Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự
Trang 1Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
MỞ ĐẦU
Trong những người tham gia tố tụng hình sự quy định tại chương 3 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào
chữa là người có vị trí, vai trò và chức năng đặc biệt Tuy nhiên, cho đến nay trong
lý luận pháp lý và thực tiễn tố tụng hình sự vẫn chưa có khái niệm chính thức và thống nhất và thống nhất về người bào chữa Đồng thời, những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về phạm vi những người tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa còn giới hạn Hơn nữa, xuất phát từ nhiều lý do khác nhau nên người bào chữa trong thực tiễn tố tụng hình sự hiện nay chủ yếu là luật sư, còn bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chỉ tồn tại trong pháp luật thực định
Nhận thức được tầm quan trọng vai trò của người tham gia bào chữa trong tố tụng hình sự, trên cơ sở giáo trình, tài liệu tham khảo và kiến thức từ thầy cô, với bài tập lớn học kỳ môn Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, em xin chọn đề tài “Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bào chữa” với mong muốn được hiểu cũng như làm rõ hơn về vấn đề này Sau đây là toàn bộ nội dung chính trong bài làm của em
NỘI DUNG CHÍNH
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 21 Khái niệm người bào chữa trong luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
Hiện nay, trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng có những cách hiểu khác nhau
về người bào chữa Có một số quan điểm cho rằng:: “Người bào chữa là người giúp
đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng Tòa
án ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật” Một tác giả khác còn khẳng định rõ hơn rằng người bào chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ Tòa án Ngoài ra, cũng có không ít người vẫn quan niệm người bào chữa là “thầy cãi”…
Những cách hiểu nói trên là không chính xác, chưa làm rõ được khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng của người bào chữa cũng như chưa phân biệt được người bào chữa với người tiến hành tố tụng, với người bảo vệ quyền lợi của đương sự Thật ra, tuy Bộ luật TTHS năm 2003 không nêu khái niệm thế nào là người bào chữa, nhưng căn cứ vào quy định tại các điều 56, 57 và 58 Bộ luật TTHS thì có thể hiểu một cách chung nhất: “Người bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng chứng nhận, tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”
Như vậy, người bị tạm giam, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền lựa chọn, cử người bào chữa và chính họ mới là người có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa, hay nói cách khác người bào chữa được tham gia vào tố tụng hình sự và có được các quyền và nghĩa vụ hay không là phụ thuộc vào ý chí của người có quyền bào chữa Để đảm bảo sự vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, khoản 2 điều 56 bộ luật TTHS quy định những người sau không được bào chữa: Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án đó; Người tham gia trong vụ
án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch
Trang 32 Phân loại người bào chữa
Theo quy định của pháp luật TTHS thì người bào chữa có thể chia thành 3 loại như quy định tại điều 35 BLTTHS năm 1988 và nay là khoản 1 điều 56 BLTTHS năm
2003 gồm luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân
a Luật sư bào chữa
Là người hoạt động chuyên nghiệp tham gia trong một đoàn luật sư theo quy định của pháp luật Điều 2 luật Luật sư năm 2006 cũng đưa định nghĩa: “Luật sư là người
có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch
vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” Để trở được công nhận là một luật sư thì cá nhân phải đáp ứng các điều kiện như: là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư, đã được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một đoàn luật sư.(Điều 10 và điều 11 luật Luật sư năm 2006)
Luật sư được lựa chọn hình thức để hành nghề theo một trong hai hình thức là hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân (Điều 23 luật Luật sư năm 2006), đây là quy định mới của luật Luật sư năm 2006 so với quy định của pháp lệnh Luật sư năm 2001, quy định này là sự mở rộng diện các luật sư được tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự, qua đó các luật sư không còn bị giới hạn bởi việc phải tham gia vào tổ chức hành nghề luật sư mới có thể thực hiện vai trò người bào chữa trong vụ án hình sự mà có thể thực hiện vai trò này ngay cả khi hoạt động dưới hình thức cá nhân
b Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Trang 4Loại chủ thể bào chữa thứ hai là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; pháp luật TTHS không quy định cụ thể ai là người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; nhưng có thể hiểu dựa trên các quy định khác của luật hôn nhân và gia đình và luật dân sự: người đại diện hợp pháp của người bị tam giữ, bị can, bị cáo là bố, mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, người giám hộ, anh chị em ruột và những người khác theo quy định của pháp luật đối với những trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm
về thể chất hoặc tinh thần
Điều 305 bộ luật TTHS năm 2003 quy định “người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên và có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo” Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiết phải là người đã thành niên; không bị tâm thần; có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người Việt Nam ở nước ngoài
c Bào chữa viên nhân dân:
Loại chủ thể bào chữa này rất ít khi tham gia bào chữa trong TTHS Trong thực tiễn thì các quy định về bào chữa viên nhân dân chỉ có hiệu lực từ trước khi Pháp lệnh tổ chức luật sư ban hành năm 1987 Sau này, theo quy định tại khoản 3 - mục III thông tư của bộ tư pháp số 313 – TT/LS ngày 15/4/1989 hướng dẫn thực hiện quy chế đoàn luật thì đoàn BCVND gần như không còn hoạt động nữa
Đến khi bộ luật tố tụng năm 2003 ra đời mới có một số quy định rõ ràng hơn về BCVND, tại điều 57, khoản 3 đã quy định thủ tục cử BCVND “ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của mặt trận tổ quốc có quyền cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo là thành viên của
tổ chức mình” và tại điều 305 khi quy định về người bào chữa cho người chưa thành niên cũng quy định: “trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Trang 5hoặc bị người đại diện hợp pháp của họ không lựa chọn được người bào chữa…tổ chức thành viên của mặt trận tổ quốc cử người người bào chữa cho thành viên của
tổ chức mình”, đây là quy định hoàn toàn mới so với BLTTHS năm 1988 theo đó
có thể hiểu BCVND là bất kì bất kì người nào được ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và các thành viên của mặt trận cử như đoàn thanh niên, Hội phụ nữ…cử để tham gia bào chữa
II ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1 Quyền của người bào chữa
Trong bộ luật mới này có những quy định về người bào chữa được kế thừa và phát huy những giá trị pháp luật tố tụng truyền thống của nước ta trên cơ sở nghiên cứu chọn lọc và đúc rút kinh nghiệm trong pháp luật tố tụng của một số nước khác Chính vì vậy mà bộ luật TTHS năm 2003 tại điều 58 quy định rõ ràng, đầy đủ hơn quyền và trách nhiệm của người bào chữa, nâng cao trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử Sau đây là những quy định mới về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988:
Thứ nhất, về thời điểm bào chữa, Khoản 1 điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định
để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra”
Như vây, BLTTHS năm 2003 quy định thêm thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng ngay từ khi có quyết định tạm giữ là một bước phát triển mới trong LTTHS ở nước ta Đồng thời, tránh sự lạm quyền từ phía cơ quan điều tra, bắt giam, tạm giữ
Trang 6không cần thiết và giúp cho người bào chữa được tiếp súc với vụ án ngay từ đầu, sẽ thuận lơi hơn cho người bào chữa trong việc thu thập chứng cứ gỡ tội và những tình tiết giảm nhẹ cho bị can, để có thể bào chữa cho bị can ở giai đoạn sau của quá trình TTHS
Thứ hai, là quyền của người bào chữa khi lấy lời khai của người bị tạm giữ: Điểm a khoản 2 điều 58 BLTTHS năm 2003 quy định “người bào chữa được quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tam giữ, và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi người
bị tam giữ, bị can; xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa”
Việc người bào chữa được quyền có mặt trong các hoạt động điều tra có ý nghĩa quan trọng Khi có mặt người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sẽ ổn định
về mặt tâm lý hơn, những người tiến hành các hoạt động điều tra thận trọng, tuân thủ pháp luật hơn Người bào chữa theo dõi được quá trình điều tra và tình hình chứng cứ điều đó có ý nghĩa rất lớn cho việc chuẩn bị lời bào chữa và tham gia tranh tụng của họ sau này tại phiên tòa Người bào chữa có quyền hỏi người bị tạm giữ, bị can khi điều tra viên đồng ý để làm sáng tỏ những tình tiết có lợi cho người
bị tạm giữ, bị can Khi tham gia các hoạt động điều tra, xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người
mà mình bào chữa, nếu phát hiện những vi phạm pháp luật, người bào chữa có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền
Thứ ba là quyền đề nghị báo trước về thời gian địa điểm hỏi cung bị can: “Người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan điều tra báo trước về thời gian địa điểm hỏi cung bị can để có măt khi hỏi cung bị can (điểm b khoản 2 điều 58 BLTTHS 2003) Đây cũng là một trong những điểm tiến bộ của BLTTHS 2003 so vơi BLTTHS
1988 trước đó Quy định quyền này tạo điều kiện để người bào chữa có thể chủ động sắp xếp thời gian để thực hiện quyền có mặt trong các lần hỏi cung mà mình thấy cần thiết
Trang 7
Thứ tư, người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (điểm c khoản 2 điều 58): Người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiêm dịch nếu có căn cứ theo luật định và xét thấy việc những người này tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể ảnh hưởng không tốt tới quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa
Thứ năm là quyền thu thập tài liệu, đồ vật và tình tiết liên quan đến việc bào chữa
từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ
cơ quan tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác (điểm d khoản 2 điều 58): muốn bào chữa tốt cho thân chủ của mình người bào chữa không chỉ dựa vào những chứng
cứ, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được, làm như vậy sẽ bị ảnh hưởng của kết quả điều tra mà cơ quan điều tra đưa ra hoặc kết luận Vì vậy người bào chữa phải
có quyền tự mình thu thập tài liệu, đồ vật Đây cũng có thể coi là quyền phục vụ cho các quyền khác của người bào chữa như quyền gặp bị can bị cáo bởi quyền có mặt khị hỏi cung bị can, bị cáo Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã tiếp thu nhiều ý kiến đóng góp và có quy định hoàn toàn mới so vơi BLTTHS năm 1988 về quyền của người bào chữa ở điểm d, đ khoản 2 điều 58 như trên; đã quy định về phạm vi, cách thức tiến hành thu thập tài liệu, đồ vật tình tiết liên quan đến việc bào chữa của người bào chữa Nếu những đồ vật, tài liệu mà người bào chữa thu thập được đảm bảo tính khách quan, hợp lí của chứng cứ thì nhất định nó cũng được coi như chứng
cứ có giá trị chứng minh trong vụ án
Thứ sáu là quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu trong qua trình tham gia bào chữ (điểm đ khoản 2 điều 58): người bào chữa có quyền đưa ra đồ vật, tài liệu yêu cầu theo hướng có lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Người bào chữa cũng có quyền đưa ra yêu cầu như triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định nếu xét thấy điều đó là có lợi cho người được bào chữa Cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trong quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của người bào chữa
Trang 8
Mặc dù nội dung quyền này không thay đổi nhiều so với quy định của bộ luật tố tụng năm 1988, nhưng bộ luật tố tụng hình sự 2003 tiến bộ hơn năm 1988 khi quy định những đảm bảo cho quyền này của người bào chữa được thực hiện, đó là quy định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng phải trả lời cho người bào chữa biết
về việc giải quyết những yêu cầu của người bào chữa (điều 122 BLTTHS 2003)
Thứ bảy, người bào chữa có quyền gặp người bị tạm giữ; bị can, bị cáo đang bị tạm giam (điểm e khoản 2 điều 58): Người bào chữa phải thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để có thể nắm được đầy đủ các tình tiết của vụ án, các đặc điểm nhân thân và diễn biến tâm lí, tâm tư, nguyện vọng của người bào chữa Trên cơ sở đó, người bào chữa mới thu thập được những tinh tiết ghỡ tội, giảm nhẹ tội để bào chữa cho người này Qua gặp ghỡ, trao đổi, người bào chưa giải thích những vân đề về pháp luật và cũng có thể tác động đến người bị tạm giữ, bị can bị cáo làm cho học có thái độ khai báo tốt hơn để có thể được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Thứ tám là quyền được đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra (điểm g khoản 2 điều 58): qua việc đọc, ghi chép hồ sơ vụ án, người bào chữa nắm được nội dung vụ án, nắm được những chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội đối với người được bào chữa, trên
cơ sở đó người bào chữa chuẩn bị cho việc bào chữa, tham gia tố tụng tại phiên tòa Bên canh đó, việc đọc hồ sơ, tài liệu vụ án cũng tạo điều kiện cho người bào chữa phát hiện những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra trên cơ
sở đó đưa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết đối với cơ quan có thẩm quyền
Quy định này đã loại bỏ được quy định chỉ mang tính hình thức, có thể hiểu theo hai nghĩa trước đây của BLTTHS 1988 “có quyền đọc hồ sơ và ghi chép những điều cần thiết sau khi kết thúc điều tra (điều 36 BLTTHS 1988)” Theo cách quy định trên của bộ luật TTHS 1988 thì mỗi cơ quan tiến hành TTHS có một cách hiểu khác nhau: ở giai đoạn xét xử, một số tòa án không cho người bào chữa photocopy các tài liệu trong hồ sơ vì lấy lí do BLTTHS chỉ cho ghi chép chứ không cho sao chụp
Trang 9tài liệu, nhưng có một số tòa án linh động cho phép sao chụp Những tồn tại này đã được, đã được BLTTHS năm 2003 sửa đổi, bổ sụng hợp lí hơn rất nhiều BLTTHS
2003 quy định người bào chữa ngoài quyền đọc, ghi chép còn có quyền sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra làm cho quyền nghiên cứu hồ
sơ của người bào chữa thực tế hơn
Thứ chín, người bào chữa có quyền tham gia hỏi và tranh luận dân chủ tại phiên tòa trong giai đoạn xét xử (điểm h điều 58): Tại phiên tòa xét xử, vai trò của người bòa chữa được thể hiện rõ nét nhất Người bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những người khác về những vấn đề của vụ án để có được những câu trả lời theo hướng có lợi cho
bị cáo Khi tranh luận người bào chữa phải phân tích, lập luận, đưa ra những lí lẽ để bảo vệ bị cáo và bác bỏ những lời buộc tội bị cáo
Như vậy, quyền tham gia hỏi và tranh luận tại phiên tòa của người bào chữa đã được bộ luật TTHS năm 2003 kế thừa và phát triển hơn so với BLTTHS năm 1988 nhờ những thay đổi trong các điều luật về tranh luận, xét hỏi, đối đáp tại phiên tòa; tăng cường tranh luận dân chủ giữa hai bên: buộc tội (viện kiểm sát) và gỡ tội (người bào chữa) Quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp, vẫn theo kiểu xét hỏi nhưng tăng cường thêm yếu tố tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo tính khách quan, dân chủ và minh bạch trong việc xác minh chứng cứ tại phiên tòa
Thứ mười, người bào chữa có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (điểm I khoản 2 điều 58): quy định người bào chữa có quyền này đảm bảo cho các hoạt động tố tụng được khách quan
và toàn diện, không thể thiếu được sự giám sát, kiểm tra đối với các quyết định cũng như hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng Những quy định về quyền khiếu nại của người bào chữa trước đây trong bộ luật TTHS năm 1988 còn rất tản mạn không đủ cơ chế để thực hiện Trong bộ luật TTHS năm 2003 quy định
về quyền khiếu nại nói chung và quyền khiếu nại của người bào chữa nói riêng được quy định cụ thế hơn, nó dẫn chiếu tới một trương mới để quy định điều này,
đó là trương XXV về quyền khiếu nại trong tố cáo trong tố tụng hình sự
Trang 10
Cuối cùng là quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại điểm b khoản 2 điều 57 của Bộ luật tố tụng hình sự (điểm k khoản 2 điều 58) Đây là quyền độc lập của người bào chữa, người bào chữa kháng cáo không phụ thuộc ý chí của
bị cáo cũng như đại diện hợp pháp của bị cáo Kháng cáo của người bào chữa phải
có lợi cho bị cáo
2 Nghĩa vụ của người bào chữa
Cùng với việc quy định về quyền của người bào chữa, nghĩa vụ của người bào chữa cũng được quy định tại khoản 3 khoản 4 điều 58 bộ luật tố tụng hình sự 2003, theo
đó người bào chữa có các nghĩa vụ sau:
Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự của bị can, bị cáo
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, người bào chữa có trách nhiệm giao cho CQĐT, Viện kiểm sát, tòa án những đồ vật tài liệu liên quan đến vụ án, việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải được lập thành biên bản theo quy định của BLTTHS
Người bào chữa không được từ chối bào chữa cho bi can, bị cáo mà mình đã đảm nhận nếu không có lí do chính đáng Có thể nói khi đã được mời hoặc yêu cầu bào chữa cho bị can, bị cáo, thì giữa người bào chữa và bị can, bị cáo đã hình thành một mối quan hệ tương đối khăng khít, vì vậy người bào chữa phải có trách nhiệm đối với bị can, bị cáo cho đến khi mà họ không có yêu cầu nữa, nếu như giữa họ có hợp đồng thuê người bào chữa thì người bào chữa có trách nhiệm thực hiện hợp đồng đến khi hoàn thành công việc theo hợp đồng thì thôi