1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM

205 1K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 2,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Luận án làm rõ vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay, và hệ thống chính sách xã hội hỗ trợ người mẹ đơn thân của chính phủ Hàn Quốc, từ đó liên

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGUYỄN THỊ THU VÂN

VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN TRONG XÃ HỘI HÀN QUỐC HIỆN NAY VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở

VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

Trang 2

Hà Nội - 2015

Trang 3

VIỆN HÀN LÂMKHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-NGUYỄN THỊ THU VÂN

VỊ THẾ CỦA NGƯỜI MẸ ĐƠN THÂN TRONG XÃ HỘI HÀN QUỐC HIỆN NAY VÀ LIÊN HỆ VỚI THỰC TIỄN Ở

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các

số liệu, kết quả trong luận án là kết quả nghiên cứu và điều tra thực địa của tác giả luận án và chưa từng được ai công bố.

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Vân

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án tiến sĩ với đề tài: “Vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam”,

tôi xin chân thành cảm ơn:

Các thầy cô giáo Khoa Dân tộc học và Học viện Khoa học Xã hội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành chương trình đào tạo tiến sĩ

Lãnh đạo Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi tôi công tác, đã giúp đỡ, tạo điều kiện giúp tôi về thời gian, lịch công tác để tôi hoàn thành luận án

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Trịnh Duy Luân

và TS Đặng Thị Hoa, những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và cho tôi những góp ý vô cùng quý báu giúp tôi hoàn thành luận án này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Mạng lưới Hỗ trợ Người mẹ Đơn thân Hàn Quốc (KUMSN) và Hiệp hội Gia đình Người mẹ Đơn thân Hàn Quốc (KUMFA) tại Seoul, Hàn Quốc, cùng Hội Những Người mẹ Đơn thân Việt Nam và các cộng tác viên đã nhiệt tình cộng tác trong suốt quá trình điền dã, khảo sát tại các địa bàn nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

đã khích lệ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi khi thực hiện luận án

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

KUMFA Korean Unwed Mothers Families Association

(Hiệp hội Gia đình Người mẹ Đơn thân Hàn Quốc)KUMSN Korean Unwed Mothers Support Network

(Mạng lưới Hỗ trợ Người mẹ Đơn thân Hàn Quốc)NGO Non-government organization

Trang 7

3 Bảng 2-1 Phân bố độ tuổi của người mẹ đơn thân trong các

6 Bảng 3-1 Số lượng khu nhà tạm trú phúc lợi dành cho gia đình

khuyết một thành viên qua các năm

78

7 Bảng 3-2 Thực trạng hỗ trợ học phí – chi phí nuôi con của

Chính phủ Hàn Quốc

79

8 Hộp 3-3 Thủ tục đăng ký vào cư trú tại nhà tạm trú 81

9 Bảng 3-4 Chương trình của nhà tạm trú A dành cho mẹ và

con người mẹ đơn thân

82

10 Hình 3-5 Phương thức hoạt động của Hiệp hội gia đình

người mẹ đơn thân Hàn Quốc

92

11 Bảng 4-1 Nhận thức về người mẹ đơn thân, theo nhóm tuổi

người trả lời

113

12 Bảng 4-2 Nhận thức về việc giáo dục con cái của người mẹ

đơn thân, theo nhóm tuổi người trả lời

122

13 Bảng 5-1 Điểm tương đồng và khác biệt trong vị thế của

người mẹ đơn thân Hàn Quốc và Việt Nam

143

Trang 8

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

Trang 9

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trên thế giới, vấn đề người mẹ đơn thân đã và đang nhận được nhiều

sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu cũng như hoạch định chính sách về gia đình Trong những năm gần đây, những biến đổi về kinh tế - xã hội, nhất

là đối với một số nước khu vực Châu Á, khu vực vốn được coi là bị ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng Nho giáo, đã dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong ý thức, quan điểm của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội về vấn đề người mẹ đơn thân Trong xã hội các nước khu vực Châu Á, bên cạnh hình thái gia đình truyền thống, ngày càng xuất hiện nhiều hình thái gia đình mới như: gia đình đa văn hóa, gia đình khuyết một thành viên (khuyết cha hoặc

mẹ do nhiều nguyên nhân: ly hôn, ly thân, góa, có con khi chưa kết hôn) Điều này đặt ra nhiều thách thức cho các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách về gia đình

Tại Hàn Quốc, từ lâu “Mihon-mo” (người mẹ đơn thân) được coi là một hiện tượng bất bình thường và là vấn đề xã hội, có ảnh hưởng đến sự ổn định của xã hội và sự ổn định của hình thái gia đình truyền thống, vốn đã tồn tại từ lâu đời Trong bối cảnh đó, những người mẹ đơn thân thường gặp nhiều khó khăn, đối mặt với những định kiến xã hội đối với họ Tuy nhiên, từ sau những năm 1990, cùng với sự biến đổi về các loại hình gia đình và hoạt động

hỗ trợ của các tổ chức phúc lợi xã hội, những người mẹ đơn thân đã dần thoát

ra khỏi những quy phạm truyền thống của xã hội, nâng cao vị trí độc lập của mình như một kiểu gia đình mới Vấn đề người mẹ đơn thân và con cái của họ cũng đã trở thành một chủ đề học thuật và được công chúng, dư luận quan tâm chú ý Đã có sự xuất hiện của mạng lưới các tổ chức xã hội hỗ trợ người

mẹ đơn thân, lên tiếng yêu cầu chính phủ, thay vì hỗ trợ cho chính sách cho con nuôi, cần có các chính sách hỗ trợ để người mẹ đơn thân nuôi con, đóng

Trang 10

góp vào sự phát triển chung của xã hội.

Ở Việt Nam, hình thái gia đình đang có những thay đổi nhanh chóng, nhất là từ những năm sau Đổi mới 1986 đến nay Vấn đề người mẹ đơn thân ở Việt Nam cũng không nằm ngoài những đặc điểm chung của hiện tượng này trên thế giới Hiện tượng này ngày càng trở nên phổ biến hơn, không còn là lẻ

tẻ, ngẫu nhiên như trước đây “Có thể xem đó như một hiện tượng mớitrong

sự phát triển của gia đình Việt Nam, đi cùng với những biến đổi xã hội khác ở nước ta trong thời kỳ Đổi mới”[68]

Cũng như Hàn Quốc, tại Việt Nam, dưới ảnh hưởng của hệ tư tưởng từ văn hóa Nho giáo Trung Quốc với nhiều quan niệm, quy phạm liên quan đến gia đình truyền thống, luôn coi trọng, đề cao hôn nhân và gia đình, gắn hôn nhân với gia đình trong một mối quan hệ hết sức mật thiết Điều này đã khiến nhữngcho người

mẹ đơn thân và con cái (ngoài giá thú) của họ rất khó khăn để được xã hội công nhận, chịu nhiều định kiến cũng như phân biệt đối xử Vì vậy, họ gặp phải khá nhiều khó khăn trong cuộc sống, và đặt ra những vấn đề xã hội hết sức đáng lo ngại Trước thực tế này, cần có những điều tra đầy đủ và cụ thể về vấn đề người mẹ đơn thân để từ đó, có cơ sở để có những điều chỉnh chính sách thích hợp, nhằm hỗ trợ cho những người mẹ đơn thân có hoàn cảnh sống tốt hơn

Các nghiên cứu về vấn đề người mẹ đơn thân trong thời gian vừa qua chủ yếu tiếp cận vấn đề này trong “cấu trúc xã hội” nên chưa phản ánh được một cách sâu sắc những vấn đề về nội tâm, quan niệm và những khó khăn của người mẹ đơn thân với tư cách là chủ thể hành vi Về phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu trước đây thường chủ yếu sử dụng phương pháp điều tra thống kê học, y học nên còn hạn chế trong việc khám phá những mặt tâm lý

xã hội, tâm thế ẩn chứa bên trong vấn đề người mẹ đơn thân Các nghiên cứu này cũng chưa sử dụng nhiều phương pháp văn hóa - so sánh, vốn rất cần thiết để có cái nhìn rộng hơn về vấn đề người mẹ đơn thân trong bối cảnh

Trang 11

quốc tế

Từ những lý do trên, nghiên cứu sinh đã quyết định lựa chọn đề tài “Vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Luận án làm rõ vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay, và hệ thống chính sách xã hội hỗ trợ người mẹ đơn thân của chính phủ Hàn Quốc, từ đó liên hệ với thực tiễn Việt Nam để gợi mở và đề xuất chính sách hỗ trợ người mẹ đơn thân tại Việt Nam

Cụ thể, luận án nhằm đạt được một số mục tiêu nghiên cứu sau :

- Cung cấp nguồn tư liệu mới, cụ thể, khoa học và có hệ thống về vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay và liên hệ với thực tiễn Việt Nam

- Phân tích và lý giải nguyên nhân, những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc và Việt Nam

- Gợi mở và đưa ra một số đề xuất nhằm xây dựng và cải thiện chính sách hỗ trợ người mẹ đơn thân tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là vị thế xã hội của người mẹ đơn thân Hàn Quốc hiện nay và liên hệ so sánh với người mẹ đơn thân tại Việt Nam Khách thể nghiên cứu là những người mẹ đơn là thành viên của Hiệp hội Gia đình người

mẹ đơn thân Hàn Quốc (KUMFA) và nhóm người mẹ đơn thân là thành viên của Hội những người mẹ đơn thân Việt Nam

Nội dung nghiên cứu tập trung vào các vấn đề: thực trạng và các yếu tố tác động đến vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội như: bối cảnh văn hóa xã hội, các quan niệm về giá trị của hôn nhân gia đình, hoàn cảnh gia đình, hoạt động của

Trang 12

mạng lưới người mẹ đơn thân, chính sách xã hội của chính phủ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1. Thời gian nghiên cứu

Về phạm vi thời gian nghiên cứu tại Hàn Quốc: lấy mốc thời gian từ sau 1990 (khi hình thái gia đình Hàn Quốc có nhiều thay đổi và vấn đề người

mẹ đơn thân bắt đầu nhận được dư luận xã hội và các nhà nghiên cứu quan tâm Ở Việt Nam, bối cảnh kinh tế xã hội được chọn là từ sau Đổi mới (1986) – thời kỳ có nhiều biến đổi về kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng, tác động không nhỏ tới loại hình, cấu trúc gia đình tại Việt Nam

3.2.2. Không gian nghiên cứu:

Nhóm người mẹ đơn thân Hàn Quốc: Nghiên cứu thực hiện tại Seoul, trong đó tập trung ở Hiệp hội gia đình người mẹ đơn thân Hàn Quốc (KUMFA)

Nhóm người mẹ đơn thân Việt Nam: Nghiên cứu thực hiện tại Hà Nội, trong đó tập trung ở nhóm người mẹ đơn thân thuộc Hội những người mẹ đơn thân Việt Nam

4 Nguồn tư liệu của luận án

Ở nghiên cứu này, tác giả đã kết hợp sử dụng cả nguồn tài liệu sơ cấp

và thứ cấp, bao gồm:

Một là, tư liệu do chính tác giả thu thập được qua nhiều đợt điền dã dân tộc học trong quá trình nghiên cứu thực tế tại Seoul, Hàn Quốc và Hà Nội, Việt Nam Đáng kể nhất là các đợt nghiên cứu dài ngày vào các năm 2010, 2011 (để thực hiện luận văn Thạc sĩ tại Hàn Quốc), trong năm 2013 tại Hàn Quốc và năm 2014, nửa đầu năm 2015 tại Hà Nội Nguồn tài liệu này giúp cho tác giả tìm hiểu và phát hiện được nhiều vấn đề nội tâm, suy nghĩ của người mẹ đơn thân, những khó khăn họ gặp phải trong quá trình mang thai, sinh con và nuôi con, đánh giá của họ về các chính sách xã hội của Chính phủ đối với họ, qua đó đánh giá được một cách khách quan vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội

Trang 13

Hai là, tài liệu thống kê về thực trạng của người mẹ đơn thân, độ tuổi, thu nhập, mức độ sử dụng các khu nhà tạm trú, các bài viết của học giả trong

và ngoài nước về gia đình và sự biến đổi hình thái gia đình, tình trạng cho con nuôi và các chính sách xã hội đối với người mẹ đơn thân, đàm luận về người

Hai là, liên hệ với thực tiễn của hiện tượng người mẹ đơn thân tại Việt Nam, cho thấy những khó khăn mà họ trải qua trong suốt quá trình mang thai

- sinh con - tham gia xã hội dưới con mắt của người trong cuộc

Ba là, kết quả nghiên cứu của luận án là luận cứ khoa học giúp cho việc xây dựng chính sách hỗ trợ cho người mẹ đơn thân tại Việt Nam

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố cục của luận án được chia thành các chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài

Chương 2 Thực trạng vị thế của người mẹ đơn thân Hàn Quốc từ chiều cạnh quan hệ xã hội

Chương 3 Vị thế của người mẹ đơn thân Hàn Quốc từ chiều cạnh chính sách và mạng lưới hỗ trợ

Chương 4 Vị thế người mẹ đơn thân tại Việt Nam – Một số vấn đề hiện

Trang 14

nay Chương 5 Kết quả và bàn luận

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Nghiên cứu về người mẹ đơn thân tại phương Tây

Cho đến nay, có không ít các công trình nghiên cứu về người mẹ đơn thân trên thế giới đã được công bố rộng rãi Đặc biệt ở các quốc gia mà chính sách phúc lợi đi đầu như Anh, Đức, Na-uy, Pháp thì các nghiên cứu về người

mẹ đơn thân là rất đa dạng Qua các công trình đó, có thể thấy một bức tranh toàn cảnh về thực trạng, khó khăn mà người mẹ đơn thân nuôi con gặp phải cũng như các luận điểm, các đề xuất về phương án hỗ trợ họ

Trong cuốn sách Going it alone? Lone motherhood in late modernity (Làm mẹ một mình? Tình mẹ trong thời kỳ hậu hiện đại) [109], được xây

dựng dựa trên nội dung phỏng vấn 70 người mẹ đơn thân không kết hôn, sống

ở nội thành Béclin và Luân Đôn, và dựa vào tiền trợ cấp của chính phủ, Davies Martina đã tìm hiểu cuộc sống của những người mẹ sống đơn thân cùng con cái So sánh giữa hai xã hội Anh và Đức trong thời hiện đại ngày nay, tác giả đã phân tích việc làm mẹ đơn thân khi nhận tiền trợ cấp của chính phủ, và chịu ảnh hưởng như thế nào từ đàm luận xã hội (social discourses) Tác giả cho rằng xã hội công nghiệp hóa phương Tây đã và đang trải qua một

Klett-sự biến đổi đầy kịch tính về cấu trúc gia đình từ những năm 1970 Gia đình hạt nhân trong đó bao gồm bố, mẹ và con cái đang giảm dần, tỉ lệ ly dị và sống thử đang tăng nhanh, phụ nữ có con ở độ tuổi muộn hơn và cũng có ít con hơn Nhưng sự biến đổi đáng chú ý nhất trong cấu trúc của gia đình là số lượng tăng nhanh của gia đình khuyết một thành viên - gia đình cô đơn (lone parent family) Tác giả định nghĩa người mẹ đơn thân là một nhóm đồng nhất,

có những bất lợi tương tự nhau và tồn tại như một nhóm riêng biệt với các

Trang 16

nhóm phụ nữ khác hay các gia đình có đầy đủ hai thành viên Tác giả sử dụng thuật ngữ “lone” thay cho “single” hay “solo” bởi lẽ phần lớn những phụ nữ

mà tác giả phỏng vấn tại Anh tự định nghĩa họ như những người mẹ đơn độc Những phụ nữ tại Đức thì gọi chính họ là “Alleinerziehende” (alone-educator)

- những người giáo dục con cái một mình

Một trong những điểm đáng chú ý trong công trình của Klett-Davies Martina là căn cứ vào cách thức mà người mẹ đơn thân xử lý, sắp xếp cuộc sống của mình trong điều kiện có hay không được nhận trợ giúp của chính phủ, trong mối quan hệ với những người xung quanh, trong dư luận xã hội đối với họ, tác giả đã phân chia họ thành ba nhóm: người tiên phong (pioneer), coper (người đương đầu) và struggler (người đấu tranh) Theo đó, người đi tiên phong (pioneer) cảm thấy thỏa mãn với những gì mình có, người đương đầu (coper) luôn nhìn nhận tình trạng của họ chỉ là tạm thời và có thể cải thiện, còn người đấu tranh (struggler) thì cảm thấy bị chôn vùi trong những ràng buộc và đè nén xã hội, nhận thức rằng họ chẳng còn sự lựa chọn nào cả Đây là những luận điểm hết sức quan trọng có thể vận dụng khi phân tích về tâm lý bất ổn và tiến thoái lưỡng nan của người mẹ đơn thân trong quá trình mang thai, sinh con, nuôi con và tham gia xã hội

Polakow Valerie, Halskov Therese và Jorrgense Per Schultz trong

nghiên cứu Diminished rights, Danish lone mother families in international contexts (Quyền lợi bị giảm bớt, Các Gia đình Người mẹ Đơn thân Đan Mạch trong Bối cảnh Quốc tế) [114] đã tìm hiểu về cuộc sống và vấn đề đói nghèo

của người mẹ đơn thân ở Đan Mạch trong so sánh với các xã hội khác Nghiên cứu miêu tả những khó khăn của những người mẹ đơn thân khi phải

cố gắng vừa làm việc, vừa nuôi con, vay mượn tiền để trang trải cho cuộc sống và đưa ra nhận định rằng quyền lợi của người mẹ đơn thân và con cái của họ – những người được coi là thuộc “nhóm xã hội ngoài lề” (marginal

Trang 17

group) - là một thứ quyền lợi bị giảm bớt (diminished rights) và họ phải đấu

tranh rất nhiều để khôi phục quyền lợi của chính mình Tác giả chỉ ra rằng giáo dục chính là con đường có thể giúp các bà mẹ đơn thân thoát khỏi tình trạng nghèo khó, tăng thu nhập Bên cạnh đó sự hỗ trợ của mạng lưới xã hội cũng hết sức cần thiết Đây là những nhận định rất có giá trị Bởi lẽ nhiều nghiên cứu về thực trạng người mẹ đơn thân, nhất là người mẹ đơn thân ở tuổi vị thành niên hoặc thanh niên, cho thấy việc mang thai và sinh con làm

họ giảm bớt cơ hội học tập, phải nghỉ học giữa chừng, ảnh hưởng lớn đến việc tìm được công việc ổn định trong tương lai của họ Vì thế, giáo dục - cụ thể là dạy nghề hoặc tạo điều kiện giúp những người mẹ đơn thân này có cơ hội học tập là một việc hết sức thiết thực

Nhìn chung các nghiên cứu kể trên đề cập đến gồm nhiều khía cạnh đa dạng như: vấn đề nhân quyền, trong đó nhấn mạnh quyền làm mẹ, vấn đề phúc lợi xã hội v.v…Tuy vậy, các nghiên cứu thường không đưa ra các con số hay dữ liệu thống kê về độ tuổi, học vấn, sức khỏe v.v , những thông tin chung khái quát về người mẹ đơn thân Các nghiên cứu thường tập trung phân tích nội tâm của người mẹ đơn thân thông qua nội dung phỏng vấn sâu, so sánh chế độ phúc lợi xã hội đối với người mẹ đơn thân ở các xã hội khác nhau, qua đó cho cái nhìn tổng quát về vấn đề người mẹ đơn thân tại phương Tây Ở đây, cái nhìn của xã hội về người mẹ đơn thân là “thoáng” hơn (so với các xã hội phương Đông), và do đó họ dễ được chấp nhận hơn, cũng như được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ (về nhà cửa, tiền trợ cấp, dịch vụ phúc lợi chăm sóc con cái v.v ) hơn

1.1.2 Nghiên cứu về người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc

Tại Hàn Quốc, từ những năm 1990 trở lại đây, bắt đầu xuất hiện nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề người mẹ đơn thân Có thể chia các nghiên cứu này theo các nhóm nội dung chính: nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân

Trang 18

phát sinh của hiện tượng người mẹ đơn thân, những khó khăn và định kiến, dư luận xã hội, mạng lưới người mẹ đơn thân và những nghiên cứu nhằm đưa ra

đề án, chính sách xã hội hỗ trợ người mẹ đơn thân và con cái của họ

Trong các công trình nghiên cứu giải thích nguyên nhân phát sinh và thực trạng của người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc, lại có hai hướng quan điểm, trong đó một bên tiếp cận vấn đề từ góc độ vĩ mô - nhấn mạnh sự thay đổi của cấu trúc xã hội là nguyên nhân chính dẫn đến phát sinh hiện tượng người mẹ đơn thân, còn một bên thì tiếp cận vấn đề từ góc độ vi mô – nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố mang tính gia đình, cá nhân

Các công trình ở nhóm thứ nhất có thể kể đến Lee Seok-jae [155]; Bae Mee-young [143], Jeong Maria và cộng sự [147], [Ahn Tae-yun và cộng sự, [151]; Son Hong-sook [145] đều đưa ra nhận định: “Quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa là nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi trong lối sống, thêm vào đó là cơ hội giao lưu tiếp cận giữa nam nữ, những nhận thức về quan hệ tình dục cũng thay đổi dưới sự tác động của các phương tiện truyền thông đại chúng Những giá trị, quy định mang tính đạo đức, xã hội, gia đình truyền thống bị giảm nhẹ,

từ đó số lượng phụ nữ mang thai, nuôi con mà không kết hôn tăng nhanh, cho đến gần đây trở thành một hiện tượng và nhận được nhiều quan tâm chú ý từ

Trang 19

xã hội truyền thống trở nên yếu dần Thêm vào đó, xu hướng cởi mở về tình dục của phương Tây cũng lan tỏa mạnh mẽ, khiến cho những luân lý, quy phạm mang tính truyền thống của Hàn Quốc trước đây bị lung lay Mặt khác,

độ tuổi trưởng thành về mặt thể chất của thanh niên cũng thấp dần, sự tự do trong cuộc sống cá nhân được đề cao dẫn đến hiện tượng sống thử trước hôn nhân trở nên phổ biến Các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, internet cũng khiến giới trẻ tìm hiểu nhiều hơn về tình dục Theo

đó, tỉ lệ sống thử và quan hệ trước hôn nhân tăng cao, kéo theo một số lượng lớn những người mẹ trẻ mang thai, đơn thân nuôi con, làm nổi cộm lên thành vấn đề mang tính xã hội

Ahn Tae-yun và cộng sự [151], trong “Nghiên cứu về điều tra thực trạng gia đình ông bố bà mẹ đơn thân tỉnh Gyeonggi-do và phương án hỗ trợ” cũng cho rằng cùng với sự phát triển đa dạng của xã hội hiện đại và đô

thị hóa, cấu trúc và chức năng của gia đình cũng có nhiều thay đổi, dẫn đến hiện tượng gia đình khuyết một thành viên như gia đình ly hôn, gia đình ông

bố bà mẹ có con ngoài giá thú v.v Trong số gia đình ông bố bà mẹ có con ngoài giá thú này thì số gia đình bà mẹ có con trong khi chưa kết hôn, quyết định nuôi con một mình chiếm 80%, gặp nhiều khó khăn mang tính kinh tế, tâm lý và mạng lưới xã hội

Trong công trình của Son Hong-sook [145] khi nghiên cứu về “Nguyên nhân phát sinh hiện tượng người mẹ đơn thân và đề án dự phòng nhìn từ góc

độ phúc lợi gia đình” cũng cho rằng sự biến đổi nhanh chóng của xã hội, quá

trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã ảnh hưởng tác động đến toàn bộ cấu trúc

xã hội, khiến cấu trúc xã hội trải qua một quá trình biến đổi toàn diện Điều này không chỉ tác động đến mọi mặt của xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục mà còn ảnh hưởng làm thay đổi cả cách sống của mỗi cá nhân hay những quy phạm, giá trị trong cuộc sống gia đình, xã hội Có thể thấy rõ

Trang 20

nét nhất là hiện tượng hỗn loạn của giá trị quan có liên quan đến hành vi tình dục của mỗi cá nhân, thể hiện ở những quy phạm về tình dục và vai trò của tình dục Các giá trị, quan niệm truyền thống về tình dục hay vai trò của tình dục đã dần trở nên yếu đi, thay vào đó là các quan điểm cởi mở hơn.

Không nhắc đến những yếu tố mang tính xã hội, vĩ mô như đô thị hóa hay hiện đại hóa, sự biến đổi của cấu trúc xã hội ảnh hưởng đến nhận thức và lối sống của các thành viên trong xã hội đó, nhiều nhà nghiên cứu khác như Huh Nam-soon [137,138] tiếp cận vấn đề ở góc độ vi mô, cho rằng hoàn cảnh gia đình là nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc phát sinh hiện tượng người mẹ đơn thân Các tác giả nhận định một số lượng lớn người mẹ đơn thân xuất thân từ các gia đình trong đó mối quan hệ giữa các thành viên không ổn định hoặc mâu thuẫn như gia đình ly hôn, ly thân, gia đình khuyết

bố hoặc mẹ Vì vậy, đã có nhiều trường hợp cố gắng tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn hoặc dựa vào tinh thần ở bên ngoài xã hội, nới lỏng về các mối quan hệ khác giới, từ đó có nhiều khả năng trở thành người mẹ đơn thân Nhóm thanh thiếu niên với học lực và kiến thức về giới tính càng kém thì việc

có thai trong độ tuổi này càng cao, thêm vào đó bạo lực tình dục hay việc bất đồng với cha mẹ, bỏ nhà đi lang thang hoặc sống xa cha mẹ, tạo điều kiện cho việc sống thử trước hôn nhân cũng là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ có thai và trở thành mẹ đơn thân ở độ tuổi này càng cao Do đó, một gia đình trong đó các thành viên chung sống hòa thuận, mối quan hệ giữa mật thiết, gắn bó, sự ổn định của gia đình là yếu tố quan trọng giúp giảm thiểu khả năng có thai ngoài

ý muốn trước hôn nhân, trở thành người mẹ đơn thân của con cái

Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu trên đây, có thể thấy rằng, nguyên nhân dẫn đến hiện tượng người mẹ đơn thân là nguyên nhân phức hợp, không chỉ đơn giản, một chiều, mà cần nhìn nhận từ nhiều chiều cạnh khác nhau, bao gồm nhiều yếu tố như: bối cảnh xã hội, hoàn cảnh gia đình của mỗi cá

Trang 21

nhân Sự biến đổi của cấu trúc xã hội như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong nhận thức, quan niệm về tình dục, hôn nhân cùng với hoàn cảnh môi trường sống, hoàn cảnh gia đình chính là những yếu tố tác động trực tiếp đến việc phát sinh hiện tượng người mẹ đơn thân

Về thực trạng của hiện tượng người mẹ đơn thân, trong các nghiên cứu trước đây, ít có nghiên cứu nào đưa ra con số thống kê cụ thể về số lượng người mẹ đơn thân tăng giảm theo năm, mà chủ yếu là những con số thống kê

về độ tuổi, học vấn, tỉ lệ lựa chọn cho con nuôi hay nuôi con một mình, dựa vào kết quả điều tra ở một số người mẹ đơn thân nhất định, thường là những nhóm người mẹ đơn thân cư trú trong các khu nhà tạm trú (shelter) Ngoài ra, các nghiên cứu tập trung tìm hiểu nhận thức xã hội, cái nhìn của những người xung quanh về người mẹ đơn thân, đồng thời phân tích những khó khăn, định kiến xã hội, các trải nghiệm khi mang thai, nuôi con mà người mẹ đơn thân gặp phải khi nuôi con một mình

Về độ tuổi của người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc, một trong những điểm đáng lưu ý trong các nghiên cứu trên là hai luồng quan điểm trái chiều tranh luận về việc độ tuổi của người mẹ đơn thân trong những năm gần đây đang tăng hay giảm dần, kéo theo sự gia tăng số lượng của nhóm mẹ đơn thân độ tuổi vị thành niên, thanh niên Hong Soon-hye và cộng sự [139] trong

“Nghiên cứu thực trạng đảm bảo quyền nuôi con của người mẹ đơn thân độ tuổi thanh thiếu niên” cho rằng bước vào những năm 90, xuất hiện hiện tượng

độ tuổi của người mẹ đơn thân giảm nhanh chóng, độ tuổi 15 đến 19 năm

1996 chiếm 48.3%, cao gấp gần hai lần so với con số 24,8% mà Trung tâm phát triển phụ nữ Hàn Quốc công bố năm 1984 Từ đó, có thể thấy những năm

1990, vấn đề người mẹ đơn thân ở độ tuổi vị thành niên ngày càng trở nên đáng báo động

Trang 22

Tuy nhiên, quan điểm này được Lee Mi-jeong [154] trong nghiên cứu

về “Thực trạng sinh hoạt của gia đình người mẹ đơn thân tỉnh Gyeonggi-do”

bác bỏ Lee Mi-jeong cho rằng khuynh hướng gia tăng số lượng người mẹ đơn thân ở độ tuổi vị thành niên chỉ xuất hiện ở cuối những năm 1990, đến đầu năm 2000, còn từ những năm từ 2000 trở lại đây, tỉ lệ này giảm dần, duy trì ở mức 30%

Mặt khác, nghiên cứu của Lee Mi-jeong còn đưa ra con số về trình

độ học vấn của nhóm người mẹ đơn thân được điều tra, trong đó những người có học vấn dưới tốt nghiệp PTTH chiếm 4.5%, số đã tốt nghiệp PTTH chiếm 45.1%, số đang học đại học chiếm 50.4% Tác giả cũng nhấn mạnh khuynh hướng gần đây trong số những người mẹ đơn thân cư trú trong các khu nhà tạm trú, thì tỉ lệ người mẹ quyết định giữ lại nuôi con một mình, không cho con nuôi đang tăng nhanh1 Và độ tuổi của người mẹ đơn thân là nhân tố quyết định nhiều trong việc cho con nuôi trong/ ngoài nước hay giữ lại nuôi con một mình Những nhóm phụ nữ có độ tuổi thấp thì tỉ lệ cho con nuôi cao và nhóm có độ tuổi cao thường lựa chọn nuôi con một mình Kong Il-sook [135] và Huh Nam-soon cùng cộng sự [138] trong

nghiên cứu “Thực trạng và những tranh cãi liên quan đến người mẹ đơn thân”cũng đồng ý với nhận định này của Lee Mi-jeong Trong số những

người mẹ đơn thân cư trú trong các khu nhà tạm lánh, thì tỉ lệ lựa chọn nuôi con một mình năm 1984 là 5.8%, năm 1998 là 7.2%, năm 2001 là 11.0% Năm 2005 là 31.7% và năm 2006 là 33.0%, cho thấy khuynh hướng quyết định nuôi con một mình thay vì cho con nuôi ở những người mẹ đơn thân đang tăng dần

Vấn đề nhận thức xã hội và những khó khăn, định kiến mà người mẹ

1 Dựa vào việc giữ lại con hay cho con nuôi đi mà người mẹ đơn thân (mihon-mo) được chia làm hai nhóm: người mẹ đơn thân nuôi con (yangyuk mihon-mo) hay người mẹ đơn thân cho con nuôi (ipyang mihon-mo), trong đó “yangyuk” mang nghĩa “nuôi nấng, dưỡng dục”, “ipyang” mang nghĩa “cho nhận con nuôi”

Trang 23

đơn thân gặp phải trong xã hội Hàn Quốc cũng là khía cạnh được nhắc đến

trong nhiều nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Vân [157] trong công trình “Cuộc vận động ủng hộ quyền lợi của người mẹ đơn thân trong xã hội Hàn Quốc hiện nay”, được tiến hành qua phương pháp nghiên cứu điều tra thực địa nhân

học, với mẫu nghiên cứu là nhóm những người mẹ đơn thân đóng vai trò nòng cốt trong việc thành lập và hoạt động của tổ chức Hiệp hội gia đình phụ nữ đơn thân Hàn Quốc (Korean Unwed Mothers Families Association) cũng đã miêu tả những khó khăn và định kiến mà người mẹ đơn thân gặp phải trong

xã hội Hàn Quốc Tác giả nhấn mạnh tại Hàn Quốc, những định kiến về người

mẹ đơn thân như trẻ tuổi, phi đạo đức tồn tại khá rõ nét hơn các xã hội phương Tây Thậm chí họ thường được quy xét vào các nhóm người có trình

độ hiểu biết, học vấn cũng như tư cách đạo đức thấp kém, nghề nghiệp không

ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn Vấn đề người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc không được xét đến như một vấn đề mang tính xã hội, hay liên quan đến giới

mà thường được quy kết như một vấn đề đạo đức cá nhân, khi nhấn mạnh yếu

tố “không kết hôn sao có thể sinh con?” Ngoài ra, dưới góc tiếp cận chủ thể hành vi, Nguyễn Thị Thu Vân còn đi sâu phân tích nội tâm người mẹ đơn thân, cho thấy những khó khăn họ gặp phải trong quá trình mang thai, nuôi con, sinh con Đó là những khó khăn “về kinh tế, định kiến và phân biệt đối

xử từ những người xung quanh, khó khăn khi tìm kiếm việc làm, khó khăn khi xung đột với đàm luận xã hội (social discourses) Đặc biệt một trong những khó khăn cơ bản họ gặp phải là sự xung đột khi phải cân bằng giữa hai vai trò: vai trò trong gia đình và vai trò ngoài xã hội” [157]

Ahn Tae-yun và cộng sự [151], trong “Nghiên cứu về điều tra thực trạng gia đình ông bố bà mẹ đơn thân tỉnh Gyeonggi-do và phương án hỗ trợ” cũng cho thấy định kiến của người dân Hàn Quốc đối với người mẹ đơn

thân Nhóm tác giả cho rằng tại Hàn Quốc, trên thực tế, cái nhìn về những

Trang 24

người mẹ nuôi con một mình mà không kết hôn vẫn theo khuynh hướng căn

cứ vào những giá trị đạo đức chung, xem họ như những người phi đạo đức hoặc thiếu trách nhiệm đối với bản thân và gia đình, con cái Từ đó, họ gặp phải sự phân biệt đối xử không chỉ ở địa bàn cư trú mà còn ở nơi làm việc, làm giảm khả năng tìm kiếm hoặc duy trì việc làm của họ, gây nên những bất lợi trong việc ổn định cuộc sống

Về mạng lưới hỗ trợ người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc, các nghiên cứu trước đây chủ yếu nghiên cứu các tổ chức của xã hội dân sự, các NGOs đang vận động ủng hộ quyền lợi của người mẹ đơn thân, xây dựng các khu nhà tạm

trú cho họ Lee Mi-jeong [154] trong công trình “Phương án cải thiện dịch vụ phúc lợi hỗ trợ người mẹ đơn thân nuôi con” đã chỉ ra nhiều loại hình nhà

tạm trú cho những người mẹ đơn thân, tùy thuôc vào thời gian cư trú và các chính, chương trình phúc lợi mà họ được hưởng Nhìn chung, người mẹ đơn than được cư trú miễn phí, được hỗ trợ về vật chất và tinh thần để có động lực

tự lập và nuôi con

Từ việc tìm hiểu, phân tích nguyên nhân và thực trạng vấn đề người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc, các nghiên cứu trước đây đã đưa ra những đề án, phương hướng chính sách, giải pháp nhằm hỗ trợ họ dựa trên việc phân tích những hạn chế của các chính sách trong thời điểm hiện tại Đa số các nghiên cứu nhìn nhận vấn đề người mẹ đơn thân ở góc độ nhân quyền, quyền làm mẹ

Ahn Tae-yun và cộng sự [151] trong “Nghiên cứu về điều tra thực trạng gia đình ông bố bà mẹ đơn thân tỉnh Gyeonggi-do và phương án hỗ trợ”, từ việc

nêu ra các chính sách hỗ trợ gia đình khuyết một thành viên thuộc độ tuổi thanh niên của chính phủ, từ đó tác giả nêu lên quan điểm cần xây dựng chính sách một cách đầy đủ, đáp ứng nhu cầu chung của người mẹ đơn thân ở nhiều độ tuổi

Các nghiên cứu còn lại đa số nhấn mạnh tính đa dạng, linh hoạt khi đưa

ra đề xuất về chính sách hỗ trợ người mẹ đơn thân Một số nghiên cứu đặt vấn

Trang 25

đề người mẹ đơn thân trong mối liên hệ mật thiết với vấn đề cho nhận con

nuôi Jeong Maria và cộng sự [147], trong nghiên cứu về “Sự ủng hộ của xã hội đối với người mẹ đơn thân và hy vọng của họ” nhấn mạnh tầm quan trọng

của mạng lưới xã hội đồng thời phát triển các chương trình hỗ trợ về mặt tinh thần cho người mẹ đơn thân

Lee Mi-jeong [153] trong công trình nghiên cứu “Phương án cải thiện dịch

vụ phúc lợi hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con”thì lại đặt vấn đề người mẹ đơn

thân và vấn đề cho con nuôi nước ngoài trong một mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời bởi tác giả lý giải rằng đa số những em bé được cho đi nhận con nuôi nước ngoài là con cái của những người mẹ đơn thân này Tác giả bác bỏ quan điểm trước đây cho rằng việc cho nhận con nuôi là một đề án phúc lợi mang đến cho những em bé này một gia đình mới, và khẳng định việc tạo ra một môi trường sống tốt đẹp trong đó những em bé này được sống cùng cha mẹ ruột mới là một chính sách đúng đắn

Cùng quan điểm với Lee Mi-jeong, Kang Eun-hwa [125], trong công trình

nghiên cứu “Luận bàn nhằm bảo vệ quyền nuôi con của người mẹ đơn thân: Lấy trọng tâm bàn về vấn đề cho nhận con nuôi” cũng cho rằng chính sách của Chính

phủ Hàn Quốc đang xung đột với việc bảo vệ quyền nuôi con của người mẹ đơn thân Chính phủ thực hiện các chính sách hỗ trợ người mẹ đơn thân nhưng lại không chú trọng đến quyền nuôi con, quyền làm mẹ của họ Một số khu nhà tạm trú lại có các chương trình kết nối với các cơ sở cho con nuôi “Kết cục là các chính sách phúc lợi của chính phủ lại trở thành công cụ chia rẽ người mẹ đơn thân

và con cái của họ, khiến người mẹ đơn thân phải từ bỏ quyền nuôi con của mình” [125]

Các công trình nghiên cứu về người mẹ đơn thân tại Hàn Quốc đã phần nào phác họa được một cái nhìn bao quát về các chiều cạnh của vấn đề người

Trang 26

mẹ đơn thân Các nghiên cứu này chủ yếu được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu xã hội học, thống kê học hay y tế học, có rất ít nghiên cứu về người mẹ đơn thân được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu nhân học Các nghiên cứu này cũng mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra hiện tượng mà chưa gắn với các lý luận có liên quan đến người mẹ đơn thân hay các lý thuyết về gia đình để phân tích một cách sâu sắc về vấn đề này Mặt khác, khi xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc xã hội và chủ thể hành vi, trong các nghiên cứu trước đây, chỉ chủ yếu nghiên cứu vấn đề người mẹ đơn thân dựa trên việc phân tích cấu trúc xã hội, chứ ít có những nghiên cứu tập trung vào chủ thể hành vi - tức những người mẹ đơn thân Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung tìm hiểu chính sách phúc lợi đối với người mẹ đơn thân, những con số cụ thể liên quan đến số lượng, trình độ học vấn, thu nhập của người mẹ đơn thân mà chưa phản ánh được đầy đủ nội tâm, suy nghĩ và những khó khăn họ gặp phải Bên cạnh đó, việc chưa nhìn nhận, đánh giá, phân tích vấn đề người mẹ đơn thân theo phương pháp văn hóa so sánh đặt trong dòng chảy chung của thế giới cũng là một điểm hạn chế cần khắc phục.

Bởi vậy, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi xem xét vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, đồng thời, so sánh bối cảnh các xã hội khác nhau có ảnh hưởng như thế nào đến hành vi và suy nghĩ, nhận thức cũng như cuộc sống của mỗi cá nhân Thông qua đó, chúng tôi hy vọng sẽ tiếp cận và phân tích vấn đề một cách khách quan, lô-gic và toàn diện hơn

1.1.3 Nghiên cứu về người mẹ đơn thân tại Việt Nam

Từ khi bắt đầu chính sách Đổi mới đến nay, những chuyển biến sâu sắc

về kinh tế - xã hội đã đặt ra nhiều vấn đềcần nghiên cứu về các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là cấu trúc và loại hình gia đình “Không chỉ có các loại hình gia đình truyền thống tồn tại từ xưa mà còn xuất hiện các loại hình gia đình mới, đặc biệt là gia đình cha (mẹ) đơn thân (lone-parent family) – chính

Trang 27

là một biến thể của gia đình hạt nhân, gồm hai thế hệ (cha mẹ và con cái), nhưng trong thế hệ thứ nhất (tức thế hệ cha mẹ), không đủ hai người của cặp

vợ chồng, mà chỉ có một người (hoặc mẹ hoặc cha), do nhiều nguyên nhân khác nhau (ly hôn, góa, hay đơn giản là không hoặc chưa kết hôn mà có con v.v )” [4]

Nghiên cứu về người mẹ đơn thân hay gia đình đơn thân ở Việt Nam

chưa nhiều, thậm chí có thể nói là ít Có thể kể đến nghiên cứu “Gia đình phụ

nữ thiếu vắng chồng” của Lê Thi và cộng sự năm 1996, nghiên cứu “Cuộc sống của phụ nữ đơn thân ở Việt Nam” của Lê Thi năm 2002 và “Một mình

mẹ đẻ con” của Lê Thị Nhâm Tuyết năm 1992,“Chính sách nhà ở cho hộ phụ

nữ nghèo, đơn thân và đang nuôi con nhỏ tại thành phố Đà Nẵng” của Trần Thị Như Quỳnh và Ông Thị Thanh Vân năm 2014, “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã nghĩa thái huyện Tân Kỳ tỉnh Nghệ An” của

Vũ Thị Phương Hảo năm 2011 Các nghiên cứu này chủ yếu tìm hiểu thực trạng người mẹ đơn thân lớn tuổi ở Việt Nam, tập trung ở một phạm vi nhỏ (xã, huyện) thông qua nội dung điều tra phỏng vấn Ngoài ra có một số công trình nghiên cứu nhỏ lẻ khác về nhóm người mẹ đơn thân lớn tuổi của các cơ quan như: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vv trong đó, công bố một số số liệu về số lượng, độ tuổi, hoàn cảnh kinh tế

và những khó khăn chung của họ

Trong nghiên cứu “Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” [68], nhóm tác

giả đã tập trung giới thiệu về đời sống các gia đình phụ nữ thiếu và vắng chồng, trong bối cảnh đất nước những năm 80, đầu 90, và chỉ ra nguyên nhân mang tính xã hội dẫn đến hiện tượng gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng này Đối với nhóm phụ nữ góa, quan niệm truyền thống “Tam tòng” của Nho giáo

ăn sâu vào tiềm thức của người dân (Tại gia tòng phụ xuất giá tòng phu, phu

tử tòng tử) đã hạn chế họ trong việc tìm kiếm hạnh phúc mới Đối với nhóm

Trang 28

phụ nữ không chồng mà có con, nhóm tác giả cho rằng đây cần được xem như một hiện tượng mới trong sự phát triển của gia đình Việt Nam, là một báo hiệu về các biến động mới đang diễn ra trong xã hội ta hiện nay và được lý giải bằng rất nhiều nguyên nhân Một là, sự mất cân bằng giới tính đã hạn chế khả năng xác lập hôn nhân một cách bình thường của phụ nữ Hai là, bất cứ ở một xã hội nào việc xây đựng gia đình luôn là nhu cầu của cuộc sống và tâm

lý phổ biến của người phụ nữ Nhu cầu đó lớn đến mức họ có thể chấp nhận

cả những hình thức gia đình mất cân bằng Ba là, từ góc độ của sự tiến bộ xã hội, người phụ nữ không chồng có con báo hiệu sự chuyển đổi của hệ thống quan điểm giá trị rõ rệt Bốn là, từ góc độ phát triển của bản chất con người, hiện tượng phụ nữ không chồng có con cũng bộc lộ ý nghĩa của chủ nghĩa nhân đạo, đặc biệt đối với người phụ nữ [68]

Nhóm tác giả cũng đưa ra con số thống kê của cuộc điều tra dân số năm

1989, trong tổng số phụ nữ từ 15 tuổi trở lên thì có khoảng 5,56 triệu phụ nữ độc thân (single), chiếm 26,7%; 2,41% triệu phụ nữ góa (11,6%); 0.18 triệu phụ nữ ly hôn (0,9%) và 0,21 triệu phụ nữ ly thân (1%) Và một điều đáng lo ngại là số phụ nữ ly thân, ly hôn có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây Nhóm tác giả cũng khẳng định vấn đề hôn nhân gia đình hạnh phúc đang tìm ra những định hướng giá trị mới Người ta không chỉ coi những cặp

vợ chồng có đăng ký kết hôn thì hôn nhân đó mới có sự ổn định và gia đình hạnh phúc Tuy nhiên, sự tồn tại của các hình thức gia đình mới này không phải không tác động đến việc giáo dục con cái và quan niệm về gia đình của chúng sau này [68]

Bên cạnh đó, Lê Thi và cộng sự khẳng định tầm quan trọng của việc triển khai và bổ sung các điều luật về gia đình phụ nữ có con ngoài giá thú Nhóm tác giả cho rằng cần thực thi một chính sách toàn diện hơn, không chỉ

là chính sách kinh tế khi gặp thiên tai, tai nạn rủi ro mà phải có chính sách

Trang 29

tích cực, đồng thời vận động xóa bỏ định kiến đối với người mẹ đơn thân, có cái nhìn thông cảm, nhân văn hơn đối với họ Đây không phải là sự đối phó với một thực trạng xã hội cần phủ định mà là sự thích ứng với quyền chính đáng của con người [68].

Lê Thi cũng phân tích những mặt còn hạn chế của chính sách Nhà nước

có liên quan đến phụ nữ đơn thân Tác giả cho rằng hiện nay Việt Nam vẫn chưa có một chính sách toàn diện đối với các gia đình và được quy định rõ ràng về thực hiện trong cả nước Đối với các gia đình nghèo, đặc biệt phụ nữ thiếu, vắng chồng, không chỉ là chính sách kinh tế khi gặp thiên tai, tai nạn rủi

ro mà phải có chính sách tích cực (giúp họ vay vốn, phát triển sản xuất, miễn giảm bệnh viện phí, học phí cho con em họ v.v…) Bên cạnh đó cần xây dựng, truyền bá những quan điểm mới đối xử tự do, bình đẳng, dân chủ, có tính nhân văn, thông cảm với những người phụ nữ cô đơn gặp hoàn cảnh khó khăn, gạt bỏ sự coi khinh những người phụ nữ không chồng mà có con

Trong một nghiên cứu khác cũng của Lê Thi [70] - “Cuộc sống của phụ

nữ đơn thân ở Việt Nam”, dựa trên kết quả phỏng vấn sâu nhiều phụ nữ đơn

thân2 nói chung ở các tỉnh thành tại Việt Nam, đã phân loại các nhóm phụ nữ đơn thân Nghiên cứu đã trả lời câu hỏi “phụ nữ đơn thân, họ là ai?” đồng thời phân tích những yếu tố mang tính xã hội có ảnh hưởng đến tình trạng đơn thân ở phụ nữ như thế nào, trong quá khứ lịch sử và hiện tại, miêu tả cuộc sống thực của phụ nữ đơn thân, hoàn cảnh sống, tâm tư tình cảm và nguyện vọng của họ, từ đó đưa ra những đề nghị hỗ trợ phụ nữ đơn thân từ gia đình, cộng đồng và quốc gia Lê Thi cho rằng ở Việt Nam, phụ nữ đơn thân thường được gia đình và cộng đồng nhìn nhận như một đối tượng bất bình thường, khiến họ chịu nhiều thiệt thòi trong cuộc sống Điều này xuất phát từ quan niệm mang tính truyền thống tại Việt Nam về tầm quan trọng và ý nghĩa của

Trang 30

hôn nhân và gia đình Tầm quan trọng của gia đình theo đó dẫn tới sự đánh giá cao vai trò của hôn nhân trong cuộc sống của mỗi cá nhân “Bởi vậy những ai không kết hôn thường được coi như những đối tượng bất bình thường Đặc biệt dư luận xã hội thường nhìn những phụ nữ đơn thân với cái nhìn thiếu cảm thông và đối xử lạnh nhạt” [70] Khi phân tích nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng về phụ nữ đơn thân nuôi con không kết hôn, Lê Thi cho rằng ngày nay, vị trí và vai trò của phụ nữ đã thay đổi, họ không chỉ ở nhà mà còn tham gia vào các hoạt động xã hội Nhiều phụ nữ đã có sự độc lập về kinh

tế Sự lo ngại phụ thuộc vào chồng khiến họ chần chừ trong kết hôn, và đây chính là lý do họ quyết định sống đơn thân hoặc trót mang thai ngoài ý muốn vẫn quyết định sống đơn thân nuôi con Mặt khác, Lê Thi cũng đưa ra những

đề xuất về phương án hỗ trợ phụ nữ đơn thân tại Việt Nam từ gia đình, cộng đồng và quốc gia, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình, cộng đồng và chính quyền địa phương trong mối quan hệ với phụ nữ đơn thân, cần

có sự hỗ trợ đồng bộ từ gia đình đến chính quyền địa phương, chính sách của chính phủ nhằm tạo ra một môi trường sống và làm việc cho phụ nữ đơn thân bình đẳng như các phụ nữ khác

Bên cạnh nghiên cứu của Lê Thi, cũng nói về những khó khăn, thiệt thòi của những bà mẹ đơn thân, Lê Thị Nhâm Tuyết đã có bài viết về những

người mẹ đơn thân mang tên “Một mình mẹ đẻ con” [76] Nghiên cứu được

tác giả thực hiện thông qua điều tra nghiên cứu trường hợp nhóm người mẹ đơn thân tại xã An Hiệp, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Nhóm người mẹ đơn thân này đa số là những phụ nữ đã quá lứa nhỡ thì, đi “xin con” hoặc

“kiếm con” Tác giả tập trung vào phân tích những trải nghiệm khi xin con và nuôi con của các bà mẹ này Họ đều là những trường hợp chủ động xin con, hoặc đưa yêu cầu của mình thông qua một người khác, gặp phải cái nhìn đầy

kì thị của người dân xung quanh Xuất phát từ kết quả điều tra này, Lê Thị

Trang 31

Nhâm Tuyết nhấn mạnh quyền làm mẹ là quyền lợi rất đương nhiên, rất tự nhiên của người phụ nữ và chức năng tái sản xuất con người, đóng góp vào sự phát triển dân số của những người mẹ đơn thân này” [76].

Bên cạnh các nghiên cứu kể trên, có một số công trình nghiên cứu nhỏ

lẻ về nhóm phụ nữ đơn thân lớn tuổi của các cơ quan như: Bộ văn hóa thể thao và du lịch, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam v.v , công bố một số số liệu

về số lượng, độ tuổi và những khó khăn chung của họ, đồng thời khẳng định

xu hướng gia đình đơn thân nuôi con đang ngày một tăng, đặc biệt là ở tầng lớp trí thức nữ giới tại các thành phố lớn, cũng như giới văn nghệ sĩ Xu hướng làm mẹ đơn thân trở nên phổ biến hơn được lý giải một phần do phụ

nữ ngày càng tự chủ được về kinh tế và công việc Quan niệm của xã hội cũng

đã thoáng hơn trước, phụ nữ không nhất thiết phải kết hôn mới sinh con Nhiều phụ nữ do lỡ làng trong chuyện tình cảm, hay có một cú sốc về tâm lý không muốn lấy chồng nhưng vẫn muốn có con đã chọn giải pháp này Nhưng cũng không ít phụ nữ chọn giải pháp mẹ đơn thân bởi họ có thể bảo đảm một cuộc sống đầy đủ cho con mà không cần nửa kia Ðó cũng là một cách để khẳng định vai trò tự chủ, bình đẳng của phụ nữ trong xã hội hiện đại

Ngoài các nghiên cứu về người mẹ đơn thân kể trên, các nghiên cứu còn lại trong thời gian vừa qua chủ yếu là các nghiên cứu về gia đình, giới và phụ nữ nói chung, trong đó có nhiều luận điểm quan trọng có liên quan đến vấn đề người mẹ đơn thân tại Việt Nam Hướng nghiên cứu của các công trình này thường bao gồm: nghiên cứu về loại hình gia đình, những biến đổi về cấu trúc và chức năng của gia đình, và nghiên cứu về hôn nhân, các hình thái hôn nhân và tầm quan trọng của hôn nhân trong nhận thức của người dân Việt Nam

Trong nghiên cứu “Thái độ của thanh thiếu niên Việt Nam về hôn nhân

và gia đình” của Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Hồng năm 2011 [60] đã

Trang 32

khẳng định hiện tượng “Phụ nữ không lấy chồng nhưng sinh con” ngày càng phổ biến hơn trong thanh thiếu niên và dư luận xã hội về hiện tượng này cũng

đã dần có sự thay đổi Theo nhóm tác giả, trước đây người phụ nữ không lấy chồng nhưng có con thường phải chịu sự lên án gay gắt của xã hội, cộng đồng

và gia đình Từ khoảng những năm 90 của thế kỷ 20 trở lại đây, nhằm đảm bảo quyền được làm mẹ của người phụ nữ, Nhà nước đã chủ trương để người phụ nữ độc thân có cơ hội được sinh con Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 12/2003/NĐ-CP ngày 12/2/2003 về việc sinh con theo phương pháp khoa học nhằm giúp phụ nữ sống độc thân sinh con bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản (thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm) Điều đó cho thấy, thái độ của xã hội nói chung đối với hiện tượng “phụ nữ không lấy chồng sinh con” đã có sự thay đổi đáng kể Trên thực tế, khả năng tự chủ về kinh tế của người phụ nữ cũng khiến nhiều người phụ nữ tự tin lựa chọn cách sống không kết hôn nhưng có con Khi mà vấn đề quyền con người ngày càng được coi trọng, thái độ xã hội đối với việc phụ nữ không lấy chồng nhưng sinh con ít khắt khe hơn, rất có thể xu hướng lựa chọn lối sống này sẽ ngày càng gia tăng [60, tr.5]

Về sự biến đổi của gia đình, Mai Huy Bích [4] cũng nêu lên dự đoán về

xu hướng của hiện tượng người mẹ đơn thân trong đó cho rằng gần đây, cùng với việc định nghĩa và quan niệm về gia đình đang dần biến đổi, dư luận xã hội cũng như chính sách của nhà nước đối với người mẹ đơn thân cũng đã thay đổi theo hướng chấp nhận Trong tương lai, chung sống nhưng không đăng ký kết hôn, thậm chí độc thân có thể sẽ trở thành một số hình thức thay thế hôn nhân và gia đình, theo đó trong tương lai người mẹ đơn thân và con cái của họ càng có nhiều khả năng được chấp nhận và có được môi trường xã hội công bằng [4]

Mai Huy Bích [4] cũng đã phân loại gia đình gồm nhiều loại hình như:

Trang 33

gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng, gia đình gốc, gia đình phụ hệ, gia đình mẫu hệ, gia đình đơn hôn, gia đình đa hôn v.v… đồng thời nói lên mối băn khoăn có hay không phân loại người mẹ đơn thân và con cái của họ như một loại hình gia đình mới Theo tác giả, việc xác định người mẹ đơn thân và con cái của họ có phải là gia đình hay không, rất quan trọng không chỉ đối với các nhà hoạch định chính sách, mà cả với nhà nghiên cứu Nếu nhà hoạch định chính sách không thừa nhận đây là gia đình, thì ngay dù họ không trực tiếp trừng phạt những người mẹ này, mẹ con những phụ nữ đó sẽ vấp phải bao điều phân biệt đối xử.Nếu nhà xã hội học không thừa nhận một nhóm chỉ gồm

mẹ và con là gia đình, thì họ sẽ bỏ qua, không nghiên cứu những hình thái gia đình phi truyền thống này, từ đó đi đến những kết luận không đầy đủ hoặc thiếu chính xác [4]

Lê Ngọc Văn [88], trong nghiên cứu “Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam” cũng đồng ý với quan điểm của Mai Huy Bích khi đề cập đến sự biến đổi

nhanh chóng của loại hình gia đình trong những năm gần đây Tác giả cho rằng sự phát triển của nền kinh tế xã hội, hình thái xã hội sẽ kéo theo các biến đổi trong cấu trúc gia đình Tuy nhiên về mặt chức năng, dù ở hình thái nào, gia đình Việt Nam cũng đều đang thực hiện các chức năng cơ bản như: chức năng sinh đẻ, tái sản xuất

ra con người, chức năng kinh tế, chức năng xã hội hóa, chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm lý Đây là một luận điểm rất quan trọng khi luận bàn về vấn đề vị thế của người mẹ đơn thân cùng con cái của họ, bởi lẽ dù người mẹ đơn thân và con cái của họ có là một hình thái gia đình khác với gia đình truyền thống đi chăng nữa, thì cũng khó có thể phủ nhận vai trò, đóng góp của họ cho xã hội [88]

Trịnh Duy Luân [55] trong nghiên cứu “Gia đình nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới” cũng khẳng định sự biến đổi to lớn của gia đình Việt

Nam trong thời gian vừa qua: Gia đình Việt Nam đang trải qua những biến đổi to lớn trong hơn 2 thập niên Đổi mới vừa qua Dưới tác động của nhiều

Trang 34

nhân tố, trong đó có các quá trình như hiện đại hóa, toàn cầu hóa, các vấn đề của gia đình ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn Bởi vậy việc nhận diện được các vấn đề của gia đình và có những đối sách phù hợp là hết sức cần thiết [55, tr.5].

Bên cạnh các nghiên cứu về sự biến đổi của gia đình, còn một số nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi của hệ thống quan điểm giá trị liên quan đến hôn nhân và gia đình Lê Thị Nhâm Tuyết và cộng sự [77] trong công

trình “Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trên thềm thế kỷ XXI”, ngoài việc

khẳng định vị thế của người phụ nữ trong gia đình, nhóm tác giả còn nhấn mạnh tầm quan trọng của hôn nhân, chỉ ra quan điểm Nho giáo tồn tại từ lâu trong tiềm thức của người dân Việt Nam chính là nguyên nhân khiến cho gia đình đặt trong mối quan hệ với hôn nhân luôn được coi trọng, hôn nhân không chỉ là việc của hai người mà còn là việc hệ trọng của cả gia đình dòng họ Điều này có thể giải thích vì sao người mẹ đơn thân nuôi con - không trải qua thủ tục kết hôn - thường khó được gia đình, dòng họ và xã hội thừa nhận

Nhóm nghiên cứu cũng đề cập đến sự biến đổi của hôn nhân hiện nay:

độ tuổi kết hôn của nam - nữ ngày càng cao Ngoài ra đã có những dấu hiệu cho thấy có hiện tượng sống độc thân như một sự lựa chọn về lối sống chứ không phải vì không có cơ hội kết hôn Quan hệ tình dục trước hôn nhân cũng đang tăng, cùng với nó là các hình thái khác của hôn nhân, trong đó đáng chú

ý là hiện tượng sống thử trước hôn nhân, tập trung ở độ tuổi thanh niên 18-30 ngày càng trở nên phổ biến Tuy nhiên, trong cách nhìn của người Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều về sống thử, cho rằng sống thử là trái với chuẩn mực, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc [77]

Nhìn chung, các nghiên cứu về gia đình và hôn nhân kể trên đã cho

Trang 35

thấy bức tranh về các hình thái gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, tác động của các yếu tố kinh tế xã hội như công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến sự biến đổi gia đình từ thời kì đổi mới, những lý thuyết về hôn nhân hay gia đình, các luận điểm về giới, về phân chia lao động trong gia đình v.v Các luận điểm này là rất quan trọng trong việc luận bàn về xác lập

vị thế xã hội của người mẹ đơn thân và con cái của họ hiện nay, từ đó cải thiện cách đối xử phân biệt của gia đình và xã hội, đồng thời gợi mở những chính sách phù hợp đối với họ như một hình thái gia đình bình đẳng với các loại hình gia đình khác

Tuy nhiên các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở nhóm người mẹ đơn thân lớn tuổi, hoàn cảnh khó khăn, cơ nhỡ, chấp nhận cuộc sống của mình trong định kiến từ dư luận xã hội Các nghiên cứu cũng chủ yếu mô tả hiện tượng, chưa gắn với các lý thuyết về gia đình, giới, các lý thuyết liên quan đến người mẹ đơn thân Đặc biệt chưa có một nghiên cứu nào đi vào phân tích vấn đề người mẹ đơn thân đặt trong mối liên hệ, so sánh với một

xã hội khác Bởi vậy trong nghiên cứu luận án này, tôi sẽ phân tích vấn đề người mẹ đơn thân Hàn Quốc và liên hệ so sánh với cùng một hiện tượng trong xã hội Việt Nam, gắn liền với bối cảnh văn hóa xã hội, và khung lý thuyết có liên quan Từ đó, nhận diện vấn đề một cách toàn diện và khách quan, và đưa ra những đề xuất chính sách thích hợp hỗ trợ những người mẹ đơn thân tại Việt Nam

Trang 36

1.2 Một số khái niệm

1.2.1 Người mẹ đơn thân

Trong tiếng Hàn Quốc, “Mihon-mo” (未婚母) được xuất phát từ tiếng

Hán, với “Mi” (未) mang nghĩa “chưa”, “hon” (婚) mang nghĩa “hôn nhân”

và “mo”(母) mang nghĩa “mẫu, người mẹ” Bởi vậy, “Mihon-mo” trong tiếng Hàn được dùng để chỉ “người phụ nữ mang thai và làm mẹ trong khi chưa trải qua thủ tục kết hôn hợp pháp, những phụ nữ mang thai hoặc sinh con trong mối quan hệ không phải hôn nhân hợp pháp với một người đàn ông khác” [5] hay theo định nghĩa mang tính bao quát của Viện Phát triển Phụ nữ Hàn Quốc “người mẹ đơn thân là những phụ nữ mang thai và sinh con trước khi kết hôn, hoặc mang thai nhưng nạo hút thai, hoặc sống chung như vợ chồng,

có con và nuôi con nhưng không đăng ký kết hôn” [136]

Có thể thấy dù được định nghĩa theo cách nào thì các cách định nghĩa này đều nhấn mạnh yếu tố có kết hôn mang tính pháp lý hay không và lấy đó làm căn cứ để định nghĩa, phân biệt nhóm người mẹ đơn thân với nhóm người

mẹ đã kết hôn Ở Hàn Quốc bản thân thuật ngữ “mihon-mo” đã mang ý nghĩa

định kiến về người mẹ đơn thân, bởi lẽ nó nhấn mạnh tầm quan trọng của hôn nhân, trong khi đó xuất hiện quan điểm mới cho rằng hôn nhân chỉ là sự lựa chọn của mỗi cá nhân, có thể có hoặc không, nên có nhiều ý kiến cho rằng

nên thay thuật ngữ này bằng các thuật ngữ khác như “bihon-mo” (người mẹ

không kết hôn, non married-mother) – thể hiện quan điểm không nhất thiết

phải kết hôn, hay “miss mom” (người mẹ trẻ), “happy mom” (người mẹ hạnh phúc), “single mom” (người mẹ đơn thân)’ v.v Tuy nhiên thuật ngữ “mihon- mo” vẫn được dùng phổ biến hơn cả bởi hai lý do: thứ nhất, “mihon-mo” là

từ tiếng Hàn gốc Hán, không phải từ ngoại lai như các từ được đề cập ở trên;

thứ hai , nội hàm của từ “mihon-mo” diễn đạt một cách sát nghĩa nhất nhóm

Trang 37

đối tượng này

Trong tiếng Việt, khái niệm “người mẹ đơn thân” cũng không phải

được sử dụng ngay từ đầu Trong nghiên cứu của Lê Thi [68], tác giả dùng

một khái niệm mang tính phổ quát “phụ nữ thiếu, vắng chồng”, với đặc điểm

là thiếu người đàn ông với tư cách là chồng, là người bố những đứa trẻ sống cùng gia đình Tác giả phân loại thành 5 loại hình gia đình thiếu vắng chồng: 1) gia đình có chồng nhưng chồng chết; 2) gia đình có chồng nhưng đi vắng lâu, sống xa nhà, 3) có chồng nhưng sống ly thân, bị chồng ruồng bỏ, 4) có chồng nhưng đã ly dị, và 5) gia đình chưa kết hôn chính thức nhưng đã có con với người đàn ông (có vợ hay chưa có vợ), người bố thừa nhận hoặc chỉ lén lút thừa nhận đứa con, thỉnh thoảng đi lại thăm con hoặc không thừa nhận Tác giả khẳng định dựa vào cách phân loại như vậy, có thể thấy có những tình huống, nguyên nhân khác nhau dẫn đến hình thành những gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng, nhưng có một hoàn cảnh chung là họ phải một mình nuôi con, lo việc gia đình Họ cô đơn, thiếu thốn tình cảm, thiếu cả sự trợ giúp của người chồng hoặc người có tư cách chồng dù không trải qua thủ tục kết hôn hợp pháp, trong đời sống sinh hoạt sản xuất kinh tế Trong khi đó các nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết [76] lại tập trung vào nhóm phụ nữ đơn thân đã

lớn tuổi, nên đưa ra nhiều khái niệm như: “một mình mẹ đẻ con”, “bà mẹ đơn thân” hoặc “những bà mẹ bất hạnh”, “những bà mẹ quá lứa nhỡ thì”

v.v…

Trong một nghiên cứu khác, Lê Thi và cộng sự [70], dùng thuật ngữ

“phụ nữ đơn thân” để chỉ “những phụ nữ mà chưa từng kết hôn hoặc đã kết hôn nhưng chồng của họ sống ở xa do những lý do và hoàn cảnh khác nhau”

Tác giả chia phụ nữ đơn thân thành hai nhóm: nhóm đã kết hôn (những phụ

nữ đã từng một lần kết hôn, nhóm này bao gồm những phụ nữ góa, ly thân hoặc ly hôn với chồng, hoặc chồng xa nhà trong một thời gian dài không liên lạc, họ thường sống với con cái của mình, một vài sống cô đơn một mình); và

Trang 38

nhóm phụ nữ chưa kết hôn (những phụ nữ đã có tuổi và chưa từng kết hôn, nhóm này có thể chia làm hai nhóm nhỏ: nhóm phụ nữ sống cùng con cái, và nhóm phụ nữ không có con cái, họ sống với cha mẹ, người thân, hoặc sống một mình) [70].

Như vậy có thể thấy khái niệm “người mẹ đơn thân” hay “phụ nữ đơn thân”, “phụ nữ thiếu, vắng chồng” v.v là những khái niệm mang tính phổ

quát cao, trong đó tùy vào nguyên nhân dẫn đến hoàn cảnh đơn thân của họ

mà có thể chia ra làm“người phụ nữ góa, người phụ nữ ly thân, người phụ nữ không chồng mà có con” v.v Các thuật ngữ này, ngoài những khác biệt về

sắc thái và cách sử dụng thì về cơ bản đều dùng để chỉ những người mẹ mang thai và nuôi con trong hoàn cảnh đơn thân, không có người chồng (hợp pháp hoặc không hợp pháp) bên cạnh

Trong luận án của mình, tác giả sử dụng khái niệm “người mẹ đơn thân” sát nghĩa với từ “mihon-mo”trong tiếng Hàn hay “single mom”trong tiếng Anh Điều này tạo thuận lợi khi so sánh với thực trạng“mihon-mo” trong xã hội Hàn Quốc,hoặc khi gắn với các lý thuyết về “single mom” ở các

nước phương Tây Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung vào nhóm những người

mẹ trẻ, chưa kết hôn, có con và nuôi con một mình trong khi người cha của đứa trẻ thường chối bỏ trách nhiệm, hoặc có trợ cấp nhưng không có ý định

kết hôn hay chung sống Họ thường là những những phụ nữ thuộc tầng lớp trí

thức, đa số tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng, độ tuổi từ 20- 40, có việc làm ổn định hoặc không ổn định Họ cũng có ý thức trong việc bảo vệ quyền lợi, sẵn sàng lên tiếng nhằm cải thiện vị thế xã hội, xóa bỏ định kiến xã hội đối với mình, nhiệt tình tham gia mạng lưới người mẹ đơn thân

1.2.2 Vị thế và Vị thế xã hội

Trong “Từ điển xã hội học Oxford”, “vị thế” (status) được định nghĩa

theo hai cách tiếp cận “Định nghĩa một cách lỏng lẻo, vị thế đơn giản chỉ có nghĩa là vị trí mà một người chiếm giữ trong cấu trúc xã hội Nó thường kết

Trang 39

hợp với quan niệm về vai trò xã hội để đưa ra ý tưởng về vị thế - vai trò Theo nghĩa chặt chẽ hơn, vị thế nói đến một hình thức phân tầng xã hội, trong đó các nhóm vị thế hay tầng lớp được xếp hạng và được tổ chức theo các tiêu chí luật pháp, chính trị, và văn hóa” [10].

Trong “Từ điển xã hội học” [159] đã xem xét khái niệm “vị thế” ở

nhiều nghĩa khác nhau “1) Vị thế được Linton dùng theo nghĩa mà ngày nay

có nội dung là địa vị và được hiểu là vị trí tương đối của một cá nhân trong bối cảnh xã hội nhất định, mà từ đó có những hy vọng nhất định về vai trò 2)

“Đẳng cấp” của M.Weber cũng được dịch sang tiếng Anh bằng “status” Qua

đó liên hệ tới quan hệ về toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ mà một cá nhân được thừa kế 3) Trong khuôn khổ của xã hội phân tầng, “vị thế” được dùng với nghĩa địa vị cao thấp trong một hệ thống thứ bậc và cũng có thể dùng để đánh giá giá trị, tức là uy tín, bên trong tiêu chuẩn phân tầng.” Nhóm tác giả cũng

đưa ra định nghĩa của Weber trong “Economy and Society” về “vị thế”- “là

một yêu sách đòi sự kính trọng của xã hội.” Và khẳng định “những vị thế này đem lại những đặc quyền đặc lợi cả tiêu cực lẫn tích cực, và vì thế vị thế thường dựa trên một lối sống đặc biệt và sự đào tạo chính quy.”

“Vị thế xã hội”(social status) được Kim Sang-woo [125] định nghĩa “là

khái niệm mở rộng bao gồm các quyền lợi tính đến yếu tố văn hóa như vị trí, tầng lớp trong xã hội mà một cá nhân nào đó nắm giữ Trong xã hội học, vị thế xã hội được coi là nhân tố quyết định một cá nhân có liên quan với cá nhân khác như thế nào, thích hợp với một vị trí nào đó trong xã hội – không liên quan đến địa vị chức

vụ cao thấp Vị thế xã hội của người phụ nữ, theo đó mang ý nghĩa chỉ năng lực tiếp cận của phụ nữ đối với vốn xã hội và vốn vật chất trong gia đình và khu vực, rộng hơn là trong toàn xã hội; hoặc cũng có thể định nghĩa bằng cách so sánh với

vị trí mà người phụ nữ đang thuộc vào như quyền lực và sự tôn trọng nhìn nhận của người khác” [125]

Trang 40

Nhìn chung, “vị thế, vị thế xã hội” tuy được định nghĩa bằng nhiều

cách khác nhau nhưng đều có thể được hiểu là một chỉ số tổng quát xác định

vị trí của một nhóm xã hội và các thành viên trong hệ thống các mối quan hệ

xã hội, là vị trí của con người trong thứ bậc xã hội cùng với những nghĩa vụ

và quyền lợi của họ “Vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội”, theo đó

chỉ vị trí và chỗ đứng của họ trong xã hội, cách họ được gia đình, bạn bè, xã hội nhìn nhận Và điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi cũng như

nghĩa vụ, đến cuộc sống của họ và con cái Luận ánsử dụng khái niệm “vị thế của người mẹ đơn thân trong xã hội” và tìm hiểu, nhận diện vị thế của họ

trong xã hội Hàn Quốc cũng như Việt Nam hiện nay, cách thức mọi người trong gia đình cũng như dư luận xã hội đánh giá về họ, những nguyên nhân và yếu tố nào tác động, ảnh hưởng đến vị thế xã hội của người mẹ đơn thân, từ

đó gợi mở những giải pháp cho các chính sách nhằm cải thiện vị thế xã hội của họ

1.2.3 Hôn nhân và Gia đình

1) Hôn nhân

Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình, ở nước ta ghi rõ: “Hôn nhân là quan

hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [56] Về quan hệ xã hội, “hôn nhân”

bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con, cháu Hôn nhân cũng tạo ra tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra và thiết lập các mối quan hệ họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng” [24] Từ chiều cạnh văn hóa, “Hôn nhân là một quá trình xã hội mà

mô hình mẫu của nó là sự kết hợp giữa một người đàn ông với một người đàn

bà, là sự kiện làm biến đổi những thành viên của nó, làm thay đổi quan hệ giữa những người thân thuộc của mỗi bên và duy trì những khuôn mẫu xã hội thông qua việc sinh đẻ cùng với một số quyền lợi và nghĩa vụ đi kèm” [24, tr.342]

Ngày đăng: 24/06/2016, 12:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-2 dưới đây. - VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
Hình 1 2 dưới đây (Trang 50)
Bảng 2-1: Phân bố độ tuổi của người mẹ đơn thân trong các khu nhà tạm trú - VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
Bảng 2 1: Phân bố độ tuổi của người mẹ đơn thân trong các khu nhà tạm trú (Trang 63)
Bảng 3-4: Thời gian biểu của nhà tạm trú A dành cho mẹ và con người mẹ đơn thân - VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
Bảng 3 4: Thời gian biểu của nhà tạm trú A dành cho mẹ và con người mẹ đơn thân (Trang 88)
Bảng 4-1: Nhận thức về người mẹ đơn thân, theo nhóm tuổi người trả lời - VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
Bảng 4 1: Nhận thức về người mẹ đơn thân, theo nhóm tuổi người trả lời (Trang 119)
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẠNG LƯỚI HỖ TRỢ - VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
2 HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA MẠNG LƯỚI HỖ TRỢ (Trang 189)
PHỤ LỤC 4: HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC MÁI ẤM HỖ TRỢ - VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
4 HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC MÁI ẤM HỖ TRỢ (Trang 196)
4.1. Hình ảnh về hoạt động của Mái ấm Tình mẹ 1 (TP HCM) - VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
4.1. Hình ảnh về hoạt động của Mái ấm Tình mẹ 1 (TP HCM) (Trang 197)
Hình 4: Các em bé được sinh ra từ Mái ấm Tình mẹ 1 - VỊ THẾ của NGƯỜI mẹ đơn THÂN TRONG xã hội hàn QUỐC HIỆN NAY và LIÊN hệ với THỰC TIỄN ở VIỆT NAM
Hình 4 Các em bé được sinh ra từ Mái ấm Tình mẹ 1 (Trang 198)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w