1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chủ nghĩa yêu nước của văn học việt nam 18 19

6 2K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 113 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đa dạng về nội dung: 1.1 Nói về cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân ta: Tình yêu quê hương, lòng căm thù giặc, ý thức trách nhiệm, tinh thần vượt khó sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, ý

Trang 1

TIỂU LUẬN CUỐI KÌ

HỌC KÌ 1: NĂM HỌC 2015 - 2016

MÔN HỌC: VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ KỈ XVIII - THẾ KỈ XIX

Sinh viên: Đoàn Ngọc Chung Mã số SV: 14031844 Lớp môn học:LIT3050 2

ĐỀ BÀI

Các hình thức biểu hiện, sự đa dạng về nội dung của chủ nghĩa yêu nước trong văn học

Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX

DÀN Ý TÓM TẮT

I MỞ BÀI: Giới thiệu khái quát về hình thức biểu hiện, nội dung của chủ nghĩa yêu nước trong văn học Việt Nam thế kỉ XIX

II THÂN BÀI:

1 Sự đa dạng về nội dung:

1.1 Nói về cuộc chiến đấu chống Pháp của nhân dân ta: Tình yêu quê hương, lòng căm thù giặc, ý thức trách nhiệm, tinh thần vượt khó sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, ý chí quyết chiến, quyết thắng, đề cao chính nghĩa của những người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến

1.2 Văn học yêu nước chống tư tưởng đầu hàng thỏa hiệp: đánh giặc hay đầu hàng giặc

2 Hình thức biểu hiện:

2.1 Hình thức biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước: Chủ nghĩa yêu nước không biểu hiện

trực diện mà biểu hiện gián tiếp tùy thuộc vào từng tác giả

2.2 Hình thức biểu hiện của văn học yêu nước giai đoạn cuối thế kỉ XIX:

-Ngôn ngữ: Chữ Hán và chữ Nôm

-Thể loại: Sử ca, vè, thơ Đường luật, thơ lục bát, hịch, văn tế, tuồng, chèo…

-Nghệ thuật: Văn học chữ Hán: chưa có gì đổi mới Riêng văn xuôi chữ Hán, phát triển theo hướng chính luận Văn học chữ Nôm: nghệ thuật biểu hiện vừa kế thừa truyền thống, vừa có sự đổi mới đáng kể Trong thơ hiện thực trào phúng tính cụ thể, cá thể rõ nét Tính chất cá thể, cụ thể- lịch sử xuất hiện phổ biến và xuất hiện rõ nét cái tôi trữ tình

BÀI LÀM

Ngược dòng thời gian, trở về với cội nguồn lịch sử của dân tộc, chúng ta có thể nhận thấy yêu nước vốn là truyền thống lâu đời của dân tộc Trải qua hơn bốn ngàn năm lịch sử, dân tộc ta

đã phải đương đầu với biết bao kẻ thù để bảo vệ Tổ quốc Cuối thế kỉ XIX, khi Pháp sang

Trang 2

xâm lược, thì truyền thống yêu nước của dân tộc ta lại bùng cháy lên một cách mạnh mẽ Từ đây, văn học chống Pháp ra đời, với hình thức biểu hiện đặc sắc, sự đa dạng về nội dung văn học yêu nước thời kì này đã góp phần thể hiện chủ nghĩa yêu nước của con người thời đại Và với những thành tựu mà nó mang lại đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta

Văn chương yêu nước thời kì nào cũng là để bộc lộ lòng yêu nước Nhưng cái làm nên sự khác nhau giữa các thời đại không phải là lòng yêu nước mà là tư tưởng yêu nước, sự khác nhau dựa trên quan niệm về “nước” và “dân”, về trách nhiệm làm người, làm dân Văn chương yêu nước cũng lại chịu sự chi phối của quan niệm văn học, quan niệm chức năng của từng thể loại văn học (kịch, thơ tâm sự, vè…) Đằng sau tất cả những quan niệm đó là nền kinh tế, là thế chế chính trị- xã hội…Ở thời kì trước, ta biết đến một tư tưởng yêu nước quán xuyến trong văn học thời Lý, Trần xây dựng quốc gia độc lập với những triều đại phong kiến tập quyền tương đối ổn định Đó là nội dung của “Chiếu dời đô”, “Nam quốc sơn hà”, “Hịch tướng sĩ”…và đó cũng chính là nội dung thơ của Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Nghị và những người chống Pháp cuối thế kỉ XIX Cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp quyết liệt và phức tạp, vì thế cách nhìn và thái độ của các tầng lớp người trong xã hội đối với các vấn đề thời sự đặt ra trước mắt không giống nhau Chủ nghĩa yêu nước không biểu hiện trực diện mà

nó biểu hiện gián tiếp và phụ thuộc vào từng tác giả mà có các cách biểu hiện lòng yêu nước

đa dạng và khác nhau Văn học- một sản phẩm tinh thần, một vũ khí lợi hại để phục vụ chiến tranh Nhà văn cầm bút cũng chính là người chiến sĩ cầm súng, cầm gươm Sáng tác cũng là hành động giết giặc Nội dung của nó chủ yêu nói về tình yêu quê hương, lòng căm thù giặc,

ý thức trách nhiệm của con người đối với đất nước, tinh thần vượt khó sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, ý chí quyết chiến, quyết thắng, đề cao chính nghĩa của những người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến Bên cạnh đó văn thơ yêu nước đã vạch trần những luận điệu hèn nhát, bỉ ổi của triều đình, bọn vua quan vô trách nhiệm, bè lũ Việt gian bán nước thành những bản án đanh thép hoặc những trang châm biếm sắc sảo: “Hịch đánh Tây” của Lãnh Cồ, “Hà thành thất thủ ca”…nó phản ánh tâm lí đau xót của nhân dân trước cảnh nước mất nhà tan:

“Vè thất thủ kinh đô”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”…Văn học yêu nước chống Pháp là sáng tác của những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia phong trào chiến đấu chống Pháp Nhiệm vụ của nó là góp phần vào cuộc chiến đấu ấy của dân tộc Hơn bất cứ một dòng văn học nào khác, tính chiến đấu của văn học yêu nước chống Pháp trước hết thể hiện ở sự bóc

Trang 3

trần bản chất tàn bạo, thâm hiểm của bè lũ thực dân cướp nước và những hành động đớn hèn

bỉ ổi của quan lại đầu hàng, bán nước Nói về bọn thực dân, văn học yêu nước chủ yếu nói đến tội ác và âm mưu của chúng Kẻ thù đi đến đâu là gieo tang tóc đau thương đến đó Tiến sâu vào đất nước của ta, tội ác của giặc bày la liệt dưới mỗi bước đi của chúng Các nhà thơ thấy tâm hồn mình bị giày vò Trong những bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu, mỗi lần nói đến cảnh tra tấn, tù đày, chém giết, cảnh mẹ góa con côi, cảnh nhà tan cửa nát, ngòi bút của nhà thơ cụ thể, sinh động và bao giờ cũng như có dầu sôi lửa cháy Và tố cáo tội ác của giặc, các nhà thơ yêu nước không chỉ ghi lại một thực trạng đau lòng của dân tộc, của đất nước để rồi than thở ngậm ngùi, mà quan trọng là qua đó, họ muốn nhen nhóm, kích động lên ở mọi người tình cảm yêu nước và ý chí quyết tâm chống giặc cứu nước: “Oán dường ấy, hận dường ấy, cừu thù dường ấy, làm sao trả được mới ưng!” (Nguyễn Đình Chiểu) Nhưng dù sao cũng phải thừa nhận rằng văn học yêu nước chống Pháp tố cáo bọn thực dân cướp nước không nhiều bằng tố cáo bọn phong kiến đầu hàng, bán nước, làm tay sai cho giặc Hình như các nhà thơ cho rằng: đối với bọn thực dân từ nước khác đến xâm chiếm nước ta, hiển nhiên phải nói chuyện với chúng bằng súng đạn, giáo mác Còn bút mực là vũ khí dành riêng để nói chuyện với bè lũ phong kiến đầu hàng, là những kẻ cũng “quen nghề bút mực” Về đối tượng này văn học yêu nước đả kích từ các vua nhà Nguyễn đến triều đình và bọn quan lại các cấp, không chừa một ai (“Hà Thành thất thủ”, “Biểu trần tình”…) Thái độ của các nhà thơ yêu nước đối với bọn tay sai phong kiến, quan lại, tùy từng lúc, tùy từng yêu cầu mà khi thì gay gắt quyết liệt, khi thì ôn tồn khuyên bảo Có những lời lẽ như phân trần phải trái để cho họ biết điều hơn lẽ thiệt, để họ quay về với con đường chính nghĩa của nhân dân Trong thơ văn yêu nước ý chí chiến đấu giết giặc cứu nước là tiếng nói đanh thép nhất, vang vọng nhất Tiếng nói ấy thường được biểu hiện một cách trực tiếp trong những bài hịch kêu gọi chiến đấu Trong bài “Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây”, Nguyễn Đình Chiểu khuyên mọi người không nên thấy triều đình giảng hòa mà bỏ rơi vũ khí Lãnh Cồ trong bài “Hịch đánh Tây”kêu gọi mọi người , hãy dựa vào sức mình, tin ở mình để đánh giặc…Các nhà thơ yêu nước thường trở về những trang quá khứ vẻ vang nhất của dân tộc để động viên, khích lệ mọi người hăng hái tham gia chiến đấu Họ cùng nhân dân xông thẳng vào kẻ thù, lớp nọ ngã xuống, lớp khác xông lên, chiến đấu hi sinh, không sợ đầu rơi máu chảy Trong hoàn cảnh cụ thể của lịch sử lúc bấy giờ, việc động viên bằng truyền thống đánh giặc của ông cha đem lại

Trang 4

cho con người lòng tự hào về quá khứ của dân tộc để hăng say chiến đấu Nhưng cái quan trọng nhất vẫn là làm cho mọi người có ý thức đầy đủ về tính chất chính nghĩa của cuộc chiến đấu, để hoàn cảnh nào họ cũng chiến đấu:

“Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình Chẳng them trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ”

Chiến đấu là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người, không một ai có quyền chùn bước Văn học yêu nước một mặt đề cao tư tưởng sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn, một mặt đề co tư tưởng

“chớ đem thành bại luận anh hùng” Trong chiến đấu hi sinh, mất mát là chuyện thường! Văn học yêu nước chống Pháp một mặt tố cáo tội ác, âm mưu của giặc, nói lên lòng căm thù và ý chí chiến đấu chống giặc cứu nước; mặt khác nó ghi lại cuộc chiến đấu của nhân dân ta, đặc biệt là ca ngợi những con người tham gia chiến đấu Về phương diện này, văn học yêu nước

có nhiều thành tựu đáng kể Văn học yêu nước hết lời ca ngợi người nghĩa binh và lãnh tụ nghĩa binh chống Pháp Hình ảnh những người nghĩa binh trong văn học yêu nước chống Pháp thực chất là hình ảnh những người nông dân chống giặc Đó là những con người nghèo khổ nhất trong xã hội, bình thường họ chỉ biết lo việc làm ăn trong thôn xóm Kẻ thù đến phá hoại cuộc sống yên ổn của họ, giết vợ con, cha mẹ họ, đốt làng xóm của họ…căm thù quân cướp nước, họ tự nguyện đứng lên chống giặc giữ làng giữ nước Vũ khí của họ thô sơ: “gậy tày giáo vạc”, “lưỡi dao phay”, “rơm con cúi”…nhưng lòng yêu nước và chí căm thù đã phát huy sức mạnh của nó Họ đã lập lên những chiến công vang dội trong buổi đầu của cuộc giao tranh với thực dân Pháp Bên cạnh hình ảnh người nghĩa binh và hình ảnh người lãnh tụ nghĩa quân xuất hiện nhiều trong thơ văn Các lãnh tụ nghĩa quân chủ yếu là các nhà Nho, cũng như người nông dân không quen với gươm súng và trận mạc Nhưng khi đất nước có giặc, họ đã quẳng bút lông, cầm giáo sắt xông ra chiến đấu: “Giới trụ sĩ phi Nho giả phục” (Nguyễn Xuân Ôn) Dựng lên hình ảnh người lãnh tụ nghĩa quân, các nhà thơ yêu nước vừa

ca ngợi bản chất anh hùng của họ, vừa ca ngợi con người đạo đức của họ Tư tưởng trung hiếu xuất hiện khá nhiều trong thời kì này và chủ yếu nó gắn liền với hình ảnh các lãnh tụ nghĩa quân Văn chương yêu nước thời kì này thực sự là một bản hùng ca về cuộc chiến đấu của dân tộc Đấu tranh tư tưởng trong văn học là một hiện tượng mới mẻ của văn học Việt Nam đến giai đoạn này mới xuất hiện rõ nét Ai cũng biết từ khi tiếng súng của thực dân Pháp nổ ran trên đất nước ta, và bàn chân của bè lũ thực dân ngang nhiên giày xéo trên lãnh thổ này, thì một vấn đề hết sức bức thiết đặt ra cho tất cả mọi người là đánh giặc hay đầu

Trang 5

hàng giặc Cuộc đấu tranh tư tưởng trong giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX xoay quanh cái chủ

đề ấy Đáng kể nhất là cuộc đấu tranh tư tưởng của các sĩ phu yêu nước Nam Kì (đại diện là Phan Văn Trị) chống lại Tôn Thọ Tường- một tên Việt gian bán nước Đây thực sự là cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn học bằng văn học, có tiếng vang lớn và có ý nghĩa sâu sắc đối với thời đại bấy giờ Mối quan hệ mật thiết giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh văn học, có thể coi là một đặc điểm trong sự phát triển của văn học nước ta trong suốt thời kì chống lại ách thống trị của thực dân Pháp

Văn họcViệt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, về hình thức biểu hiện, còn nhiều gắn bó với giai đoạn trước Nó vẫn bao gồm hai thành phần chữ Hán và chữ Nôm Nếu như những năm cuối của giai đoạn nửa đầu thế kỉ XIX xu hướng sáng tác bằng chữ Hán được triều đình nhà Nguyễn khuyến khích, có phần lấn át xu hướng sáng tác bằng chữ Nôm, thì ngược lại, trong giai đoạn này sáng tác bằng chữ Nôm, chữ Hán đều phát triển, và sáng tác bằng chữ Nôm lại sắc sảo hơn sáng tác bằng chữ Hán Trong văn học thời kì này, chữ quốc ngữ cũng được sử dụng để sáng tác nhưng chưa có thành tựu gì đáng kể.Về phương diện thể loại văn học, thì trong giai đoạn này thể loại thể hiện tính đại chúng, tính nhân dân sâu sắc Nhưng các tác phẩm truyện thơ dài có giá trị dường như vắng bóng Thể loại dài hơi của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, đáng chú ý là các bài sử ca và thể loại hát bội Sử ca là tác phẩm diễn ca lịch sử Nhưng sử ca trong giai đoạn này không phải là những tác phẩm diễn ca lịch

sử quá khứ như: “Đại Nam quốc sử diễn ca” hay “Thiên Nam ngữ lục”, mà diễn ca lịch sử hiện tại, phản ánh những biến cố lớn như thất thủ Hà Nội, thất thủ kinh đô Hát bội là một thể loại sân khấu đã có từ trước, giai đoạn này phát triển mạnh mẽ hơn Do được sự bảo trợ của triều đình nên nội dung của nó chủ yếu là tuyên truyền cho chủ nghĩa chính thống, cho tư tưởng trung quân Cá biệt có vở viết ra để thỏa mãn cuộc sống ăn chơi của đám vua quan trong triều Xét về nội dung của hát bội thì thời kì này có sự thụt lùi nhưng về nghệ thuật nó hoàn chỉnh hơn, có kết cấu chặt chẽ hơn Phổ biến và thành công hơn cả trong giai đoạn văn học này là thể loại ngắn, có tính chất đại chúng, sáng tác nhanh, phục vụ kịp thời như: thơ Đường luật, thơ lục bát, hịch, văn tế, hát nói, vè Hịch, văn tế, vè là những thể loại phát triển nhất Vè có tính chất thời sự nhạy bén và tính chiến đấu cao Vè phản ánh cuộc chiến đấu của nhân dân ta chống thực dân Pháp, có phần sắc sảo và chân thực hơn văn học thành văn Hịch

và văn tế có kết cấu theo lối biền ngẫu Hịch là để kêu gọi chiến đấu, kêu gọi chống Pháp sôi nổi khí thế căm thù và quyết chiến, có tính chất hùng ca rõ rệt Văn tế là để phúng viếng

Trang 6

những người đã mất, có nhiều tính chất bị thương, nhưng ở giai đoạn này, nó bị ảnh hường bởi cuộc kháng chiến chống Pháp nên không chỉ bi thương mà còn căm phẫn Giọng văn tế trầm hùng rất dễ đi vào lòng người.Về hình thức nghệ thuật, do những yêu cầu phản ánh trung thực và gần gũi để động viên chiến đấu nên văn hoc đã vận dụng nhiều chất liệu hiện thực, mang sắc thái phê phán và ít nhiều đã phá vỡ những khuôn khổ của phương pháp sáng tác truyền thống Trong bộ phận văn học chữ Hán, phong cách biểu hiện của thơ nói chung chưa có gì đổi mới, vẫn chưa thoát khỏi biểu hiện có tính chất công thức, ước lệ của văn học phong kiến Riêng văn xuôi chữ Hán có phần khác trước, phát triển theo hướng chính luận Câu văn có phần trong sáng, giản dị hơn, ý tứ rõ ràng hơn, minh xác hơn và lập luận cũng chặt chẽ, logic hơn…Còn trong bộ phận văn học chữ Nôm, nghệ thuật biểu hiện vừa kế thừa truyền thống, vừa có sự đổi mới đáng kể Văn học giai đoạn này, bớt lối diễn đạt chung chung, ước lệ, không cụ thể mà bám sát vào đời sống Trong thơ hiện thực trào phúng nổi bật lên là tính cụ thể, cá thể rõ nét Các nhà thơ đã dùng tiếng cười để xua tan mọi suy nghĩ siêu hình, tự biện, chất sống của nó rõ hơn trong thơ trữ tình Cùng với lối biểu hiện có tính chất

cá thể, cụ thể- lịch sử là đặc điểm của nghệ thuật biểu hiện trong văn học giai đoạn này thì còn xuất hiện cái tôi trữ tình Phong cách cá nhân rõ nét Và điều này đã làm cho văn học giai đoạn này có tiếng nói riêng, vừa gần gũi vừa đại chúng

Tóm lại, với hình thức biểu hiện độc đáo, sự đa dạng về nội dung của chủ nghĩa yêu nước, Văn học Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX đã bám sát cuộc sống, đã đồng hành với cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta, đã ghi lại một cách sinh động và trung thành một giai đoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng của dân tộc Có thể nói, giai đoạn này văn học mang tính chiến đấu cao, tính dân tộc, tính đại chúng được biểu hiện rõ nét Chủ nghĩa yêu nước trong văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX xứng đáng là tiếng nói, là lương tri của dân tộc ta- một dân tộc có lịch sử lâu đời hết sức vẻ vang và nó đã góp phần không nhỏ trong việc cổ vũ, động viên dân tộc ta chiến đấu, chiến thắng kẻ thù để làm nên đất nước muôn đời

Ngày đăng: 23/06/2016, 18:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w