Do đó một trong những nét chủ đạo của ca dao truyền thống là sự thể hiện hết sức phong phú tư tưởng, tâm tư, tình cảm của con người trên mọi lĩnh vực đời sống nói chung và trong quan hệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
Đề bài: Đặc điểm thi pháp ca dao người Việt qua các tác phẩm cùng chủ đề trong cuốn
Vũ Ngọc Phan (2005) Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn học.
Sinh viên : Đoàn Ngọc Chung Lớp : K59 Văn học
HÀ NỘI, 2016
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam có một kho tàng ca dao vô cùng phong phú, đa dạng Ca dao là một bộ phận của văn học dân gian Là dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn người Việt qua bao thế hệ Có thể nói ca dao có một sức lôi cuốn hết sức mạnh mẽ đối với con người Việt Nam, bởi nó rất gần gũi với suy nghĩ, tâm hồn của nhân dân, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người lao động Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao trữ tình người
Việt là nơi thể hiện rõ nhất “điệu tâm hồn dân tộc” Hay nói như Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” NXB Khoa học xã hội, 1978, đã “coi đó là tiếng tơ đàn muôn điệu của tâm hồn quần chúng”, bởi cảm hứng cội nguồn, chức năng
chủ đạo và nội dung căn bản của ca dao là sự phô diễn trực tiếp thế giới tâm hồn của con người, biểu đạt những tình cảm, cảm xúc đa dạng của nhân dân Do đó một trong những nét chủ đạo của ca dao truyền thống là sự thể hiện hết sức phong phú tư tưởng, tâm tư, tình cảm của con người trên mọi lĩnh vực đời sống nói chung và trong quan hệ đời sống nói riêng, mà điển hình là tình yêu nam nữ Ca dao nói về tình yêu nam nữ là một vấn đề hết sức hấp dẫn và lôi cuốn, bởi qua đó chúng ta phần nào thấy và hiểu được đời sống tâm hồn, tình cảm hết sức phong phú của ông cha ta trong xã hội xưa Bằng phương pháp khảo sát, thống kê và phân tích một số bài ca dao cùng chủ đề về tình yêu nam, nữ trong
cuốn Vũ Ngọc Phan (2005) Tục ngữ, ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn học, tôi sẽ làm
sáng tỏ những đặc điểm thi pháp được thể hiện qua các bài ca dao Từ đó, chúng ta sẽ có một cái nhìn khái quát và toàn diện về ca dao tình yêu nam, nữ
PHẦN NỘI DUNG
Trong ca dao, dân ca lấy đề tài trong đời sống riêng tư và đời sống gia đình thì ca dao, dân ca về tình yêu nam nữ là bộ phận phong phú nhất Tính chất phong phú của ca dao, dân ca về tình yêu nam nữ được thể hiện ở số lượng các câu hát Hầu hết ca dao, dân
ca về tình yêu nam nữ được sáng tác ra trong những điều kiện của mối quan hệ nam nữ ở nông thôn Việt Nam trước đây Nam nữ thanh niên trong xóm được gặp nhau trong đám hội và điều hãn hữu, họ được gặp nhau nhiều nhất trong công việc đồng áng, nên mỗi khi
họ thổ lộ tâm tình trong câu ca, bài hát, thì tâm của họ cũng gắn liền với sản xuất Bởi
Trang 3vậy, tình yêu của những người nam, nữ thanh niên lao động là thứ tình yêu hồn nhiên, lạnh mạnh không vụ lợi, tính toán, mưu mô
Ca dao - dân ca truyền thống nói chung và những bài ca dao về tình yêu nam nữ nói riêng, là những bài văn vần do nhân dân sáng tạo ra và được lưu truyền bằng miệng, phổ biến rộng rãi trong nhân dân Và để viết lên những câu ca dao, dân ca đó, dân gian ta thường sử dụng các thể thơ thuần tuý của dân tộc như: Thể thơ lục bát, song thất lục bát…Bởi vì, đặc điểm nổi bật của các thể thơ này là dễ thuộc, dễ nhớ, ngôn ngữ mộc mạc giản dị, hồn nhiên chân thật và ngôn ngữ trong ca dao, dân ca truyền thống giàu chất thơ, giàu sức biểu cảm và tính hình tượng
Ngôn ngữ trong ca dao, dân ca truyền thống nằm trong trường ngôn ngữ của giới bình dân, được đúc kết trong quá trình lao động, sản xuất thành những kinh nghiệm quý báu của cha ông và được truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác nên nó mộc mạc, giản dị, hồn nhiên và chân thật Và chính trong quá trình tồn tại ấy, ca dao đã khẳng định được giá trị của mình, không những là phương tiện giải trí sau những giờ phút lao động mệt nhọc mà còn là phương tiện để thể hiện tình cảm riêng tư của những đôi nam nữ:
“Gặp em anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không?”
Đây là lời tỏ tình của một chàng trai nói với cô gái, cách thể hiện tình cảm này thật mộc mạc và chân thành Họ là những ai? Không ai khác, họ chính là những người nông dân lao động thật thà, hồn nhiên và yêu đời Cách thể hiện tình cảm của chàng trai đã phản ánh bản chất tốt đẹp của người lao động thật thà, chất phác Hay câu:
“Hôm qua anh đến chơi nhà Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường Thấy em nằm đất anh thương…”
Thì đó cũng chính là một lời tỏ tình mộc mạc, dễ thương Chàng trai rất yêu cô gái nhưng lại không dám thể hiện, không dám nói thật với lòng mình vì ngượng ngùng, xấu hổ, mà
Trang 4luôn phải kiếm cớ gì đó, để từ đó thể hiện được nỗi lòng của mình, như ở câu ca dao trên
thì cái cớ mà chàng trai dùng để bày tỏ tình cảm của mình với cô gái là: “thấy em nằm đất anh thương” Đó chính là cái tài tình của dân gian ta
Ngôn ngữ trong ca dao - dân ca truyền thống nói chung và ca dao về tình yêu nam
nữ nói riêng giàu chất thơ, giàu sức biểu cảm và tính hình tượng Không chỉ dừng lại ở lời thơ mộc mạc giản dị hồn nhiên chân thật mà ca dao còn chứa đựng biết bao tình cảm, tình yêu giữa người con trai và người con gái trong xã hội xưa Mượn hình ảnh thiên nhiên để nói lên nỗi lòng mình là một điều không hiếm thấy trong kho tàng ca dao về tình yêu nam nữ:
“Hỡi cô tát nước bên đàng Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”.
Cách tỏ tình này thật bay bổng, dí dỏm và đáng yêu nhờ lời thơ bóng bẩy, mượt mà, đượm chất trữ tình
Trong bài ca dao khác:
“Rủ nhau xuống biển mò cua Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi! chua ngọt đã từng Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau”.
Ở đây “tác giả” dân gian đã sử dụng cách nói thật hình ảnh Chỉ bằng những hình ảnh cụ
thể như: cua, quả mơ,… mà đã nói lên được tình nghĩa của hai người Hai con người ấy
đã phải trải qua bao nhiêu sự gian nan, vất vả, lên rừng xuống biển, đã nếm trải đủ mùi đắng cay của cuộc đời, nên cho dù cuộc sống có thay đổi đến đâu thì cũng xin giữ mãi ân tình cho nhau Cách nói này rất giàu chất biểu cảm thông qua những hình tượng cụ thể của thiên nhiên
Trang 5Và để góp phần tạo nên phong cách ngôn ngữ ca dao, tác giả dân gian đã sử dụng hàng loạt các biện pháp tu từ: so sánh, ví von, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá…
Cách nói so sánh ví von, đây là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng thường xuyên
và phổ biến nhất trong ca dao nói chung và ca dao về tình yêu nam nữ nói riêng So sánh cũng là một lối cụ thể hoá những cái trừu tượng, nó giúp cho những lời tỏ tình, lời bày tỏ tình cảm thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết
“Đôi ta như thể con tằm Cùng ăn một lá cùng nằm một nong”.
Câu ca dao diễn tả sự gắn bó với nhau của đôi trai gái trong những khi gặp gian nan, trắc trở hay cả trong những hoàn cảnh thuận lợi
Hay câu:
“Sen xa hồ, sen khô, hồ cạn Liễu xa đào, liễu ngả, đào nghiêng Anh xa em như bến xa thuyền Như Thuý Kiều xa Kim Trọng, biết mấy niên cho tái hồi”.
Thì đây là cách so sánh rất độc đáo đi từ xa đến gần Các “tác giả” dân gian đã thật khéo léo khi sử dụng những hình ảnh so sánh xa xôi của thiên nhiên đến so sánh một cách gần gũi, trực tiếp để nói lên sự xa cách của tình yêu đôi lứa
Trong lối so sánh còn có nghệ thuật ẩn dụ, đây là một phương pháp nghệ thuật thể hiện sự tế nhị và kín đáo Khi thể hiện mối tình chung thuỷ với người yêu thì dường như không lời thơ nào đẹp, gợi cảm và thắm thiết bằng câu ca dao:
“Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.
Hình tượng hoá, cụ thể hoá các sự vật trừu tượng, vô hình:
Trang 6“Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chất chứa sầu đong vơi đầy”.
Hoặc khi muốn tránh sự sỗ sàng trong việc thể hiện tình cảm, nhân dân ta thường gửi gắm tâm sự vào những vật xung quanh để tránh nói đến cái “tôi” của mình:
“Trèo lên cây khế nửa ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi!
Sáng ngày ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn trông sao sao mờ”.
Hay muốn biểu lộ sự nhớ nhung tha thiết người yêu, người ta thường dùng những hình tượng đằm thắm:
Khăn thương nhớ ai?
Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai?
Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai?
Khăn chùi nước mắt Đèn thương nhớ ai?
Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai?
Mắt ngủ không yên Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên mọi bề…
Trang 7Nghệ thuật nhân cách hoá ở câu ca dao trên đã tiến lên từng cung bậc một, đầu tiên là cái khăn - một vật vô tri vô giác, hoàn toàn tĩnh, đến ngọn đèn, tuy cũng có thể rung động trước gió hoặc lụi đi hoặc cháy to, rồi đến con mắt, rồi đến bản thân mình Cũng giống như bản thân người con gái, tất cả những vật kia vô tri vô giác kia đều có linh hồn, đều biết rung động, chúng rung lên những nhịp như trái tim thổn thức của người con gái đang sầu cảm
Không chỉ vậy, Ca dao về tình yêu nam, nữ còn sử dụng biện pháp trùng điệp: điệp từ, điệp câu, điệp ý…để nhấn mạnh cảm xúc, nỗi lòng của những con người đang yêu:
“Nhớ ai, em những khóc thầm Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
Điệp từ “Nhớ ai” được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ mong của cô gái với chàng trai Nỗi nhớ khiến người con gái đang yêu đó trở lên ngẩn ngơ hay sốt ruột
như ngồi trên lửa như ngồi trên than, lòng dạ bất yên
Có khi tác giả dùng biện pháp phóng đại, ngoa dụ, thậm xưng để thể hiện tình cảm của mình trong tình yêu
“Bao giờ chạch đẻ ngọn đa Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình”.
Vốn dĩ Chạch là loài sống ở bùn nước còn Sáo là loài sống ở trên cây, hai loài này sống ở hai môi trường hoàn toàn trái ngược nhau và sẽ không bao giờ có thể sống cùng nhau hay
Trang 8đổi chỗ cho nhau Vì vậy, mà dân gian ta đã mượn những hình ảnh này để nói về sự khó khăn, trắc trở của tình yêu đôi lứa
Về lối dùng chữ, từ ngữ được đưa lên những nghĩa bóng, láy đi láy lại từng tiếng một, làm cho người nghe phải thấm thía về chủ đề, làm nổi lên trọng tâm của bài ca thì ca dao Việt Nam cũng rất tài tình
“Đầu năm ăn quả thanh yên Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng
Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ nhung”.
Ca dao còn dùng rất nhiều hình ảnh để nói lên cái đẹp và đức tính tốt hay cũng có khi nói về những cáí xấu
“Thân em như hạt mưa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa”.
Hình ảnh hạt mưa vừa nói lên được bản chất trong trắng của người con gái, đồng thời cũng nói lên được sự lo lắng của cô gái dưới một chế độ không dung sự luyến ái tự do hay câu:
“Tình anh như nước dâng cao Tình em như giải lụa đào tẩm hương”.
Đây là tình yêu của đôi trai gái đều đằm thắm ngang nhau, nhưng tính chất yêu đương và cách biểu hiện của mỗi bên lại khác
Như vậy qua việc phân tích đặc điểm thi pháp ngôn ngữ trong ca dao truyền thống nói chung và ca dao về tình yêu nam nữ nói riêng, chúng ta có thể thấy được vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, chân thật, hồn nhiên nhưng cũng rất tinh tế và tế nhị của dân gian ta Từ cách dùng chữ, những lối biến thể hình tượng hoá, cụ thể hoá sát với thực tế biểu hiện ở
Trang 9nội dung, làm cho ca dao trở thành những câu hát thấm thía về mặt trữ tình cũng như về mặt phản ánh cuộc đời của nhân dân lao động mà ở đây là tiêu biểu là sự thể hiện tình cảm trong tình yêu nam nữ
Cũng giống như ca dao về các chủ đề khác, ca dao về tình yêu nam nữ được sáng tác dưới nhiều hình thức thơ khác nhau: song thất, song thất lục bát, bốn chữ hỗn hợp tuy nhiên được vận dụng phổ biến hơn cả là thể lục bát Qua thống kê kho tàng ca dao người Việt ta thấy: trong tổng số 11825 đơn vị có 10305 đơn vị được sáng tác theo thể lục bát, lục bát biến thể (chiếm 87% số lượng tác phẩm) Điều này thật dễ hiểu vì thơ lục bát là “những lời nói vần” gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân và quan trọng hơn là nó dễ nhớ dễ thuộc Vì vậy khi nghiên cứu ngôn ngữ trong ca dao ta không thể tách nó khỏi thể loại thơ ca dân gian đặc biệt là thể thơ lục bát trong ca dao Thể lục bát truyền thống trong ca dao bộc lộ trực tiếp những tâm tình nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống
“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc, rồi lại xây ngang, Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân ”
Thể lục bát thường được vận dụng trong những bài ca dao có nội dung trữ tình
hoặc giao duyên nói chung hay ca ca dao về tình yêu nam nữ nói riêng Do các tác phẩm
ca dao theo thể lục bát rất uyển chuyển, mềm mại, chất chứa nhiều cảm xúc Sở dĩ như vậy là do kết cấu đặc trưng riêng biệt về âm luật của thể loại thơ này Dưới góc độ thi pháp có thể thấy lục bát mang đầy đủ dáng dấp của một thể thơ cách luật với những yếu
tố đặc thù về tổ chức âm thanh: gieo vần, ngắt nhịp phối điệu trong hình thức tối thiểu là một cặp lục bát gồm hai câu với số tiếng cố định: 6 tiếng (câu lục) và 8 tiếng (câu bát) Vì vậy mọi nguyên tắc tổ chức ngôn từ thơ ca của thể lục bát được tạo dựng theo một thể
Trang 10thức nhất định lặp đi lặp lại trong tác phẩm tuân thủ nghiêm ngặt cơ cấu tổ chức âm luật
về phương thức gieo vần ngắt nhịp phối điệu cơ sở quan trọng để tạo dựng lên những lời dân ca giàu chất dân gian Phương thức gieo vần 6-8 là thao tác đặc biệt tạo nên vẻ nhịp nhàng trong ngôn ngữ thơ là phương tiện tổ chức văn bản và là chỗ dựa cho sự phát triển nhạc tính để hình thành nên những âm hưởng nhiều mầu sắc vang vọng trong thơ Lối ngắt nhịp chẵn tạo nên sự phân bố và lặp đi lặp lại, ngắt quãng các đơn vị ngôn từ tạo điều kiện cho sự chuẩn hóa về mặt thẩm mỹ trong lời thơ Còn phối điệu mang lại âm điệu trầm bổng trong thơ bằng sự sắp xếp phối hợp các thanh điệu bằng trắc theo nguyên tắc nhất định thể hiện tính cân đối hài hòa về âm thanh giữa các nhịp và các vế tương đương
“Cách sông/ em chẳng/ sang đâu Anh về/ mua chỉ/ bắc cầu/ em sang Chỉ xanh/ chỉ đỏ/ chỉ vàng Một trăm/ thứ chỉ/ bắc ngang/ sông này”.
Bên cạnh đó, biến thế trong thể lục bát tạo nên những câu thơ đậm đà cảm xúc:
“Anh đi ra cay đắng như gừng Đường xa xôi ngàn dặm, khuyên em đừng nhớ thương”
Và để làm nên thành công của một bài ca dao, không chỉ cần sử dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, hay thể thơ phù hợp mà còn cần sự đóng góp không nhỏ của thời gian và không gian nghệ thuật Thời gian và không gian nghệ thuật trong các bài ca dao không giống với thời gian và không gian thực tại ngoài cuộc sống Nếu như thời gian và không gian thực tại là thời gian vật lý để mỗi người nhận thức được về cuộc sống xung quanh mình thì thời gian và không gian trong các bài ca dao nói chung và các bài ca dao
về tình yêu nam nữ nói riêng chủ yếu là thời gian, không gian tâm lý do con người tạo dựng ra nhằm thổ lộ thế giới tâm hồn bao la trong mỗi con người Nó một mặt là đề tài nhưng đồng thời cũng là nguyên tắc tổ chức tác phẩm
Trang 11Thời gian trong ca dao được gọi là thời gian diễn xướng bởi trong ca dao thế giới người đọc và thế giới của tác phẩm thường hòa lẫn làm một không thể phân biệt rạch ròi
Ca dao được cả người diễn xướng và người thưởng thức nó hát lên như chính mình là người trong cuộc đang trải nghiệm, giãi bày những xúc cảm chân thành nhất Mà như đã thấy ở ca dao kết cấu phổ biến nhất là kết cấu đối đáp bởi vậy mà khi sáng tác đồng thời cũng là lúc trình diễn, diễn xướng Thời điểm mà cảm xúc cất thành lời ca dao cũng là lúc
nó được trình diễn mang đầy tính nhạc, nhịp điệu Vậy nên có thể nối rằng thời gian trong
ca dao là thời gian diễn xướng
Cái hiện tại của thời gian ca dao về tình yêu nam nữ thường được đánh dấu bằng
các công thức, mô típ như: “Đêm khuya”, “Chiều chiều”… mà khi chỉ cần nhắc tới
khoảng thời gian đó, cụm từ đó thôi cũng đủ để người nghe phần nào thấy được nét tâm
trạng của nhân vật trữ tình Một khoảng thời gian “Chiều chiều” đã nói hộ nỗi lòng của
người con gái biết bao tâm tư, tình cảm về sự nhớ nhung, mong ngóng mà trong lòng ruột đau như cắt:
-“Chiều chiều chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ bạn, chín chiều ruột đau”.
-“Chiều chiều ra đứng ngõ trông Ngõ thì thấy ngõ, nhưng không thấy người”.
Hay “Đêm khuya” cũng một phần nói lên được sự buồn thương mênh mang da diết
của một cô gái đang yêu:
-“Đêm khuya thắp chút dầu dư Tim lan cháy lụn, sầu tư một mình”
-“Anh về để áo lại đây Đêm khuya em đắp, gió tây lạnh lùng”.