1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

khóa luận Tính truyền thống và hiện đại trong thơ Nguyễn Bính

72 1,6K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 137,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ mới 19321945 là một cuộc cách mạng thơ ca vĩ đại nhất trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ XX . Phong trào Thơ mới đã mở ra “một thời đại trong thi ca”, mở đầu cho sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại. Phong trào Thơ mới không chỉ là cuộc hiện đại hoá, đưa thơ Việt Nam thoát khỏi thi pháp thơ Trung đại, mà nó còn làm cho thơ Việt thoát khỏi cái bóng cớm Đường luật Trung Hoa hàng nghìn năm, nó còn chắp nối thơ Việt với thơ toàn thế giới. Thơ mới đã tạo nên nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau. Hoài Thanh đã khẳng định một cách dứt khoát rằng: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” 12,37. Trong những ngôi sao của nền thơ hiện đại ấy, Nguyễn Bính là một cây bút nổi lên bởi sự “lạ lẫm”, độc đáo trong lối viết. Hoài Thanh gọi ông là nhà thơ “quê mùa”. Tô Hoài coi ông là nhà thơ của “chân quê, hồn quê và tình quê”. Nhưng Nguyễn Bính không chỉ là một nhà thơ của chân quê. Sự hòa nhập với thế giới hiện đại cùng sự phát triển rầm rộ của phong trào Thơ mới cộng thêm những biến thiên trong đời sống riêng đã khiến cho thơ Nguyễn Bính mang hơi hướng hiện đại. Thơ Nguyễn Bính chất chứa nhiều nỗi niềm, tâm trạng của con người trong thời đại mới, giữa chốn thị thành, được thể hiện bằng một hệ thống thi pháp thơ đã được cách tân hóa. Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại chính là một trong những đặc trưng làm nên phong cách thơ Nguyễn Bính. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài“Tính truyền thống và hiện đại trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng” để nghiên cứu, nhằm tìm hiểu những đặc điểm truyền thống và hiện đại trên phương diện nội dung và nghệ thuật của thơ Nguyễn Bính. Từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về đặc điểm thơ ông trước Cách mạng đồng thời chỉ ra nhữn nét riêng biệt của thơ Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu Trong đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu nhằm tìm hiểu rõ tính truyền thống và hiện đại được thế hiện như thế nào trong thơ Nguyễn Bính về cả phương diện nội dung lẫn nghệ thuật. 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, chúng tôi đi tiến hành nghiên cứu những nhiệm vụ, nội dung sau: Những đặc điểm mang tính truyền thống của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng về phương diện nội dung và nghệ thuật. Những đặc điểm mang tính hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng về phương diện nội dung và nghệ thuật. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tương nghiên cứu Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng. 3.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài của chúng tôi không đi sâu nghiên cứu khái quát các đặc điểm thơ Nguyễn Bính trong toàn bộ sự nghiệp thơ ca của ông mà chỉ tập trung vào tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng. Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và nghiên cứu trên 7 tập thơ chính được sáng tác trước Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Bính gồm: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Mười hai bến nước (1942), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mây Tần (1942).

Trang 1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Thơ mới 1932-1945 là một cuộc cách mạng thơ ca vĩ đại nhất trong tiến trìnhlịch sử văn học dân tộc ở thế kỷ XX Phong trào Thơ mới đã mở ra “một thời đạitrong thi ca”, mở đầu cho sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại Phong trào Thơmới không chỉ là cuộc hiện đại hoá, đưa thơ Việt Nam thoát khỏi thi pháp thơTrung đại, mà nó còn làm cho thơ Việt thoát khỏi cái bóng cớm Đường luật TrungHoa hàng nghìn năm, nó còn chắp nối thơ Việt với thơ toàn thế giới

Thơ mới đã tạo nên nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau Hoài Thanh đã

khẳng định một cách dứt khoát rằng: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên…và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” [12,37]

Trong những ngôi sao của nền thơ hiện đại ấy, Nguyễn Bính là một cây bút nổi

lên bởi sự “lạ lẫm”, độc đáo trong lối viết Hoài Thanh gọi ông là nhà thơ “quê mùa” Tô Hoài coi ông là nhà thơ của “chân quê, hồn quê và tình quê” Nhưng

Nguyễn Bính không chỉ là một nhà thơ của chân quê Sự hòa nhập với thế giới hiệnđại cùng sự phát triển rầm rộ của phong trào Thơ mới cộng thêm những biến thiêntrong đời sống riêng đã khiến cho thơ Nguyễn Bính mang hơi hướng hiện đại ThơNguyễn Bính chất chứa nhiều nỗi niềm, tâm trạng của con người trong thời đạimới, giữa chốn thị thành, được thể hiện bằng một hệ thống thi pháp thơ đã đượccách tân hóa

Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại chính là một trongnhững đặc trưng làm nên phong cách thơ Nguyễn Bính Xuất phát từ lý do trên,

chúng tôi chọn đề tài“Tính truyền thống và hiện đại trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng” để nghiên cứu, nhằm tìm hiểu những đặc điểm truyền thống và hiện

Trang 2

đại trên phương diện nội dung và nghệ thuật của thơ Nguyễn Bính Từ đó có cáinhìn sâu sắc hơn về đặc điểm thơ ông trước Cách mạng đồng thời chỉ ra nhữn nétriêng biệt của thơ Nguyễn Bính trong phong trào Thơ mới.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi muốn nghiên cứu nhằm tìm hiểu rõ tính truyềnthống và hiện đại được thế hiện như thế nào trong thơ Nguyễn Bính về cả phươngdiện nội dung lẫn nghệ thuật

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, chúng tôi đi tiến hành nghiên cứunhững nhiệm vụ, nội dung sau:

- Những đặc điểm mang tính truyền thống của thơ Nguyễn Bính trước Cáchmạng về phương diện nội dung và nghệ thuật

- Những đặc điểm mang tính hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

về phương diện nội dung và nghệ thuật

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tương nghiên cứu

Tính truyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài của chúng tôi không đi sâu nghiên cứu khái quát các đặc điểm thơNguyễn Bính trong toàn bộ sự nghiệp thơ ca của ông mà chỉ tập trung vào tínhtruyền thống và hiện đại của thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và nghiên cứu trên 7 tập thơ chính được sáng

tác trước Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Bính gồm: Lỡ bước sang ngang (1940), Tâm hồn tôi (1940), Hương cố nhân (1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Mười hai bến nước (1942), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mây Tần (1942).

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp lịch sử - xã hội

Mục đích của phương pháp lịch sử - xã hội chính là đặt hiện tượng văn họcvào bối cảnh của xã hội để nghiên cứu Chúng tôi đặt thơ Nguyễn Bính trong hệquy chiếu là phong trào Thơ mới với hoàn cảnh lịch sử, những đặc điểm của thơ cagiai đoạn này

Theo chiều ngang, chúng tôi so sánh thơ ông với một số nhà thơ khác trongphong trào Thơ Mới để thấy sự giống và khác biệt giữa tác giả và các nhà thơ

4.3 Phương pháp phân tích- tổng hợp

Trong đề tài này, chúng tôi vận dụng các lý thuyết liên quan tới lý luận vănhọc, thể loại văn học, tác phẩm văn học nhằm phân tích các đặc điểm trong thơ caNguyễn Bính

Trên cơ sở phân tích các đặc điểm đó, chúng tôi đi khái quát, tổng hợp đểcho thấy tính truyền thống và hiện đại trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

5 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình tìm đọc tài liệu, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều tác giả cócác bài viết nghiên cứu, phê bình về thơ Nguyễn Bính với các nội dung khác nhauqua hai giai đoạn:

- Trước năm 1945:

Trang 4

Hoài Thanh là người đầu tiên nhận ra vẻ đẹp kín đáo đậm đà của hồn thơNguyễn Bính đồng thời đã cắt nghĩa về sự quan tâm chưa thích đáng của giới

nghiên cứu đối với thơ ông Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh khẳng định:

“Cái đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc khó lọt vào con mắt của các nhà thông thái thời nay Tình cờ đọc thơ Nguyễn Bính họ sẽ bảo “Thơ như thế này có gì?” Họ có ngờ đâu đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu bằng một lý trí, một điều đáng quý vô ngần

“hồn xưa đất nước” Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng chúng ta” [12,368].

Cùng thời với Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại cũng chỉ ra thứ tình quê xác thực được toát lên từ những câu thơ mang dáng vẻ “thực thà”, “hai lần hai là bốn” của Nguyễn Bính, Vũ Ngọc Phan đã đánh

giá cao thơ Nguyễn Bính, đặc biệt là mảng thơ viết về làng quê

- Sau năm 1945:

Giai đoạn này, việc nghiên cứu thơ Nguyễn Bính được chú ý hơn ở miền

Nam Thơ Nguyễn Bính được tái bản trong giáo trình Thế hệ 1932 của Đại học Văn

khoa Sài Gòn, được đánh giá, thẩm định trong một số chuyên luận về thơ tiền

chiến Trong Việt Nam thi nhân tiền chiến (1968), hai tác giả Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng viết : “Đối với thi nhân, thơ và cuộc đời chỉ là một Không ca ngợi những vẻ đẹp xa vời, những bóng dáng mĩ lệ, Nguyễn Bính đã đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời ngang trái, dở dang, phân cách, bẽ bàng Có thể nói với ngòi bút của thi nhân, Nguyễn Bính đã tả chân thực được một nỗi u buồn trầm lặng, giải tỏa được tiếng kêu bi thương của những tâm hồn mộc mạc” Trong Việt Nam văn học sử - giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ nhấn mạnh : “Nhưng thơ lục bát, ai cũng biết, phải là cái sở trường của Nguyễn Bính” Đặc biệt, trong tập san Văn học số 60 có nhiều bài viết về Nguyễn Bính và thơ ông: Nguyễn Bính – một thi sĩ suốt đời mắc bệnh tương tư (Vũ Bằng), Nguyễn Bính - nhà thơ kháng

Trang 5

chiến tại miền Nam (Thái Bạch), Nguyễn Bính một ngôi sao sáng trên thi đàn dân tộc (Nguyễn Phan) Tuy số lượng bài viết trong thời gian này khá nhiều song thành

tựu chưa đáng kể

Nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính chỉ thực sự “hồi sinh” sau năm 1975, khingười ta đã có một cái nhìn thận trọng và đúng đắn, sáng suốt hơn đối với văn họcquá khứ, trong đó có Thơ Mới Thực ra đã từ rất lâu ở quê hương nhà thơ, nhữngngười yêu mến thơ Nguyễn Bính, trong đó tích cực nhất là các nhà nghiên cứu vănhọc Đỗ Đình Thọ, Đỗ Huy Vinh, và nhà văn Kim Ngọc Diệu, đã dày công sưu tầm,tuyển chọn, khảo cứu di sản văn chương đồ sộ của ông

Năm 1976, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh xuất bản tập thơ Bức thư nhà Năm 1985, Viện Văn học và Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh kết hợp ra

bộ sách Nhà văn Hà Nam Ninh, trong đó những trang về thân thế và sự nghiệp văn

chương của Nguyễn Bính được viết với nhiều công phu và tâm huyết Hàng loạt

tuyển thơ Nguyễn Bính ra đời, trước hết phải kể đến tập Đêm sao sáng (NXB Văn

học, 1980), tiếp đó là sự kiện Nhà xuất bản Văn học và Hội Văn học nghệ thuật Hà

Nam Ninh hợp tác ấn hành Tuyển tập Nguyễn Bính với lời giới thiệu: “Trong hơn

ba mươi năm làm thơ, viết kịch, viết truyện, với âm điệu giàu chất trữ tình dân gian, Nguyễn Bính đã tạo được một gương mặt riêng trong văn học hiện đại Việt Nam” và thật đáng chú ý là số lượng phát hành 40.500 cuốn được bán hết ngay

trong thời gian rất ngắn, chứng tỏ sức ảnh hưởng của thơ Nguyễn Bính trong lòng

bạn đọc Còn có thể kể đến nhiều tuyển thơ khác như : Thơ Nguyễn Bính (NXB Văn học, 1986), Thơ tình Nguyễn Bính (Sở Văn hóa – Thông tin Hà Nam Ninh, 1987), Chân quê (NXB Đại học và GDCN, 1991), Thơ Nguyễn Bính chọn lọc

(NXB Văn hóa, 1992)… Chân dung Nguyễn Bính được dành một vị trí xứng đáng

trong Từ điển văn học (NXB Khoa học xã hội, 1984) : “Trong khi phần lớn các thi

sĩ thơ mới chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây thì Nguyễn Bính vẫn tha thiết với điệu thơ dân tộc, với lối ví von duyên dáng, ý nhị mà mộc mạc của ca dao, nên

Trang 6

thơ ông được nhiều người yêu thích” Thơ Nguyễn Bính cũng được nhắc đến trong

nhiều chuyên luận về văn chương và đặc biệt được phân tích, bình luận khá nhiều

trong những chuyên luận về thơ ca : Phong trào Thơ mới của Phan Cự Đệ (NXB Khoa học xã hội, 1966), Bốn mươi năm văn học (NXB Tác phẩm mới, 1986), Giáo trình văn học Việt Nam 1930 - 1945 của Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Hà Minh Đức (NXB Đại học và GDCN, 1988), Bình thơ và cách bình thơ của Lê Trí Viễn (Sở giáo dục Nghĩa Bình xuất bản, 1988), Thơ mới – những bước thăng trầm của Lê Đình Kỵ (NXB Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1993), Bàn về thơ của Hoàng Minh Châu (NXB Giáo dục, 1990), Thơ lãng mạn Việt Nam – các tác giả tiêu biểu của Lê Bảo (NXB Hội Nhà văn, 1992), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca do Hà Minh Đức chủ biên (NXB Giáo dục, 1993), Thơ mới – bình minh thơ Việt Nam hiện đại của Nguyễn Quốc Túy (NXB Văn học, 1995), Tư duy

và tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành (NXB Văn học, 1995)… Năm 1992, NXB Hội Nhà văn cho ra mắt cuốn Nguyễn Bính – thi sĩ của yêu thương do Hoài Việt sưu tầm và biên soạn; năm 1984, NXB Văn học ấn hành cuốn Nguyễn Bính – thơ và đời do Hoàng Xuân tuyển chọn – có thể xem đó là những

cuốn sách giới thiệu về Nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính khá đầy đủ qua nhữngbài thơ được chọn lọc kĩ lưỡng, qua những bài viết công phu của nhiều tác giả khácnhau Năm 1996, kỉ niệm 30 năm ngày mất của Nguyễn Bính, giáo sư Hà Minh

Đức viết cuốn Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê (NXB Giáo dục, 1995) Gần đây nhất là cuốn Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử của tác giả Chu Văn Sơn, Nguyễn Bính hành trình sáng tạo thi ca của Đoàn Đức

Phương (2006) Ngoài các sách, báo, chúng tôi còn thấy các đề tài nghiên cứu khoa

học, luận văn đã công bố: Thơ lục bát Nguyễn Bính trong phong trào thơ mới lãng mạn 1932- 1945 (Vũ Thị Hằng), luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXHNV, Lý tưởng

và hiên thực trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng (Phạm Đức Cường, 2010),

Trang 7

luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXHNV…cùng nhiều công trình nghiên cứu khoahọc, khóa luận, luận văn khác nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính.

Về vấn đề tính truyền thống và hiện đại trong thơ Nguyễn Bính nói riêngcũng đã làm tốn không ít giấy mực của các nhà phê bình, nghiên cứu

Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam bằng sự nhạy cảm, tinh tế đã phát hiện

ra vẻ đẹp kín đáo của những vần thơ Nguyễn Bính Ông đã đánh giá rất cao tínhtruyền thống, tính dân tộc trong thơ Nguyễn Bính Ông khẳng định cái đẹp trong

thơ Nguyễn Bính là chất “chân quê” là “hồn xưa đất nước”, một phẩm chất “quý giá vô ngần” mà chúng ta không hiểu được bằng lý trí

Trong lời giới thiệu tập Chân quê Mã Giang Lân cũng có băn khoăn giữa tính chất “chân quê” với Thơ Mới trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính: “Trong thơ Nguyễn Bính bên cạnh những câu thơ duyên dáng thuần thục như ca dao ta thấy xen vào những câu thơ quá mới nên thơ ông giống ca dao mà cũng khác ca dao”.

Như vậy, tác giả đã nói lên được tính truyền thống trong thơ Nguyễn Bính trênphương diện: trở về với ca dao truyền thống quen thuộc, cổ xưa của dân tộc

Hoài Việt (trong Nguyễn Bính thi sĩ của thương yêu) đã có nhận xét công bằng hơn “Có người trách anh từ khi “đi tỉnh về” thì để cho “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” chúng tôi không nghĩ thế có “đi tỉnh” trong thơ anh mới có được cách ngắt nhịp, đặt câu kể cả việc cấu tứ, lập ý góp cho thơ anh vừa dân tộc vừa hiện đại, toàn bộ thơ anh hợp thành một “tổ khúc đồng nội” không lẫn với ai, không lẫn vào đâu được”.[16].

Hữu Thỉnh cho rằng Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ của truyền

thống, dân tộc với nhận xét: “Trong lúc cá nhà thơ khác vừa khai thác truyền thống thơ dân tộc vừa xoay lăng kinh về phía hào quang của hơ Pháp thì Nguyễn Bính và Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ gần như chuyên về dân tộc.” [3].

Đoàn Thị Đặng Hương trong bài Nguyễn Bính nhà thơ “chân quê” lại nhận

định thơ Nguyễn Bính đã có sự đổi mới về mặt thi pháp, khiến cho thơ ông mang

Trang 8

hơi hướng hiện đại: “Thơ Nguyễn Bính đã tách khỏi dòng thơ ca dân gian, mở rộng thi pháp của nó để biểu hiện những vấn đề của một nhà thơ Thơ mới, và bản thân nhà thơ đã tiếp nhận và phát triển thi pháp và tư duy thơ của các nhà thơ trên thi đàn mới” [10].

Như vậy, các đề tài nghiên cứu, các bài viết chúng tôi đã đề cập trên đâycũng đã đề cập đến tính hiện đại và truyền thống trong thơ ông trên một vài phươngdiện cụ thể Song, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung một cách

hệ thống vào vấn đề tính truyền thống và hiện đại trong thơ Nguyễn Bính trướcCách mạng Đó là điểm trống để chúng tôi tiến hành đề tài này

6 Cấu trúc đề tài:

Ngoài chương Mở đầu và Kết luận, đề tài của chúng tôi gồm có các chươngsau:

Chương I: Thơ Nguyễn Bính trong phong trào thơ Mới

Chương II: Phong cách thơ đậm chất truyền thống

Chương III: Âm hưởng hiện đại trong thơ Nguyễn Bính

.

Trang 9

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: THƠ NGUYỄN BÍNH TRONG PHONG TRÀO THƠ MỚI

1.1 Phong trào thơ Mới

1.1.1 Sự ra đời của phong trào thơ Mới

Thơ mới là tiếng nói của giai cấp tư sản và tiểu tư sản Sự xuất hiện của haigiai cấp này với những tư tưởng tình cảm mới, những thị hiếu thẩm mỹ mới cùngvới sự giao lưu văn học Đông Tây là nguyên nhân chính dẫn đến sự ra đời củaPhong trào thơ mới 1932-1945 Giai cấp tư sản đã tỏ ra hèn yếu ngay từ khi ra đời.Vừa mới hình thành, các nhà tư sản dân tộc bị bọn đế quốc chèn ép nên sớm bị phásản và phân hóa, một bộ phận đi theo chủ nghĩa cải lương So với giai cấp tư sản,giai cấp tiểu tư sản giàu tinh thần dân tộc và yêu nước hơn Tuy không tham giachống Pháp và không đi theo con đường cách mạng nhưng họ sáng tác văn chươngcũng là cách để giữ vững nhân cách của mình

Cùng với sự ra đời của hai giai cấp trên là sự xuất hiện tầng lớp trí thức Tâyhọc Đây là nhân vật trung tâm trong đời sống văn học lúc bấy giờ Thông qua tầnglớp này mà sự ảnh hưởng của các luồng tư tưởng văn hoá, văn học phương Tâycàng thấm sâu vào ý thức của người sáng tác Như vậy là không chỉ về mặt chínhtrị - xã hội mà về mặt văn hóa, ý thức của con người đã đổi khác, đặc biệt là quanniệm của con người về cái tôi riêng và cái ta chung Đó là những tiền đề quan trọngdẫn tới sự ra đời tất yếu của Thơ mới

Tiếng vang đầu tiên tạo một “phát súng” khởi đầu cho sự ra đời của Thơ mới

là vào ngày 10/3/1932, Phan Khôi đăng bài thơ Tình già trên Phụ nữ tân văn Với

cách tân về hình thức, ngay từ khi ra đời, bài thơ đã gây nên một cơn bão trong dưluận Tiếng nói kêu gọi đổi mới của Phan Khôi được sự hưởng ứng rất mạnh mẽcủa thanh niên trí thức đương thời, và liên tiếp nhận được những ủng hộ nhiệt tình

khác Báo Phụ nữ tân văn tiếp theo Tình già đăng thơ mới của Nguyễn Thị Manh

Manh (Nguyễn Thị Kiêm) và Hồ Văn Hảo Ở ngoài Bắc, báo Phong hóa mới được

Trang 10

lập cũng hưởng ứng Thơ mới bằng cách công kích các đại diện của Thơ cũ mà điểnhình là Tản Đà Số Tết năm 1933, Phong hóa đăng một loạt sáng tác của các câybút trẻ (Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Nhất Linh, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, HuyThông) Tiếp theo Phong hóa, nhiều báo, nhà xuất bản khắp trong Nam ngoài Bắcđều đua nhau đăng thơ mới Cùng với hoạt động sáng tác và xuất bản là các cuộcdiễn thuyết của những người ủng hộ thơ mới như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiêmtranh luận với Nguyễn Văn Hanh, Vũ Đình Liên, Trương Tửu…

Bên cạnh những người ủng hộ Thơ mới, cũng có những tiếng nói ủng hộ Thơ

cũ như Thái Phỉ, Huỳnh Thúc Kháng và đặc biệt là Tản Đà Tuy nhiên, một thế hệcác nhà thơ mới tài năng xuất hiện ngay vài năm sau đó như Thế Lữ, Lưu Trọng

Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp … đã khiến cho thơ cũ cũng phải dần mờnhạt Hơn nữa, sự phát triển mạnh mẽ của cái mới về cả mọi mặt đã khiến cho cái

cũ không còn đủ sức chống cự nữa Trong bài Một cuộc cải cách về thơ ca Lưu Trọng Lư kêu gọi các nhà thơ mau chóng “đem những ý tưởng mới, những tình cảm mới thay vào những ý tưởng cũ, những tình cảm cũ” Cuối cùng, năm 1935,

Thơ mới đã có được một vị trí xứng đáng trên thi đàn dân tộc

Phong trào Thơ mới phát triển qua hai thời kỳ trước và sau năm 1939 Thời

kỳ thứ nhất bao gồm các tác giả tiền phong của thơ mới : Thế Lữ, Lưu Trọng Lư,Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, Thái Can và các tác giả xuấthiện sau năm 1935 như Xuân Diệu, Huy Cận, Thanh Tịnh, Hàn Mặc Tử, Chế LanViên, Bích Khê, Nguyễn Bính, Anh Thơ Có thể chia thời kỳ này thành hai giaiđoạn 1930 – 1935 và 1936 – 1939 Thời kỳ thứ hai là giai đoạn Thơ mới đi vàonhững tìm tòi hình thức hoặc đi sâu vào khuynh hướng triết luận, bắt đầu biểu hiệnnhững bế tắc, thậm chí một số tác giả, tác phẩm bộc lộ khuynh hướng sa đọa Đại

diện của thời kỳ này là Vũ Hoàng Chương (Thơ say, Mây), Hàn Mặc Tử (Thượng thanh khí), Chế Lan Viên (Vàng sao), Huy Cận (Kinh cầu tự, Vũ trụ ca), nhóm

Xuân Thu nhã tập, nhóm Dạ đài

Trang 11

1.1.2 Thơ Mới – tinh thần truyền thống và hiện đại

Sau khi ra đời, phong trào Thơ mới thực sự đã làm chấn động cả một nền vănhọc nước nhà Thơ mới đã thực sự có những đóng góp tích cực về nhiều phươngdiện cho diện mạo của thi ca về cả nội dung và nghệ thuật Một cách khái quát

nhất, về mặt nội dung, Phạm Xuân Thạch cho rằng “Thơ mới là bản ghi chân thực hiện thực tinh thần của con người cá nhân trước cách mạng” Thơ mới là tiếng nói

của con người với nỗi buồn thời đại, con người với sự cô độc và với khát vọngthoát ly thế giới hiện thực, thêm vào đó là tình yêu thầm kín với quê hương, đấtnước và với tiếng Việt truyền thống một cách sâu sắc Về mặt hình thức, Thơ mới

là một cuộc cách mạng về hình thức nghệ thuật, giải phóng thơ ca khỏi những ràngbuộc nghiêm ngặt đã trở thành lỗi thời của thơ ca trung đại

Phong trào Thơ mới còn hình thành nên nhiều khuynh hướng thi ca khácnhau Trước hết là các nhà thơ chịu ảnh hưởng của thi ca Pháp, nghệ thuật lãngmạn của Baudelaire như Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn MặcTử… Thứ hai là những người chịu ảnh hưởng của thơ ca Đường: Thái Can, MộngTuyết, Quách Tấn… Dòng thứ ba là những nhà thơ có tính cách Việt Nam rõ rệt,tuy có chịu ảnh hưởng phương Tây nhưng rất ít và cũng không chịu ảnh hưởng củathơ Đường Đó là Lưu Trọng Lư, là Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Vũ HoàngChương, Nguyễn Nhược Pháp… Sự phong phú về các khuynh hướng thơ đã làmnên sự phong phú, đa dạng và phát triển cho Thơ mới

Nói về những đóng góp của phong trào Thơ mới, Phan Cự Đệ đã cho rằng:

Thơ mới là “một bước tổng hợp mới những giá trị văn hóa Đông Tây, truyền thống

và hiện đại” Bước tổng hợp đó diễn ra trên tất cả các cấp độ : ngôn ngữ, thi liệu, thể loại, tư duy sáng tạo hoàn toàn cái cũ mà có chọn lọc, giữ lại và cải tạo những mặt còn thích hợp, những mặt tích cực, nó chỉ gạt bỏ ở cái cũ những mặt tiêu cực, lỗi thời, lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển”

Trang 12

Theo Từ điển Tiếng Việt, “truyền thống là thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác”[11,1350] Hiện đại nghĩa là “thuộc về thời đại ngày nay, có áp dụng những phát minh, những thành tựu mới nhất của khoa học, kĩ thuật”[11,565]

Trong phong trào Thơ mới, Nguyễn Bính chính là một minh chứng sinh độngcho sự tổng hợp giữa tinh thần truyền thống và hiện đại

1.2 Thơ Nguyễn Bính trong phong trào thơ Mới

1.2.1 Thân thế và sự nghiệp thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính Nhà thơ sinh năm MậuNgọ (1918) trong một gia đình nhà nho nghèo tại xóm Trạm, thôn Thiện Vinh, xãĐồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Thuở bé Nguyễn Bính không được đihọc ở trường mà chỉ học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình, sau được cậuruột là ông Bùi Trình Khiêm nuôi dạy Nguyễn Bính là người có năng khiếu Ôngbắt đầu làm thơ từ lúc 13 tuổi, năm 1932 Nguyễn Bính rời quê ra Hà Nội và từ đâybắt đầu nổi tiếng trong sự nghiệp sáng tác văn học Ông được giải khuyến khích

của Tự lực văn đoàn với tập thơ Tâm hồn tôi (1940) Năm 1943 Nguyễn Bính được giải nhất văn học Nam Xuyên ở Sài Gòn với truyện thơ Cây đàn tì bà.

Nguyễn Bính sinh ra nơi làng quê nhưng đường đời của ông lại có một lối rẽvào thị thành hiện đại Nguyễn Bính ra Bắc vào Nam, đi khắp nơi để thỏa chí phiêubồng của tuổi trẻ Mùa xuân năm Quý Dậu (1933), ông rời quê ngoại thôn Vân, nơi

đã trải qua quãng đời thơ ấu của mình để bắt đầu dấn thân vào cuộc đời phiêu bạt.Lúc này, Nguyễn Bính mới chỉ 15 tuổi Ông đến Hà Nội, tới phố Hàng Bồ, gianhập vào đội quân bán báo lẻ Song con người nhà quê của Nguyễn Bính khó lòngtồn tại được với cuộc sống hè phố, vì vậy ông bỏ Hà Nội tìm đến Hà Đông - nơingười anh ruột Nguyễn Mạnh Phác (tức nhà biên kịch Trúc Đường sau này) đangdạy học - tá túc Một thời gian sau, Nguyễn Bính cùng với anh trở về Hà Nội Rồiông lên Phú Thọ, Thái Nguyên, đến tận vùng Lạng Sơn biên ải xa xôi Lấy Hà Nội

Trang 13

làm tâm điểm, ông liên tục thực hiện những chuyến đi như thế Một phần là kiếm

kế sinh nhai nhưng phần khác cũng là để thỏa mãn ham muốn “xê dịch” (như nhàvăn Nguyễn Tuân) Trong suốt những chuyến hành trình đó, Nguyễn Bính khôngthỏa được những khát khao tự do của mình Ông nhiều khi rơi vào tâm trạng côđơn, lạc lõng, trở thành một cái tôi lỡ dở như kiếp con chim lìa đàn

Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ Thờigian này Nguyễn Bính sáng tác khá kịp thời và đều đặn, cổ động tinh thần yêunước quyết chiến quyết thắng giết giặc lập công Tháng 11 - 1954 Nguyễn Bính tậpkết ra Bắc, ông công tác ở hội nhà văn Việt Nam Năm 1956 ông làm chủ bút tuầnbáo “ Trăm hoa” và đã cho đăng báo một số bài viết

Năm 1958, Nguyễn Bính về cư trú tại Nam Định, ông công tác tại ty vănhoá thông tin Nam Định Ông đã góp phần vào sự trưởng thành của phong tràosáng tác văn nghệ của quê hương và thơ ông vẫn bám sát yêu cầu nhiệm vụ chínhtrị của địa phương cũng như của cả nước Mùa thu năm 1965, ông theo cơ quan vănhoá Nam Định sơ tán vào huyện Lý Nhân Nguyễn Bính mất đột ngột vào sáng 30Tết năm Ất Tỵ (20 - 01 - 1966 ) lúc đến thăm mộtt người bạn ở xã Hoà Lý, huyện

Lý Nhân, tỉnh Nam Định, khi ông chưa kịp sang tuổi 49 Ông vừa hoàn thành và

cho in bài thơ Quê hương, một bài thơ có những nét báo hiệu của một giai đoạn

mới trong đời thơ ông

Trong hơn 30 năm sáng tác với nhiều thể loại khác nhau (thơ, truyện thơ,kịch thơ, kịch bản chèo, lý luận sáng tác) Hoạt động văn nghệ của ông phong phú

đa dạng song thành tựu xuất sắc độc giả ưa chuộng là thơ bởi thơ là mảng sáng táckết tụ tài năng và tâm huyết của đời ông, đặc biệt là giai đoạn trước Cách mạng.Riêng về thơ, có thể nói rằng ông là cây bút sung sức nhất của phong trào ThơMới Chỉ trong một thời gian ngắn (1940-1945) Nguyễn Bính đã cho ra đời những

tập thơ có giá trị: Tâm hồn tôi (1940), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân

Trang 14

(1941), Một nghìn cửa sổ (1941), Người con gái ở lầu hoa (1942), Mười hai bến nước (1942), Mây tần (1942).

Với những đóng góp riêng của mình, Nguyễn Bính đã tạo được một gươngmặt riêng trong nền văn học hiện đại Việt Nam Năm 2000 Nguyễn Bính đã đượctruy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

1.2.2 Nguyễn Bính- nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới

Trong rất nhiều dòng thơ, khuynh hướng thơ khác nhau của phong trào thơMới, Nguyễn Bính đã in dấu chân mình bằng một phong cách riêng, khác biệt Đó

là một cái tôi không bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thơ ca lãng mạn Pháp như XuânDiệu, Chế Lan Viên,…; không chịu ảnh hưởng mạnh bởi Đường thi như Thái Can,Mộng Tuyết, Quách Tấn… Nguyễn Bính trước hết là một nhà thơ của thôn quê,

làng quê Việt Chu Văn Sơn có lời bình rất hay, cho rằng “Nguyễn Bính là tiếng vọng cội nguồn trong lòng kẻ lưu lạc Nguyễn Bính là tiếng trở mình của rặng tre trong lòng kẻ tha hương Nguyễn Bính còn là tiếng Việt trong lòng đứa con xa đất mẹ Sức đeo bám của Nguyễn Bính trong hồn mỗi người Việt lớn hơn mỗi chúng

ta tưởng rất nhiều” [14,127].

Căn cứ theo những số liệu về ngày tháng ghi dưới các bài thơ thì những bàithơ sớm nhất của Nguyễn Bính được sáng tác vào năm 1936, lúc Nguyễn Bính mới

18 tuổi Trong hai tập thơ đã nói trên, có rất nhiều bài thơ cùng đề năm sáng tác là

1936 Đó là các bài Mưa xuân, Lòng mẹ, Đêm cuối cùng, Nhớ, Qua nhà… Điều

đặc biệt đáng quan tâm là tất cả những bài thơ sáng tác vào năm đầu tiên này đều lànhững bài thơ hay Về sau có thể có những bài thơ không xứng tầm với NguyễnBính nhưng thời gian này thì không xảy ra tình trạng đó Và trong số những bài thơ

sớm nhất đó, bài Mưa xuân nằm trong tập Lỡ bước sang ngang được nhiều người

xác nhận là bài thơ đầu tiên, tức tác phẩm đầu tay chính thức của Nguyễn Bính

Trang 15

Năm 1937 Nguyễn Bính gửi tập thơ Tâm hồn tôi tới dự thi và đã được giải

khuyến khích của nhóm Tự lực văn đoàn Với những tác phẩm ra đời liên tiếp sau

đó như Lỡ bước sang ngang, Xuân về….thơ ông đã chiếm được lòng yêu mến của

nhiều độc giả đương thời và cả các thế hệ sau này Từ 1936 đến 1940 là thời kỳsáng tác sung mãn nhất của Nguyễn Bính Phần lớn những bài thơ làng quê có giátrị đều được ông sáng tác trong thời kỳ này Có hàng trăm bài thơ của ông được

đăng báo Năm 1940, Nguyễn Bính cho in thành sách hai tập thơ Lỡ bước sang ngang và Tâm hồn tôi Đây là hai tập đầu tiên, có giá trị nghệ thuật cao trong bảy

tập thơ sáng tác trước năm 1945 của Nguyễn Bính

Có lẽ sự kiện đặc biệt nhất trong đời thơ Nguyễn Bính là việc Tuần báo Tiểu thuyết thứ năm đăng tải bài thơ Lỡ bước sang ngang của ông vào năm 1939 Sau

khi được đăng tải, bài thơ đã tạo ra một sự say mê cuồng nhiệt trong lòng độc giả,nhất là những độc giả nữ Người ta chuyền tay nhau để đọc, để chép bài thơ Nhiều

người không biết chữ nhưng vẫn thuộc lòng Lỡ bước sang ngang Các bà các chị

dùng nó để ngâm vịnh cho nhau nghe, để hò ru con ngủ Bài thơ đã tạo nên mộthiện tượng văn học kỳ lạ chưa từng có Nó được phổ cập từ Bắc chí Nam Đâu đâu

người ta cũng đọc Lỡ bước sang ngang, cũng nói chuyện về Lỡ bước sang ngang.

Có người kể, trong những ngày đi kháng chiến, thỉnh thoảng trên bước đường hành

quân lại nghe văng vẳng giọng những người mẹ trẻ cất lên lời ru Lỡ bước sang ngang trong những xóm làng hiu quạnh Lỡ bước sang ngang là tên của một bài thơ nhưng đồng thời cũng là tên của cả tập thơ, bao gồm những bài như Mưa xuân, Thời trước, Lòng mẹ, Cô lái đò, Cô hái mơ, Lá thư về Bắc, Tương tư… Tập thơ này cùng với tập Tâm hồn tôi đã đưa tên tuổi của thi sĩ vượt lên trên nhiều tác giả

đương thời khác

Từ năm 1940, Nguyễn Bính bắt đầu nổi tiếng với số lượng thơ khá dày, đềtài phong phú, trong đó chủ yếu là thơ tình Cũng trong năm này Trúc Đường

Trang 16

chuyển ra Hà Nội ở và đang viết truyện dài Nhan sắc, Nguyễn Bính tỏ ý muốn đi

Huế tìm đề tài sáng tác Trúc Đường tán thành nhưng không có tiền, ông đã choNguyễn Bính chiếc máy ảnh và về quê bán dãy thềm đá xanh (vật báu duy nhất củagia đình) đưa tất cả số tiền cho Nguyễn Bính Vào Huế Nguyễn Bính Gửi thơ racho Trúc Đường đọc trước, rồi đăng báo sau Cuối năm 1941, đầu năm 1942, Trúc

Đường nhận được nhiều bài thơ của Nguyễn Bính trong đó có: Xuân tha hương và Oan nghiệt Sau đó Nguyễn Bính lại trở về Hà Nội, rồi lại đi vào Sài Gòn.

Lần chia tay cuối cùng với Trúc Đường là vào năm 1943, đến năm 1945 tintức thưa dần Năm 1946 thì mất liên lạc hẳn Trong thời gian này Nguyễn Bính đãgặp nhà thơ Đông Hồ, Kiên Giang Có lúc ông cư ngụ trong nhà Kiên Giang Đó là

thời ông viết những bài Hành Phương Nam, Tặng Kiên Giang, Từ Độ Về Đây,

Nhìn vào hành trình thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng, có thể đánh giá ông

là một trong số những cây bút chủ lực nhất trong phong trào thơ Mới Những tácphẩm của ông đã chứng tỏ sức sáng tạo mạnh mẽ, niềm đam mê thơ ca của một tâmhồn nghệ sĩ tràn ngập tình yêu thương, đa cảm với cuộc sống Đó là lý do khiến thơNguyễn Bính có được vị thế và chiếm được cảm tình của nhiều thế hệ bạn đọc thơ

Tiểu kết: Thơ Mới là một cuộc cách mạng, đã làm thay đổi diện mạo của thơ

ca về cả nội dung và hình thức, với một số lượng lớn các nhà thơ tài năng NguyễnBính là một trong số những tài năng ấy Ông đã khẳng định vị trí của mình bằngmột sự nghiệp sáng tác phong phú, một phong cách nghệ thuật riêng biệt, một hồnthơ kết hợp giữa yếu tố truyền thống và hiện đại

Trang 17

CHƯƠNG II: PHONG CÁCH THƠ ĐẬM CHẤT TRUYỀN THỐNG

2.1 Nguyễn Bính – thi sĩ của “chân quê”

2.1.1 Bức tranh làng quê trong thơ Nguyễn Bính

Sinh ra và lớn lên ở vùng Châu thổ sông Hồng – cái nôi của nền văn minhnông nghiệp lúa nước, Nguyễn Bính đã được đắm mình trong không gian thôn dãvới những cảnh vật, những đặc trưng mang đậm chất thôn quê Những đặc trưng ấy

đã nuôi dưỡng một tâm hồn thơ chân quê, mộc mạc và bình dị trong con người nhà

thơ Trong một kỉ niệm riêng viết về Nguyễn Bính, nhà văn Tô Hoài đã viết: “Khi nào anh cũng là người của các xứ đồng, của cánh diều bay, của dây hoa lý, của mưa thưa, mưa bụi giữa mọi công ăn việc làm vất vả sương nắng Bởi đấy là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính Quê hương là tất cả và cũng là nơi in đậm dấu vết đời mình” [17] Quê hương đã đi vào thơ Nguyễn Bính thật tự nhiên

tao: Ao cạn vớt bèo cấy muống/ Đìa thanh phát cỏ ương sen (Thuật hứng – Nguyễn Trãi).

Thơ tả cảnh của các nhà thơ xưa nay, có lẽ không thể nhắc tới việc miêu tảnhững bức tranh tứ bình của thiên nhiên Chúng ta hẳn vẫn còn nhớ những bài thơ

tả cảnh của Nguyễn Trãi, cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến hay vị thầy

Tuyết Giang phu tử Nguyễn Bỉnh Khiêm: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao (Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm) Là một nghệ sĩ dân quê, thơ

Trang 18

Nguyễn Bính cũng bị ảnh hưởng phần nào cái dư vị của các nhà thơ xưa: yêu thiênnhiên, hòa mình với thiên nhiên Nhưng thơ Nguyễn Bính không miêu tả cái thúchơi thanh tao, nhàn dật của như những vị nho gia Ông miêu tả bức tranh quê dướicảm nhận của một người con quê mùa thuần hậu, chất phác, gắn với những kỉ niệmcủa nơi chôn rau cắt rốn.

Cái đẹp trong bốn mùa trước hết phải nói đến mùa xuân Có không ít các nhàthơ mới viết rất hay về mùa xuân – Xuân Diệu là một điển hình Nhưng mùa xuâncủa Xuân Diệu gắn với khát khao về tình yêu, về tuổi trẻ, còn mùa xuân củaNguyễn Bính lại lấy cảm hứng dạt dào từ cảm xúc của làng quê Người ta gọiNguyễn Bính là “thi sĩ của mùa xuân” – chính là mùa xuân của làng quê ấy Mùa

xuân đặc biệt tạo cảm xúc cho Nguyễn Bính trong những bài thơ: Mưa xuân, Xuân

về, Thơ xuân, Rượu xuân… Trong thế giới màu sắc rộn ràng của thơ xuân Nguyễn

Bính (bướm trắng, bướm vàng vẽ vòng trên vồng hoa cải vàng tháng chạp; trongvườn, hoa cam, hoa chanh rụng trắng đất; hoa xoan tím trong màn mưa bạc; lá nõn

trên nhành non…), ta không khỏi giật mình trước một “Mùa xuân xanh”:

Mùa Xuân là cả một mùa xanh Giời ở trên cao, lá ở cành Lúa ở đồng trên và lúa ở Đồng nàng và lúa ở đồng quanh

Mùa xuân xanh

Bài thơ phác thảo, phác hoạ những màu xanh kỳ diệu của tạo hoá, tạo nênmột ấn tượng tươi tắn, trong trẻo đến tinh khôi Một không gian ngập tràn màuxanh, những điệu xanh liên hoàn nhưng không trùng lắp Trước hết là trên cao(giời), xuống thấp hơn (lá), rồi thấp nữa và mở ra theo chiều rộng, theo cái mênhmang của đồng lúa rập rờn Mùa xuân còn tưng bừng trong không khí của ngày tết

cổ truyền của dân tộc, gắn với những niềm vui của bao nụ cười thơ trẻ:

Đây cả mùa xuân đã đến rồi

Trang 19

Từng nhà mở cửa đón vui tươi Từng cô em bé so màu áo, Đôi má hồng lên nhí nhảnh cười.

Thơ xuân

Và không chỉ mùa xuân, mà mùa thu mang đặc trưng của miền quê Bắc Bộcũng được nhà thơ cảm xúc ghi lại trong những vần thơ đầy hình ảnh của mình, vớihội làng giữa ánh trăng sáng:

Hội làng mở giữa mùa thu Giời cao gió cả giăng như ban ngày

Trời trở gió

Mùa hè ở miền đồng bằng Bắc Bộ thì luôn gay gắt với cái nắng chói chang.Thơ Nguyễn Bính cũng miêu tả mùa hè đúng với đặc trưng ấy:

Trưa hè một buổi nắng to Gió tây nổi, cánh đồng ngô rào rào

Trưa hè

Thơ Nguyễn Bính làm sống lại trong ta không khí của làng quê với bức tranh

tứ bình: xuân, hạ , thu, đông Mỗi bức tranh là một gam màu, được tạo nên bởinhững nét vẽ mang thần thái riêng, sắc thái riêng

Trang 20

Cảnh sắc làng quê trong thơ Nguyễn Bính còn được gợi lên qua không giancủa những cảnh vật thôn quê Trước hết là không gian của những mảnh vườn.Mảnh vườn là thứ vô cùng thân thuộc không chỉ với người lao động mà còn cả vớidân tộc Việt Nam, trở thành một trong những biểu tượng cổ xưa, thiêng liêng nhất,gắn bó với con người Việt Vì vậy, cái chân quê với Nguyễn Bính không thể thiếukhông gian của những vườn tược:

Anh trồng cả thảy hai vườn cải Tháng chạp hoa non nở cánh vàng

Hết bướm vàng Hình ảnh “vườn” trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Bính với vườn nhà, vườn ai, vườn cũ, vườn cam, vườn dâu, vườn trầu, vườn tiên giới…Vườn đồng nghĩa với

nhà- gắn với tâm trạng của một người con gái lỡ bước sang ngang thương về mẹgià nơi quê cũ:

Em ơi! em ở lại nhà, Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương.

Lỡ bước sang ngang Vườn gắn với tuổi thơ tràn ngập kí ức: Vườn này ngày nhỏ anh còn nhớ/ Đã nhảy qua tường bẻ trộm cam (Vườn xưa); gắn với quê hương: Đem thân về chốn vườn dâu cũ, Buồn cũng như khi chị lấy chồng…Có khi nó lại gắn với câu chuyện

tình duyên nào đó của nhà thơ:

Nhà anh có một giàn giầu Nhà em có một hàng cau liên phòng.

Tương tư

Thơ Nguyễn Bính còn tả lại cảnh sắc quê hương với những con đê ven

sông:“Thôn Đoài cách có một thôi đê” (Mưa xuân) Không gian vừa xa vừa gần

được đo đếm một cách cụ thể đến siêu hình “một thôi đê” đã làm cho khung cảnhmiền Bắc Bộ càng mang rõ đặc trưng quê mùa

Trang 21

Cảnh sắc làng quê đi vào thơ Nguyễn Bính thật đẹp và thơ mộng Nhà thơ đãlựa chọn những ấn tượng, những kỉ niệm thiêng liêng lắng đọng trong kí ức conngười về một miền quê lý tưởng, mang vẻ đẹp cố hữu của nông thôn Việt Nam, gầngũi với mọi người, mọi thời đại Quê hương là quê mẹ, là bức tranh tứ bình đặctrưng của miền Bắc, là bến nước con đò, những cánh đồng, thôi đê… Thơ NguyễnBính đã gợi lên cả bóng dáng quê hương trong lòng độc giả.

2.1.2 Thi sĩ của hồn quê và tình quê

2.1.2.1 Thi sĩ của hồn quê

Thơ viết về quê hương, viết về cảnh quê trong giai đoạn Thơ mới không phải

là ít, và có nhiều bài đã tả rất hay về quê hương Đoàn Văn Cừ thường hay viết vềtập tục quê, Bàng Bá Lân hay viết về sinh hoạt quê, Anh Thơ vẫn được coi là nhàthơ của cảnh quê Còn để gợi được cái hồn quê, cái chân quê thì phải nói tớiNguyễn Bính Nguyễn Bính đã gợi cho lòng người một hồn quê Việt, đẹp đẽ màthân thương Vì thế, người ta không chỉ biết đến thơ ông với những bức tranhphong cảnh làng quê mà thơ ông còn gợi ra không gian văn hóa mang đậm bản sắcquê với những lễ hội, tết cổ truyền, những ngày hội xuân, những ngày hội làng,những đêm hát chèo, buổi lễ chùa, những tín ngưỡng phong tục tập quán, những tròchơi dân gian và nếp sống xưa của người dân quê Đó chính là cái hồn quê trongthơ ông

Đọc thơ Nguyễn Bính, những người xuất thân từ chốn quê chắc không khỏibồi hồi khi nghĩ lại những kỉ niệm đẹp đẽ trong không khí của những ngày lễ hội.Thơ ông gợi những phong tục đã thành nề nếp, thói quen trong ngày tết cổ truyềndân tộc:

Sáng mùng một sớm tinh sương

Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường

Mở hàng mỗi đứa năm xu rưỡi

Trang 22

Rửa mặt hoa mùi nước đượm hương.

đặc trưng vùng miền cho văn hóa xứ Bắc Nguyễn Bính không chỉ tài hoa khi dựngcảnh những ngày hội làng quê mà ông còn rất am hiểu và khéo léo khi dặc tả nhữngnét văn hóa làng quê qua cách ăn mặc, qua những dáng bề ngoài của người nhà

quê Đấy là một chú bé mà người ta có thể bắt gặp đâu đó trên đường thôn : “Tuổi thơ tóc để gáo dừa, Tuổi thơ mẹ bắt deo bùa cần cong”(Tiền và lá) Còn đây là những trang phục của các cô gái trong ngày đi lấy chồng : “Này áo đồng lầm, quần lĩnh tía, Này gương, này lược, này hoa tai” (Lòng mẹ ) Hình ảnh của những người

đi lễ chùa đã gợi ấn tượng về cảnh trẩy hội:

Trên đường cát mịn một đôi cô Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa Gậy trúc dắt bà già tóc bạc Tay lần tràng hạt miệng nam mô…

Xuân về

Trong thơ Nguyễn Bính ta còn bắt gặp cách ứng xử giữa những người trongcộng đồng làng xã Việt Nam Đó là những quan hệ hàng xóm,quan hệ lứa đôi, giađình dòng tộc…Làng là đơn vị sinh hoạt và đến lời hẹn hò cũng xem làng, ví vonrất làng quê.:

Trang 23

Hôm nay ăn hỏi tưng bừng

Ngày mai thì cưới, độ chừng ngày kia Nàng cùng chồng mới nàng về Rồi cùng chồng mới nàng đi theo chồng

2.1.2.2 Thi sĩ của tình quê

Bạch Cư Dị đã từng nói “ Rung động con người không có gì trước hơn tình cảm, không có gì sớm hơn ngôn ngữ, không có gì tha thiết hơn âm thanh, không có

gì sâu sắc hơn ý nghĩa thơ Tình là gốc, lời là ngọn, âm thanh là hoa lá, nghĩa là quả” Cái tình là gốc, tình là nơi khởi nguồn cho mọi cảm hứng, mọi sáng tạo, nhất

là sáng tạo thi ca

Đọc thơ Nguyễn Bính không chỉ thấy được cái chân quê, cái hồn quê vớinhững cây đa, bến nước, con đò… mà quan trọng hơn là cái tình quê mà nhà thơgửi gắm Có lẽ nơi thôn dã đã nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ trở nên đầy nghĩa tình,sâu sắc và nồng thắm Nguyễn Bính đã viết không ít về những người mẹ, người cha(thầy), người chị, người em gái và cả những người yêu của mình, của nam thanh nữ

tú chốn quê với đầy đủ các cung bậc màu sắc khác nhau

Trang 24

Trong thơ Nguyễn Bính, mẹ là những người mẹ chung của dân tộc, là nhữngngười đã trở thành biểu tượng của sự cần mẫn, tần tảo sớm hôm chăm lo cho đàncon, là những người mẹ giỏi quán xuyến công việc nội trợ gia đình, chăm sócchồng con, hiếu thảo với đôi bên cha mẹ, thành kính với tổ tiên, nghiêm cẩn với lệtục làng nước Dường như không còn ai mẫu mực hơn người mẹ hiền nơi làng quê,trong cách miêu tả rất giản dị của Nguyễn Bính:

Mẹ tôi thắt chặt chiếc khăn sồi Rón rén lên bàn thờ ông tôi Đôi mắt người trông thành kính quá Ngước xem hương cháy đến đâu rồi

Tết của mẹ tôi

Hình ảnh người mẹ trong mắt những người con không chỉ đẹp về phẩm hạnh

mà còn đẹp một cách tự nhiên, gần gũi nhất trong cách nhìn của những người con:

Mẹ tôi uống hết một cốc rượu.

Mặt người đỏ tía vì hơi men Người rủ cô tôi đánh tam cúc Cười ầm tốt đỏ đè tốt đen

Tết của mẹ tôi

Người mẹ trong thơ Nguyễn Bính trở đi trở lại dưới nhiều hình ảnh khácnhau, góc độ khác nhau Thượng đế sinh ra người phụ nữ và giành cho họ sự ưu áilớn: thiên chức làm mẹ, sinh con và nuôi con Chính vì vậy mà suốt cuộc đời họphải gánh chịu nhiều nỗi lo, nỗi buồn cho chồng, cho con Mẹ mang nỗi buồn lo

cho người con gái trước đêm vu quy, trước ngày lấy chồng: “Bà lão lưng còng/ Có hai cô gái lấy chồng cả hai”, mẹ còn lại một mình bơ vơ với cuộc sống buồn tủi:

“Gió thu thở ngắn than dài/ Bà đem áo rét phơi ngoài cửa thưa” (Không đề) Còn

có những người mẹ mang nặng tâm trạng khi tiễn con ra đi tìm đường dựng cơnghiệp ở chốn người:

Trang 25

Có lần tôi thấy một bà già Đưa tiễn con đi trấn ải xa Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng Lưng còng đổ bóng xuống sân ga

Những bóng người trên sân ga

Cha mẹ là cái nôi yêu thương, là tổ ấm, chỗ dựa tinh thần cho con cái, vớiNguyễn Bính cũng vậy Vì vậy mà sau này, khi dấn thân vào chốn giang hồ,Nguyễn Bính đã viết thư gửi thầy mẹ với tâm trạng buồn tủi, tự “xấu hổ” với họ vìkhông làm nên nghiệp lớn:

Thầy đừng nhớ, mẹ đừng thương Cầm như đồng kẽm ngang đường bỏ rơi

Thư gửi thầy mẹ

Sự gian nan trong bước đường công danh, sự nghiệp cùng với những bạc bẽocủa chốn phồn hoa đô hội đã khiến cho Nguyễn Bính rơi vào bế tắc, cô đơn Nhữnglúc như vậy, Nguyễn Bính đã gửi thư cho cha mẹ, thương cảnh lao động khổ cực

của gia đình: “Con đi quạnh cửa quạnh nhà/ Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm”.

Cái nợ giang hồ đã khiến Nguyễn Bính phải lìa xa người cha già, hai người anhruột, mẹ và đám em dại… nhà thơ rơi vào đau đớn, mặc cảm tội lỗi với cha:

“Nghìn lạy cha già lượng thứ cho/ Trót thân con vướng nợ giang hồ…”.

Không chỉ là những người thân thuộc, con người nơi chốn quê bao giờ cũngmang lại cho người thi sĩ một tình cảm đằm thắm, gần gụi và trìu mến vô cùng Đó

là những người em nhỏ, những em bé chốn quê luôn gợi nhắc về một tuổi thơ đẹp

đẽ trong tâm hồn người nghệ sĩ Cái tình quê của Nguyễn Bính, vì vậy, còn đượcthể hiện qua hình ảnh những em bé trong những bức tranh mùa xuân, mùa lễ hội :

Từng đàn con trẻ chạy xun xoe Mưa tạnh, giời quang nắng mới hoe

Xuân về

Trang 26

Cái tình đằm thắm tươi vui đã được gợi lên qua cảm xúc với những em bé

thôn quê thuần hậu, nét vui giản dị : “Đây cả mùa xuân đã đến rồi/ Từng nhà mở cửa đón vui tươi/ Từng cô em bé so màu áo/ Đôi má hồng lên nhí nhảnh cười” (Thơ xuân)

Sinh ra ở làng quê, những em bé nơi đây còn mang trong tiềm thức một nỗibuồn man mác nào đó xuất phát từ tư duy còn lạc hậu, đời sống gia đình khó khăn,vấp váp Do vậy, lớn lên đi lấy chồng, họ trở thành những cô gái mang đầy nỗiniềm, tâm trạng Đặc biệt Nguyễn Bính đã khắc họa một cách sâu sắc hình ảnh

người chị gái chốn quê “lỡ bước sang ngang”, cuộc đời đầy trắc trở, bấp bênh:

Một đi bảy nổi ba chìm Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần

… Chị từ lỡ bước sang ngang Trời giông bão, giữa tràng giang, lật thuyền.

Lỡ bước sang ngang

Lỡ bước sang ngang là câu chuyện về một người con gái bị mẹ cha bán gả

cho người mà mình không yêu, phải lên xe hoa từ năm mười bảy tuổi Bỏ lại saulưng mối tình đầu vừa chớm nở, bỏ lại vườn dâu, bỏ lại mẹ già, người con gái ấy đimột chuyến đi định mệnh Đấy là câu chuyện riêng của người con gái - nhân vật chịtrong bài thơ - nhưng đấy cũng đồng thời là câu chuyện chung của hàng vạn, hàngtriệu người con gái khác sống dưới chế độ gia đình phong kiến, dưới mái nhà mangtên gọi “tam tòng tứ đức” Lễ giáo phong kiến đã đè nặng lên thân phận họ, đè nặnglên những kiếp người Vì vậy, bài thơ đã gây một chấn động lớn trong lòng nhiềuthế hệ thời Nguyễn Bính

Ngoài cung bậc trầm buồn đó, thơ Nguyễn Bính còn khắc họa khá rõ hìnhảnh các cô gái quê với một sắc thái khác Cũng như các bà mẹ, họ là hình ảnh củaquê hương, nhưng là quê hương tươi trẻ, đẹp đẽ giống như mộng tưởng của người

Trang 27

thi sĩ đồng quê? Nổi lên trên bức tranh quê rộng lớn là hình ảnh những cô thôn nữchăn tằm dệt vải; chăm chỉ, cần cù và cũng duyên dáng bên khung cửi- con thoi đi

về giữa những sợi tơ giăng mắc - hình ảnh cụ thể hóa cho những nhớ nhung vấn víttrong lòng cô gái:

Em cứ yêu đời đi Yêu đời như thuở nhỏ Rồi để anh làm thơ

Và để em dệt lụa

Thoi tơ

Nguyễn Bính miêu tả hình ảnh những người thiếu nữ nơi làng quê thật giản

dị trong sự hòa hợp với thiên nhiên chốn quê, với đồng xanh mùa xuân:

Lúa ở đồng tôi và lúa ở Đồng nàng và lúa ở đồng quanh

Mùa xuân xanh

Hay cô thiếu nữ với nét đẹp dịu dàng trong lễ hội:

Trên đường cát mịn một đôi cô Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa

Xuân về Xuân về là một trong những bài thơ xuân hay nhất của Nguyễn Bính và cũng

là của phong trào Thơ mới, lấy hình ảnh con người làm trung tâm Đặc biệt nhữnghình ảnh cô gái yếm đỏ khăn thâm đã làm cho bức tranh mùa xuân thêm rạng rỡ,đầy sắc màu, đẹp đẽ và thêm phần tình tứ Câu thơ gợi cho ta nhớ lại nụ cười

trong sáng và dáng dấp dịu dàng của cô gái quê trong thơ Hàn Mặc Tử: “Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lý bóng xuân sang” (Mùa xuân chín) Những

nét đẹp thanh tú, tươi trẻ ấy đã làm cho tình quê trở nên mặn mà, đằm thắm hơn

Vì vậy mà hình ảnh của họ luôn gây mộng tưởng cho các chàng trai, trong đó

có chàng Nguyễn Bính Dù là yêu hay không yêu, được yêu hay không được yêu

Trang 28

thì tâm tư anh vẫn bị vương vấn bởi hình ảnh những người con gái miền quê trongsáng:

Cô gái nhà ai ở xóm Đông Sang đây một sớm nắng vàng trong Cùng hai cô bạn bên bờ giếng Nhặt nắng trong cây, kể chuyện lòng

Nhặt nắng

Không màu mè nhung lụa, không cầu kì kiểu cách, Nguyễn Bính yêu nét dịu

dàng trong sáng của người con gái Việt với đúng nét truyền thống của họ: yếm lụa sồi, khăn mỏ quạ, quần nái đen, áo tứ thân…Nguyễn Bính như một người nghệ sĩ

bảo tồn những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc, muốn níu giữ cái “chân quê”cho nguyên vẹn Vì thế mà sau này, khi cái thị thành có xu hướng “xâm lấn” cái

“chân quê” ấy, Nguyễn Bính nửa đùa nửa thật nói rằng:

Hoa chanh nở giữa vườn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

Như hôm em đi tỉnh về

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh

Chân quê Viết bài thơ Chân quê, Nguyễn Bính đã gọi người ta trở về sự nguyên sơ

giản dị của thuở ban đầu – trinh nguyên và trong sáng Ông là một trong số ítnhững nhà thơ mà con người còn vương vít lắm cái chất quê mùa, chân thực, giữabao nhiêu xô bồ, xâm nhập của chốn thành thị

Con người bất cứ thời đại nào đều coi gia đình luôn là hạt nhân quan trọnghình thành lên xã hội văn minh Họ luôn mong muốn có được hạnh phúc, vợ chồngthương yêu, sẻ chia với nhau vui buồn trong cuộc sống Thơ Nguyễn Bính khôngchỉ viết về tình yêu của những đôi trai gái Thơ ông còn như một nỗi lòng, một khát

khao vươn tới hạnh phúc nhỏ bé, thường nhật ấy: “Vợ tôi giăng võng gốc dừa/ Đặt

Trang 29

con tôi ngủ giữa trưa mùa hè” ( Trưa hè) Tình quê trong thơ ông đã đi tới một

khao khát mãnh liệt: có được một gia đình nhỏ bé đơn sơ Nguyễn Bính đi tìm tìnhyêu viên mãn, mà trái chín của nó chính là hôn nhân, là sự đoàn viên thân ái Vìvậy, tình quê trong ông luôn là hạnh phúc gia đình giản đơn, yêu thương

Nguyễn Bính giành tình yêu nồng thắm của mình cho quê hương thân yêu,cho thầy mẹ, cho những người chị, người em nhỏ… tất cả con người nơi thôn quêđậm tình đậm nghĩa Nguyễn Bính luôn khát khao được sống trong tình yêu lớn lao

ấy của bầu sữa mẹ - quê hương “Tâm hồn Nguyễn Bính giống như một cây đàn muôn điệu Thoáng một chút gió là rung lên Nhưng đây là những thoáng gió quê hương, những thoáng gió thổi từ đồng nội tới Vì thế mà thơ anh đậm đà tính dân tộc, anh là một nhà thơ mang bản sắc dân tộc rõ nét nhất.” Bằng chính cái tâm

hồn muôn điệu, rung lên bởi tình yêu quê hương chân thành, dung dị ấy, NguyễnBính đã thực sự trở thành một nhà thơ của của chốn quê hương, nồng thắm tình

người Và vì vậy, Tô Hoài đã từng khẳng định không sai rằng: “ Chỉ có quê hương mới tạo nên được từng câu chữ Nguyễn Bính (…) Thơ và cuộc đời ràng buộc nhà thơ Trước sau và mãi mãi, Nguyễn Bính vốn là nhà thơ của tình quê, chân quê, hồn quê.”[17].

2.2 Cách thể hiện cảm xúc mang đậm chất dân gian

2.2.1 Cách miêu tả thời gian mang đậm tính ước lệ

Về cách diễn đạt thời gian, trong bài Về một phương diện nghệ thuật của ca dao, Trần Thị An đã đưa ra nhận xét rằng trong ca dao tình yêu, thời gian cá nhân

riêng biệt, thời gian khách quan, thời gian xã hội bị nhạt nhoà Nguyễn Bính trướchết bị ảnh hưởng bởi nghệ thuật diễn đạt thời gian đó trong ca dao Hơn nữa, sinh

ra trong một nơi thôn xóm dân dã, tâm hồn con người – chính Nguyễn Bính khôngchịu ràng buộc bởi những so đếm tính toán chi ly, kể cả về thời gian Những yếu tốtrên đã khiến cho thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính thường là thời gian

Trang 30

của tâm tưởng, không phụ thuộc vào thế giới bên ngoài; cách tính thời gian là hoàn toàn ước lệ Chính sự ước lệ trong xác định thời gian mà nhà thơ vừa khái quát hóa

được hoàn cảnh, vừa vĩnh cửu hóa được thời điểm sự việc, lại vừa tạo được giaocảm mạnh mẽ với mọi tâm hồn Để thể hiện thời gian, Nguyễn Bính thường dùng

những từ: “thuở ấy, thuở trước, năm xưa, ngàn xưa, năm ấy, cái ngày, từ ngày, bữa ấy, mới rồi, một buổi…”: đó là thời gian được khắc sâu trong ký ức với tuổi

thơ cắp sách tới trường: “Học trò trường huyện ngàn năm ấy”, là câu chuyện kể về

cô gái quê hẹn hò, tìm gặp với chàng trai thôn Đoài trong đêm hát chèo của làng

nhưng không thành: “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay”, hay câu chuyện của Nguyễn Bính về một mối tình với cô gái tự thuở nào: “Cái ngày cô chưa có

chồng”, … Các từ chỉ thời gian này luôn làm trạng ngữ tạo hoàn cảnh và tình thế để

gắn tâm trạng vào đó:

Năm xưa chở chiếc thuyền này

Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều

Giấc mơ anh lái đò

Nguyễn Bính gợi cho ta cái thời gian của ca dao tình yêu qua những trạng từước lệ, chung chung, không đong đếm được về lượng, nhưng về chất, đó là sự nặnglòng của thi nhân với mối tình đơn phương Qua thời gian chờ đợi ấy có khi lạicàng thêm vô vọng, nuối tiếc những ngày xưa đã xa:

Ngày xưa dệt cửi chăn tằm

Em còn bé lắm mười lăm tuổi đầu

Bây giờ cắt cỏ chăn trâu

Trang 31

Bây giờ em đã làm dâu nhà người

Làm dâu

Mấy câu thơ trên của Nguyễn Bính còn gợi cho ta thấy một kiểu thời giannghệ thuật trong ca dao, đó là thời gian hồi tưởng thường được biểu hiện qua các

cụm từ như “hồi nào”, “khi xưa”,… Tuy nhiên, thời gian hồi tưởng này có sự liên

hệ mật thiết với thời gian hiện tại và làm thành cặp đối lập quá khứ − hiện tại biểu

hiện qua các cặp từ như: “hồi nào” – “bây giờ”, “hồi” – “đến khi”, “năm ngoái” – “năm nay”…

Hồi nào gánh nặng em chờ Truông xa em đợi, bây giờ bỏ em.

Ca dao

So với thời gian hiện tại, thời gian hồi tưởng quá khứ chỉ có tính chất kể lể

và thường được đặt trong điểm nhìn hiện tại, và do đó, sự có mặt của thời gian hồitưởng chỉ là một phương tiện để làm nổi bật thời hiện tại, thời gian diễn xướng củalời ca dao : không chỉ là sự đối lập của quá khứ - hiện tại, đó còn là sự đối lập củahiện tại và tương lai:

Hôm nay xác pháo đầy đường Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng

Lỡ bước sang ngang Trong ca dao, cả hai sự đối lập ấy – hiện tại/quá khứ, hiện tại/tương lai – đều

có tác dụng làm nổi bật thời hiện tại, tức là thời gian diễn xướng của người bìnhdân, đồng thời có tác dụng tạo nên cảm giác về sự vận động của thời gian, làm chongười nghe liên tưởng đến sự đổi thay trong cuộc sống theo chiều hướng đối lập

Đó là một hiện tại thường khác với thời quá khứ và thời tương lai, và đó chính làcái cớ để người bình dân phô diễn cái tâm trạng yêu thương trách móc, buồn nhiều

Trang 32

hơn vui của mình Thơ Nguyễn Bính cũng dùng sự đối lập về thời gian như thế đểgợi cái tâm trạng trách móc, buồn thương của nhân vật trữ tình:

Năm xưa chở chiếc thuyền này

Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều

….

Giờ thuyền tôi đã chở đầy thuyền mơ

Con sông nó có hai bờ Tôi chưa đỗ trạng, thôi cô lại nhà

Giấc mơ anh lái đò

Thời gian trong thơ Nguyễn không chỉ là dòng thời gian hồi tưởng, là thờigian đối lập lấy hiện tại làm trung tâm, đó còn là những thời gian gắn với mộngtưởng xa xăm của tương lai, khi thực khi ảo Nguyễn Bính đã dùng cách diễn đạtcủa ca dao khiến cho thời gian trở nên rất ước lệ một cách dân giã:

thứ “ đồng hồ cây cỏ”:

Ngày qua ngày lại qua ngày

Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng

Trang 33

Tương tư

Chàng trai trong bài thơ này cũng đo đếm thời gian dựa vào chính sự thayđổi của cảnh sắc thiên nhiên Thời gian nghệ thuật ước lệ như thế đã tập trung khắchọa tâm tưởng con người, chuyển hóa thời gian thành những hình ảnh, sự vật, hiệntượng để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc, tác động vào tình cảm hơn làvào lý trí Đấy là cách suy nghĩ, cách nói ước lệ, là ngôn ngữ của người bình dânvốn quen đo cái trừu tượng bằng những sự vật cụ thể quen thuộc xung quanh

Nguyễn Bính không may mắn trong tình duyên ở đời thực nên thường cónhững khát khao, chờ đợi gửi vào thơ Càng khát khao, mơ tưởng, người ta lại càngmong đợi một mốc thời gian nào đó được gặp tình nhân để thỏa nguyện ước, thỏađợi chờ Nhưng có lẽ, càng nguyện ước, càng đợi chờ, người ta càng cảm thấy vôvọng Do vậy, có thể thấy thời gian trong thơ Nguyễn Bính còn có thời gian củatương lai với những câu hỏi, sự nghi hoặc, sự đợi chờ Cái mốc “ bao giờ” ấy cũngđầy tính ước lệ:

Bao giờ chạch đẻ ngọn đa

Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình

Bao giờ cây cải làm đình

Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta

Ca dao

Ước ao của người xưa để lấy được người mình yêu dường như vượt ngoàitầm với Người ta lấy sự ngược đời ấy nói quá lên phần nào cũng là để bày tỏ nỗi

Trang 34

niềm, tình cảm của mình với người thương Nguyễn Bính đã dùng cách diễn đạtcủa ca dao để đặt ra những câu hỏi ấy để gửi gắm tâm tưởng:

Bao giờ cho vơi cơn buồn

Cho tan thương nhớ, cho hồn thảnh thơi?

Bao giờ ráo lệ nàng ơi!

Để tìm duyên mới cho tôi hết buồn.

Lỡ duyên

Không biết bao giờ nhưng vẫn cứ chờ đợi một thời điểm bao giờ - chung

chung, không xác định Dù vậy, Nguyễn Bính vẫn tơ tưởng và hi vọng có ngàyquên được tình xưa để đến với mối tình mới, làm vơi cơn buồn

Như vậy, chất dân gian trong thơ Nguyễn Bính qua thi pháp thể hiện rất rõnét ở mặt thời gian Đó là thời gian ước lệ, trừu tượng, thời gian chung chung,không xác định Thơ Nguyễn Bính đã đi về thi pháp truyền thống với cách diễn đạt

cổ xưa, quen thuộc của ca dao dân ca

2.2.2 Ngôn ngữ, giọng điệu mang âm hưởng ca dao truyền thống

2.2.2.1 Ngôn ngữ mang âm hưởng ca dao truyền thống.

Ngôn ngữ bao giờ cũng là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc

trưng của văn học Nói về thơ Nguyễn Bính, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh

từng phê phán những “nhà thông thái thời nay” khi họ xem thường thơ Nguyễn

Bính và nhận xét rằng: “Cái đẹp kín đáo của vần thơ Nguyễn Bính, tuy cảm được một số đông công chúng mộc mạc, khó lọt vào con mắt của các nhà thông thái thời nay Tình cờ có đọc thơ Nguyễn Bính, họ sẽ bảo “Thơ như thế này thì có gì?” Họ

Trang 35

có ngờ đâu, đã bỏ rơi một điều mà người ta không thể hiểu bằng lí trí, một điều quý giá vô ngần: hồn xưa đất nước…” [12,368] Chúng ta đọc thơ Nguyễn Bính,

đã thấy được cái chân quê, cái hồn quê, cái tình quê của người thi sĩ Những điều

đó được xây dựng nên bởi một hệ thống ngôn ngữ tuyệt đẹp, rất truyền thống, mộtgiọng điệu thơ mang đậm dư âm của ca dao dân ca cổ - đó chính là hành trình trở

về với hồn xưa, người xưa của thơ ông!

Trước hết, thơ Nguyễn Bính đọc dễ hiểu là bởi Nguyễn Bính viết thơ bằngthứ ngôn ngữ ảnh hưởng bởi phương thức diễn xướng truyền miệng của ca dao, cụ

thể là qua thể thơ lục bát Tác giả Mộng Tuyết có nhận định rằng: “ Bính viết lục bát nhanh như văn xuôi” – nghĩa là ông viết thơ không có gì gượng ép, khuôn

thước, không gò chữ ép vần Vì thế, ai đọc thơ Nguyễn Bính cũng thấy được cái

chân chất mộc mạc như đọc ca dao truyền thống: Hôm nay dưới bến xuôi đò/ Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau ( Cánh buồm nâu ).

Chất truyền thống của ca dao dường như ăn sâu vào tiềm thức của NguyễnBính, đã trở thành nét chủ đạo, nhuần nhuyễn trong thơ ông Sự ăn sâu ấy mạnh tới

mức nhiều khi người ta không phân biệt được một câu ca dao: Em về dọn quán bán hàng/ Để anh là khách qua đàng trú chân (Ca dao) với câu thơ của Nguyễn Bính: Lòng em là quán bán hàng/ Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi (Em với anh)

Nguyễn Bính viết:

Vì tằm tôi phải chạy dâu

Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay

Thời trước

Cách diễn đạt này ảnh hưởng bởi lối diễn đạt của ca dao:

Có con phải khổ vì con

Có chồng phải ngậm bồ hòn đắng cay

Ca dao

Trang 36

Phương thức sáng tác của ca dao dân ca là truyền miệng, là tập thể Ngườidân lao động sáng tác bằng miệng, truyền miệng cho nhau nghe và phẩm bình về

nó cũng dễ dàng bằng ngôn ngữ nói Ở đây chúng ta cũng thấy như vậy Nhờ vàolượng ngôn ngữ rất đời thường, rất quê mùa, ngôn ngữ nói như phương thức diễnxướng, truyền miệng, nhiều khi ta không phân biệt được giữa việc đọc một câu cadao và đọc thơ lục bát của Nguyễn Bính

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính còn là ngôn ngữ trong sáng, giản dị, giàu màusắc dân gian Nhà thơ đã chọn cho mình cách biểu hiện thế giới tình cảm thông quanhững sự vật hiện tượng cụ thể xung quanh, những cảnh quan bình dị, dân dã, gầngũi và thân quen Đó là thế giới của giàn đỗ ván, ao rau cần, giậu mồng tơi, hoachanh, hoa bưởi… Nguyễn Bính thích thứ ngôn ngữ nhiều màu sắc, cả cảnh trong

mơ và trong đời thực đều được Nguyễn Bính thêu dệt bằng những màu sắc tươithắm:

Người yêu má đỏ, môi hồng Tóc xanh mắt biếc mà lòng bạc đen.

Lại đi Tôi say mơ thấy đời đen trắng

Bụi đỏ ai người đôi mắt xanh.

Cho tôi ly nữa

Tất cả màu sắc ở đây không còn là màu sắc thực mà đã được chuyển nghĩa

qua cái nhìn của tác giả “má đỏ môi hồng” chỉ hình thức đẹp bên ngoài, “lòng bạc đen” chỉ sự đổi thay bạc bẽo của lòng người, “đời đen trắng”, “bụi đỏ” chỉ thực tại đời sống bon chen phức tạp, “ai người đôi mắt xanh” tác giả tìm kiếm một niềm

tin, một khát vọng Nguyễn Bính được đánh giá là một nhà thơ chuộng màu sắc là

vì thế

Thơ Nguyễn Bính rất hay sử dụng cách nói ẩn dụ Nói về thân phận người

con gái đi lấy chồng mà không có hạnh phúc, tác giả gọi là “nhịp cầu chênh vênh”,

Ngày đăng: 23/06/2016, 17:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Hoài Anh , Không gian văn hóa trong thơ xuân Nguyễn Bính, http://4phuong.net/ebook/46613372/khong-gian-van-hoa-trong-tho-xuan-nguyen-binh.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn hóa trong thơ xuân Nguyễn Bính
2. Lại Nguyên Ân, Cuộc cải cách thơ của phong trào Thơ Mới và tiến trình thơ tiếng Việt,http://lainguyenan.free.fr/DLNX/CuocCaiCach.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: cải cách thơ của phong trào Thơ Mới và tiến trình thơtiếng Việt
3. Nguyễn Bính Hồng Cầu, Nguyễn Bính toàn tập, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính toàn tập
Nhà XB: NXB Văn học
4. Hoài Chân, Nhìn lại phong trào Thơ mới,http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/88826 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại phong trào Thơ mới
5. Phạm Đức Cường , Lý tưởng và hiên thực trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng, luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXHNV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý tưởng và hiên thực trong thơ Nguyễn Bính trướcCách mạng
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ vănhọc
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
8. Vũ Thị Hằng, Thơ lục bát Nguyễn Bính trong phong trào thơ mới lãng mạn 1932- 1945 luận văn thạc sĩ, Trường ĐHKHXHNV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ lục bát Nguyễn Bính trong phong trào thơ mới lãng mạn1932- 1945
9. Tô Hoài, Lời giới thiệu, Tuyển tập Nguyễn Bính, Nxb Văn học, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
10. Đoàn Thị Đặng Hương, Nguyễn Bính nhà thơ chân quê, Trích Nguyễn Bính và những lời bình, NXB Giáo dục, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính nhà thơ chân quê", Trích "Nguyễn Bínhvà những lời bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Hoàng Phê (chủ biên), Vũ Xuân Lương, Hoàng Thị Tuyền Linh, Phạm Thị Thủy, Đào Thị Minh Thu, Đặng Thanh Hòa, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB ĐàNẵng
12. Hoài Thanh- Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam 1932- 1941 ( Tái bản), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam 1932- 1941
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
13. Đỗ Lai Thúy, Con mắt thơ, Nxb Lao động, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con mắt thơ
Nhà XB: Nxb Lao động
14. Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao thơ mới, Xuân Diệu- Nguyễn Bính- Hàn Mặc Tử, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đỉnh cao thơ mới
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
15. Hoàng Xuân ( Tuyển chọn) Nguyễn Bính- thơ và đời, NXB Văn học, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính- thơ và đời
Nhà XB: NXB Văn học
16. Hoài Việt, Nguyễn Bính – thi sĩ của yêu thương, trích Nguyễn Bính – thi sĩ của thương yêu, NXB Hội Nhà văn, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Bính – thi sĩ của yêu thương
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
17. Vũ Thanh Việt, Tuyển chọn Nguyễn Bính và những lời bình, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn Nguyễn Bính và những lời bình
Nhà XB: NXB Văn hóathông tin
7. Thái Tú Hạp, Nguyễn Bính- Nhà thơ của hương đồng cỏ nội http://www.saigongate.com/tac-gia.aspx?id=1021 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w