau:
- Phần mở đầu: nhằm hướng trẻ vào đối tượng tri giác, tạo ra sựchú ý của trẻ với đối tượng, chuẩn bị tâm thế tốt cho trẻ trong quan hệ vớiđối tượng
- Phần trọng tâm: các nhiệm vụ tri thức được thực hiện chủ yếu ởphần này Dựa vào mục đích, nhiệm vụ hoạt động, giáo viên hướng dẫntrẻ khai thác đối tượng theo một trình tự nhất định dựa vào đặc điểm đốitượng và đặc điểm nhận thức của trẻ mầm non
- Phần kết thúc: phần này được thực hiện nhằm giải tỏa căng thẳngcho trẻ về trí tuệ và tâm lý, tạo cảm xúc tốt cho trẻ với đối tượng và niềm
Trang 34vui nhận thức Có thể sử dụng các biện pháp làm thay đổi trạng thái củatrẻ như tổ chức cho trẻ chơi: học tập, vận động; các hoạt động sáng tạo:tạo hình, âm nhạc…
Việc GDCX cho trẻ thông qua hoạt động KPMTXQ cần dựa vàocấu trúc hoạt động để xác định các biện pháp giáo dục phù hợp với mụcđích, nội dung của hoạt động và đặc điểm trẻ 4 – 5 tuổi để cung cấp kiếnthức, hình thành thái độ và rèn luyện hành vi của trẻ
1.3.4 Vai trò của hoạt động học tập đối với việc giáo dục cảm xúc cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi
Hoạt động học tập là hoạt động tổ chức vào thời điểm nhất địnhtrong ngày Ưu điểm của nó là cung cấp cho trẻ kiến thức theo trình tựnhất định, phát triển quá trình nhận thức và khả năng của trẻ, giúp trẻ tíchlũy kinh nghiệm cần thiết cho cuộc sống hàng ngày Do vậy, đây là cơ hội
để trẻ có kiến thức về các cảm xúc phổ biến của con người như vui, buồn,ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi
Do chương trình giáo dục mầm non thiết kế theo chủ đề nên việckhám phá cảm xúc được thực hiện theo các chủ đề khác nhau Mỗi chủ đề
có ưu thế riêng trong việc GDCX cho trẻ Trong đó, đặc biệt là chủ đềBản thân có các giờ học riêng để khám phá cảm xúc Đây là cơ hội để trẻlĩnh hội kiến thức về cảm xúc qua hoạt động học tập
Trong hoạt động học tập, có thể sử dụng các phương pháp khácnhau, mỗi phương pháp có ưu thế riêng đối với việc cung cấp, làm giàucảm xúc cho trẻ như phương pháp quan sát, phương pháp đàm thoại,phương pháp kể chuyện, phương pháp trò chơi
2 Cơ sở thực tiễn
Để tìm hiểu về cơ sở thực tiễn của việc GDCX cho trẻ MG 4 – 5tuổi qua hoạt động KPMTXQ, đề tài đã được tiến hành điều tra thực trạng
để xác định mức độ GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường MN và thực trạng
sử dụng biện pháp GDCX cho trẻ ở trường MN
Trang 352.1 Thực trạng giáo dục cảm xúc cho trẻ 4 - 5 tuổi ở trường mầm non
2.1.2 Đối tượng điều tra
Tiến hành điều tra 120 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại cáclớp MG 4 – 5 tuổi thuộc các trường MN thành phố Nam Định
- Trường MN Hoa Hồng
- Trường MN Ngô Quyền
- Trường MN Họa Mi
Ban giám hiệu là những giáo viên có trình độ đại học giáo dục MN,
có chuyên môn vững vàng, yêu nghề, mến trẻ, tâm huyết với nghề
Phần lớn phụ huynh của nhà trường là trí thức, cán bộ công nhânviên chức nhà nước, một số ít là những gia đình buôn bán và làm nghề tự
do Họ đều có hiểu biết, quan tâm đến việc chăm sóc và giáo dục trẻ
Trẻ em được gửi tại trường đều khỏe mạnh, tâm sinh lý phát triểnbình thường, trẻ đều được quan tâm chăm sóc, dạy dỗ chu đáo
2.1.3 Nội dung điều tra
- Điều tra nhận thức của giáo viên MN về việc GDCX cho trẻ 4 – 5tuổi nói chung và thông qua hoạt động KPMTXQ nói riêng
Trang 36- Điều tra việc sử dụng các biện pháp GDCX của giáo viên MNtrong hoạt động KPMTXQ cho trẻ 4 – 5 tuổi.
2.1.4 Phương pháp điều tra
- Sử dụng phiếu điều tra giáo viên MN với hệ thống 12 câu hỏinhằm làm rõ nhận thức và biện pháp GDCX cho trẻ 4 – 5 tuổi
- Quan sát dự giờ thăm lớp, ghi chép và trao đổi với giáo viên đểlàm rõ hơn các câu hỏi đã đặt ra trong phiếu
2.1.5 Kết quả điều tra
Sau khi thu hồi phiếu điều tra và phân tích các câu hỏi trong phiếu,chúng tôi thu được kết quả sau:
a) Nhận thức của giáo viên MN về việc GDCX cho trẻ
* Về tầm quan trọng của việc GDCX cho trẻ
Đa số giáo viên đều đã nhận thấy việc GDCX cho trẻ MG 4 – 5tuổi là quan trọng và rất quan trọng Cụ thể: Có tới 85/120 giáo viên(chiếm 70,83%) được hỏi ý kiến cho rằng việc GDCX là cần thiết và35/120 giáo viên (chiếm 29,17%) ý kiến cho rằng việc GDCX là rất cầnthiết
* Quan niệm của giáo viên về “Cảm xúc”
Khi được hỏi: “Theo cô, cảm xúc được hiểu như thế nào theo cácquan niệm sau đây?”, chỉ có 16/120 giáo viên (chiếm 13,33%) cho rằng
“Cảm xúc là thái độ của bản thân với sự vật, hiện tượng xung quanh, vớingười khác và chính bản thân mình”, 42/120 giáo viên (chiếm 35%) đồng
ý ở hai ý kiến “Cảm xúc là thái độ của bản thân với sự vật, hiện tượngxung quanh, với người khác và chính bản thân mình” và “Đặc trưng củacảm xúc được thể hiện qua các thái độ: vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận,
sợ hãi ”
Có tất cả 62/120 giáo viên (chiếm 51,67%) hiểu đúng và đầy đủ vềkhái niệm này: “Cảm xúc là thái độ của bản thân với sự vật, hiện tượngxung quanh, với người khác và chính bản thân mình Đây là sự kết hợp
Trang 37của kích thích, sự thể hiện của khuôn mặt, hành vi trước các sự kiện củamôi trường Cảm xúc được hình thành từ hoạt động tương tác với môitrường xung quanh Đặc trưng của cảm xúc được thể hiện qua các thái độ:vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi…”.
* Về các loại cảm xúc của trẻ MG 4 – 5 tuổi
Bảng 1.1: Ý kiến của giáo viên về các loại cảm xúc của trẻ MG 4 - 5 tuổi
STT Các loại cảm xúc Số phiếu trả lời Tỷ lệ % Ghi chú
Qua Bảng 1.1 ta thấy giáo viên cho rằng trẻ MG 4 – 5 tuổi có thể
nhận biết hầu hết các loại cảm xúc ở trên Tuy nhiên, tỷ lệ % ở các cảmxúc: buồn bã, ghét, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, yêu thương, vui mừng làrất cao (từ 70,83% đến 100%), còn các cảm xúc: ghê tởm, lo lắng, thèmmuốn, tự hào, xấu hổ thì tỷ lệ % thấp hơn nhiều (chỉ từ 26,67% đến50%)
* Về nội dung GDCX cho trẻ 4 - 5 tuổi
Ở câu hỏi: “Theo cô, GDCX cho trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi cần thựchiện những nội dung nào sau đây?”, có 43/120 giáo viên (chiếm 35,83%)cho rằng nội dung GDCX chỉ cần giáo dục trẻ biết thể hiện cảm xúc phùhợp tâm trạng bản thân và nhận ra biểu hiện cảm xúc của mọi người xungquanh, 77 giáo viên còn lại (chiếm 64,17%) thống nhất cả 3 nội dung chorằng GDCX là giáo dục trẻ biết thể hiện cảm xúc phù hợp tâm trạng bản
Trang 38thân, đồng thời nhận ra biểu hiện cảm xúc của mọi người và điều chỉnhcảm xúc của bản thân phù hợp hoàn cảnh xung quanh Như vậy có thểthấy, từ việc khá đông số giáo viên hiểu đầy đủ quan niệm về “Cảm xúc”(51,67%) nên khi đi vào cụ thể cần giáo dục cho trẻ những nội dungGDCX thì giáo viên đã nắm rõ được đầy đủ các nội dung cần thực hiện.
* Về các hình thức giáo dục cảm xúc của giáo viên
90/120 giáo viên (chiếm 75%) đánh giá hoạt động học tập và hoạtđộng vui chơi có nhiều thuận lợi cho việc GDCX ở trẻ MG 4 – 5 tuổi.Với hoạt động KPMTXQ chỉ có 29/120 giáo viên (chiếm 24,17%) lựachọn Còn các hoạt động khác như: hoạt động ngoài trời, đón trả trẻ đềukhông được đánh giá cao Đa số giáo viên vẫn thường chú ý đầu tưchuyên môn vào hoạt động học tập, còn các hoạt động khác trong ngàycủa trẻ thì việc lồng ghép các nhiệm vụ giáo dục chưa đạt được hiệu quảcao, đặc biệt với việc GDCX thông qua hoạt động KPMTXQ thì vẫn còn
mờ nhạt
b) Về phương pháp giáo dục cảm xúc cho trẻ 4 - 5 tuổi của giáoviên MN
* Ý kiến của GVMN về biện pháp GDCX cho trẻ MN
100% ý kiến thống nhất 2 phương pháp thường xuyên sử dụng làphương pháp quan sát và đàm thoại Các phương pháp khác có ý nghĩacho việc GDCX như: trò chơi, tạo tình huống, sử dụng tranh ảnh, phim,nêu gương thì đa số được giáo viên thỉnh thoảng sử dụng Các phươngpháp khác (đặc biệt là trải nghiệm) thì ít được giáo viên sử dụng
Bảng 1.2: Ý kiến giáo viên về phương pháp và biện pháp GDCX
cho trẻ MG 4 – 5 tuổi
STT Các phương pháp Số phiếu trả lời Tỷ lệ % Ghi chú
Trang 39* Nguyên nhân thực trạng sử dụng biện pháp GDCX cho trẻ ở trường MN
Thông qua phiếu trưng cầu ý kiến kết hợp với việc quan sát, traođổi với các giáo viên đang trực tiếp, chăm sóc, giáo dục trẻ MG 4 – 5tuổi, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến việcGDCX cho trẻ Đa số giáo viên đưa ra các nguyên nhân sau:
- Số lượng trẻ đông, tâm, sinh lý của trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi chưa
ổn định nên gây khó khăn cho giáo viên trong việc tổ chức hoạt độngGDCX
Trang 40- Nội dung chương trình và việc triển khai chuyên môn của Bangiám hiệu đối với nội dung GDCX cho trẻ chưa được chú trọng cụ thể vàthường xuyên.
- Ít có chuyên đề về GDCX để hướng dẫn cho giáo viên, vì thế họchưa hiểu được đầy đủ về GDCX cũng như các phương pháp, biện phápGDCX cho trẻ Giáo viên cho rằng: việc GDCX thường là do giáo viên tựnhận thức tầm quan trọng của nó để chủ động lồng ghép vào hoạt độngcủa trẻ chứ không có sự hướng dẫn cụ thể nào
- Sự phát triển thể chất của trẻ chưa hoàn thiện, nhận thức và vốnkinh nghiệm hạn chế, nhiều trẻ còn thụ động, quen được nuông chiềucũng là những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của việc GDCX chotrẻ
Tóm lại, thông qua phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên và một số buổi
quan sát thực tế các hoạt động của trẻ, trong đó có hoạt động KPMTXQ thì chúng tôi nhận thấy:
- Phần đông giáo viên đã xác định đúng và đầy đủ về khái niệmcảm xúc và GDCX Hoạt động KPMTXQ chỉ được giáo viên nhìn nhận
là hoạt động đứng vị trí thứ 3 (sau hoạt động vui chơi và hoạt động họctập) có thuận lợi trong việc GDCX cho trẻ
- Nội dung hoạt động chưa phong phú, hầu như chưa đủ hấp dẫn đểthu hút, kích thích trẻ hoạt động Thực tế là nội dung GDCX chưa đượcthực hiện đầy đủ khi trẻ tham gia KPMTXQ
- Một số phương pháp, biện pháp truyền thống được giáo viên sửdụng nhưng rất đơn giản, còn ít tạo cơ hội cho trẻ hoạt động khám phánhư nhiều giáo viên đã nêu trong phiếu điều tra Nhiều buổi giáo viên tổchức hoạt động quan sát rất sơ sài, những câu hỏi và kiến thức cung cấpcho trẻ không trọng tâm, chưa khai thác được nhận thức và tình cảm củatrẻ