Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được, nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong sản xuất [4].Con người lợi dụng một cách có ý thức các tín
Trang 1LIÊU THỊ THAO Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ RÃ BẢN,
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Quản Lý Tài Nguyên cùng các thầy cô giáo trong trường đã truyền đạt lại cho em những kiến thức quý báu trong suốt khóa học vừa qua
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Nông Thu Huyền đã giúp đỡ và dẫn
dắt em trong suốt thời gian thực tập và hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Chợ Đồn đã tạo điều kiện tốt nhất để giúp đỡ em trong quá trình thực tập tại cơ quan
Trong thời gian thực tập em đã cố gắng hết sức mình để thực hiện tốt nhưng
do kinh nghiệm và kiến thức có hạn nên bản khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết Em rất mong được các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên đóng góp ý kiến bổ sung để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Liêu Thị Thao
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất cả nước tính đến 01/01/2014 12
Bảng 4.1 Diện tích, năng suất, sản lượng của cây lúa và ngô trên địa bàn xã năm 2013 30
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Rã Bản tính đến tháng 1/2014 34
Bảng 4.3 Các loại hình sử dụng đất chính của xã năm 2014 36
Bảng 4.4 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính của xã Rã Bản 40
Bảng 4.5 Phân cấp hiệu quả kinh tế các LUT nông nghiệp 41
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất 42
Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế của LUT cây ăn quả 45
Bảng 4.8 Hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất 47
Bảng 4.9 Hiệu quả môi trường của các kiểu sử dụng đất 50
Trang 4DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Cánh đồng lúa thôn Kéo Hấy 37
Hình 4.2: Nương khoai môn hộ ông Liêu Đình Quế thôn Nà Cà 38
Hình 4.3: Đồi quýt của hộ ông Liêu Đình Luân 39
Hình 4.4: Cánh đồng lúa bị đổ do mưa to 43
Hình 4.5: Nương ngô thôn Khuổi Dả 44
Hình 4.6: Đồi mỡ 3 năm tuổi tại thôn Nà Cà 46
Hình 4.7: Người dân thôn Khuổi Dả làm cỏ lúa 48
Hình 4.8: Người dân thu hoạch quýt 49
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật UBND Ủy ban nhân dân
FAO Food and Agricuture Ogannization -
Tổ chức nông lương Liên hiệp quốc
H High (cao)
L Low (thấp) LUT Land Use Type ( loại hình sử dụng đất)
M Medium ( trung bình)
VH Very hight (rất cao)
VL Very Low ( rất thấp)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.2.3 Ý nghĩa 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Khái quát về đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp 4
2.1.1 Khái niệm về đất và đất nông nghiệp 4
2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp 5
2.2 Sử dụng đất và những yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 6
2.2.1 Khái niệm về sử dụng đất 6
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất 7
2.2.3 Cơ cấu cây trồng trong sử dụng đất 9
2.3 Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 9
2.3.1 Trên Thế giới 9
2.3.2 Tại Việt Nam 12
2.4 Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất 14
2.4.1 Khái quát hiệu quả sử dụng đất 14
2.4.2 Sự cần thiết của đánh giá hiệu quả sử dụng đất 16
2.4.3 Tính bền vững trong sử dụng đất 16
2.4.4 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất 19
2.5 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 20
2.5.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn trong định hướng sử dụng đất 20
Trang 72.5.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21
2.5.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp 21
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm, thời gian tiến hành 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Rã Bản, Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 23
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Rã Bản 23
3.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã 23
3.3.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất (LUT) đạt hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường 23
3.5.5 Đưa ra định hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả cho địa bàn xã 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 23
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 23
3.4.2 Phương pháp tính hiệu quả các loại hình sử dụng đất 24
3.4.3 Phương pháp tính toán, phân tích, xử lý số liệu 25
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Rã Bản, Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 29
4.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 31
4.1.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 32
Trang 84.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nghiên, kinh tế, xã hội xã Rã Bản,
Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 33
4.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất tại xã Rã Bản, Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 33
4.2.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất xã Rã Bản 33
4.2.2 Xác định loại hình sử dụng đất 35
4.3 Đánh giá hiệu quả loại hình sử dụng đất nông nghiệp của xã 39
4.3.1 Hiệu quả kinh tế 39
4.3.2 Hiệu quả xã hội 47
4.3.3 Hiệu quả môi trường 50
4.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất (LUT) đạt hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường và định hướng sử dụng đất cho xã Rã Bản 52
4.4.1 Lựa chọn LUT sử dụng có hiệu quả 52
4.4.2 Định hướng sử dụng đất cho xã Rã Bản 53
4.5 Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong tương lai 53
4.5.1 Giải pháp chung 53
4.5.2 Các giải pháp cụ thể 55
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 9Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá; là tư liệu sản xuất đặc biệt; là một bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống; là địa bàn phân bố và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của một quốc gia Trong sản xuất nông nghiệp đất đai không những là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Việc sử dụng đất nông nghiệp không chỉ đơn thuần là ngành kinh tế sinh học tạo ra lương thực, thực phẩm phục vụ cho các nhu cầu của con người mà còn là nền kinh tế sinh thái gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đất đai phải chịu áp lực từ nhiều phía như: sự bùng nổ dân số và xu hướng đô thị hóa; sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa kéo theo các nhu cầu ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội… Con người đã sử dụng đất đai theo nhiều mục đích khác nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu
đó Các hoạt động sử dụng đất đó đã khiến cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng
bị thu hẹp và nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thoái hóa mất khả năng canh tác
Đứng trước vấn đề trên việc tìm ra những biện pháp sử dụng đất sao cho có hiệu quả ở cả hiện tại và trong tương lai là một trong những việc làm cần thiết đối với mỗi địa phương, mỗi quốc gia
Rã Bản là một xã trung du miền núi nằm ở phía Đông, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Xã Rã Bản là một xã thuần nông, nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của người dân trên địa bàn xã Trong những năm qua, nền nông nghiệp của xã đã được chú trọng đầu tư phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện Song quá trình sản xuất nông nghiệp của xã còn tồn tại nhiều hạn chế làm giảm sút về chất lượng lương thực, thực phẩm do quá trình khai thác sử dụng không hợp lý, trình độ khoa học kỹ thuật, chính sách quản lý, tổ chức sản xuất
Trang 10còn hạn chế, kỹ thuật canh tác truyền thống Ngoài ra, diện tích đất nông nghiệp cũng đang dần bị thu hẹp do người dân chuyển đổi mục đích sử dụng sang các mục đích khác Vì vậy, giải pháp nào để sử dụng hợp lý và hiệu quả vốn đất nông nghiệp hiện có của địa phương đang là vấn đề được các cấp chính quyền quan tâm nghiên cứu để đưa ra các giải pháp sử dụng đất hiệu quả theo quan điểm bền vững làm cơ
sở cho việc định hướng sử dụng đất nông nghiệp của xã Rã Bản là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ và
hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo: ThS Nông Thu Huyền em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử
dụng đất hiệu quả trên địa bàn xã Rã Bản, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái quát về đất và vai trò của đất đối với sản xuất nông nghiệp
2.1.1 Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
2.1.1.1 Khái niệm về đất
Đất là một phần của vỏ trái đất, là lớp phủ của lục địa mà bên dưới nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sinh ra sản phẩm của cây trồng Đất là lớp phủ thổ nhưỡng là thổ quyển, là vật thể tự nhiên Mà nguồn gốc của vật thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác: sinh quyển, khí quyển, thủy quyển và thạch quyển [15]
Theo Đôcutraiep (1846 – 1903) nhà bác học người Nga đưa ra định nghĩa:
“Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và thời gian” Sau này người ta bổ sung thêm yếu tố thứ sáu đó là con người
Theo C.Mac (1949): “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản phổ biến, quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”[3]
Theo quan điểm sinh thái đất dược định nghĩa: Đất là vật mang của hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp [22]
Các nhà kinh tế, quy hoạch và thổ nhưỡng Việt Nam cho rằng: Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng như sau: Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm các cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và bên dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối ) các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người trong quá khứ và hiện tại để lại.[16]
Tại Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio De Janerio, Brazil, (1993), thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng thì xác định đất đai là:
“Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của
Trang 13môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa…)”[25]
Từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu: đất đai là một vùng đất có vị trí cụ thể,
có ranh giới và có những thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên (khí hậu, địa hình, địa chất/địa mạo, thổ nhưỡng, thủy văn, dộng thực vật…), kinh tế - xã hội và các hoạt động sản xuất của con người
2.1.1.2 Khái niệm về đất nông nghiệp
Theo luật đất đai 2013 quy định “ đất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hằng năm (đất trồng lúa và cây hằng năm khác); đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất làm muối; đất nuôi trồng thủy sản
và đất nông nghiệp khác theo quy định của chính phủ”[19]
2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất đai là khoảng không gian cần thiết cho mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế quốc dân và các hoạt động của con người Trong nông nghiệp đất đai
là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất nông nghiệp là điều kiện vật chất đồng thời
là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới, xáo…) và là công cụ lao động hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi…) Quá trình sản xuất nông nghiệp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình tự nhiên sinh học của đất
Trong nông nghiệp ngoài vai trò là cơ sở không gian đất còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng:
- Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất
- Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nước, muối khoáng và các dinh dưỡng thiết yếu khác cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Như vậy, đất trở thành công cụ sản xuất Năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất Trong tất cả các loại tư
Trang 14liệusản xuất dùng trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này (Lương Văn Hinh và CS, 2003)[10]
Đất nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng là yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất nông nghiệp Nó không chỉ là chỗ dựa, chỗ đứng của lao động mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của con người vào cây trồng đều dựa vào đất đai Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được, nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong sản xuất [4].Con người lợi dụng một cách có ý thức các tính chất tự nhiên của đất đai như lý học, hóa học, sinh vật, các tính chất khác để tác động lên cây trồng
2.2 Sử dụng đất và những yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
2.2.1 Khái niệm về sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Căn cứ vào quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa những chức năng của đất nhằm đạt tới hiệu quả sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất
Vì vậy, việc sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu sản xuất
và đời sống căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện ở các khía Kạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian
Trang 152.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Trong quá trình sử dụng đất, con người là nhân tố phân phối chủ yếu Các hoạt động trực tiếp của con người lên đất là nhân tố ảnh hưởng tới đất mà bên Kạnh
đó còn có nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đất như:
Yếu tố điều kiện tự nhiên:
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, địa hình, thời tiết…) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối Vì vậy, khi xác định vùng sản xuất nông nghiệp cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, từ đó xác định cây trồng, vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu
tư thâm canh đúng
Theo N.Borlang người được giải Nobel về về giải quyết lương thực cho các nước đang phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất, quan trọng nhất, hạn chế cây trồng
ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt là với nông dân thiếu vốn
là độ phì của đất
- Điều kiện khí hậu: Khí hậu là yếu tố rất quan trọng, nó quyết định số vụ trồng trong năm vì mỗi cây trồng yêu cầu một điều kiện thời tiết khí hậu phù hợp với nó Nắm vững yếu tố khí hậu và bố trí cây trồng hợp lý sẽ tránh được những thiệt hại do khí hậu gây ra Đồng thời, giảm được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp nhằm đem lại năng suất cao, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Loài cây trồng và hệ thống cây trồng: Việc lựa chọn loài cây trồng và hệ thống cây trồng nào đó phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của từng vùng là vô cùng quan trọng, nó không những đem lại năng suất, sản lượng, chất lượng cây trồng cao mà còn thể hiện được hiệu quả quản lý và sử dụng đất của vùng đó
- Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mực nước biển, độ dốc, hướng dốc… thường dẫn đến đất đai, khí hậu khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp Địa hình và
độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, là căn cứ cho việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng, thủy lợi canh tác và cơ giới hóa
Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến
Trang 16khả năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy cần tuân theo các quy luật của
tự nhiên, tận dụng các lợi thế đó nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội
và môi trường
Yếu tố về kinh tế - xã hội:
- Chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện về nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật công
nghệ, trình độ quản lý, sử dụng lao động
- Hệ thống thị trường và sự hình thành thị trường đất nông nghiệp, thị trường nông sản phẩm Ba yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất: năng suất cây trồng, hệ số quay vòng đất và thị trường cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm
đầu ra (Nguyễn Duy Tính, 1995)[11]
- Hệ thống chính sách
- Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp của nhà nước
Biện pháp kỹ thuật canh tác :
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai,cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế Đây là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các mục tiêu sử dụng đất đề ra Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới vơi tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một biện pháp đảm bảo vật chất cho nền kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến thế kỉ 21, quy trình kĩ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế trong nền nông nghiệp nước ta[9] Như vậy, nhóm các biện pháp kĩ thuật có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất đai theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 172.2.3 Cơ cấu cây trồng trong sử dụng đất
Trong lịch sử phát triển lâu đời của sản xuất nông nghiệp thì các hệ thống canh tác đã được hình thành, phát triển thay thế lẫn nhau Có những hệ thống canh tác hiệu suất rất thấp nhưng vẫn tồn tại, có những hệ thống canh tác hiện đại được đưa vào nhưng trong môi trường sản xuất không thích hợp nên phải nhường chỗ cho những hệ thống cũ Hiện nay, các hệ thống này tồn tại xen kẽ nhau và mỗi một hệ thống phù hợp với từng điều kiện của mỗi vùng
Cơ cấu cây trồng là thành phần của cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp và là giải pháp kinh tế quan trọng của phân vùng sản xuất nông - lâm nghiệp Nó là thành phần các loại cây được bố trí trong không gian và thời gian của các loại cây trồng trong mọi hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng
Cơ cấu cây trồng phải đáp ứng được yêu cầu phát triển chăn nuôi, phải kết hợp chặt chẽ với lâm nghiệp đồng thời tạo cơ sở cho ngành nghề khác cùng phát triển Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao, nếu bố trí một cơ cấu thích hợp sẽ giảm bớt sự căng thẳng thời vụ và hạn chế lao động nhàn rỗi theo các chu kỳ sinh trưởng khác nhau, không trùng nhau theo cây trồng vật nuôi với các hình thức đa canh bao gồm: trồng xen, trồng gối, luân canh, mô hình nông - lâm kết hợp
Tóm lại, hệ thống cây trồng bền vững là hệ thống có khả năng duy trì sức sản xuất của cơ cấu cây trồng đó khi chịu tác động của những điều kiện bất lợi Để xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý, đạt hiệu quả tối ưu trong sử dụng đất thì ta phải căn cứ vào một số điều kiện cụ thể trong không gian và thời gian nhất định
2.3 Nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam
2.3.1 Trên Thế giới
Tổng diện tích bề mặt của toàn thế giới là 510 triệu km2 trong đó đại dương chiếm 361 triệu km2 (71%), còn lại là diện tích lục địa chỉ chiếm 149 triệu km2(29%) Bắc bán cầu có diện tích lớn hơn nhiều so với Nam bán cầu Toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu ha, chiếm khoảng
Trang 1822% tổng diện tích đất liền Diện tích đất nông nghiệp trên thế giới phân bố không đều: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Á chiếm 26%, Châu Phi chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên thế giới là 12.000m2 Đất trồng trọt trên toàn thế giới mới đạt 1,5 tỷ chiếm 10,8% tổng diện tích đất đai, 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp như vậy còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Diện tích đất đang canh tác trên thế giới chỉ chiếm 10% tổng diện
tích đất tự nhiên (khoảng 1.500 triệu ha), được đánh giá là :
- Đất có năng suất cao: 14%
- Đất có năng suất trung bình: 28%
- Đất có năng suất thấp: 58%
Diện tích đất có hạn trong khi dân số ngày càng tăng, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng, thu hút được nhiều sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Nhiều phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tiến hành ở các nước Đông Nam Á như: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia… Bằng các phương pháp đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu, đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, và từ đó bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của từng vùng
Tại hội nghị Quốc tế về Đánh giá đất lần thứ X tại Matxcơva (1974), một luận điểm mới về đánh giá đất của Rozop và cộng sự đã dược trình bày và nhất trí cao Nội dung luận điểm của Rozop bao gồm những điểm sau:
- Đánh giá đất phải dựa vào các vùng địa lý, thổ nhưỡng khác nhau và có các yếu tố đánh giá đất khác nhau
- Đánh giá đất phải dựa vào đặc điểm cây trồng
- Cùng một loại cây trồng, cùng một loại đất nhưng không thể áp dụng hoàn toàn những tiêu chuẩn đánh giá đất của vùng này cho vùng khác
- Đánh giá đất phải dựa vào trình độ thâm canh
- Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa chất lượng và năng suất cây trồng
Trang 19Theo Ruanell, nhà thổ nhưỡng học người Anh thì: “Đánh giá đất theo năng suất cây trồng gặp rất nhiều khó khăn vì năng suất cây trồng biểu hiện cả sự hiểu biết của người sử dụng đất Bởi vậy, đánh giá đất theo năng suất chỉ được sử dụng
để sơ bộ đánh giá độ phì của các loại đất khác nhau”
Đánh giá đất đai của Docutraiev cho rằng để đánh giá đất đai có hiệu quả cần nghiên cứu khả năng tự nhiên của đất Theo ông, khả năng tự nhiên của đất là yếu tố quyết định giá trị của đất và sự thu thập từ đất
Đánh giá đất đai của Docutraiev dựa vào những luận điểm sau:
- Những yếu tố đánh giá đất và chỉ tiêu của chúng ở những vùng khác nhau thì khác nhau
- Những yếu tố đánh giá đất dự đoán chủ yếu là những yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với năng suất cây trồng và được thể hiện giá trị tương đối bằng điểm
Những yếu tố đánh giá đất chủ yếu có thể là:
- Loại đất theo phát sinh
- Những số liệu phân tích về tính chất đất (tính chất hóa học, lý học và các dấu hiệu khác)
Việc lựa chọn các yếu tố đánh giá đất cần được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng
Năm 1972 tổ chức lương thực thế giới (FAO) đã phác thảo "Đề cương đánh giá đất" và công bố vào năm 1973 Năm 1975, Hội nghị đánh giá đất ở Rome dự thảo đề cương đánh giá đất của FAO, được các nhà khoa học đất hàng đầu bổ sung
và công bố năm 1976 (Khung đánh giá đất đai - Frameword for land Evaluation) Tài liệu này đã được nhiều nước nghiên cứu và ứng dụng cho đến ngày nay
Theo FAO, việc đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý Vì
vậy, khi đánh giá, đất được nhìn nhận như là “một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường xung quanh nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thủy văn, động vật, thực vật, những tác động
Trang 20trước đây và hiện nay của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó trong hiện tại và trong tương lai”
Như vậy, theo luận điểm này, đánh giá đất phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian và thời gian, cần xem xét cả điều kiện tự nhiên, kinh tế
và xã hội Cũng theo luận điểm này thì những tính chất đất có thể đo lường hoặc ước lượng, định lượng được Vấn đề quan trọng là cần lựa chọn chỉ tiêu đánh giá đất thích hợp, có vai trò tác động trực tiếp và có ý nghĩa đối với vùng nghiên cứu
2.3.2 Tại Việt Nam
Nước ta có tổng diện tích là 33.096.731 ha Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 28.822.953 ha chiếm 87,09% diện tích đất tự nhiên ; diện tích đất phi nông nghiệp là 3.796.871 ha chiếm 11,47% diện tích đất tự nhiên; diện tích đất chưa
sử dụng là 2.476.908 ha chiếm 7,48% diện tích đất tự nhiên
Hiện trạng sử dụng đất sử dụng đất của Việt Nam được thể hiện qua bảng 2.1 dưới đây
Trang 21Ngày nay với áp lực về dân số và tốc độ đô thị hóa diện tích đất diện tích đất nông nghiệp nước ta ngày càng giảm Vì vậy, vấn đề đảm bảo lương thực, thực phẩm trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm đang là một áp lực rất lớn Do đó việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp càng trở nên quan trọng đối với nước ta
Công tác nghiên cứu về đánh giá đất ở Việt Nam mới thực sự bắt đầu từ những năm đầu thập kỷ 70 và đã có những công trình nghiên cứu đã là nền tảng cho việc sử dụng đất đai bền vững
Năm 1983 Tổng cục quản lý ruộng đất đã đề xuất dự thảo “Phương pháp phân hạng đất cấp xã” Dựa trên những kết quả nghiên cứu bước đầu của việc đánh
giá phân hạng đã xác định và đưa đưa ra những tiêu chuẩn phân hạng đánh giá đất cho từng loại cây trồng chủ yếu
Năm 1986 Tôn Thất Chiểu [4]đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất khái quát toàn quốc tỷ lệ bản đồ 1/500.000, tác giả đã áp dụng đánh giá phân loại khả năng đất đai của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ, kết quả đã lập ra các nhóm khả năng thích hợp đất đai trên toàn quốc Trong đó có 4 nhóm cho sử dụng đất nông nghiệp, 2 nhóm có khả năng
sử dụng cho sản xuất lâm nghiệp và 2 nhóm cho sử dụng các mục đích khác
Từ những năm 1990 đến nay, viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá, đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1994) với “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam”, Nguyên Công Pho (1995) với “Đánh giá khả năng sử dụng đất đai vùng đồng bằng sông Cửu Long” … Tháng 1 năm 1995, viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tổ chức hội thảo về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái
và phát triển bền vững Hội nghị đã tổng kết, đánh giá ứng dụng quy định đánh giá của FAO vào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để đưa kết quả đánh giá vào quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất đai để thấy tiềm năng đa dạng hoá của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả cao hơn [20]
Trang 22Quy trình đánh giá đất của FAO được vận dụng trong đánh giá đất đai của Việt Nam từ các địa phương đến các vùng, miền trên toàn quốc
Trong công trình nghiên cứu “Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam”, các tác giả đã xác định được toàn Việt Nam có 340 đơn vị đất đai trong đó miền Bắc có 144 đơn vị đất đai và miền Nam có 196 đơn vị đất đa Toàn quốc có 90 loại hình sử dụng đất chính trong đó có 28 loại hình sử dụng đất lựa chọn (Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, 1995) [13]
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã góp phần đặt nền móng cho sự nghiên cứu và sử dụng đất theo quan điểm sinh thái lâu bền, bước đầu hoàn thiện quy trình về đánh giá đất theo FAO và đưa ra những kết quả mang tính khái quát Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phần lớn mới chỉ dừng ở mức độ vĩ mô, những nghiên cứu chi tiết còn chưa được thực hiện nhiều Việc đánh giá đất theo quan điểm sinh thái phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm cho cấp xã mới chỉ có một số công trình nghiên cứu như: Vũ Thị Bình (1995); Đoàn Công Quỳ (1997,2001) [8]; Đỗ Nguyên Hải (2001) [5]; Đào Châu Thu, Nguyễn Ích Tân (2004) [5]
Qua các nghiên cứu đã nêu trên ta có thể thấy các các công trình nghiên cứu của các tác tác giả là cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng đất trong thời gian tiếp theo
2.4 Hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất
2.4.1 Khái quát hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Bản chất của hiệu quả được xem là: việc đáp ứng nhu cầu của con người trong
xã hội; việc bảo tồn tài nguyên, thiên nhiên và nguồn lực để phát triển bền vững
Trang 23* Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan
trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
Một là: Mọi hoạt động sản xuất của con người đều phải tuân theo quy luật tiết kiệm thời gian
Hai là: Hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết hệ thống
Ba là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan cần xét cả phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó:
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: Với một diện tích nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng vật chất xã hội [18]
* Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao
động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân
Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
“Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp” [11]
Từ những quan niệm trên cho thấy, giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với các lợi ích xã hội mà nó
Trang 24mang lại Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm
* Hiệu quả môi trường: Hiệu quả môi trường là xem xét sự phản ứng của
môi trường đối với hoạt động sản xuất Từ các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đều ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường Đó có thể là ảnh hưởng tích cực đồng thời có thể là ảnh hưởng tiêu cực Thông thường, hiệu quả kinh tế thường mâu thuẫn với hiệu quả môi trường Chính vì vậy khi xem xét cần phải đảm bảo tính cân bằng với phát triển kinh tế, nếu không thường sẽ bị thiên lệch
và có những kết luận không tích cực
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [2]
2.4.2 Sự cần thiết của đánh giá hiệu quả sử dụng đất
“Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 - 5 tỷ ha Nhân loại đang làm hư hại đất nông nghiệp khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hóa Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, con người phải thâm canh, tăng vụ tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp” (FAO, 1976) [7]
Vì vậy, làm thế nào để xác định được những loại hình sử dụng đất, công thưc canh tác trên đất mang lại hiệu quả cao mà không làm thoái hóa đất, ô nhiễm môi trường và có thể giữ gìn tài nguyên đất cho thế hệ tương lai là một việc làm cần thiết đối với tình hình hiện nay tại mỗi quốc gia
2.4.3 Tính bền vững trong sử dụng đất
Do sự gia tăng dân số, nhu cầu phát triển kinh tế đã gây áp lực lớn cho đất nông nghiệp mục tiêu của con người là sử dụng đất một cách khoa học và hợp lí [12].Trong quá trình sử dụng lâu dài với nhận thức còn hạn chế dẫn tới nhiều vùng đất đang bị thoái hóa, ảnh hưởng tới môi trường sống của con người Những diện
Trang 25tich đất sử dụng cho mục đích nông nghiệp dần bị thu hẹp, do đó con người phải mở mang diện tích đất nông nghiệp trên những vùng đất không thích hợp Hậu quả đã gây thoái hóa đất và rửa trôi đất một cách nghiêm trọng
Những tác động của con người đã làm cho độ phì của đất ngày càng bị suy giảm và dẫn đến thoái hoá đất Đất có những chức năng chính là: Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hoá học, phân phối nước, tích trữ và phân phối vật chất, mang tính đệm và phân phối năng lượng Sử dụng đất đai một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của nhân loại Vì vậy, tìm kiếm những biện pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức trên thế giới quan tâm Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable land use) đã trở lên thông dụng trên thế giới hiện nay
Nội dung sử dụng đất bền vững bao hàm cả một vùng đất trên bề mặt trái đất với tất cả các đặc trưng: Khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, động vật - thực vật và tất cả những hoạt động sử dụng và quản lý đất đai như: Hệ thống tiêu nước, xây dựng đồng ruộng Do đó, thông qua các hoạt động thực tiễn sử dụng đất chúng ta phải xác định được những vấn đề liên quan đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng để tránh khỏi những sai lầm trong qua trình sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác động có hại đến môi trường sinh thái
Theo Fetrị, “Sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất nước, các nguồn động vật và thực vật, không bị suy thoái môi trường,
kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội”(FAO, 1994) [7] FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản cho thế hệ về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống tốt cho những người trực tiếp làm nông nghiệp
- Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên, khả năng tái sản xuất của các tài nguyên tái tạo được không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa -
xã hội của cộng đồng sống ở nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường
Trang 26- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin cho nông dân
Vào năm 1991 ở Nairobi đã tổ chức hội thảo về “Khung đánh giá việc quản
lý đất đai”đã đưa ra định nghĩa quản lý bền vững đất đai bao gồm các công nghệ, chính sách hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế - xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (Hiệu quả sản xuất);
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (An toàn);
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất, nước;
- Có hiệu quả lâu dài;
- Được xã hội chấp nhận
Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được Thực tế nếu diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được, nếu chỉ đạt được một hoặc một vài mục tiêu
mà không phải là tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận
Vận dụng các nguyên tắc đã nêu ở trên, ở Việt Nam một loại hình được coi
là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu:
- Bền vững về kinh tế: Cây trồng cho năng suất cao, chất lượng tốt, được thị trường chấp nhận
Hệ thống sử dụng phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai, nếu không sẽ không Kạnh tranh được trong cơ chế thị trường Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ phẩm
Về chất lượng, sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy vào mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sản xuất không có lãi, lãi suất phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
- Bền vững về mặt xã hội: Nâng cao được đời sống nhân dân, thu hút được lao động, phù hợp với phong tục tập quán của người dân
Trang 27Đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nông hộ là việc được ưu tiên hàng đầu, nếu họ muốn quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ nguồn đất đai, môi trường xung quanh ) Sản phẩm thu được phải thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở của người nông dân
Nội lực và nguồn lực của địa phương phải phát huy Về đất đai, hệ sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà người nông dân có thể hưởng thu lâu dài các sản phẩm nông sản đem lại từ việc khai thác đất đai
Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
- Bền vững về môi trường: Các loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái đất (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2013) [14]
Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu liều lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép Độ phì nhiêu đất tăng dần là yếu tố bắt buộc đối với quản lý sử dụng đất bền vững Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài
Ba yêu cầu trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất ở thời điểm hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá theo các yêu cầu trên để có những định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng
Tóm lại: Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững chỉ đạt được trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm đối với tài nguyên đất đai theo thời gian
và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sống của con người
2.4.4 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, chủ yếu xuyên suốt mọi quá trình sản xuất của xã hội Tùy theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kì phát triển kinh tế - xã hội khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến chưa thống nhất Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát
Trang 28khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả
Trên cơ sở đó tiêu chuẩn đáng giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thỏa mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thỏa mãn cho nhu cầu nông sản của thị trường trong nước
và xuất khẩu đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên một đơn
vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra nhỏ nhất và ít ảnh hưởng tới môi trường nhất Đó là phản ánh kết quả quá trình đầu
tư sử dụng các nguồn nhân lực thông qua đất, cây trồng thực hiện quá trình sinh học
để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao
Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đến hệ thống môi trường, đến những người lao động ngành nông nghiệp
Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phỉa theo quan điểm bền vững và đạt được 3 tiêu chuẩn chung sau:
- Bền vững về mặt kinh tế
- Bền vững về mặt xã hội
- Bền vững về mặt môi trường
2.5 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp
2.5.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn trong định hướng sử dụng đất
- Những số liệu, tài liệu thống kê định kỳ về sử dụng đất (diện tích, năng suất, sản lượng), sự biến động và xu hướng phát triển
- Chiến lược phát triển của các ngành: Nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông
Các dự án quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của các vùng và địa phương
Trang 29 Kết quả nghiên cứu tiềm năng đất đai về phân bố, sản lượng, chất lượng và khả năng sử dụng ở mức độ thích nghi của đất đai
Trình độ phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao
Tốc độ gia tăng dân số, dự báo dân số qua các thời kỳ, truyền thống, kinh nghiệm và tập quán sử dụng đất lâu đời của nhân dân Việt Nam
2.5.2 Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Sử dụng đất phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Khai thác sử dụng đất phải đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và tiến tới sự ổn định bền vững lâu dài
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo ưu tiên trước hết cho mục tiêu đảm bảo
an ninh lương thực của các nông hộ và địa phương
- Khai thác sử dụng đất phải gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất “Quản lý đất đai thông qua quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất đai vừa đảm bảo tính thống nhất của quản lý nhà nước về đất đai vừa tạo điều kiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất” [1]
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo khai thác tối đa lợi thế so sánh, tiềm năng của từng vùng trên cơ sở kết hợp giữa chuyên môn hóa và đa dạng hóa sản phẩm và sản xuất hàng hóa
- Khai thác sử dụng đất phải phải đảm bảo ổn định về xã hội, an ninh quốc phòng
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở kinh tế của nông hộ, nông trại phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán nhằm phát huy kiến thức bản địa và nội lực của địa phương
2.5.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp
Định hướng sử dụng đất nông nghiệp là xác định phương hướng sử dụng đất nông nghiệp phù hợp điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương,
Trang 30nhu cầu của thị trường… Đặc biệt là mục tiêu, chủ trương chính sách của Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ tài nguyên đất và bảo
vệ môi trường Mặt khác, định hướng sử dụng đất nông nghiệp là việc xác định một
cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong đó cơ cấu cây trồng, cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng lãnh thổ Để xác định được cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp hợp lý cần phải có nghiên cứu về hệ thống cây trồng, các mối quan hệ giữa cây trồng với nhau, giữa cây trồng với môi trường bên ngoài là điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội như: tập quán và kinh nghiệm sản xuất của người dân bản địa, lao động, quản lý, thị trường, cơ chế chính sách…
Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống cây trồng và các mối quan hệ giữa chúng với môi trường để định hướng sử dụng đất phù hợp với điều kiện từng vùng
Các căn cứ để định hướng sử dụng đất:
- Đặc điểm địa lý, thổ nhưỡng
- Tính chất đất hiện tại
- Dựa trên yêu cầu sinh thái của cây trồng, vật nuôi và các loại hình sử dụng đất
- Dựa trên các mô hình sử dụng đất phù hợp với yêu cầu sinh thái của cây trồng, vật nuôi và đạt hiệu quả sử dụng đất cao (Lựa chọn loại hình sử dụng đất tối ưu)
- Điều kiện sử dụng đất, cải tạo đất bằng các biện pháp thủy lợi, phân bón và các tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác
- Mục tiêu phát triển của vùng nghiên cứu trong những năm tiếp theo hoặc lâu dài
Việc nghiên cứu để đưa ra hệ thống sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tối ưu, hiệu quả phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng địa phương cũng như tận dụng và phát huy được tiềm năng của đất, nâng cao năng suất cây trồng, góp phần từng bước cải thiện đời sống của nhân dân, đồng thời giữ vững được môi trường sinh thái theo quan điểm phát triển bền vững đang là rất cần thiết
Trang 31Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Rã Bản
- Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của xã Rã Bản
- Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã Rã Bản
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Xã Rã Bản, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
3.2 Địa điểm, thời gian tiến hành
- Địa điểm: xã Rã Bản, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
- Thời gian tiến hành: từ 18/8/2104 đến 30/11/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của xã Rã Bản, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
3.3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Rã Bản
3.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã
- Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả xã hội
- Hiệu quả môi trường
3.3.4 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất (LUT) đạt hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường
3.5.5 Đưa ra định hướng sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả cho địa bàn xã
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
- Điều tra thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình sử dụng đất nông nghiệp của xã
có tại các phòng ban chức năng của xã
- Điều tra thu thập số liệu sơ cấp:
Trang 32+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): thông qua việc đi thực tế quan sát, phỏng vấn cán bộ và người dân để điều tra hiện trạng sử dụng đất của xã, thu thập các thông tin liên quan đến đời đời sống và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
+ Phương pháp đánh giá nông thôn có người dân tham gia (PRA): Trực tiếp tiếp xúc với người dân, gợi mở, tạo cơ hội để trao đổi, bàn bạc, đưa ra những khó khăn, nguyện vọng, kinh nghiệm trong sản xuất Sử dụng phương pháp PRA để thu thập số liệu phục vụ phân tích hiện trạng, hiệu quả các loại hình sử dụng đất và đưa ra các giải pháp trong sử dụng đất nông nghiệp nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan
- Phương pháp chọn hộ điều tra: Để chọn các hộ điều tra, em dựa vào điều kiện kinh tế, điều kiện nguồn lực và quy mô sản xuất của các nông hộ
3.4.2 Phương pháp tính hiệu quả các loại hình sử dụng đất
3.4.2.1 Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả kinh tế
Các chỉ tiêu kinh tế thường dùng trong đánh giá đất là:
Tổng giá trị sản phẩm(T): T = p 1 q 1 + p 2 q 2 + … + p n q n
Trong đó:
- p: là khối lượng từng loại sản phảm được sản xuất/ha/năm
- q: là đơn giá của từng loại sản phẩm của thị trường cùng thời điểm
- T: là tổng giá trị sản phẩm của 1 ha đất canh tác/ năm
Thu nhập thuần túy(N): N = T - C sx
3.4.2.2 Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả xã hội
- Giá trị sản xuất nhân khẩu nông lâm (nhân khẩu nông lâm)
- Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo
- Đời sống người lao động, cơ sở hạ tầng…
Trang 33- Mức độ giải quyết công ăn việc làm, thu hút lao động
- Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường
3.4.2.3 Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả môi trường
- Tỷ lệ che phủ
- Mức độ xói mòn, rủa trôi
- Khả năng bảo vệ đất, cải tạo đất
- Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
3.4.3 Phương pháp tính toán, phân tích, xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp, xử lý, tính toán trên máy tính bằng phần mềm Microsoft office excel
Trang 34Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Rã Bản, Huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phía Nam giáp xã Đông Viên, xã Đại Sảo
Phía Đông giáp huyện Bạch Thông
Phía Tây giáp xã Phương Viên
Trên địa bàn xã có đường tỉnh lộ 257 chạy qua tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Xã Rã Bản có địa hình chia cắt phức tạp, nhiều khe núi tạo nên những bãi xen chân đồi tương đối bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Do đặc điểm kiến tạo địa chất, hình thành nhiều dạng địa hình đặc trưng vùng núi, có địa thế hiểm trở, mức độ chia cắt mạnh, những cánh đồng màu mỡ được phân bố ở khu vực trung tâm xã dọc theo đường tỉnh lộ 257 và ven theo bờ sông Cầu
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu
Rã bản mang đầy đủ những đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia thành 2 mùa rõ rêt Mùa khô thời tiết lạnh, khô; mùa mưa nóng, ẩm và mưa nhiều
- Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm
- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm 22oC, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 26oC và nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 13,5oC
Trang 35Lượng mưa bình quân năm khoảng 1.700 mm, tập trung vào tháng 6, tháng 7
4.1.1.4 Thuỷ văn
Mạng lưới thủy văn của xã gồm hệ thống các sông suối chảy trên địa bàn có mật độ khá dày Trong đó có sông Cầu bắt nguồn từ dãy núi Tam Tao thuộc xã Phương Viên chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam qua xã Rã Bản Đây là con sông có lưu lượng nước chảy lớn, ngoài ra còn có các con suối nhỏ, ao, hồ… Cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp
Tuy nhiên, do địa hình dốc, cao nên một số khu vực sản xuất nông nghiệp còn thiếu nước về mùa khô, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
4.1.1.5 Tài nguyên đất
Đất đai được hình thành từ 2 loại đất chính: đất thủy thành và đất địa thành
- Đất thủy thành: loại đất này được hình thành từ đất phù sa, sông ngòi được phân bố dọc theo các bờ sông suối thuộc lưu vực sông Cầu Chủ yếu là đất ruộng
- Đất địa thành: đất được hình thành từ đất Feralit mùn vàng trên núi cao và đất Feralit phát triển trên đá Macmaxit Tầng đất dày trung bình, thành phần cơ giới thịt nhẹ hoặc pha sét, kết cấu tốt, tỷ lệ đạm trung bình Nơi có thảm thực vật bị che phủ có tỷ lệ mùn khá cao Chủ yếu là đất đồi núi
4.1.1.6 Tài nguyên nước
- Nước mặt:
Xã Rã Bản có nhiều các suối nhỏ, ao khá dầy và phân bố khá đều là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Tuy nhiên các suối đều là suối đầu nguồn nên lòng suối nhỏ hẹp, độ dốc lớn, chênh lệch lưu lượng
Trang 36nước theo mùa rất lớn Mùa khô thường gây hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất nông
- lâm nghiệp
- Nước ngầm:
Xã chưa có điều tra, khảo sát đánh giá đầy đủ về trữ lượng và chất lượng nước ngầm, nhưng qua khảo sát các giếng nước trong xã cho thấy trữ lượng và chất lượng nước ngầm ở độ sâu khoảng 20m khá phong phú, có quanh năm và có chất lượng tương đối tốt
Nhìn chung nguồn cung cấp nước chủ yếu hiện nay của xã là nước mặt song
do tập quán sinh hoạt và sản xuất nên chất lượng nước chưa tốt, cần phải xử lý trước khi sử dụng trong sinh hoạt Đồng thời cần bảo vệ, phát triển rừng đầu nguồn
để bảo vệ nguồn sinh thuỷ
4.1.1.7 Tài nguyên rừng
Xã có nguồn tài nguyên rừng phong phú và đa dạng Diện tích rừng hiện có 1.527,54 ha đất lâm ngiệp Trong đó đất rừng sản xuất có 1.191,80 ha, chiếm 48,08% diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng phòng hộ 335,74 ha chiếm 13,54% tổng diện tích đất lâm nghiệp Rừng tự nhiên ở các thôn bản trong xã có trữ lượng gỗ thấp, rừng chủ yếu là cây mỡ, keo nhưng đang ở trong thời kỳ cơ bản, chưa có khả năng khai thác lớn
Nhìn chung rừng còn nghèo, trữ lượng gỗ ít, động thực vật quý hiếm hầu như không còn Tuy nhiên với trữ lượng rừng hiện nay cùng với rừng non đang phát triển, được quản lý bảo vệ tốt, lâm nghiệp sẽ là ngành kinh tế quan trọng của xã trong những năm tới
4.1.1.8 Tài nguyên nhân văn
Đến tháng 1 năm 2014 dân số của xã có 1.987 nhân khẩu, phân bố thành 10 thôn, bản với các dân tộc như: Kinh, Tày, Nùng, Dao Do có nhiều dân tộc khác nhau sống trên cùng địa bàn nên phong tục tập quán tương đối đa dạng và phong phú Vào các dịp lễ tết và các ngày hội người dân thường tổ chức vui chơi thể thao, văn nghệ, làm lễ thờ cúng tổ tiên, tảo mộ và xum họp gia đình Nhân dân xã Rã Bản luôn thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, vượt qua khó khăn, thử thách trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và phát triển kinh tế - xã hội
Trang 37Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng uỷ, UBND xã, lãnh đạo và nhân dân xã Rã Bản đã cùng nhau vượt khó đi lên, bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế, văn hóa và giữ vững trật tự an ninh xã hội, được tỉnh, xã tặng nhiều bằng khen, giấy khen về công tác thi đua trong thời kì đổi mới
4.1.1.9 Thực trạng môi trường
Cảnh quan môi trường của xã Rã Bản mang vẻ đẹp của vùng núi phía Bắc với các dãy núi xen kẽ, dưới là những cánh đồng trồng lúa, màu và hệ thống các
khe, suối kết hợp một cách hài hòa, tạo nên một bức tranh thiên nhiên đa dạng
Trong quá trình khai thác sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và tập quán sinh hoạt của người dân chưa hợp lý gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Trong một thời gian dài, việc bảo vệ rừng không được quan tâm đúng mức dẫn đến diện tích đất rừng, các loại động thực vật quý hiếm giảm sút nghiêm trọng Cân bằng sinh thái bị phá vỡ làm ảnh hưởng đến việc tạo nguồn sinh thủy, điều hòa nguồn nước, sói mòn đất Song mức độ ô nhiễm chưa nhiều, về cơ bản môi trường tự nhiên của xã còn giữ được sắc thái tự nhiên Để đạt được sự phát triển bền vững trong tương lai, cần tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái: chú trọng phát triển rừng, có những chính sách khuyến khích nhân dân thay đổi nếp sống sinh hoạt, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trong từng thôn, bản
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
4.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp mà hoạt động chính là trồng cây lương thực, chăn nuôi và trồng rừng Trong cơ cấu kinh tế nông – lâm nghiệp chiếm tỷ trọng hơn 90% tổng giá trị sản xuất
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa ổn định, nông nghiệp bị ảnh hưởng và chịu
sự chi phối bởi các yếu tố thiên nhiên: thời tiết, dịch bệnh… Cũng như sự đầu tư của nhà nước thông qua các chương trình, dự án còn hạn chế Tuy nhiên Đảng bộ, chính quyền xã Rã Bản đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, không ngừng phấn đấu vươn lên và đạt được nhiều thành tựu quan trọng
Trang 38Về cơ cấu kinh tế đã dần dần từng bước chuyển dịch theo hướng ngành thương mại dịch vụ tăng, ngành nông – lâm nghiệp chuyển dần sang hướng sản xuất hàng hóa
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
* Khu vực kinh tế nông nghiệp:
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp vẫn là ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế Do phần lớn đất canh tác của xã là trồng lúa và trồng cây hàng năm khác ở các sườn đồi núi nên sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền xã cùng với nỗ lực vượt khó của nhân dân, sản xuất nông nghiệp của xã đã có những bước chuyển biến đáng kể
Trồng trọt:
Chủ yếu là trồng cây hằng năm như: Lúa, ngô trong đó lúa nước là chính Năm 2013, tổng diện tích gieo cấy lúa là 158,495 ha, năng suất đạt 44,7 tạ/ha, sản lượng đạt 708,833 tấn Tổng diện tích gieo trồng ngô là 40,384 ha, năng suất 39,46 tạ/ha, sản lượng đạt 159,374 tấn
Diên tích gieo trồng, năng suất và sản lượng cây lúa, cây ngô trên địa bàn xã được thể hiện trong bảng 4.1
Bảng 4.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng của cây lúa và ngô
trên địa bàn xã năm 2013
Tên cây trồng Diện tích gieo
trồng (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (tấn)
Trang 39868,207 tấn Tổng sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 558 kg/người/năm
Chăn nuôi: Ngành chăn nuôi có phát triển nhưng vẫn chưa phát huy hết tiềm năng và lợi thế vốn có Sản xuất hàng hóa chủ yếu là thịt lợn, chăn nuôi trâu bò chủ yếu lấy sức kéo phục vụ cho sản xuất là chính
Lâm nghiệp: Rã Bản là xã miền núi có diện tích đồi núi chiếm hơn 80% diện tích đất đai của xã, đây là tiềm năng để phát triển nghành lâm nghiệp Hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn xã chủ yếu tập trung trồng rừng và khai thác lâm sản Nhờ thực hiện tốt chủ trương giao đất, giao rừng tới những hộ gia đình, cá nhân nên diện tích rừng ngày càng tăng, rừng được bảo vệ và khai thác theo đúng quy định, độ che phủ rừng đạt khoảng 65% Tuy nhiên khu vực rừng trồng mới và rừng khoanh nuôi tái sinh đang trong giai đoạn phát triển cần chú trọng bảo vệ và khai thác một cách hợp lý, có hiệu quả
Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản của xã có 3,0 ha Chủ yếu
là diện tích ao nuôi cá hộ gia đình
* Khu vực kinh tế dịch vụ:
Do địa bàn xã nhỏ hẹp, các hoạt động sản xuất kinh doanh không lớn là hàng quán phục vụ nhỏ lẻ ở khu vực trung tâm xã Mọi hoạt động thương mại đều chấp hành tốt các quy định pháp luật thương mại Tuy nhiên, một số mặt hàng thiết yếu
có biến động nhưng không ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân
4.1.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
4.1.3.1 Dân số
Xã Rã Bản có 365 hộ, 1.498 nhân khẩu, trong đó: Nam là 747 người chiếm 49,87%; dân số nữ là 751 người, chiếm 50,13% dân số Gồm 10 thôn gồm 4 dân tộc tày, nùng, dao, kinh cùng sinh sống
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tương đối ổn định ở mức 1%
4.1.3.2 Lao động - việc làm
Hiện nay, vấn đề việc làm cho người lao động đang là vấn đề được chính quyền cũng như nhân dân rất quan tâm, đặc biệt là lao động nông nhàn lúc mùa vụ
Trang 40kết thúc Để giải quyết công ăn việc làm cho người lao động cần phải kết hợp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành nghề sử dụng nhiều lao động phổ thông Gắn mục tiêu giải quyết việc làm với chiến lược phát triển kinh tế, ổn định trật tự an ninh xã hội
Tính đến tháng 1/2014, số lao động trong độ tuổi là 1000 người, chiếm 66,75% dân số, trong đó lao động nông lâm nghiệp là 950 người, chiếm 95% trong tổng số lao động, còn lại là lao động phi nông nghiệp 50 người chiếm 0,5% tổng số lao động (chủ yếu là giáo viên và cán bộ quản lý hành chính) Nhìn chung chất lượng lao động chưa cao và hầu hết lao động chưa qua đào tạo
4.1.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
4.1.4.1 Giao thông
Diện tích đất giao thông của xã 18,60 ha, bao gồm tuyến đường tỉnh lộ 257 chạy với chiều dài khoảng 3 km, các tuyến đường liên thôn và trong thôn bản Nhìn chung hệ thống giao thông nông thôn của xã là đường đất, chất lượng mặt đường xấu, hàng năm vào mùa mưa lũ làm sạt lở xói mòn các tuyến đường trong xã nên việc đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân còn gặp nhiều khó khăn
4.1.4.2 Thuỷ lợi và nước sinh hoạt
Diện tích đất thủy lợi của xã 4,35 ha, trên địa bàn xã hiện nay chủ yếu vẫn là
hệ thống mương đất nên việc tưới tiêu còn rất nhiều hạn chế cần phải khắc phục nâng cấp trong thời kỳ quy hoạch đầu tư xây dựng, kiên cố hóa kênh mương để thâm canh tăng vụ, nâng cao năng suất cây trồng và vật nuôi
4.1.4.3 Cấp điện
Xã Rã Bản có mạng lưới điện tương đối hoàn chỉnh, đường dây điện đã được kéo về 10 thôn bản trong tổng sô 10 thôn, số hộ được sử dụng điện là 349 hộ dân trong tổng số 365 hộ, chiếm 95,62%