1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng đại học

69 547 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 6,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học phát hiện và GQVĐ  Đặc điểm của dạy học phát hiện và GQVĐ Trong dạy học phát hiện và GQVĐ, giảng viên giáo tạo ra những tìnhhuống gợi vấn đề, điều khiển SV phát hiện vấn đề, hoạ

Trang 1

là nguồn tài nguyên có yếu tố quan trọng quyết định đến sự phát triển kinh tế xãhội của đất nước.

Để góp phần “đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo”, nâng cao chấtlượng dạy và học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trongcác trường trường Cao đẳng và Đại học việc đổi mới phương pháp dạy học là yêucầu tất yếu hiện nay Đổi mới phương pháp dạy học phải được triển khai từ trangthiết bị phục vụ giảng dạy, nội dung chương trình…Việc ứng dụng công nghệthông tin, truyền thông đa phương tiện vào môi trường dạy học là một biện pháphữu hiệu trong Giáo dục, Đào tạo ở thời đại bùng nổ thông tin hiện nay

1.2 Tính cấp thiết của đề tài.

- Áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy kỹ thuật ở các trường Caođẳng, Đại học nói chung và trong các môn học mang tính tư duy trừu tượng nhưmôn Vẽ kỹ thuật nói riêng Việc ứng dụng các phầm mềm xây dựng mô hình vậtthể 2D, 3D, bản vẽ lắp, tách chi tiết, mô phỏng chuyển động của chi tiết, bộ phậnmáy…sẽ tiết kiệm được chi phí cho việc chế tạo vật mẫu, mô hình học cụ, bản vẽmẫu và giúp cho tiết sinh viên động, giúp cho sinh viên tiếp cận nhanh kiến thức,hiểu sâu, giảm thời gian truyền đạt, thời gian vẽ hình của giáo viên, tăng thờigian thực hành, làm bài tập của sinh viên và thời gian hướng dẫn của giảng viên

- Được sự đồng ý của PGS TS Nguyễn Huy Ninh tôi lựa chọn đề tài:

“Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện

tử cho môn học Vẽ kỹ thuật hệ Cao đẳng - Đại học ”.

Trang 2

2 MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu của đề tài.

Ứng dụng một số phần mềm vào xây dựng bài giảng điện tử cho học môn

Vẽ kỹ thuật cho các trường Cao đẳng - Đại học

2.2 Nội dung nghiên cứu.

- Tìm hiểu các phương pháp và công nghệ dạy học hiện nay

- Cơ sở lý thuyết xây dựng và sử dụng bài giảng điện tử

- Nội dung, phương pháp dạy học môn vẽ kỹ thuật ở các trường Cao đẳng,Đại học

- Khai thác sử dụng các phần mềm sử dụng trong xây dựng bài giảng điệntử

- Xây dựng bài giảng điện tử cho môn học Vẽ kỹ thuật ở các trường Caođẳng, Đại học

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp tổng hợp khái quát hoá tài liệu: Thông qua đọc tài liệu,sách, tạp chí và các tài liệu khác để phân tích, tổng hợp lý thuyết liên quan đến đềtài và thu nhập thông tin cần thiết

- Phương pháp điều tra viết, phương pháp trò chuyện: Tìm hiểu thực trạngviệc ứng dụng công nghệ thông tin và giảng dạy ở các trường Cao đẳng, Đại họcnói chung và môn học Vẽ kỹ thuật nói riêng

Trang 3

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia về phương phápgiảng dạy bộ môn Vẽ kỹ thuật, về tin học, bài giảng điện tử, kinh nghiện của họ

về cách xây dựng bài giảng điện tử

3 BỐ CỤC DỰ KIẾN CỦA LUẬN VĂN

Nội dung luận văn gồm các chương và phần chính sau:

Chương 1- Nghiên cứu tổng quan

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng công nghệ thôngtin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử

Chương 3: Xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn vẽ kỹthuật

Trang 4

Chương 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 1.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận dạy học ( Bản chất của công nghệ dạy học )

1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học

PP thường được hiểu là con đường, là cách thức để đạt những mục tiêunhất định

PPDH là cách thức hoạt động và giao lưu của giảng viên gây nên nhữnghoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học [11,tr.103]

PPDH có mối quan hệ hữu cơ với nội dung dạy học, mối quan hệ này gắn

bó chặt chẽ không tách rời nhau PPDH phải phù hợp với nội dung dạy học, nộidung dạy học nào thì PPDH ấy Chẳng hạn, muốn rèn luyện kỹ năng giải bài tậpthì phải tăng cường thực hành, muốn chuyển tải nhiều kiến thức cho SV trongmột thời gian ngắn thì không tránh khỏi PP thuyết trình Như vậy đối với từngnội dung dạy học cụ thể thì GV phải lựa chọn PPDH phù hợp với nội dung dạyhọc đó đồng thời cũng phải căn cứ vào các yếu tố khác như: nhiệm vụ dạy học,đặc điểm của SV, năng lực của GV, điều kiện cơ sở vật chất, thời gian, thiết bịdạy học

1.1.2 Tổng thể các phương pháp dạy học

Tuỳ theo xét về phương diện này hay phương diện khác, ta có thể liệt kêcác PPDH theo cách này hay cách khác Vấn đề quan trọng trước hết là ở chỗngười giảng viên giáo biết xem xét các phương diện khác nhau, thấy được nhữngPPDH về từng phương diện đó, biết lựa chọn, sử dụng những PP cho đúng lúc,đúng chỗ và biết vận dụng phối hợp các PP đó khi cần thiết Vì lý do này mà theotác giả Nguyễn Bá Kim có đã nhìn nhận một cách tổng thể các PPDH theo cácphương diện sau đây:

- Những chức năng điều hành quá trình dạy học:

+ Đảm bảo trình độ xuất phát,

+ Hướng đích và gợi động cơ,

Trang 5

+ Làm việc với nội dung mới,

+ Củng cố,

+ Kiểm tra và đánh giá,

+ Hướng dẫn công việc ở nhà

+ Truyền thụ tri thức dưới dạng có sẵn,

+ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ)

- Những hình thức tổ chức dạy học:

+ Dạy học theo lớp,

+ Dạy học theo nhóm,

+ Dạy học theo từng cặp

- Những phương tiện dạy học:

+ Sử dụng phương tiện nghe nhìn,

+ Sử dụng phương tiện chương trình hoá,

+ Làm việc với sách giáo khoa (SGK),

+ Làm việc với bảng treo tường,

+ Sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông như công cụ dạy học

- Những hình thức tự học:

+ Đọc sách,

+ Tự học trong môi trường CNTT và truyền thông,

+ Hỏi giảng viên, hỏi bạn, hỏi chuyên gia [11, tr.108]

Như vậy ta thấy PPDH vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp Để đơngiản hoá các PPDH ta nghiên cứu PPDH dưới hai góc độ, đó là: PPDH truyền

Trang 6

thống và những xu hướng dạy học không truyền thống Ở đây ta chỉ tập trungnghiên cứu những PPDH hay được sử dụng trong quá trình dạy học.

1.1.3 Các phương pháp dạy học truyền thống

Thuyết trình, vấn đáp, trực quan… Các PPDH này đều có những đặc điểmriêng đồng thời cũng là những ưu, nhược điểm của từng PP

Điểm mạnh và hạn chế của PPDH thuyết trình:

- Điểm mạnh:

+ Nếu cách diễn đạt lưu loát, rõ ràng, dễ hiểu phù hợp với trình độ người nghe…thì PPDH thuyết trình đã chuyển tải đến người học một khối lượng thông tin cầnthiết, cô đọng trong một khoảng thời gian ngắn

+ Cung cấp cho người học những thông tin cập nhật chưa kịp trình bày trongSGK

+ Thuyết trình là giao tiếp trực tiếp giữa người dạy với người học Vì vậy, GV cóthể thay đổi các thủ pháp và hiệu chỉnh lại nội dung cho phù hợp đối tượng ngườinghe

+ Bài thuyết trình không chỉ cung cấp thông tin về nội dung bài học mà còn cungcấp cả PP nhận thức, PP tổng hợp, cấu trúc tài liệu học tập… qua đó có thể giúpngười học cách học

Trang 7

+ PPDH thuyết trình giúp người dạy và người học tiết kiệm thời gian trong dạyhọc, có thể áp dụng PPDH thuyết trình với lớp học đông người.

- Hạn chế:

+ Thu được rất ít thông tin phản hồi từ phía người học; chủ yếu sử dụng cơ chếghi nhớ và tái tạo tri thức của người học Sự lạm dụng PP này có thể biến ngườihọc thành người nghe thuần tuý, không cần phải tư duy

+ Qua bài thuyết trình, mức độ lưu giữ thông tin của người học không cao

+ Tính cá thể qua bài thuyết trình thấp, vì người dạy dùng một PP chung cho cảlớp, dạy học đồng loạt

+ Người học ít có điều kiện tham gia tích cực qua bài thuyết trình, người học gầnnhư thụ động qua bài học

+ Không tạo điều kiện cho người học phát huy khả năng giao tiếp

+ Nếu nội dung bài thuyết trình không thoát ly SGK hoặc tài liệu có sẵn thìngười học cảm thấy nghe bài thuyết trình là vô bổ, lãng phí thời gian

1.1.3.2 PP vấn đáp (PP đàm thoại)

PP vấn đáp là quá trình tương tác giữa người dạy với người học được thựchiện thông qua hệ thống câu hỏi và trả lời tương ứng về một chủ đề nhất địnhđược người dạy và người học đặt ra, kết quả sự dẫn dắt của người dạyngười họcthể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình, khám phá, lĩnh hội tri thức

Với PP vấn đáp, người dạy điều khiển quá trình trao đổi giữa người dạyvới người học, còn người học dựa trên câu hỏi có tính gợi mở để phát triển và tìmlời giải cho mỗi vấn đề được đặt ra Yếu tố thành công của PP này là một hệthống câu hỏi, cách hỏi và thời điểm hỏi của người dạy [1]

Điểm mạnh và hạn chế của PP vấn đáp:

- Điểm mạnh: PP vấn đáp có nhiều điểm mạnh, như :

+ Kích thích tốt tư duy độc lập của người học, dạy họ cách suy nghĩ

+ Lôi cuốn người học vào môi trường học tập, kích thích và tạo động cơ học tậpmạnh mẽ cho người học

Trang 8

+ Người dạy thu nhận được thông tin phản hồi từ phía người học một cách kịpthời, chính xác Qua đó, GV có thể đánh giá được mức độ hiểu bài cũng như mức

độ tiến bộ của SV, phát hiện kịp thời những ý tưởng sai lệch và kịp thời uốn nắn,điều chỉnh

+ Tạo điều kiện cho SV thể hiện mình qua giao tiếp, rèn kỹ năng diễn đạt ýtưởng, tạo điều kiện cho SV giao lưu, học hỏi lẫn nhau

+ Giúp SV hiểu bài học một cách bản chất, tránh học vẹt

- Hạn chế: PPDH vấn đáp cũng có những hạn chế, như :

+ Rất khó thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở và dẫn dắt một cách hoànhảo để SV có thể đi đến kết quả cuối cùng với mỗi chủ đề cho trước Với PP này,nếu GV không có sự chuẩn bị công phu thì SV khó mà thu được kiến thức mộtcách hệ thống

+Quá trình dẫn dắt, phát hiện và GQVĐ tốn nhiều thời gian

+ Khó lường hết các tình huống có thể xảy ra trong quá trình trao đổi, do đó dễlệch hướng so với chủ đề đặt ra ban đầu

+ Không phải bao giờ và lúc nào vấn đáp cũng có thể thu hút được hết SV tronglớp tham gia trao đổi

Tóm lại, có nhiều cách truyền thông tin cho SV: Thuyết trình, vấn đáp, sửdụng phương tiện trực quan căn cứ vào nội dung từng bài dạy, tuỳ theo điềukiện cụ thể mà lựa chọn cách này hay cách khác, nhưng điều cốt yếu quyết địnhkết quả học tập là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của SV Nếukhông kích thích được trò suy nghĩ, hoạt động thì dù giảng viên có nói thao thaobất tuyệt, có sử dụng nhiều phương tiện nghe nhìn, có ra rất nhiều bài tập thìnhững việc làm đó cũng không đem lại kết quả mong muốn SV phải là chủ thểcủa quá trình học tập Lời nói, câu hỏi của giảng viên, phương tiện nghe nhìn…không thay thế mà chỉ khơi dậy hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạocủa trò

Các PPDH truyền thống đã góp phần không nhỏ đến sự thành công củangành Giáo dục và Đào tạo nước ta trong những năm qua Tuy nhiên, cũng phảithừa nhận rằng PPDH ở nước ta còn có những nhược điểm phổ biến:

Trang 9

- Giảng viên thuyết trình tràn lan.

- Tri thức được truyền thụ dưới dạng có sẵn, ít yếu tố tìm tòi, phát hiện

- Giảng viên áp đặt, trò thụ động

- Thiên về dạy, yếu về học, thiếu hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạocủa người học

- Không kiểm soát được việc học

1.1.4 Các xu hướng dạy học không truyền thống

Mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người xây dựng xã hội công nghiệphoá, hiện đại hoá với thực trạng lạc hậu của PPDH đã làm nảy sinh và thúc đẩymột cuộc vận động đổi mới PPDH ở tất cả các cấp trong nghành Giáo dục vàĐào tạo PPDH cần hướng vào việc tổ chức cho người học học tập trong hoạtđộng và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo

Để đáp ứng đòi hỏi đó, chúng ta không chỉ dừng ở việc nêu định hướngđổi mới PPDH mà cần phải đi sâu vào những PPDH cụ thể như những biện pháp

để thực hiện định hướng nói trên Thích hợp với định hướng đó là một số xuhướng dạy học không truyền thống: Dạy học phát hiện và GQVĐ; dạy họcchương trình hoá; dạy học phân hoá; dạy học hợp tác nhóm; phát triển và sửdụng công nghệ trong dạy học…

1.1.4.1 Dạy học phát hiện và GQVĐ

Đặc điểm của dạy học phát hiện và GQVĐ

Trong dạy học phát hiện và GQVĐ, giảng viên giáo tạo ra những tìnhhuống gợi vấn đề, điều khiển SV phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực,chủ động, sáng tạo để GQVĐ, thông qua đó mà kiến tạo tri thức, rèn luyện kỹnăng và đạt được những mục tiêu học tập khác

Dạy học phát hiện và GQVĐ có những đặc điểm sau đây:

+ SV được đặt vào tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thông báo trithức dưới dạng có sẵn

Trang 10

+ SV hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri thức vàkhả năng của mình để phát hiện và GQVĐ chứ không phải chỉ nghe giảng viêngiảng một cách thụ động.

+ Mục tiêu dạy học không phải chỉ là làm cho SV lĩnh hội kết quả của quá trìnhphát hiện và GQVĐ mà còn ở chỗ làm cho họ phát triển khả năng tiến hànhnhững quá trình như vậy Nói cách khác, SV được học bản thân việc học

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranhgay gắt, việc phát hiện sớm và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trongthực tiễn là một năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống Vì vậy, tập dượtcho SV biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập,trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầmPPDH mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục

Khuyến khích SV phát hiện và tự GQVĐ, vấn đề cốt yếu của PP này làthông qua quá trình gợi ý, dẫn dắt, nêu câu hỏi, giả định, GV tạo điều kiện cho

SV tranh luận và tìm tòi phát hiện vấn đề thông qua các tình huống có vấn đề.Các tình huống này có thể do GV chủ động xây dựng, cũng có thể do lôgic kiếnthức của bài học tạo nên Cần trân trọng, khuyến khích những phát hiện của SV,tạo cơ hội, điều kiện cho SV thảo luận, tranh luận, đưa ra ý kiến, nhận định, đánhgiá cá nhân (có thể không đúng hoặc khác với sự chuẩn bị của GV), giúp SV tựGQVĐ để chủ động chiếm lĩnh kiến thức

Trong dạy học phát hiện và GQVĐ có thể phân biệt 4 mức độ:

- Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách GQVĐ SV thực hiện cách GQVĐ theo

sự hướng dẫn của GV GV đánh giá kết quả làm việc của SV

- Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để SV tìm ra cách GQVĐ SV thực hiệncách GQVĐ với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và SV cùng đánh giá

- Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống SV phát hiện, nhận dạng,phát biểu vấn đề nảy sinh cần giải quyết, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựachọn các giải pháp SV thực hiện kế hoạch GQVĐ GV và SV cùng đánh giá

Trang 11

- Mức 4: SV tự lực phát hiện vấn đề từ một tình huống thực, lựa chọn vấn

đề cần giải quyết, tự đề xuất ra giả thuyết, xây dựng kế hoạch giải, tự đánh giáchất lượng và hiệu quả GQVĐ

1.1.4.2 Dạy học chương trình hoá

Dạy học chương trình hoá là cách dạy học được điều khiển bởi chươngtrình tương tự như những chương trình máy tính Người ta thường chương trìnhhoá những bộ phận, những công đoạn của quá trình dạy học hơn là chương trìnhhoá toàn bộ một quá trình dạy học [11, tr.228]

Sơ đồ biểu diễn quá trình dạy học:

Đặc điểm của dạy học chương trình hoá:

- Điều khiển chặt chẽ hoạt động học tập trên từng đơn vị nhỏ của quá trìnhdạy học;

- Tính độc lập cao của hoạt động học tập;

- Đảm bảo thường xuyên có mối liên hệ ngược (phản hồi);

- Cá biệt hoá việc dạy học

1.1.4.3 Dạy học phân hoá

Dạy học phân hoá xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hoá,

từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cả mọi SV,đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của cá nhân.[11, tr.256]

Trang 12

Dạy học phân hoá có thể được thực hiện theo hai hướng:

- Phân hoá nội tại (phân hoá trong), tức là dùng những biện pháp phân hoáthích hợp trong một lớp học thống nhất với cùng một kế hoạch học tập, cùng mộtchương trình và SGK

- Phân hoá về tổ chức (phân hoá ngoài), tức là hình thành những nhómngoại khoá, lớp chuyên, giáo trình tự chọn

Những biện pháp dạy học phân hoá:

+ Đối xử cá biệt ngay trong những pha dạy học đồng loạt

+ Tổ chức những pha phân hoá trên lớp

+ Phân hoá bài tập về nhà

Cấu tạo của một hoạt động theo nhóm (trong một phần của tiết học, mộttiết học, một buổi học) có thể là như sau:

- Làm việc chung cả lớp

+ Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

+ Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm

+ Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm

- Làm việc theo nhóm

+ Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập

+ Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm

+ Cử đại diện (hoặc phân công trước) chịu trách nhiệm trình bày kết quả làm việccủa nhóm

- Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp

+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả

Trang 13

+ Thảo luận chung.

+ GV tổng kết, đặt vấn đề tiếp theo

PPDH hợp tác theo nhóm nhỏ cho phép các thành viên trong nhóm chia sẻcác suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết bản thân, cùng nhau xây dựngnhận thức, thái độ mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thểnhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêmnhững gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sựtiếp nhận thụ động từ GV

Theo PP này, mọi người dễ hiểu, dễ nhớ hơn vì họ được tham gia trao đổi,trình bày vấn đề nêu ra, cảm thấy hào hứng khi trong sự thành công chung của cảlớp có phần đóng góp của mình Tuy nhiên, áp dụng PP này thường bị hạn chếbởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên

GV phải tổ chức hợp lý mới có kết quả, không nên lạm dụng các hoạt động nhóm

và cần đề phòng xu hướng hình thức

1.1.4.5 Bồi dưỡng phương pháp tự học cho sinh viên

Tự học là quá trình người học tự giác, tích cực trong việc chiếm lĩnh trithức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính mình Tự học trong quá trình học tậpcủa SV là việc các em độc lập hoàn thành nhiệm vụ được giao, với sự giúp đỡtrực tiếp hoặc gián tiếp của GV Như vậy, khi sử dụng PPDH môn vẽ kỹ thuật,

GV cần chú ý khai thác các cách hướng dẫn, giúp đỡ SV tự học

SV tự học dưới hai hình thức: Tự học trên lớp và tự học ở nhà

Thứ nhất, đối với hình thức tự học trên lớp để đạt hiệu quả GV cần tổchức, hướng dẫn SV học tập tích cực, chủ động bằng cách giao nhiệm vụ chungcho lớp SV hoặc cũng có khi giao nhiệm vụ cho từng nhóm đối tượng SV khácnhau căn cứ vào trình độ nhận thức của các em Sau khi giao nhiệm vụ xong, GVgiới hạn thời gian cần hoàn thành công việc đó Lúc này, GV bao quát, quánxuyến lớp học và dành thời gian nhiều hơn để quan tâm tới nhóm đối tượng SVtrung bình, yếu, kém vì với nhóm SV này ý thức tự giác của các em chưa cao

Trang 14

Sau một khoảng thời gian nhất định, GV kiểm tra kết quả nghiên cứu của các em,

SV trình bày, sau đó, GV chỉnh sửa, bổ sung cho hoàn chỉnh kiến thức

Thứ hai, đối với hình thức tự học ở nhà thì ý thức tự giác của sinh viêncàng được thể hiện rõ rệt, muốn đạt được hiệu quả trong học tập GV cần phảichuẩn bị một số câu hỏi và bài tập giao trước cho các em (giao câu hỏi và bài tậpkhác nhau đối với các đối tượng SV khác nhau) và GV cũng đề ra phương ánkiểm tra, đánh giá kết quả tự nghiên cứu của SV Cuối cùng GV chỉnh sửa, khẳngđịnh lại nội dung kiến thức Đối với hình thức tự học ở nhà hay được sử dụngtrong tình huống như: chuẩn bị cho bài ôn tập (có thể là một chương hay một họckỳ) bởi vì đối với tiết ôn tập thời gian bị hạn hẹp mà khối lượng kiến thức lạinhiều nên muốn đạt hiệu quả trong giờ ôn tập thì không có cách nào khác là SVphải chủ động tự học ở nhà

1.2 Cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy các môn

kỹ thuật

1.2.1 Khái niệm “Công nghệ thông tin”

Công nghệ thông tin ( IT – Information Technology) là ngành ứng dụngcông nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và các phầnmềm của nó để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thông tin TheoNghị quyết 49/CP của Chính phủ ngày 4 tháng 8 năm 1993 thì “Công nghệ thôngtin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuậthiện đại- chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông- nhằm tổ chức khai thác và

sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năngtrong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” [1]

Như vậy, công nghệ thông tin là tập hợp các phương tiện và công cụ kĩthuật hiện đại như máy tính, máy chiếu Projector, mạng Internet… để cung cấpnguồn tài nguyên vô cùng phong phú, đa dạng cho mọi lĩnh vực trong đời sốngcon người và xã hội Đặc biệt, ngày nay Internet với các kết nối băng tầng rộng

đã đi tới tất cả các trường học, giúp cho việc ứng dụng các kiến thức, kĩ năng vàhiểu biết về công nghệ thông tin vào dạy học

Trang 15

1.2.2 Vai trò của công nghệ thông tin với dạy học

Ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thôngđang rất được nhà nước và xã hội quan tâm Định hướng đổi mới phương phápdạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 Khóa VII (1.1993),Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12.1996), được thể chế hóa trong Luật giáodục (2005) Đặc biệt, theo Luật Giáo dục điều 82.2 đã ghi: “phương pháp giáodục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của sinhviên; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp

tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tìnhcảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho sinh viên”[2]

Như vậy, theo quy định của Luật giáo dục, giáo viên phải chuyển dần từphương pháp dạy học truyền thống (giáo viên giử vai trò trung tâm) sang phươngpháp dạy học tích cực – lấy sinh viên làm trung tâm của hoạt động dạy và học để

có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên, tạo cho sinhviên hứng thú trong học tập Ngoài ra, giáo viên còn phải bồi dưỡng cho sinhviên kĩ năng nhận biết bản chất vấn đề, có năng lực tư duy độc lập và vận dụngsáng tạo kiến thức đã học vào thực tiễn Để đạt mục tiêu trên, giáo viên phải tăngcường việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quá trình dạy học vì những lí

do sau:

Thứ nhất, nó phù hợp với yêu cầu của thời đại Trong hệ thống giáo dục

của phương Tây, công nghệ thông tin chính thức được đưa vào chương trình họcphổ thông Người ta nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về công nghệ thông tin

đã có ích cho tất cả các môn học khác nhau Do đó, việc ứng dụng nó vào dạyhọc ở trường Cao đẳng - Đại học Việt Nam là phù hợp với quy luật phát triển củathời đại

Thứ hai, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là phù hợp với

chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Chiến lược phát triển giáo dụcđào tạo đến năm 2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “từng bước pháttriển giáo dục dựa trên công nghệ thông tin…công nghệ thông tin và đa phươngtiện sẽ tạo ra thay đổi lớn trong hệ thống quản lí giáo dục, trong chuyển tải nội

Trang 16

dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy

và học [3] Như vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng xác định con đường phát triểncho giáo dục Việt Nam là “dựa trên công nghệ thông tin” và nó là phương tiện đểthúc đẩy cuộc “cách mạng về phương pháp dạy và học” – nghĩa là thay đổiphương pháp dạy học trong nhà trường

Thời gian gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết định “cấm

sử dụng phương pháp đọc chép” trong trường phổ thông càng làm cho việc ứngdụng công nghệ thông tin vào dạy học được đẩy mạnh hơn Tuy nhiên, giáo viênkhông nên quá lạm dụng máy chiếu để thay cho tấm bảng đen, không nên biếnđọc chép thành “chiếu-chép” Thời gian qua, nhiều giáo viên vẫn còn quan niệmđồng nhất giữa “ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học” với giáo án điện tử

Do đó, khi soạn một bài giảng bằng Powerpoint, giáo viên đưa tất cả những côngviệc của mình (ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, câu hỏi kiểm tra bài cũ, dặn dò…) vàtoàn bộ nội dung bài giảng lên các Slides để “chiếu cho sinh viên chép” Theochúng tôi, đây là một quan niệm chưa thật sự chuẩn xác vì công nghệ thông tinkhông phải là một giáo án, nó chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho quá trình giảng dạy vàgiúp giáo viên cung cấp cho sinh viên nhiều nguồn tư liệu khác nhau về một sựvật, hiện tượng như: kênh chữ, kênh hình, phim tư liệu…để cho sinh viên tự tìm

ra tri thức cho mình Từ đó, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạocủa sinh viên trong học tập

Thứ ba, công nghệ thông tin đã góp phần hiện đại hóa các phương tiện

dạy học, các phần mềm dạy học như Activestudio, Powerpoint…sẽ giúp giáoviên tạo bài giảng phù hợp nhu cầu của sinh viên, giúp sinh viên có nhiềuphương pháp tiếp thu kiến thức Đặc biệt, nó sẽ giúp cho giáo viên tạo ra một lớphọc mang tính tương tác hai chiều: giáo viên – sinh viên và ngược lại Điều nàyphù hợp với quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo vì “học là quá trình thu nhậnthông tin có định hướng, có sự tái tạo và phát triển thông tin; dạylà quá trình phátthông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả” [4]

Do đó, ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp sinh viên tiếp nhận thông tin bàihọc hiệu quả hơn và sẽ biến những thông tin đó thành kiến thức của mình Đồng

Trang 17

thời, nó cũng phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên, khaithác nhiều giác quan của người học để lĩnh hội tri thức.

Thứ tư, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học cũng giúp giáo viên

rút ngắn thời gian giảng dạy, có thời gian đầu tư cho quá trình dẫn dắt, tạo tìnhhuống có vấn đề để kích thích tư duy sáng tạo của sinh viên Sinh viên có thể dễdàng hình dung và có khái niệm chính xác về các hình ảnh, sự vật, hiện tượng khitiếp xúc với chúng bằng những hình ảnh trực quan (hình tư liệu, bản đồ, nhữngđoạn phim tư liệu …)

Như vậy, ngày nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là mộtnhu cầu cấp thiết đối với hệ thống giáo dục Việt Nam vì nó giúp giáo viên cónhiều thời gian hơn để dẫn dắt sinh viên nắm bắt vấn đề, tạo tình huống có vấn

đề để kích thích sự tư duy sáng tạo của sinh viên Mặt khác, nó cũng sẽ giúp sinhviên chủ động hơn trong quá trình lĩnh hội tri thức khi được tiếp xúc với nhiềunguồn tư liệu khác nhau Từ đó, hình thành cho người học kĩ năng tự tiếp thu trithức, độc lập trong tư duy và hứng thú, hăng say trong học tập Do đó, công nghệthông tin ngày càng chiếm giử vị trí quan trọng trong dạy học và nó càng có vaitrò quan trọng hơn đối với việc dạy và học môn Vẽ kỹ thuật ở các trường Caođẳng - Đại học Việt Nam

1.2.3 Thực trạng về việc sử dụng PPDH ở các trường đại học và cao đẳng hiện nay

Ở Việt Nam hiện nay, các kiểu PPDH ở ĐH được sử dụng phổ biến gồm:thông báo-tái hiện, làm mẫu-bắt chước Mặc dù các kiểu PPDH mới như: giảithích-tìm kiếm bộ phận, nêu vấn đề-nghiên cứu,… ngày càng được chú ý nhiềuhơn, nhưng hầu hết các trường ĐH và CĐ ở Việt Nam hiện nay vẫn còn sử dụngPPDH cũ, vẫn còn theo lối truyền thụ một chiều, “thầy đọc-trò chép”, chưa pháthuy đầy đủ tính tích cực, độc lập của SV và bồi dưỡng cho họ năng lực tự học, tựnghiên cứu Các phương pháp thuyết trình, diễn giảng, vẫn là các PPDH chủ yếu.QTDH vẫn còn mang nặng tính lý thuyết, cách dạy theo kiểu truyền thống làdùng lời, người học dùng phương pháp nghe và ghi nhớ một cách thụ động Việc

tổ chức hướng dẫn cho SV tự học, đọc sách, semina, thảo luận,… chưa được chú

Trang 18

trọng đúng mức Giờ thực hành, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm còn ít, chưa đặt rayêu cầu cao đối với SV trong học tập, trong nghiên cứu khoa học Phần lớn SVchỉ biết cách học khi sắp thi tốt nghiệp, nên hiệu quả học tập trong nhà trường làrất thấp, khả năng tự học, tự phát triển kém, quen với nghe và ghi, không quenvới tự đọc và tự tóm lược,… Phần lớn các đề thi cuối môn học chỉ nhằm đánh giá

SV thuộc bài đến mức nào, kết quả phổ biến là SV chỉ học theo bài giảng củathầy, không tham khảo tài liệu, không học theo lối tư duy phê phán, tư duy sángtạo để dẫn đến có năng lực giải quyết vấn đề

Với các PPDH như trên, tất yếu dẫn đến cách học thụ động, đối phó của

SV Theo số liệu điều tra của một số nhà nghiên cứu giáo dục thì có tới hơn 70%

số SV chỉ học trong vở ghi Số SV đọc thêm tài liệu tham khảo, liên hệ thực tế,vận dụng kiến thức vào thực tiễn chiếm tỷ lệ không cao Chỉ có 7,6% số SVtrong quá trình học biết tự nêu và giải quyết vấn đề Với kết quả như trên, rõ ràngcác PPDH ở ĐH và CĐ hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo của xã hội

1.2.4 Cơ sở của việc ứng dụng cntt trong dạy học

1.2.4.1 Vài nét giới thiệu về CNTT trong dạy học

Ngày nay CNTT đang được ứng dụng hết sức rộng rãi và hiệu quả vào cáclĩnh vực hoạt động của con người, tạo nên những thay đổi to lớn trong xã hội,trong đó có nhà trường Để đi đến việc ứng dụng CNTT vào QTDH trước tiêncần tìm hiểu sơ bộ về CNTT

Công nghệ được hiểu tổng quát là sự áp dụng của khoa học vào các hoạtđộng thực tiễn của con người trong đời sống xã hội

Trước xu hướng toàn cầu hóa và việc hình thành một nền kinh tế “mạng”,

đã dẫn đến mối quan hệ khắng khít không thể tách rời giữa máy vi tính (MVT)với mạng viễn thông và tạo nên một khái niệm mới là CNTT và truyền thông(tiếng Anh là Information and Communication Technology viết tắt là ICT) Đây

là một ngành công nghệ mới đang phát triển với tốc độ cao Đó là tổng thể cácphương tiện xử lý dữ liệu, giữ, truyền và phản ánh các sản phẩm thông tin, đượccấu trúc thành ba bộ phận:

Trang 19

- Bộ phận công nghiệp truyền thông: mạng điện thoại, mạng cáp, mạng vệtinh, mạng di động, mạng phát thanh truyền hình,…

- Bộ phận công nghiệp máy tính: máy tính, thiết bị điện tử, CN phần cứng(chủ yếu là tạo ra phương tiện, công cụ để phục vụ trực tiếp CN truyền thông),

CN phần mềm (nhằm nâng cao, mở rộng, phát triển hiệu quả của CN phần cứng,của máy tính điện tử,…) và các dịch vụ khác (thương mại điện tử, thư điện tử,…)

- Công nghiệp nội dung thông tin: gồm các dữ liệu, số liệu, hình ảnh, cáchoạt động, của xã hội về mọi mặt: văn hóa, thể thao, nghệ thuật, KH-CN, giáodục-đào tạo, vui chơi-giải trí,… ở trong quá khứ, hiện tại, và tương lai Nóichung, đó là kho tư liệu khổng lồ của nhân loại

Ba bộ phận trên liên kết lại với nhau tạo thành một tiềm năng vô cùng tolớn Đó là mạng thiết bị kỹ thuật đa năng, tạo thành xương sống của cơ sở hạtầng thông tin quốc gia và toàn cầu

1.2.4.2 Ứng dụng CNTT trong dạy học

Thực chất của quá trình ứng dụng CNTT trong dạy học là sử dụng cácphương tiện để khuyếch đại, mở rộng khả năng nghe nhìn và trao cho máy cácthao tác truyền đạt, xử lý thông tin Các phương tiện đó được xem như các công

cụ lao động trí tuệ mới bao gồm: MVT, video, máy chiếu qua đầu (over head),máy chiếu tinh thể lỏng (LCD-Projector), máy quay kỹ thuật số, các phần mềm

cơ bản: xây dựng thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng, CD-ROM,… đặc biệt làmạng Internet Trong đó MVT đóng vai trò là trung tâm phối hợp, xử lý mọi hìnhthức thể hiện và thao tác truyền đạt thông tin MVT kết hợp với một số phầnmềm tạo nên một công cụ hỗ trợ có nhiều chức năng to lớn như: có thể tạo nên,lưu giữ, sắp xếp, sửa đổi, hiển thị lại,… một khối lượng thông tin vô cùng lớnmột cách nhanh chóng, dễ thực hiện Do vậy, MVT được xem như là một công

cụ dạy học không thể thiếu trong một xã hội hiện đại

Trang 20

1.2.5 Đổi mới PPDH với việc ứng dụng CNTT

1.2.5.1 Mục đích việc đổi mới PPDH với việc sử dụng CNTT

Sử dụng CNTT trong dạy học nhằm giúp GV và SV sử dụng công nghệmột cách có hiệu quả để phát triển việc học của SV một cách độc lập sáng tạo,phát triển môi trường học tập với nhiều thuận lợi, từ đó giúp người học học tíchcực, tự lực, tạo cơ hội cho SV tiếp xúc nội dung học tập theo nhiều con đườngkhác nhau (như tham khảo các tài liệu in, tài liệu trên Internet, ) và với nhiều đốitượng khác nhau (các SV trong và ngoài lớp học, các thầy giáo khác,…)

1.2.5.2 Phát triển việc học của SV một cách độc lập và sáng tạo

Trong PPDH sử dụng CNTT, GV không thông báo kiến thức cho SV màthay vào đó cung cấp cho SV những vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu SV sửdụng các công cụ của CNTT như: MVT và các phần mềm của nó, Internet, CD-ROM,… để tự tìm tòi, đưa ra giả thuyết, giải pháp kiểm chứng và sau đó trìnhbày vấn đề theo quan điểm và cấu trúc của mình Điều này giúp cho SV học tậptích cực hơn, SV có cơ hội để trình bày quan điểm, thể hiện khả năng của mình.Với con đường lĩnh hội tri thức như trên, SV sẽ có điều kiện để phát triển đồngthời khả năng sáng tạo, các kỹ năng thực hành và thúc đẩy SV học tập độc lập

1.2.5.3 Phát triển môi trường học tập với nhiều thuận lợi:

- Chia sẻ tài liệu học tập: Trong môi trường học tập sử dụng CNTT, GV

và SV có thể chia sẻ thông tin, tài liệu mà họ tìm thấy được trên ti vi, radio,Internet,… để cùng nhau học tập Điều này giúp SV và GV có nhiều cơ hội đểthực hiện sự chia sẻ thông tin ở mọi nơi mọi lúc, phát triển hình thức học tập hợptác

- Chia sẻ không gian học tập: Mạng máy tính tạo ra một môi trường họctập, ở đó người học có thể chia sẻ không gian học tập bằng cách trao đổi thôngtin với người khác hoặc với GV Sử dụng mạng máy tính, có thể tạo sự liên kếttốt giữa GV-SV và SV-SV

Trang 21

- Thúc đẩy học tập hợp tác: điều này được thực hiện qua việc thảo luậnnhóm, làm việc theo nhóm, thu thập kinh nghiệm cả nhóm, và nhóm báo cáo,…

- Hướng tới học tập độc lập: Qua trao đổi thảo luận, khai thác tìm hiểu cácthông tin, mỗi SV sẽ tự rút ra những vấn đề cần tìm hiểu, những kinh nghiệm vàbiến kiến thức của tập thể thành kiến thức của bản thân

1.2.5.4 Trình độ tin học của SV và GV các trường đại học và cao đẳng

Trừ những GV giảng dạy về CNTT, khá nhiều GV thuộc chuyên ngànhkhác chưa có đủ kỹ năng áp dụng một cách có hiệu quả các công cụ của CNTTvào nội dung bài giảng của mình Trình độ tin học của cán bộ, GV chủ yếu là biết

sử dụng tin học văn phòng, soạn thảo văn bản (theo số liệu điều tra chiếm 63%)

Số đào tạo chính quy về CNTT rất ít (chiếm 8%), nhìn chung trình độ của GVcòn nhiều bất cập với những ứng dụng cụ thể của các phần mềm, các thí nghiệmvới máy tính,…

1.2.5.5 Thực tiễn ứng dụng CNTT trong dạy học:

Đa số GV vẫn sử dụng PPDH truyền thống, phương tiện là phấn trắngbảng đen, bảng biểu và đồ dùng thí nghiệm thô sơ Một số ít GV có sử dụng máychiếu qua đầu hoặc Projector, soạn bài giảng điện tử bằng phần mềm Powerpointtrong những tiết dạy tốt, thao giảng Tuy nhiên các giờ dạy đó chỉ thực hiện mộtcách riêng lẻ, không có hệ thống, chưa chuẩn bị kỹ về mọi mặt của vấn đề PPDH,

do vậy thực chất những tiết giảng rời rạc đó chưa thể làm thay đổi được bản chấtcủa QTDH để có thể nâng cao chất lượng dạy học môn học

1.2.5.6 Điều kiện cần thiết để sử dụng CNTT trong dạy học

- Phải thay đổi cơ bản suy nghĩ và thói quen của GV và các nhà quản lýgiáo dục về vấn đề đổi mới PPDH

- Đào tạo GV và SV có một trình độ tin học căn bản

- Trang bị cơ sở vật chất và trang thiết bị về CNTT

Trang 22

1.3 Tìm hiểu khái niệm và nội dung của bài giảng điện tử

1.3.1 Khái niệm bài giảng điện tử

Bài giảng điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kếhoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiểnthông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra Cần lưu ý bài giảng điện

tử toàn bộ hoạt động dạy và học - tất cả các tình huống sẽ sảy ra trong quá trìnhtruyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh Bài giàng điện tử càng không phải

là một công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò địnhhướng trong tất cả các hoạt động trên lớp

Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa Multimedia đượchiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông Trong môi trườngmultimedia, thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản (text), đồ hoạ(graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và phimvideo (video clip)

Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy họccủa giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimediahoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúccủa bài học Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy đượcthể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành Giáo án điện tửchính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tửhay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể

để có được bài giảng điện tử

1.3.2 Quy trình thiết kế bài giảng điện tử

Giáo án điện tử có thể được xây dựng theo quy trình gồm 6 bước sau:

- Xác định mục tiêu bài học,

- Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm,

- Multimedia hoá từng đơn vị kiến thức,

- Xây dựng thư viện tư liệu,

Trang 23

- Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trìnhdạy học thông qua các hoạt động cụ thể,

- Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện

Dưới đây là nội dung cụ thể của từng bước

1.3.2.1 Xác định mục tiêu bài học

Trong dạy học hướng tập trung vào học sinh, mục tiêu phải chỉ rõ họcxong bài, học sinh đạt được cái gì Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ khôngphải là mục tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà học sinh có được sau bàihọc Đọc kĩ sách giáo khoa, kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm hiểu nộidung của mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của mỗi mục Trên cơ sở đóxác định đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kĩ năng, thái độ Đó chính làmục tiêu của bài

1.3.2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản, xác định đúng những nội dung trọng tâm

Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa phổ thông đượcchọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, được sắp xếp mộtcách lôgíc, khoa học, đảm bảo tính sư phạm và thực tiễn cao Bởi vậy cần bámsát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn Đây là điều bắt buộc tấtyếu vì sách giáo khoa là tài liệu giảng dạy và học tập chủ yếu; chương trình làpháp lệnh cần phải tuân theo Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản lànhằm đảm bảo tính thống nhất của nội dung dạy học trong toàn quốc Mặt khác,các kiến thức trong sách giáo khoa đã được qui định để dạy cho học sinh Do đó,chọn kiến thức cơ bản là chọn kiến thức ở trong đó chứ không phải là ở tài liệunào khác

Tuy nhiên, để xác định được đúng kiến thức cơ bản mỗi bài thì cần phảiđọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn đề cần giảngdạy và tạo khả năng chọn đúng kiến thức cơ bản

Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy học có thể gắn với việc sắpxếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến

Trang 24

thức của bài, từ đó rõ thêm các trọng tâm, trọng điểm của bài Việc làm này thực

sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được dễ dàng.Cũng cần chú ý việc cấu trúc lại nội dung bài phải tuân thủ nguyên tắc không làmbiến đổi tinh thần cơ bản của bài mà các tác giả sách giáo khoa đã dày công xâydựng

1.3.2.3 Multimedia hoá kiến thức

Đây là bước quan trọng cho việc thiết kế bài giảng điện tử, là nét đặctrưng cơ bản của bài giảng điện tử để phân biệt với các loại bài giảng truyềnthống, hoặc các loại bài giảng có sự hỗ trợ một phần của máy vi tính Việcmultimedia hoá kiến thức được thực hiện qua các bước:

- Dữ liệu hoá thông tin kiến thức

- Phân loại kiến thức được khai thác dưới dạng văn bản, bản đồ, đồ hoạ,ảnh tĩnh, phim, âm thanh

- Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng mới nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bàihọc Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc

từ internet, hoặc được xây dựng mới bằng đồ hoạ, bằng ảnh quét, ảnh chụp,quay video, bằng các phần mềm đồ hoạ chuyên dụng như Macromedia Flash

- Chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học đểđặt liên kết

- Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âmthanh Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêucầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm

1.3.2.4 Xây dựng các thư viện tư liệu

Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần dùng cho bài giảng điện tử, phải tiếnhành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp

lý Cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữđược các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi saochép bài giảng từ ổ đĩa nay sang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác

Trang 25

1.3.2.5 Lựa chọn ngôn ngữ hoặc các phần mềm trình diễn để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động cụ thể

Sau khi đã có các thư viện tư liệu, giáo viên cần lựa chọn ngôn ngữ hoặccác phầm mềm trình diễn thông dụng để tiến hành xây dựng giáo án điện tử

Trước hết cần chia quá trình dạy học trong giờ lên lớp thành các hoạt độngnhận thức cụ thể Dựa vào các hoạt động đó để định ra các slide (trongPowerPoint) hoặc các trang trong Frontpage Sau đó xây dựng nội dung cho cáctrang (hoặc các slide) Tuỳ theo nội dung cụ thể mà thông tin trên mỗi trang/slide

có thể là văn bản, đồ hoạ, tranh ảnh, âm thanh, video clip

Văn bản cần trình bày ngắn gọn cô đọng, chủ yếu là các tiêu đề và dàn ý

cơ bản Nên dùng một loại font chữ phổ biến, đơn giản, màu chữ được dùngthống nhất tuỳ theo mục đích sử dụng khác nhau của văn bản như câu hỏi gợi

mở, dẫn dắt, hoặc giảng giải, giải thích, ghi nhớ, câu trả lời Khi trình bày nên

sử dụng sơ đồ khối để học sinh thấy ngay được cấu trúc logic của những nộidung cần trình bày

Đối với mỗi bài dạy nên dùng khung, màu nền (backround) thống nhấtcho các trang/slide, hạn chế sử dụng các màu quá chói hoặc quá tương phảnnhau

Không nên lạm dụng các hiệu ứng trình diễn theo kiểu "bay nhảy" thu hút

sự tò mò không cần thiết của học sinh, phân tán chú ý trong học tập, mà cần chú

ý làm nổi bật các nội dung trọng tâm, khai thác triệt để các ý tưởng tiềm ẩn bêntrong các đối tượng trình diễn thông qua việc nêu vấn đề, hướng dẫn, tổ chứchoạt động nhận thức nhằm phát triển tư duy của học sinh Cái quan trọng là đốitượng trình diễn không chỉ để thầy tương tác với máy tính mà chính là hỗ trợ mộtcách hiệu quả sự tương tác thầy-trò, trò-trò

Cuối cùng là thực hiện các liên kết (hyperlink) hợp lý, logic lên các đốitượng trong bài giảng Đây chính là ưu điểm nổi bật có được trong bài giảng điện

tử nên cần khai thác tối đa khả năng liên kết Nhờ sự liên kết này mà bài giảngđược tổ chức một cách linh hoạt, thông tin được truy xuất kịp thời, học sinh dễtiếp thu

Trang 26

1.3.2.6 Chạy thử chương trình, sửa chữa và hoàn thiện

Sau khi thiết kế xong, phải tiến hành chạy thử chương trình, kiểm tra cácsai sót, đặc biệt là các liên kết để tiến hành sửa chữa và hoàn thiện Kinh nghiệmcho thấy không nên chạy thử từng phần trong quá trình thiết kế

Trang 27

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀO XÂY DỰNG

BÀI GIẢNG SỬ DỤNG GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ

2.1 Tổng quan về ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử

- Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị58-CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứngdụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọngtâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứngdụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướngChính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyếtđịnh số 81/2001/QĐ-TTg;

- Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng,nối mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức, một số trường còn trang

bị thêm Thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera,Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầngCNTT cho giáo viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình

- Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới cácphương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếpcận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyếtvấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học nhưdạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môitrường công nghệ thông tin và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lựcvới máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mang,dạy học qua cầu truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương phápdạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành vàphát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người tathường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận

Trang 28

dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh làmtrung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn

- Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phàn mềm giáo dụccũng đạt được những thành tựu đáng kể như: bộ Office, Cabri, Crocodile,SketchPad/Geomaster SketchPad, Maple/Mathenatica, ChemWin, LessonEditor/VioLet … hệ thống WWW, Elearning và các phần mền đóng gói, tiện ích khác

Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều cótrong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạyhọc nói riêng Nhờ có sử dụng các phần mềm dạy học này mà học sinh trungbình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môitrường học tập Phần mềm dạy học được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh taycủa giáo viên tới từng gia đình học sinh thông qua hệ thống mạng Nhờ có máytính điện tử mà việc thiết kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh độnghơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyềnthống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung củabài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được sự chú ý và tạohứng thú nơi học sinh Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thờigian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn tronggiờ học Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin vàtruyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách họctập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người

Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trongdạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra mộtmôi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầyđọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điềukiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rènluyện của bản thân mình

Trang 29

-Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video, camera … với

âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạchsẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan;

- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượngtrong tự nhiên, xã hội trong con người mà không thể hoặc không nên để xảy ratrong điều kiện nhà trường;

- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiệnnhững công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên nhữnglĩnh vực khác nhau;

- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau vàvới người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khaithác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu đểhọc sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo,được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu

Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình,kênh chữ, âm thanh sống động làm cho học sinh dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suyluận có lý, học sinh có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luậtmới Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trongquá trình đổi mới phương pháp dạy học Có thể khẳng định rằng, môi trườngcông nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự pháttriển trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới

Thách thức:

Theo nhận định của một số chuyên gia, thì việc đưa công nghệ thông tin

và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt đượcnhững kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêmtốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi nhữngvấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:

- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy họcnhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợgiáo viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với

Trang 30

một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà

cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thìviệc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho học sinh, vì giáoviên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễdàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng “slide” nhưkhi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi giáoviên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyềnthống mới rèn luyện được kĩ năng cho học sinh

- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giáoviên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn

né tránh Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thayđổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Việc dạyhọc tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sángtạo cho học sinh, cũng như dạy học sinh cách biết, cách làm, cách chung sống vàcách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viênphải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm củaphương pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạyhọc truyền thống Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quátrình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của

- Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưađược nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc,nhiều khi lạm dụng nó

- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúngtúng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chínhsách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thựchiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy họcbằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướngdẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả

Trang 31

- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiềusâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền.Công tác đào tạo, Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mớidừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thờigian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệuquả

2.2 Phương tiện dạy học và vai trò của phương tiện dạy học

2.2.1 Phương tiện dạy học

2.2.1.1 Định nghĩa phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học, theo Nguyễn Ngọc Quang, "bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo"1

Chức năng chủ yếu của phương tiện dạy học là tạo điều kiện cho học sinhnắm vững chính xác, sâu sắc kiến thức, phát triển năng lực nhận thức và hìnhthành nhân cách của học sinh Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học vật

lý nói riêng, phương tiện dạy học đã chứng tỏ vai trò to lớn của mình ở tất cả cáckhâu: tạo động cơ, hứng thú học tập của học sinh; cung cấp các cứ liệu thựcnghiệm nhằm khái quát hoá hoặc kiểm chứng các kiến thức về các khái niệm,định luật vật lý, mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lý vi mô, đề cập các ứngdụng của các kiến thức vật lý trong đời sống và kỹ thuật; sử dụng trong việc ôntập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức, kỹ năng của học sinh; hỗ trợ việckiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng

2.2.1.2 Vai trò của phương tiện dạy học

Khi nghiên cứu về giáo dục học chúng ta đã biết một kết luận quan trọng,

đó là: "Tính trực quan là tính chất có tính qui luật của quá trình nhận thức khoa

1 Nguyễn Ngọc Quang, Lý luận dạy học đại cương, Tập 1, Hà Nội, 1986

Trang 32

học" Do đó, khi dạy các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, cầnchú ý đến hai vấn đề chủ yếu sau:

+ Học sinh tri giác trực tiếp các đối tượng Con đường nhận thức này được thểhiện dưới dạng học sinh quan sát các đối tượng nghiên cứu ở trong các giờ họchay khi đi tham quan

+ Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tri giác không phải bản thân đốitượng nghiên cứu mà tri giác những hình ảnh, biểu tượng, sơ đồ phản ảnh một bộphận nào đó của đối tượng

Trong khi tri giác những biểu tượng có sơ đồ hóa hoặc hình ảnh của đốitượng và hiện tượng, quá trình cần nghiên cứu, học sinh có thể tìm hiểu được bảnchất của các quá trình và hiện tượng đã thực sự xáy ra Những tính chất và hiểubiết về đối tượng được học sinh tri giác không chỉ bằng thị giác mà còn có thềbằng xúc giác, thính giác và trong một số trường hợp ngay cả khứu giác cũngđược sử dụng

Trên cơ sở phân tích trên ta thấy rằng phương tiện dạy học có ý nghĩa tolớn đối với quá trình dạy học

a) Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn

Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng

bề ngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng

Phương tiện dạy học giúp cụ thể hóa những cái quá trừu tượng, đơn giảnhóa những máy móc và thiết bị quá phức tạp

b) Phương tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thúhọc tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học

c) Phương tiện dạy học còn giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặcbiệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ranhững kết luận có độ tin cậy )

d) Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp giáoviên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kếtquả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao

Trang 33

Tóm lại, phương tiện dạy học góp phần nâng cao hiệu suất lao động củathầy và trò.

2.2.1.3 Phân loại phương tiện dạy học

Có thể phân loại các phương tiện dạy học theo một vài cách khác nhau tùytheo quan điểm sử dụng

- Dựa vào cấu tạo, nguyên lý hoạt động và chức năng của phương tiện.Phương tiện dạy học có thể được phân làm hai phần: phần cứng và phần mềm

Phần cứng bao gồm các phương tiện được cấu tạo trên cơ sở các nguyên

lý thiết kế về cơ, điện, điện tử theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng Cácphương tiện này có thể là: các máy chiếu (phim, ảnh, xi nê), radio, ti vi, máy dạyhọc, máy tính điện tử, máy phát thanh và truyền hình Phần cứng là kết quả tácđộng của sự phát triển của khoa học kỹ thuật (KHKT) trong nhiều thế kỷ Khi sửdụng phần cứng, người giáo viên đã cơ giới hóa và điện tử hóa quá trình dạy học,

mở rộng không gian lớp học và phạm vi kiến thức truyền đạt

Phần mềm là những phương tiện trong đó sử dụng các nguyên lý sư phạm,tâm lý, KHKT để xây dựng nên cho học sinh một khối lượng kiến thức hay cảithiện hành vi ứng xử cho học sinh Phần mềm bao gồm: chương trình môn học,báo chí, sách vở, tạp chí, tài liệu giáo khoa

- Dựa vào mục đích sử dụng có thể phân loại các phương tiện dạy họcthành hai loại: phương tiện dùng trực tiếp để dạy học và phương tiện dùng để hỗtrợ, điều khiển quá trình dạy học

Phương tiện dùng trực tiếp để dạy học bao gồm những máy móc, thiết bị

và dụng cụ được giáo viên sử dụng trong giờ dạy để trình bày kiến thức, rènluyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh Đó có thể là:

+ Máy chiếu (truyền xạ, phản xạ), máy chiếu phim dương bản, máy chiếu phim,máy ghi âm, máy quay đĩa, máy thu hình, máy dạy học, máy tính điện tử, máyquay phim

+ Các tài liệu in (sách giáo khoa, sách chuyên môn, các tài liệu chép tay, sổ taytra cứu, sách bài tập, chương trình môn học )

Trang 34

+ Các phương tiện mang tin thính giác, thị giác và hỗn hợp (băng ghi âm, đĩa ghi

âm, các chương trình phát thanh, tranh vẽ, biểu bảng, bản đồ, đồ thị, ảnh, phimdương bản, phim cuộn, buổi truyền hình )

+ Các vật mẫu, mô hình, tranh lắp ghép, phương tiện và vật liệu thí nghiệm, máyluyện tập, các phương tiện sản xuất

Phương tiện hỗ trợ và điều khiển quá trình dạy học là những phương tiệnđược sử dụng để tạo ra một môi trường học tập thuận lợi, có hiệu quả và liên tục

Phương tiện hỗ trợ bao gồm các loại bảng viết, các giá di động hoặc cốđịnh, bàn thí nghiệm, thiết bị điều khiển âm thanh, ánh sáng

Phương tiện điều khiển bao gồm các loại sổ sách, tài liệu ghi chép về tiếntrình học tập, về thành tích học tập của học sinh

- Dựa vào cấu tạo của phương tiện có thể phân các loại phương tiện dạyhọc thành hai loại: các phương tiện dạy học truyền thống và các phương tiệnnghe nhìn hiện đại

2.2.2 Đa phương tiện

2.2.2.1 Tổng quan về Đa phương tiện

Multimedia hay đa phương tiện, không phải là khái niệm mới trong dạyhọc Khi ta kết hợp từ hai, ba phương tiện dạy học trở lên là đã có multimedia

Đa phương tiện được phân loại như sau:

- Đa phương tiện truyền thống bao gồm việc sử dụng kết hợp các phươngtiện như: máy chiếu, băng cassette, phim điện ảnh, video v.v để nâng cao hiệuquả dạy học

- Tuy nhiên, với sự xuất hiện của máy tính, multimedia đã có một ý nghĩamới trong dạy học nhờ những khả năng to lớn mà máy tính đem lại Với khảnăng tương tác, Đa phương tiện trên cơ sở máy tính có thể thực hiện các côngviệc rất khó khăn mà Đa phương tiện truyền thống rất khó hay hầu như khôngthực hiện được

Ngày đăng: 24/06/2016, 11:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ biểu diễn quá trình dạy học: - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Sơ đồ bi ểu diễn quá trình dạy học: (Trang 11)
Bảng 2.1. Chương trình môn vẽ kỹ thuật - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Bảng 2.1. Chương trình môn vẽ kỹ thuật (Trang 49)
Hình 7.1b là hình khai triển ,đường xoắn ốc được  khai triển thành đường thẳng và là cạch huyền của tam giác - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Hình 7.1b là hình khai triển ,đường xoắn ốc được khai triển thành đường thẳng và là cạch huyền của tam giác (Trang 52)
Hình 7.1a là hình chiếu đứng và hình chiếu bằng  của đường xoắn ốc (hình chiếu đứng của hình xoắn ốc là - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Hình 7.1a là hình chiếu đứng và hình chiếu bằng của đường xoắn ốc (hình chiếu đứng của hình xoắn ốc là (Trang 52)
Hình 7.1c có tam giác ABC là hình phảng .Nếu một  hình phẳng chuyển động xoắn ốc sẽ tạo thành ren . - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Hình 7.1c có tam giác ABC là hình phảng .Nếu một hình phẳng chuyển động xoắn ốc sẽ tạo thành ren (Trang 53)
Hình 7.7a 3.Đoạn ren cạn - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Hình 7.7a 3.Đoạn ren cạn (Trang 56)
Bảng 7.1 là một số thí dụ ký hiệu về ren - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Bảng 7.1 là một số thí dụ ký hiệu về ren (Trang 57)
Hình 3.1. Trang giáo án sự hình thành Ren - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Hình 3.1. Trang giáo án sự hình thành Ren (Trang 62)
Hình 3.2. Trang giáo án các yếu tố của ren - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Hình 3.2. Trang giáo án các yếu tố của ren (Trang 63)
Hình 3.3. Trang giáo án quy ước vẽ ren ngoài - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Hình 3.3. Trang giáo án quy ước vẽ ren ngoài (Trang 63)
Bảng 3.2. Đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn vẽ - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Bảng 3.2. Đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy môn vẽ (Trang 68)
Bảng 3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng phương pháp dạy môn vẽ kỹ thuật (SV) - Ứng dụng công nghệ thông tin vào xây dựng bài giảng sử dụng giáo án điện tử cho môn học vẽ kỹ thuật hệ cao đẳng   đại học
Bảng 3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng phương pháp dạy môn vẽ kỹ thuật (SV) (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w