1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

NỘI DUNG SKKN phương pháp nâng cao tỉ lệ học sinh yếu kém

20 775 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 62,18 KB
File đính kèm SKKN.rar (245 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học sinh bắt đầu tiếp xúc với bộ môn hóa học từ lớp 8 với những khái niệm, công thức, dạng bài tập đầu tiên.. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục đích: Nâng cao chất lượng học tập của

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hóa học là một môn học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên thường được xem là một môn học khó Học sinh bắt đầu tiếp xúc với bộ môn hóa học từ lớp

8 với những khái niệm, công thức, dạng bài tập đầu tiên Chương trình hóa học

ở phổ thông thường có tính liên tục và kế thừa, muốn học tốt môn hóa ở năm sau thì phải học tốt chương trình hiện tại

Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng học tốt được bộ môn hóa học, nhất là trong thời điểm hiện nay khi ý thức học tập của học sinh ngày một đi xuống Hóa học lại càng trở nên khó học hơn.Các em khó làm quen với các ký hiệu hóa học, học sinh không nhớ được ký hiệu hóa học của các nguyên tố từ

đó dẫn đến việc viết công thức hóa học và lập phương trình hóa học càng khó khăn hơn

Trong chương trình học, các em được tiếp xúc với hóa học vô cơ và hóa học hữu cơ, giữa hai phần này lại có sự khác biệt làm cho học sinh càng khó phân biệt hơn trong quá trình học tập Đặc biệt là HHHC, trong chương trình THPT các em được học HHHC ở học kì II lớp 11 và học kì I lớp 12 Hệ thống kiến thức của hóa học hữu cơ trọng tâm là ở lớp 11 Do khá xa lạ nên việc học HHHC đối với học sinh gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là những em học ở mức độ trung bình, yếu, kém Kiến thức phần hidrocacbon tương tự nhau làm cho học sinh dễ bị nhằm lẫn Các PTHH thường được biểu diễn bằng công thức cấu tạo, học sinh viết rất dễ sai các chỉ số của hidro hoặc cacbon

Theo kết quả của những năm học trước, sang học kì II điểm số của các

em thường thấp hơn, kiến thức các em thường khó nắm bắt hơn Khi làm các bài tập tính toán các em bị bối rối nếu giải bài theo phương trình Từ đó dẫn đến số lượng học sinh yếu kém ngày càng tăng, các em ngày càng xa rời và có

ác cảm với môn học, môn hóa học tạo cho các em cảm giác sợ vì khó

Vì thế việc giúp cho các em học sinh yếu kém có ý thức học tập môn học đặc biệt là HHHC là rất quan trọng Giáo viên nên cần có những giải pháp thiết

Trang 2

thực, cụ thể cho từng lớp giảng dạy để tạo cho các em cảm giác yêu thích môn học Từ đó các em sẽ có ý thức hơn trong học tập, tích cực học tốt hơn Đó là

lý do tôi chọn đề tài ngiên cứu “ Một số giải pháp giúp học sinh yếu - kém học tốt hơn hóa học hữu cơ 11 ở trường THPT Lê Văn Tám ”

2 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích:

Nâng cao chất lượng học tập của học sinh, giảm tỉ lệ học sinh yếu kém Hình thành cho các em học yếu, kém thói quen làm việc nhóm, làm việc

cá nhân, giúp các em chủ động hơn trong học tập Tạo hứng thú cho các em trong học tập Giúp các em không còn mặc cảm mình là học sinh yếu, kém

Tạo lại cho các em khả năng tư duy logic, các em biết suy luận khóa học hợp lý Rèn các em một số kỹ năng giải các bài toán HHHC và các bài tập liên quan đến công thức, tên của HCHC

2.2 Nhiệm vụ

Giáo viên có vai trò quan trọng trong việc tổ chức hợp lý các hoạt động của lớp, có sự phân chia kiến thức phù hợp với từng lớp, từng đối tượng học sinh Giáo viên có biện pháp phù hợp để các em học lực yếu, kém phát huy được tính sáng tạo của mình Giáo viên cần kết hợp nhiều phương tiện dạy học khác nhau để kích thích hứng thú học tập của học sinh Cần theo dõi trực tiếp, xác thực và kịp thời những biểu hiện học tập thay đổi của học sinh trong học tập để khích lệ hoặc điều chỉnh cách giảng dạy phù hợp

Học sinh ý thức được vai trò của cá nhân trong học tập, nhận thấy kiến thức chưa tốt của mình để cùng giáo viên cải thiện kết quả học tập bản thân Từ những khó khăn ban đầu do hỏng kiến thức, học sinh phải chủ động hơn và nghe theo sự hướng dẫn của giáo viên Cần bỏ đi tính lười biếng, ngại khó để kết quả được tốt hơn

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Năm học 2015 – 2016, do được phân công giảng dạy khối 11 nên tôi chọn đối tượng là các em học sinh có học lực trung bình, yếu, kém khối 11 của trường THPT Lê Văn Tám

Trang 3

HHHC bắt đầu từ cuối học kì I và cả học kì II, nội dung kiến thức tương đối độc lập với HHVC, các em học yếu phần hóa vô cơ có thể bắt đầu lại từ hóa hữu cơ Khi đã tạo được hứng thú với môn hóa hữu cơ các em có thể học tốt hơn phần hóa vô cơ ở lớp 12 Vì thế tôi chọn phạm vi nghiên cứu là hóa học hữu cơ 11 ở trường THPT Lê Văn Tám

4 PHƯƠNG PHÁP

Do đối tượng là học sinh yếu, kém nên khi nghiên cứu cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, thay đổi phương pháp sao cho phù hợp, có thể kết hợp nhiều phương pháp cùng lúc

Một số phương pháp chủ yếu: phương pháp đàm thoại, phương pháp trực quan, phương pháp khảo sát, thống kê,

5 TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Qua nhiều năm giảng dạy môn hóa học ở khối lớp 11, tôi nhận thấy các

em học sinh thường rất sợ phần hóa học hữu cơ và kết quả học tập của các em chưa tốt Bằng nhiều giải pháp khác nhau, tôi sẽ giúp cho học sinh yếu, kém khi nhìn về HHHC không còn cảm giác sợ học hóa học Các em sẽ có tâm lý nhẹ nhàng hơn khi tiếp xúc môn học, tạo cho các em yêu thích môn học nhiều hơn, làm cho không khí học tập của lớp sôi động, sáng tạo, phát triển tốt khả năng tư duy của học sinh

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Năm học 2015 – 2016, lãnh đạo nhà trường đẩy mạnh chất lượng giáo dục học sinh đặc biệt là các em học sinh có học lực trung bình yếu, kém Nhà trường đề ra các kế hoạch cụ thể trong công tác giảng dạy, lãnh đạo nhà trường khuyến khích giáo viên quan tâm và bồi dưỡng cho các em học sinh yếu kém nhiều hơn, tạo mọi điều kiện học tập cho các em

Khi xây dựng kế hoạch chuyên môn của tổ bộ môn, việc số lượng học sinh yếu kém còn nhiều cũng là vấn đề được xem xét nghiên cứu, thảo luận nhiều Tất cả giáo viên bộ môn đều rất quan tâm đến chất lượng học sinh Bản thân tôi rất trăn trở về kết quả học tập của các em yếu kém, cần có giải pháp phù hợp cho các em học sinh này

Ý thức học tập của học sinh cũng là vần đế rất được quan tâm, các em học yếu thường có ý thức học tập không cao, không chủ động học tập Các em chưa có định hướng cho tương lai và chạy theo lối sống thích hưởng thụ

Việc nâng cao chất lượng giáo dục gặp rất nhiều khó khăn, điều kiện vật chất địa phương còn nhiều khó khăn, mức độ quan tâm của phụ huynh học sinh còn thấp

2 CƠ SỞ THỰC TIỂN

2.1 Kết quả học tập của học sinh ở bộ môn

Trong năm học 2014 - 2015, kết quả học tập của học sinh khối 11 khá thấp so chỉ tiêu của nhà trường đề ra Số lượng học sinh yếu rất nhiều, cụ thể kết quả thống kê như sau:

số

TRUNG

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

Số lượng

Tỉ lệ

%

11A2 32 2 6.3 4 12.5 6 18.8 12 31.3 10 31.3

Kết quả học sinh yếu 24%, học sinh kém 37%

2.2 Nguyên nhân:

Trang 5

Kiến thức hóa học hữu cơ tương đối xa lạ với các em học sinh Các dạng bài tập hoàn toàn mới, cách giải bài toán hoàn toàn khác với hóa học vô cơ Khi học hóa hữu cơ cần phải cẩn thận, chú ý từng chi tiết nhỏ, đặc biệt là tên các hợp chất và công thức cấu tạo của chúng

Giáo viên chưa phân hóa học sinh, còn yêu cầu học sinh quá cao, các dạng bài tập vận dụng cao chưa giải thích cụ thể từng giai đoạn cho học sinh

Đề cương và ma trận còn ở mức độ vận dụng nhiều

Học sinh bị mất kiến thức ở lớp trước Phần lớn các em yếu, kém rất lười học, không chủ động giải bài tập, chưa quan tâm đến đề cương, bài tập giáo viên yêu cầu Các em thường lo ra trong giờ học Ngày nay dưới sư phát triển của CNTT, các em bị nghiện các mạng xã hội, trò chơi điện tử Các em cho rằng môn hóa rất khó nên không thể học

2.3 Kết quả phiếu thăm dò học sinh

Từ kết quả ở năm học trước, tôi điều tra mức độ yêu thích bộ môn hóa học ở các lớp trong năm học 2015 -2016 nhằm kiểm tra nhận xét của học sinh

về bộ môn hóa học

Phiếu điều tra (phụ lục 2)

Kết quả:

Mức độ yêu thích môn hóa học (số học sinh)

Tỉ lệ học sinh thích học HHHC ( tỉ lệ %)

Trang 6

Từ các kết quả thống kê trên, tôi đưa ra một số giải pháp để giúp học sinh yếu kém học tốt hơn phần hóa học hữu cơ

3 GIẢI PHÁP

3.1 Giải pháp 1: Thay đổi nhận thức học sinh về bôn môn hóa học và HHHC

Tạo cho học sinh có cách nhìn mới về bộ môn hóa học

3.1.1 Cách thức thực hiện

HHHC gần gũi với đời sống hàng ngày, nên tôi giáo dục ý thức học sinh

từ thực tiễn, chọn những ví dụ gần với cuộc sống hàng ngày của học sinh để đưa ra tình huống có vấn đề

VD: một trong những tính chất của HCHC là không tan trong nước nhứng tan

trong một số dung môi hữu cơ

Để dẫn đến tính chất này có thể hỏi học sinh một tình huống hàng ngày: quần

áo bị dính nhớt, giặt bằng bột giặt và nước có được không? Tại sao?

Câu hỏi có hai ý, ý thứ nhất nên hỏi các em học yếu để các em cùng góp phần xây dựng bài Phần giải thích chọn các bạn khá hơn

Việc phân loại các mức độ câu hỏi rất quan trọng, chọn các câu phù hợp với khả năng các em, thường là các câu ở mức độ biết và có gợi mở cho học sinh

Hóa học hữu cơ có nhiêu ứng dụng trong thực tế hàng ngày, khi dạy phần tính chất hóa học của hợp chất hữu cơ giáo viên lồng ghép những ứng dụng để học sinh thấy vai trò quan trọng của môn hóa học

VD: Tính chất hóa học của một số HCHC liên quan đến đời sống và công

nghiệp như polivinylclorua (PVC)- nhựa làm ống nước, trinotrotoluen (TNT)-thuốc nổ, cao su buna, giáo viên lấy dẫn chứng cụ thể để học sinh thấy vai trò của hóa học

Thường xuyên trao đổi với các em về ý thức, trách nhiệm trong học tập, định hướng nghề nghiệp trong tương lai Khích lệ, động viên các em thường xuyên, cho các em thấy vai tò quan trọng của việc học tập môn hóa học Tác động để các em thay đổi tư duy, định hướng cho tương lai tích cực hơn Vì thông thường các em học yếu ít có niềm tin cho tương lai Dẫn chứng cụ thể

Trang 7

mức lương của một số kỹ sư hóa học, kỹ sư dầu khí, để học sinh có niềm tin vào môn học

Học sinh sợ môn hóa học vì khó, nên ta nên thay đổi cách tiếp cận bài học Thường xuyên tạo tình huống vui và gần với môn học Khi có cảm giác vui vẻ thì học tập sẽ tốt hơn

Tác động tư tưởng, chỉnh tác phong của các học sinh có thái độ lười học Việc nhắc nhở thực hiện thường xuyên, nhẹ nhàng và mang tính chất chia sẽ, thông cảm, động viên

3.1.2 Ưu, nhược điểm

Ưu điểm: tạo mối quan hệ thân thiết giữa giáo viên và học sinh, giáo viên nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng và tình cảm của học sinh từ đó đưa

ra giải pháp giáo dục phù hợp Học sinh cảm thấy gần gũi với giáo viên nên thích tiết học môn hóa hơn, tâm thế học vui vẻ nên bài vở tiếp thu tốt hơn

Nhược điểm: mang nặng tính chất lý thuyết, mất nhiều thời gian làm cho bài dạy kéo dài Giải pháp này cần kết hợp với giải pháp nêu gương, liên hệ thực tế

3.1.3 Tính phổ biến

Có thể thực hiện với tất cả các lớp, tất cả các đối tượng học sinh, một số môn học khác vẫn có thể sử dụng giải pháp này

3.1.4 So sánh kết quả

So với lúc trước khi sử dụng giải pháp, học sinh có thay đổi tích cực hơn, giờ học sinh động, giữa giáo viên và học sinh gần gủi dể trao đổi những nội dung liên quan đến bài học

3.2 Giải pháp 2: Kết hợp với việc dạy học theo chuyên đề, giúp học sinh so

sánh được các kiến thức có liên quan với nhau

Khi dạy HHHC có thể chia nội dung các chương thành nhiều chuyên đề học sinh có thể nhận thấy điểm giống nhau và khác nhau giữa các HCHC

3.2.1 Cách thức thực hiện

Dạy ở phần hiC, kết hợp nội dung đồng đẳng – đồng phân – danh pháp – tính chất vật lý của các chương hiC no và không no thành một chuyên đề

Trang 8

VD: Dạy chuyên đề đồng đẳng, đồng phân, danh pháp hiC no và không no ta

có thể thực hiện như sau:

Cho học sinh trao đổi thảo luận 4 nhóm, mỗi nhóm một dãy đồng đẳng ankan, anken, ankadien, ankin Khi chia nhóm, mỗi nhóm đều có học sinh giỏi và các

em giỏi sẽ hỗ trợ, hướng dẫn cho em yếu kém đọc sách tìm nội dung thảo luận Yêu cầu nhóm cử bạn học yếu nhất lên trình bày nội dung đã thảo luận

Câu 1: trình bày công thức chung và các hợp chất thuộc dãy đồng đẳng ankan, anken, ankadien, ankin

- CTC: CnH2n+2

(n 1)

- HC: CH4; C2H6;

C3H8; C4H10;

- CTC: CnH2n

(n 2)

- HC: C2H4; C3H6;

C4H8;

- CTC: CnH2n – 2

(n 3)

- HC: C3H4; C4H6;

C5H8

- CTC: CnH2n – 2

(n 2)

- HC: C2H2; C3H4;

C4H6;

Cho các em học sinh khá giỏi nhận xét sự khác nhau gữa các CTC Cho các em học yếu lặp lại đặc điểm so sánh trên

Dạy phần dẫn xuất của hiC có thể kết hợp nội dung đồng phân – danh pháp ancol, andehit, axit cacboxylic thành một chuyên đề

VD: Hãy trình bày cách gọi tên theo danh pháp thay thế của ancol, andehit, axit

cacboxylic So sánh cách gọi tên theo danh pháp này

Cho học sinh thảo luận nhóm, trình bày so sánh cách gọi tên ba hợp chất

Tên hiC tương ứng + số

chỉ vị trí nhóm OH +

“ol”

Tên hiC tương ứng +

“al”

Tên hiC tương ứng +

“oic”

Tạo điều kiện cho các em học yếu lên trình bày, cho các nhóm nhận xét

Khen ngợi các em nếu trình bày đúng, có khuyến khích cộng điểm khi các em làm tốt Nếu làm chưa đúng, nhận xét nhẹ nhàng, hi vọng lần sau em cố gắng hơn

Dạy học theo chuyên đề cho các em cách nhìn tổng quát và so sánh được điểm giống nhau, khác nhau giữa các hợp chất Từ đó giúp các em nhớ sâu hơn

3.2.2 Ưu, nhược điểm

Trang 9

Ưu điểm: Tạo cho các em yếu có khả năng trình bày, hoạt động tập thể, góp ý xây dựng bài, cho các em phát huy vai trò trong học tập Có thể phát huy tinh thần thi đua giữa các nhóm

Hệ thống kiến thức liên tục, có khả năng so sánh, phân tích vấn đề cơ bản đến phức tạp

Nhược điểm: khi thảo luận các em thường không tự làm bài mà ngồi chờ các bạn khá giỏi, lúc trình bày mang tính chất đối phó

Vì thế, giáo viên phải theo sát hoạt động của các nhóm, nhắc nhở các em có ý thức học tập chưa tốt

3.2.3 Tính phổ biến

Hiện nay dạy học theo chuyên đề đang được khuyến khích áp dụng với tất cả các môn học Phương pháp này có thể áp dụng cho nhiều đối tượng cùng lúc

Môn hóa học, ngoài áp dụng cho HHHC còn có thể áp dụng cho HHVC

3.2.4 So sánh kết quả

Khi áp dụng phương pháp dạy theo chuyên đề, kết quả kiểm tra của học sinh có nhiều thay đổi

Kết quả:

25%

38%

3.3 Giải pháp 3: Chọn các dạng bài tập phù hợp năng lực học sinh

Để làm tốt các bài tập hữu cơ học sinh phải biết tên và công thức của các hợp chất hữu cơ Giáo viên linh hoạt chọn các dạng bài tập phù hợp cho các em học yếu, để bài tập không vượt quá khả năng của các em Hướng dẫn cụ thể ở mỗi bài cho các em

3.3.1 Cách thức thực hiện

Trang 10

Phân loại các dạng bài tập và cho các dạng này từ mức độ biết đến vận dụng

Dạng bài tập cần cho học sinh làm trước là viết đồng phân và gọi tên các HCHC Đây là dạng bài cơ cản và là nền tảng cho các dạng khác, các em phải biết tên, công thức mới có thể viết được phương trình, nhận biết các chất và giải các bài toán Dạng bài này nên cho các em yếu làm nhiều lần, và làm bài theo trình tự hướng dẫn của giáo viên

VD: cho học sinh viết đồng phân và gọi tên theo danh pháp thay thế của một

số hiC no, hiC không no: C5H12; C5H10; C5H8

C5H12

CH3 – CH2 – CH2 – CH2 – CH3 pentan CH3 – CH – CH2 – CH3 2-metylbutan

CH3

CH3

CH3 – C – CH3 2,2 - dimetylpropan

CH3

C5H10

CH2 = CH – CH2 – CH2 – CH3 CH2 = C – CH2 – CH3

Pent –1– en CH3 2- metylbut –1– en

CH3 – C = CH – CH3 CH3 = C – CH – CH3

CH3 2- metylbut –2– en CH3 3-metylbut -1-en

CH3 – CH = CH – CH2 – CH3 Pent –2– en

C5H8

CH C – CH2 – CH2 – CH3 Pent-1-in CH C – CH – CH3

CH3 3-metylbut -1-in

CH3 – CH CH – CH2 – CH3 Pent-2-in

Cho các em làm dạng này vài lần đến khi xem tên các em có thể viết công thức và ngược lại

Từ kiến thức đã có tiếp tục cho các em làm thêm dạng viết phương trình,

từ phương trình cơ bản có ở sách giáo khoa ta đưa lên dạng tương tự ở mức độ hiểu

Ngày đăng: 23/06/2016, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w