Cùng với xu hướng đổi mới của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng đang trong quá trình đổi mới, và đã đạt được những thành công nhất định. Xu thế hội nhập, cạnh tranh ngày một diễn ra ngay gắt. Đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước những vận hội mới cũng như những khó khăn phải đối mặt. Hoạt động của ngân hàng đạt kết quả tốt sẽ tạo điều kiện rất lớn cho nền kinh tế phát triển và ngược lại ngân hàng hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng trầm trọng tới sự phát triển của cả nền kinh tế, thẩm chí cả nền kinh tế thế giới. Xác định được tầm quan trọng của tín dụng và vai trò của ngân hàng Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có nhiều giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do nợ tồn đọng từ các năm khác chưa xử lý hết và những khoản quá hạn mới phát sinh. Năm 2001 , theo thống kê của NHNN Việt Nam thì nợ quá hạn của NHTM Việt Nam là 11%. Đây là trở ngại rất lớn cản trở sự phát triển của ngân hàng. Để phát triển ổn định và bền vững thì đòi hỏi hệ thống NHTM Việt Nam cần tiếp tục đổi mới hơn nữa.
Trang 1Lời nói đầu
Cùng với xu hướng đổi mới của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũngđang trong quá trình đổi mới, và đã đạt được những thành công nhất định Xu thế hộinhập, cạnh tranh ngày một diễn ra ngay gắt Đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trướcnhững vận hội mới cũng như những khó khăn phải đối mặt Hoạt động của ngân hàngđạt kết quả tốt sẽ tạo điều kiện rất lớn cho nền kinh tế phát triển và ngược lại ngânhàng hoạt động kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng trầm trọng tới sự phát triển của cả nềnkinh tế, thẩm chí cả nền kinh tế thế giới Xác định được tầm quan trọng của tín dụng
và vai trò của ngân hàng Chính phủ và NHNN Việt Nam đã có nhiều giải pháp đểnâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng cũng như chất lượng tín dụng trong toàn bộ hệthống NHTM Việt Nam Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do nợ tồn đọng từ cácnăm khác chưa xử lý hết và những khoản quá hạn mới phát sinh Năm 2001 , theothống kê của NHNN Việt Nam thì nợ quá hạn của NHTM Việt Nam là 11% Đây làtrở ngại rất lớn cản trở sự phát triển của ngân hàng Để phát triển ổn định và bền vữngthì đòi hỏi hệ thống NHTM Việt Nam cần tiếp tục đổi mới hơn nữa
Hoà vào nhịp đổi mới toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, chi nhánh HBT cũng có sự đổi mới đáng khích lệ Tuy nhiên, nhìn vào kết quả hoạt động trongnhững năm gần đây có thể thấy có một số vấn đề cần phải khắc phục trong thời giantới, đó là tình trạng dư nợ tín dụng ngắn hạn có tỷ trọng ngày càng giảm trong tổng dư
NHCTII-nợ, mặc dù về số tuyệt đối thì có sự tăng lên trong các năm gần đây Số nợ xấu tồnđọng từ các năm trước mặc dù đã tích cực xử lý nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu, nợ quáhạn mới còn phát sinh, tình trạng nợ khoanh vẫn chiếm tỷ trọng cao
trong tổng nợ quá hạn Để bắt kịp với sự đổi mới thì nâng cao chất lượng tín dụngngắn hạn tại chi nhánh NHCTII-HBT là điều hết sức cần thiết để để chi nhánh pháttriển vững chắc
Xuất phát từ hoàn cảnh phát triển nền kinh tế và thực trạng hoạt động tín dụng củachi nhánh NHCT-HBT, em đã nghiên cứu và tìm hiểu về tình hình hoạt động tín dụngngắn hạn tại chi nhánh NHCTII-HBT với để tài “Vai trò tín dụng ngắn hạn và iải phápnâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh NHCTII-HBT” Bài viết tậptrung nghiên cứu về các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn, tập trung vàonhững vấn để liên quan đến hoạt động tín dụng ngắn hạn tại NHCTII- HBT Trongkhuôn khổ bài viết này, em chia thành 3 phần:
ChươngI: Tổng quan về tín dụng và chất lượng tín dụng ngắn hạn
ChươngII: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn tại NHCTII-HBT
ChươngIII: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của
NHCTII-HBT
Em xin chân thành cảm ơn GS - Tiến sĩ Cao Cự Bội đ^ tận tình giúp đỡ em hoànthành bài viết này Em cũng xin cảm ơn cán bộ công tác tại NHCTII-HBT đ^ tạo mọiđIều kiện và tận tình giúp đỡ trong thời gian em thực tập và hoàn thành bài viết này
Chương I: Tổng quan về tín dụng và chất lượng tín dụng ngắn hạn
1 Tổng quan về Ngân Hàng Thương Mại
Trang 2cuộc sống và công việc buôn bán mà các thương gia đã lập ra những nơi để đổi tiền,nhận tiền gửi và thu phí của người gửi, họ giúp chi trả và thanh toán hộ người gửi và
ba nghiệp vụ đầu tiên hình thành, đó là: đổi tiền, nhận tiền gửi và thanh toán hộ Lúcđầu người gửi tiền phải trả một khoản tiền phí cho các thương nhân này, nhưng về sau
do áp lực cạnh tranh và do các khoản tiền gửi này sinh lợi nên các thương nhân này đãtrả phí cho người gửi để tăng khả năng huy động Qua một thời gian các thương gianày thấy rằng: luôn có một lượng tiền mặt ổn định đọng trong két họ Trong khi đómột số thương gia buôn bán lại có nhu cầu vay Vì vậy họ cho vay để kiếm thêm lợinhuận, chính là mầm mống xuất hiện những nghiệp vụ nền tảng của NHTM
Hoạt động và vai trò của ngân hàng không phải là bất biến, mà liên tục phát triển
theo các điều kiện kinh tế xã hội Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng càng ngày càngphát triển, đã tạo một nghành công nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, đó làNHTM Nền kinh tế càng ngày càng phát triển, nhu cầu ngày càng phong phú và đượcnâng cao, chính vì vậy bên cạnh những nghiệp vụ cơ bản, NHTM đ^ cho ra đời nhiềudịch vụ mới như: Dịch vụ bảo lãnh L/C, nghiệp vụ thuê mua, phát hành các chứng chỉtiền gửi, chiết khấu hối phiếu
Hai ngân hàng thương mại đầu tiên trên thế giới đó là Banca di Baralone(1401) vàBanca di Valencia(1409) cả hai đều ở Tây Ban Nha
Mặc dù NHTM ra đời từ rất lâu nhưng các nhà kinh tế học, các nhà kinh tế vẫn chưanhất trí với nhau về dịnh nghĩa ngân hàng bởi do sự khác biệt về luật pháp, số lượng
Trang 3Ngày nay, việc kinh doanh dịch vụ tiền tệ không còn là độc quyền của ngân hàng.Cùng với các ngân hàng, kinh doanh và làm dịch vụ còn có những tổ chức tài chínhkinh doanh những loại hình tương tự như công ty bảo hiểm các loại, các hiệp hội tiếtkiệm cho vay , các quỹ hưu trí, các tổ chức tín dụng tiêu dùng, các quỹ tín dụng, hợptác xã tín dụng Tuy nhiên trong bất cứ nước nào trên thế giới, thì ngân hàng thươngmại vẫn là tổ chức tài chính lớn nhất, quan trọng nhất trong giới kinh doanh tiền tệ.
Việt Nam, theo pháp lệnh “ NH, HTX tín dụng và công ty tài chính” ban hànhngày24/05/1990 thì “ NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu vàthường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng sốtiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.Còn theo luật các tổ chức tín dụng ban hành26/12/1997 NHTM là một doanh nghiệpthực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng đó là “ hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán”
Ngân hàng ra đời ở nước ta năm1951 với tên gọi “Ngân hàng quốc gia Việt Nam” Sự
ra đời ngân hàng Việt Nam mang nét đặc trưng riêng biệt: Ngân hàng nhà nước ra đờivừa làm chức năng quản lý tiền tệ vừa làm chức năng của NHTM( ngân hàng mộtcấp) Cho đến 26/03/1988, nghị định 53/HĐBT quyết định chia hệ thống ngân hàngViệt Nam thành 2 cấp, tách bạch chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ(Ngân hàngnhà nước) và chức năng kinh doanh tiền tệ(Ngân hàng thương mại) Trong những nămqua cùng với sự phát triển của đất nước, nghành ngân hàng đã có những phát triểnvượt bậc góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước Ngành ngân hàng
Trang 4ngày càng hiện đại về công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng, tham gia rộngrãi vào thị trương tiền tệ trong khu vực và quốc tế.
1.2 Chức năng của NHTM
Tầm quan trọng của NHTM được thể hiện qua các chức năng của nó Các chức năngcủa NHTM có thể được nêu ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng nhìn chung cócác chức năng sau:
1.2.1 Chức năng tạo tiền
Để phục vụ cho lưu thông, giúp cho nền kinh tế phát triển, NHNN đưa một khốilượng tiền nhất định vào trong lưu thông Lượng tiền đó phải đảm bảo đáp ứng nhucầu của nền kinh tế, nhưng lượng tiền cung ứng vượt quá nhu cầu của nền kinh tế sẽgây ra lạm phát có hại cho nền kinh tế Với một lượng tiền cung ứng ban đầu, thôngqua hoạt động nhận tiền gửi và cho vay của hệ thống NHTM đ^ làm tăng lượng tiềncung ứng so với ban đầu Đây là chức năng chủ yếu của NHTM, chức năng tạo tiền
Và thông qua chức năng này của NHTM mà NHNN với những công cụ của mình như
dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu có thể thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gianhằm đưa ra một khối lượng tiền phù hợp, ổn định được giá trị đồng tiền
1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán
Với hoạt động này của mình, NHTM đã tạo điều kiện cho việc thanh toán giữa các tổchức cá nhân được thuận tiện và đặc biệt là tiết kiệm được chi phí cho họ cũng như
Trang 5càng phát triển tại các NHTM Việc thanh toán không dùng tiền mặt được các ngânhàng khuyến khích.
1.2.3 Hoạt động huy động tiền gửi
Để có được nguồn vốn để thực hiện việc đầu tư tín dụng, NHTM đã tiến hành đã tiếnhành huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và dân cư Việc huy động vốn này giúp choNHTM có đủ lượng vốn đáp ứng cho nhu cầu của nền kinh tế Tạo ra thu nhập chongười gửi tiền là một lợi ích mà hoạt động huy động vốn của ngân hàng mang lại.Những người gửi tiền vào NHTM sẽ được nhận tiền hi, tạo thu nhập cho những khoảntiền nhàn rỗi của họ Ngày nay để huy động được nhiều tiền gửi, NHTM đã phát triểnrất nhiều loại tiền gửi khác nhau: Có kỳ hạn hoặc không có kỳ hạn, tiền gửi thanh toánhoặc tiền gửi tiết kiệm
1.2.4 Hoạt động tín dụng
Đây là hoạt động chủ yếu của NHTM bởi nó tạo ra thu nhập chính cho NHTM, duy trì
sự tồn tại của NHTM Đây cũng là hoạt động cơ bản và lâu dài của NHTM NHTMdùng những khoản vốn huy động được để cho vay đối với nền kinh tế, nhằm giúpnhững người có nhu cầu có được vốn để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh củamình hoặc đảm bảo các nhu cầu khác Với việc cho vay này NHTM đã tạo cho sự pháttriển kinh tế được thông suốt và hiệu quả Bởi nếu không có nguồn vốn vay từ ngânhàng thì rất nhiều doanh nghiệp không thể tiến hành quá trình sản xuất kinh doanhđược Hầu như mọi doanh nghiệp hiện nay đều vay vốn ngân hàng Bên cạnh đó hoạtđộng cho vay mang lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng lãi vay Càng cho vay được
Trang 6sống còn trong hoạt động kinh doanh của mình để vừa đảm bảo có thu nhập cao vừa
an toàn, hiệu quả
1.2.5 Tài trợ hoạt động ngoại thương
ngày nay khi mà hoạt động thương mại quốc tế ngày một phát triển, xuất nhập khẩugiữa các nước đã diễn ra mạnh mẽ thì đòi hỏi việc thanh toán quốc tế cũng như
những hộ trợ khác cho thanh toán ngày càng nhiều Việc đảm bảo thanh toán cho cácdoanh nghiệp giữa các nước đòi hỏi một tổ chức đứng ra phải có đủ khả năng và uytín như NHTM mới đảm trách được Các NHTM giúp cho các doanh nghiệp có hoạtđộng đối ngoại thực hiện việc thanh toán được hiệu quả, an toàn và đặc biệt là giảmđược chi phí cho họ Ngoài ra NHTM còn có hỗ trợ về vốn, nghiệp vụ giúp cho cácdoanh nghiệp có thể thực hiện một cách thuận lợi và an toàn các hoạt động ngoạithương Cụ thể ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ mở L/C, séc chuyển tiền, hốiphiếu
1.2.6 Hoạt động bảo lãnh
Một số doanh nghiệp khi thực hiện các dự án lớn mà đòi hỏi về vốn và uy tín vượt quakhả năng tài chính của mình, nhưng dự án đó là có hiệu quả Vì vậy các doanh nghiệpnày rất cần một tổ chức đứng ra bảo lãnh cho họ để họ ký kết hoạt động thực hiện dự
án Ngân hàng chính là người bảo lãnh tốt cho các doanh nghiệp bởi NHTM có tiềmlực về vốn và uy tín Mặt khác, NHTM có thể tư vấn cung cấp tiền tệ, nghiệp vụ giúpcho doanh nghiệp quản lý tốt dự án Hiện nay, việc NHTM bảo lãnh cho các doanh
Trang 7Ngoài ra NHTM còn có nhiều chức năng khác như: Dịch vụ uỷ thác, bảo đảm an toànvật có giá
1.3 Các nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Nghiệp vụ nợ
hoạt động của NHTM dựa chủ yếu trên nguồn vốn huy động còn nguồn vốn tự có củaNHTM là rất nhỏ, nó chỉ là tấm đệm để hạn chế những rủi ro Số vốn huy động tại cácNHTM chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau như: lãi suất, tình hình kinh tế
xã hội, cách thức gửi tiền và trả lãi, phong tục tập quán, địa điểm và thái độ phục vụcủa ngân hàng
- Tiền gửi tiết kiệm: Mục đích của loại tiền gửi này là để hưởng hi suất Có hailoại tiền gửi tiết kiệm là: Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và không có kỳ hạn Các
kỳ hạn do sự thoả thuận giữa khách hàng và ngân hàng
Ngoài hai loại tiền gửi chủ yếu trên ngân hàng còn thực hiện một số hình thức tiền gửi
Trang 8thường xuyên mà chỉ thực hiện trong những trường hợp nhất định, bởi chứa đựngtrong đó ràng buộc và điều kiện.
1.3.2 Nghiệp vụ có
Đây là hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng Ngân hàng dùng vốn huy động đượccùng với vốn tự có để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình nhằm tạo ranguồn thu nhập Nghiệp vụ có của ngân hàng thể hiện ở các hoạt động sau:
- Hoạt động ngân quỹ: Mỗi ngân hàng đều phải giữ lại một khoản tiền tại két củaNgân hàng để phòng những trường hợp rút tiền của người gửi, tránh đượcnhững rủi ro về thanh toán Nên có thể nói hoạt động này đảm bảo cho khảnăng thanh toán thường xuyên của ngân hàng Khoản tiền bảo đảm khả năngthanh toán của ngân hàng có thể là tiền tại két, tiền gửi NHTW, chứng khoán,tiền mặt trong quá trình thu Đó là những tài sản có tính thanh khoản cao.Những tài sản này không sinh lời hoặc sinh lời thấp Vì vậy, ngân hàng phảiđiều chỉnh lượng dự trữ này sao cho hợp lý để đảm bảo khả năng sinh lời cao,vừa đảm bảo khả năng thanh toán tốt
- Hoạt động cho vay: Đây là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của ngânhàng, nó thường đem lại cho ngân hàng khoản lợi nhuận cao tới 60 - 70% Mặtkhác, đây cũng là hoạt động nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều rủi ro Có thể nói hoạtđộng tín dụng có mức độ rủi ro cao nhất, do đó để thực hiện có hiệu quả hoạtđộng này các ngân hàng phải có những biện pháp để hạn chế những rủi robằng cách quản lý chặt chẽ các khoản cho vay
Trang 9vẫn thuộc về bên cho thuê Chỉ đến khi kết thúc hợp đồng Người thuê có quyền mualại tài sản có ở mức giá thoả thuận giữa hai bên, ấn định từ khi hợp đồng này.
- Hoạt động đầu tư trực tiếp: Bên cạnh các hình thức đầu tư gián tiếp bằng
cách cấp tín dụng ở trên, ngân hàng còn tham gia đầu tư trực tiếp vào một công trình Hoạt động này một mặt tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, mặt khác giúp bổ trợ cho cáchoạt động khác bởi đa dạng hoá giảm rủi ro Cùng với việc nắm giữ chứng khoán,ngân hàng có thể đảm bảo cho khả năng thanh toán của tài sản có sinh lời
1.3.3 Nghiệp vụ trung gian
Ngoài 2 nghiệp vụ trên, ngân hàng còn thực hiện cung cấp các dịch vụ khác cho kháchhàng nhằm thu phí và khuyến khích khách hàng đến với ngân hàng Ngày nay, hoạtđộng này ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Các hoạt động trunggian bao gồm:
- Dịch vụ thanh toán và cung cấp phương tiện thanh toán: Ngân hàng đứng ralàm trung gian thanh toán hộ cho khách hàng và phát hành các phương tiệnnhằm phục vụ cho thanh toán như: UNC, UNT, Sec, L/C
- Dịch vụ môi giới: Ngân hàng tổ chức mua bán, lưu ký, bảo quản chứng khoáncho ngân hàng Tại Việt Nam, các ngân hàng thành lập ra các công ty chứngkhoán để thực hiện hoạt động này
- Dịch vụ ngân quỹ: Ngày nay, khi mà thị trường không dùng tiền mặt thì hoạtđộng này ngày càng phát triển rộng Ngân hàng đứng ra thu hộ và phát tiền
Trang 10- Dịch vụ bảo lãnh: Bằng uy tín và khả năng tổ chức của mình, ngân hàng đứng
ra bảo lãnh cho các công ty phát hành chứng khoán, bảo lãnh vay vốn, bảolãnh thực hiện hợp đồng
- Dịch vụ tư vấn: Cung cấp thông tin và hỗ trợ về mặt chuyên môn cho kháchhàng
- Một bên trao ngay một số tài hoá hay tiền bạc;
- Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của tài hoá đó trong mộtthời gian nhất định và theo một số điều kiện nào đó
Trong quan hệ giao dịch trên thể hiện các nội dung:
Trái chủ hay còn gọi là người cho vay chuyển giao cho người thụ trái hay còn ngọi làngười đi vay một lượng giá trị nhất định Giá trị này có thể dưới hình thái giá trị hoặcdưới hình thái hiện vật như hàng hoá, máy móc, thiết bị bất động sản
Trang 11suất mà hai bên thoả thuận Người cho vay phải tuân thủ nguyên tắc : L^i suất cho vayphải chứa đựng các yếu tố như lạm phát, rủi ro và chi phí cơ hội Người cho vay phảichú ý đến giá trị thời gian của tiền.
Như vậy: Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bênchuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồngthời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả phần tài sản đã mượn cộng thêm mộtphần lợi tức theo thời hạn đã thoả thuận
Từ tín dụng xuất phát từ tiếng la tinh -credittum- có nghĩa là sự tín nhiệm Trong giớitài chính, một người được xem là có uy tín khi người khác tin tưởng và sẳn sàng kýthác tài sản hoặc tiền bạc cho anh ta Tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời tgianhoàn trả Sự hứa hẹn biểu hiện mức độ tín nhiệm của người cho vay, yếu tố tín nhiệm
là yếu tố bao trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụngphát sinh
Do nhu cầu phát triển và đi lên của xã hội loài người mà quan hệ tín dụng đã hìnhthành rất sớm Quan hệ tín dụng đầu tiên trong lịch sử là tín dụng nặng lãi, quan hệ tíndụng này hình thành từ đầu chế độ nô lệ và thậm chí còn tồn tại đến ngày nay Hìnhthức tín dụng này được coi là phương pháp tích luỹ nguyên thuỷ, là công cụ đẩynhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tạo điều kiện cho phương thức sản xuất mới
ra đời ra đời Quan hệ tín dụng phát triển hết sức đa dạng và phức tạp bắt đầu từ khichế độ chủ nghĩa tư bản ra đời Cho đến ngày nay các quan hệ tín dụng đã phát triểntoàn diện Trong thực tiễn thường có các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng cụ
Trang 12Quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các doanh nghiệp và công chúng thể hiện dướihình thức nhà nước phát hành các giấy nợ như công trái, trái phiếu đô thị, tín phiếukho bạc.
Quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau hay còn gọi là tín dụng thương mại thểhiện dưới hình thức bán chịu hàng hoá
Quan hệ tín dụng giữa các công ty và công chúng thể hiện dưới hình thức các công
ty phát hành các trái phiếu, hoặc bán hàng trả góp
Quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng với cácdoanh nghiệp và công chúng, thể hiện dưới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng,cho khách hàng vay, tài trợ thuê mua
Quan hệ tín dụng giữa nhà nước và các tổ chức tài chính quốc tế, chính phủ cácnước thể hiện dưới hình thức vay nợ
Với chức năng kinh doanh tiền tệ, các ngân hàng thương mại tham gia vào quan hệ tíndụng với hai tư cách Ngân hàng đóng vai trò thụ trái và hành vi này được gọi là đivay bao gồm nhận tiền gửi của khách hàng, phát hành trái phiếu để vay vốn trong xãhội, vay vốn của ngân hàng trung ương và các ngân hàng khác Ngân hàng đóng vaitrò trái chủ, hành vi này được gọi là cho vay Vì tính chất phức tạp của hoạt động chovay vì thế khi nói đến tín dụng người ta thường đề cập đến hoạt động cho vay mà bỏquên mặt thứ hai đó là đi vay
Quan hệ tín dụng mà ngân hàng đóng vai trò trái chủ gọi là tín dụng ngân hàng Tín
Trang 13đã dẫn đến sự ra đời mối quan hệ tín dụng này Do chuyên môn hoá trong kinh doanh
và do đặc điểm của hàng hoá tiền tệ mà hình thức tín dụng này ngày càng phát triển vàtrở thành hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế hàng hoá Tín dụng ngân hàng
đã khắc phục được những hình thức tín dụng trước đó và thực sự trở thành một yếu tốquan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển
Như vậy:Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn về vốn tiền tệ giữa ngân hàng vàcác đơn vị kinh tế, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các tầng lớp dân cưtheo nguyên tắc có hoàn trả
2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
2.2.1 Căn cứ vào mục đích
Dựa vào căn cứ này cho vay được chia ra làm các loại sau:
Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bấtđộng sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịchvụ
Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưuđộng cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Cho vay tiêu dùng là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắmcác vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn thực hiện các khoản cho vay để trangtrải các chi phí thông thường của đơì sống thông qua phát hành thẻ tín dụng
Trang 14hạn của cá nhân Đối với ngân hàng thương mại tín dụng ngân hàng chiếm tỉ trọng caonhất.
Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước Việt Nam, tíndụng trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 3 năm, còn đối với các ngân hàng thươngmại trên thế giới loại tín dụng có thời hạn đến 7 năm Tín dụng trung hạn chủ yếuđược đầu tư để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mởrộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồivốn nhanh
Tín dụng dài hạn: Theo quy định ở Việt Nam loại tín dụng có thời hạn trên 3 năm,còn trên thế giới loại tín dụng này có thời hạn trên 7 năm.Tín dụng dài hạn là loại tíndựng cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phươngtiện vận tải có quy mô lớn, xây dung các xí nghiệp mới Nghiệp vụ truyền thống củacác ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn, nhưng từ những năm 70 trở lại đâycác ngân hàng thương mại đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp và một trong nhữngnội dung đổi mới đó là nâng cao tỉ trọng cho vay trung và dài
2.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Theo căn cứ này tín dụng được chia làm hai loại:
Cho vay không bảo đảm là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sựbảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân kháchhàng Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tàisung
Trang 15Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có tài sản thếchấp hoặc cầm cố hoặc có sự bảo hnh của người thứ ba Đối với khách hàng không có
uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm Sự bảo đảm này là căn
cứ pháp lý để ngân hàng có một nguồn thu thứ hai, bổ sung nguồn thu nợ thứ nhấtthiếu chắc chắn Đồng thời tài sản thế chấp này bảo đảm khách hàng sử dụng vốnđúng mục đích cam kết
2.2.4 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Theo căn cứ này tín dụng ngân hàng được chia làm hai loại:
Tín dụng bằng tiền là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được cung cấpbằng tiền Đây là loại tín dụng chủ yếu của các ngân hàng và việc thực hiện bằng các
kỷ thuật khác nhau như: Tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trảgóp
Tín dụng bằng tài sản là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa dạng,riêng đối với các ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng phổ biến đó là tài trợthuê mua Theo phương thức cho vay này ngân hàng hoặc các công ty thuê mua( công
ty con của ngân hàng)cung cấp trực tiếp tài sản cho người đi vay được gọi là người đithuê và theo định kỳ người đi thuê hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi
2.2.5 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
Dựa vào căn cứ này cho vay chia làm hai loại:
Trang 16Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khếước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Các ngân hàngthương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau: Chiết khấu thương mại, mua các phiếubán hàng, mua các khoản nợ của doanh nghiệp Ngoài các loại cho vay trên đây, ngânhàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình Đốivới nghiệp vụ này ngân hàng không phải cung cấp tiền, nhưng khi người bảo lãnhkhông thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thựchiện nghĩa vụ thanh toán Chính vì lý do trên đây, mà người ta gọi hành vi cam kếtbảo lãnh của ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký Tín dụng bằng chữ ký bao gồm cácloại: Tín dụng chứng từ, bảo lãnh của ngân hàng
3 Tín dụng ngắn hạn
3.1 Khái niệm
Tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn nhỏ hơn một năm NHTM lànhà cung ứng phần lớn các khoản vay ngắn hạn cho các doanh nghiệp Các khoản vaynày ít rủi ro về khả năng thanh toán cũng như về lãi suất so với vay trung và dài hạn.Những khoản cho vay ngắn hạn thường được sử dụng rộng rãi trong việc tài trợ mangtính thời vụ về vốn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các khoản chi phí sản xuất
3.2 Phân loại tín dụng ngắn hạn
Nếu xét theo cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, thì đây là tín dụng tài trợ vốn lưuđộng Nếu như vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp không đủ trang trải vềloại vốn này, thì doanh nghiệp đó phải xin vay tín dụng ngân hàng Nhu cầu về vốn
Trang 17quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp Nhưng dù nhu cầu cao hay thấp, doanhnghiệp luôn sử dụng tín dụng vốn lưu động với tư cách là các khoản vay ít hay nhiềuthường xuyên theo cơ cấu tài chính của doanh nghiệp.
Dưới góc độ kỹ thuật tín dụng, Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay ngắn hạntheo các loại hình phổ biến sau đây:
3.2.1 Tín dụng ứng trước
Các tín dụng ứng trước được gọi bằng các từ ngữ khác nhau Các tên gọi của chúngthường thể hiện những thực tế rất gần gũi như: Mở tín dụng khoản, thấu chi, tín dụngvãng lai(hay còn gọi là cho vay luân chuyển) Nhìn chung, các khoản tín dụng ứngtrước chủ yếu theo nhu cầu toàn bộ tài sản lưu động, nghĩa là không thực hiện một tàisản xác định nào Nói chung không có một đảm bảo riêng
Tín dụng ứng trước bao gồm các loại sau đây:
3.2.1.1 Tín dụng thế chấp hoặc nghiệp vụ mở tín dụng khoản
Loại tín dụng này là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tíndụng trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhấtđịnh
Trong hình thức này, ngân hàng cho khách hàng vay bằng cách mở cho họ một tíndụng khoản Khi mở tài khoản như vậy khách hàng không phải bỏ tiền vào đấy, màtrái lại có thể lấy tiền ra, tiền đó là tiền ứng trước của ngân hàng vì vậy nghiệp vụ nàycòn gọi là nghiệp vụ ứng trước Khách hàng có thể sử dụng tài khoản này để phát
Trang 18Tín dụng ứng trước không bảo đảm:là việc cấp tín dụng không cần tài sản thế chấp,cầm cố hoặc bảo lãnh, mà dựa trên cơ sở uy tín của khách hàng.
Trước khi cho vay ngân hàng phải xem xét, đánh giá, phân tích Đánh giá khách hàngdựa vào hang loạt chỉ tiêu như mức vốn, lợi nhuận hàng năm, uy tín của sản phẩm trênthị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, trình độ quản lý
Tín dụng ứng trước có bảo đảm: là loại tín dụng được cấp phát trên cơ sở có tài sảnthế chấp(do đó có tên gọi là tín dụng thế chấp), cầm cố hay bảo lmh của một haynhiều người khác
nó trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp
3.2.1.3 Tín dụng vãng lai
Trang 19những ưu điểm của nó trong nền kinh tế thị trường Từ đó rút ra những thích ứng vớiđiều kiện Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và phát triển đa dạng các loại tíndụng của NHTM.
Tín dụng vãng lai được xem là hình thức tín dụng cổ điển nhất Tín dụng vãng lai làtín dụng ngân hàng do cơ quan tín dụng cấp cho khách hàng của mình : bằng bản tệhoặc ngoại tệ và theo nhu cầu khách hàng có thể được sử dụng với số lượng khácnhau nhưng không vượt quá số tiền quy định trong hợp đồng Việc tính số dư cáckhoản nộp vào và rút ra khỏi tài khoản của khách hàng được tiến hành sau nhữngkhoảng thời gian quy định trong hợp đồng, đồng thời với việc thanh toán các khoảnchi trả tín dụng trên tài khoản thống nhất của khách hàng
3.2.1.4 Tín dụng thời vụ
Hoạt động thời vụ là hoạt động sản xuất được thực hiện ở một thời điểm nào đó trongnăm trong khi việc tiêu thụ lại được thực hiện tại một thời điểm khác hoặc ngược lạiviệc sản xuất được rải đêù trong cả năm để tránh chi phí đột biến và dàn đều tổng chiphí trong khi việc tiêu thụ lại được tiến hành trong một thời gian rất ngắn Trong cáctrường hợp này doanh doanh nghiệp có nhu cầu thời vụ về tài trợ vốn lưu động và nóđược thoả mản bằng tín dụng thời vụ
Doanh nghiệp yêu cầu ngân hàng phục vụ mình giúp đỡ tài chính ở các thời vụ Dựavào điều tra nghiên cứu của mình, ngân hàng sẽ có kế hoạch tài trợ thời vụ cụ thể củatong tháng, các nhu cầu và nguồn vốn dự kiến Nói cách khác, khi có nhu cầu vượtquá nguồn vốn trong một thời kỳ nào đó người ta đưa ra nhu cầu đặc biệt về thời vụ
Trang 20suốt năm đương đầu với thời kỳ mùa vụ mà không cần tới tín dụng bên ngoài, thì chắcchắn là một doanh nghiệp quản lý chưa tốt nguồn vốn, bởi vì nó chứng tỏ việc khôngtận dụng số tư bản thường có trong một thời kỳ của năm và mức sinh lợi của vốn này
do đó cũng phải gánh chịu những hậu quả
3.2.2 Cho vay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền
3.2.2.1 Chiết khấu thương phiếu
Thương phiếu hay kỳ phiếu thương mại là một giấy nợ phát sinh trong quan hệ thươngmại và người hưởng thụ một trái quyền đối với người thụ trái khi giấy nợ đến hạn.Thương phiếu là công cụ của tín dụng thương mại
Từ thời Trung cổ các thương phiếu đã trở thành phương tiện quan trong trong kinhdoanh ngân hàng Ngày nay, có rất nhiều nghiệp vụ ngân hàng được thực hiện thôngqua việc chiết khấu thương phiếu:
-Ngân hàng tham gia vào việc thanh toán các phiếu khoán khi các thương phiếu đóđược chiết khấu tại ngân hàng của họ
-Ngân hàng cũng thực hiện việc thu ngân các phiếu khoán giúp khách hàng
Ngoài thanh toán và thực hiên thu ngân hộ khách hàng, ngân hàng có thể giữ cácphiếu khoán làm vật bảo đảm Nhưng thông thường thì ngân hàng chiết khấu thươngcác phiếu
-Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ cổ điển của ngân hàng, ra đời rất sớm và m^i
Trang 21phiếu được lập trên cơ sở hàng hoá đã được chuyển giao cho người mua Đây chính làtiền đề để người mua thực hiện kinh doanh của mình, để có khả năng hoàn trả chongân hàng Lại nữa nghiệp vụ chiết khấu lại ở NHTW khi ngân hàng ngặp khó khăn
về thanh khoản Mặc dù chiết khấu thương phiếu mang lại nhiều lợi ích cho kháchhàng Tuy nhiên vẫn có rủi ro xảy ra Vì vậy trước khi chiết khấu thương phiếu, ngânhàng phải xem xét kỷ khách hàng đến chiết khấu, xem xét kỷ các hối phiếu và mốiquan hệ của những người có liên quan đến hối phiếu
Như vậy: Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, được thựchiện dưới hình thức khách hàng chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu để đổi lấymột số tiền bằng mệnh giá trái phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí
Ngoài ra tín dụng dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền còn gồm các loại: Nghiệp
vụ huy động các trái quyền thương mại, bao thanh toán hay mua uỷ nhiệm thu
3.2.3 Tín dụng bằng chữ ký của ngân hàng
Loại tín dụng này thực chất là một cam kết lãnh nợ do ngân hàng đưa ra bằng việcphát hành các chứng thư bảo lãnh hoặc bảo chứng, cam kết trả thay cho người đi vaynếu người đi vay không trả được nợ Có trường hợp đó là sự xác nhận khoản tín dụng
đã cấp cho một thời hạn nhất định Khi thực hiện cho vay qua cam kết bằng chữ ký,ngân hàng không phải xuất quỹ đễ cho khách hàng sử dụng một khoản tiền nhất định,
mà chỉ đưa ra một cam kết bảo lãnh cho con nợ đối với chủ nợ Như vậy, chỉ khi
nàocon nợ không trả được nợ thì ngân hàng mới trả nợ hộ Thông
Trang 22một tỷ lệ so với vốn pháp định Hiện nay ở Việt Nam số tiền bảo lãnh tín theo tỷ lệphần trăm trên tổng giá trị bảo lãnh.
3.3.1 Đối với nền kinh tến
Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vựctiền tệ Với tư cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển vốn từ những nơithừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế Các kênhtruyền dẫn vốn có thể qua thị trường tài chính đó là các nghiệp vụ tín dụng trung vàdài hạn, nhưng nó đã bị cạnh tranh mạnh mãnh mẽ của các tổ chức tài chính phi ngânhàng tham gia vào thị trường này như: Công ty Bảo hiểm, các quỹ đầu tư, công ty tàichính Hoặc là thị trường tiền tệ là kênh dẫn và huy động những ngồn vốn và các giấy
tờ có giá ngắn hạn Thị trường này hoạt động rất linh hoạt và cung cấp một nguồn mộtnguồn vốn rất lớn cho nền kinh tế Do đó tín dụng ngắn hạn ngày càng phát triểnmạnh mẽ
3.3.2 Đối với các doanh nghiệp
Trang 23Không có sự ăn khớp về mặt thời gian giữa các khoản thu và các khoản chi của mộtdoanh nghiệp nên tại một thời điếm nhất định, trong nền kinh tế có những thời điếmtrong nền kinh tế có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời và cần bổ sung ngay đếđảm bảo tính sản xuất được liên tục Đối với các doanh nghiệp sản xuất mang tínhthời vụ như các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, các công ty chế biến nôngsản, các doanh nghiệp xây lắp hoặc các doanh nghiệp có vòng quay vốn lưu độngchậm thì các khoản tín dụng từ ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc giúp choquá trình sản xuất không bị gián đoạn Các khoản tín dụng ngắn hạn có ý nghĩa lớnđối với các doanh nghiệp khi xuất hiện cơ hội kinh doanh trên thị trường, giúp doanhnghiệp tận dụng được thời cơ phát triến sản xuất.
Tín dụng ngắn hạn tạo áp lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả
Một trong những nguyên tắc cơ bản là vay có hoàn trả ngốc lẫn lãi sau một thời giannhất định Do vậy có thế trả nợ đúng hạn cho ngân hàng và tạo lập được uy tín trongviệc thực hiện hợp đồng tín dụng, các doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả đế trả
nợ cho ngân hàng
Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng là một yếu tố kích thích sản xuất của doanh nghiệp,thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm đế có thế rút ngắn chu kỳsản xuất, đưa nhanh sản phẩm vào lưu thông, tạo lập chỗ đứng trên thị trường
Đối với các doanh nghiệp lớn, công việc sản xuất đang phát triến thì phần lớn vốn lưuđộng đều vay ngân hàng Nhiều doanh nghiệp còn ký hợp đồng ứng trước đế có thếlinh hoạt trong việc vay vốn, đáp ứng các cơ hội kinh doanh Do tính chất của tín dụng
Trang 24dụng đến Do đó bắt buộc các doanh nghiệp phải quay vốn nhanh và tính toán hoạtđộng kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho cả doanh nghiệp và cả cho ngânhàng.
Nói tóm lại, tín dụng ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có được nguồn bổsung nguồn vốn lưu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp làm ăn có hiệuquả, trước là để trả các khoản nợ vay và sau là để phát triển doanh nghiệp
3.3.3 Đối với ngân hàng
Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo nguồn thuchủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đó là công cụ để tạo nên lợi nhuận
và phòng chống rủi ro của ngân hàng Trong quá trình hoạt động của các ngân hàng,các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm đến các vấn đề : Phải tạo được nguồn thu bùđắp được các chi phí( chi phí huy động vốn, chi phí trả lương, chi phí quản lý Mặtkhác phải đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng Tín dụng ngắn hạn có thểgiúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề này
3.4 Các quy định trong hoạt động tín dụng ngắn hạn
3.4.1 Nguyên tắc tín dụng:
Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
-Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
-Phải hoàn trả nơ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Trang 25Ngân hàng sẽ xem xét và quyết định cho khách hàng vay khi khách hàng có đủ cácđiều kiện:
*Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu quy định của phápluật
*Có khả năng đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết Cụ thể :
-Đối với pháp nhân phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình sản xuất kinhdoanh Đối với hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, cá nhân, công ty hợpdanh, mức vốn tự có tham gia trực tiếp vào phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ,đời sống tối thiểu bằng 20% nhu cầu vốn thực hiện phương án
-Sản xuất kinh doanh có lãi hoặc không bị lỗ, nếu bị lỗ thì phải có dự án khả thi khắcphục hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận bù lỗ
-Có tình hình tài chính lành mạnh
-Khách hàng phải mua bảo hiểm tài sản là đối tượng vay vốn
*Mục đích sử dụng vốn hợp pháp
*Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi
*Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay của NHNN
3.4.3 Đối tượng cho vay
*Giá trị vầt tư hàng hoá trong các khâu dự trữ, lưu thông và các chi phí cấu thành giá
Trang 26nghiệp xây lắp) Những vầt tư hàng hoá là những đối tượng vay vốn có khả năng luânchuyển Ngân hàng không cho vay vốn để mua vật tư, hàng hoá ứ đọng hoặc để thựchiện những khối lượng thi công ngoài kế hoạch vốn đầu tư của Nhà Nước đã ghi,ngoài thiết kế dự án hoặc nguồn vốn chưa rõ nguồn vốn đầu tư.
3.4.4 Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với các chu kỳ sản xuất kinh doanh và khảnăng trả nợ của khách hàng, nhưng tối đa không quá 12 tháng
3.4.5 Lãi suất cho vay
Mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận phù hợp với quyđịnh của NHNN về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng Tổ chứctín dụng có trách nhiệm công bố công khai các mức hi suất cho vay cho khách hàngbiết Tuỳ các mức độ quan hệ của ngân hàng và khách hàng mà có các mức độ ưu tiên
về hi suất khác nhau Nếu khoản vay quá hạn trả nợ thì phải áp dụng hi suất quá hạn
Phương pháp xác định lxai suất cho vay được xác định trước khi cho vay dựa trên cơ
sở lãi suất cơ bản
Tại Việt Nam lãi suất cho vay ngắn hạn do tổng giám đốc tổ chức tín dụng ấn địnhtrong phạm vi khung lãi suất do NHNN ấn định trong từng thời kỳ
3.4.6 Mức cho vay:
Tổ chức tín dụng căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so
Trang 27Ngân hàng xây dựng mức cho vay đối với tong doanh nghiệp trên cơ sở vốn vay chỉ
bổ sung cho vốn lưu động thiếu, sau khi doanh nghiệp đã tận dụng hết vốn tự có Cácnguồn vốn khác bao gồm cả vốn được các chủ đầu tư ứng trước khi doanh nghiệptrúng thầu
Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có nguồn thu ổn định, tình hình tàichính lành mạnh, có quan hệ vay vốn thường xuyên và có tín nhiệm đối với kháchhàng, ngân hàng có thể cho vay theo hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng là giới hạn
dư nợ tối đa mà ngân hàng cam kết cho khách hàng vay trong một thời hạn nhất định
và được xác định như sau:
Mức vốn vay quý = Chi phí cần thiết cho quá trình hoạt động kinh doanh quý kếhoạch
- Vốn tự có và coi như tự có - Các khoản
Trang 28-mức cho vay tối đa theo quyết định của chính sách tín dụng mỗi ngân hàng thươngmại.
-Đảm bảo tiền vay
Đối với những doanh nghiệp có nguồn thu không thay đổi, các doanh nghiệp doanhnghiệp có quan hệ không thường xuyên với ngân hàng, các doanh nghiệp ngoài quốcdoanh, hộ gia đình ngân hàng thường áp dụng cho vay từng món trên cơ sở thẩmđịnh hồ sơ vay vốn của khách hàng, ngân hàng xác định được nhu cầu vay vốn củadoanh nghiệp và quyết định mức cho vay, thời hạn, phương thức trả nợ đối với từngdoanh nghiệp cụ thể Mức cho vay được xác định:
Mức vốn vay = Tổng nhu cầu vốn vay - Vốn tự huy động - Vốn tự có và coi như tựcó
3.4.7 Giải ngân và thu nợ
Tuỳ theo nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong từng thời điểm và những điều kiện cụthể khác mà ngân hàng thực hiện giải ngân theo đúng kế hoạch thoả thuận
Khi đến hạn ngân hàng tiến hành thu nợ đối với các khoản cho vay Doanh nghiệp cótrách nhiệm trả nợ theo phương thức thoả thuận và đúng hạn
Nếu doanh nghiệp không tự động trả nợ khi đến hạn thì ngân hàng tự động trích tiềngửi của khách hàng hoặc gửi giấy báo nhờ ngân hàng mà khách hàng có tài khoản thu3.4.8 Quy trình cho vay ngắn
hạn
Trang 29Cũng như các loại hình cho vay khác, cho vay ngắn hạn tuân theo một quy trình nhấtđịnh từ khâu thẩm định khách hàng, xét duyệt cho vay, ký kết hợp đồng cho đến giảingân và thu nợ.
Bước 1: Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay vốn
Khi khách hàng đến đề xuất yêu cầu vay vốn, cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng
cụ thể và đầy đủ về các điều kiện vay vốn Nếu khách hàng đồng ý thì hướng dẫnkhách hàng lập hồ sơ vay vốn
Hồ sơ vay vốn gồm :
-giấy tờ chứng nhận về tư cách pháp nhân hoặc thể nhân
-giấy đề nghị vay vốn
-phương án sản xuất kinh doanh và phương án trả nợ
-các báo cáo tài chính thời điểm gần nhất(bảng tổng kết tài sản và bảng quyết toán lỗlãi) Nếu là doanh nghiệp tư nhân đòi hỏi phải có kiểm toán
-hợp đồng thế chấp, bảo đảm, cầm cố tài sản và các giấy tờ gốc chứng nhận sở hữuđối với tài sản thế chấp, bảo đảm, cầm cố, bảo lãnh
-các giấy tờ khác liên quan đến việc vay vốn: Hợp đồng mua bán hàng hàng hoá dịchvụ; giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu hoặc cota nhập khẩu
Bước 2: Điều tra, tổng hợp, thu thập các thông tinvề khách hàng và phương án vay
Trang 30Bước 3: Phân tích, thẩm định khách hàng và phương án vay vốn.
Nội dung cơ bản của bước này tập trung vào hai vấn đề chủ yếu:
-phương án vay vốn phải đầy đủ các điều kiện cho vay, đảm bảo khả năng cho vay thuđược gốc và lãi đúng hạn
-hồ sơ, thủ tục vay vốn phải đầy đủ, hợp lệ, hợp pháp, nếu xảy ra tranh chấp, tố tụngthì đảm bảo an toàn về pháp lý cho ngân hàng
-phương án vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng: Đánh giá mức độ khả thi củaphương án sản xuất kinh doanh và tính toán chính xác nguồn trả nợ cuả khách hàng
Trang 31Sau khi xem xét, thẩm định hồ sơ vay vốn thấy thoả mản các điều kiện và nguyên tắc, ngân hàng quyết định cho vay đối với ngân hàng.
Bước 5: Kiểm tra và hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ tài sản thế chấp cầm cố Bước6: Phát tiền vay(giải ngân): Tuỳ theo thoả thuận trong hợp đồng vay vốn, tuỳ theo mục đích sử dụng tiền vay; phương thức thanh toán có liên quan đến tiền vay để ra quyết định hình thức phát tiền phù hợp
Cán bộ tín dụng yêu cầu khách hàng lập chứng từ gồm bảng kê(như hợp đồng muabán hàng hoá, hoá đơn) uỷ nhiệm chi, séc chuyển tiền Tiền vay được chuyển trả trựctiếp cho đơn vị cung cấp vật tư, hàng hoá và chỉ phát tiền mặt hoặc phát ngân phiếuthanh toán cho đơn vay khi người cung cấp không có tài khoản tại ngân hàng Bước 7:Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay và theo dõi rủi ro
- Giám sát và theo dõi nhằm kiểm tra tính hiện thực của kế hoạch trả nợ và khảnăng trả nợ và khả năng thực hiện, phát hiện dự báo những rủi ro có thể phátsinh; phát hiện sớm những khoản vay có vấn đề trước khi trở nên nghiêm trọngnhằm đề xuất giải quyết xử lý kịp thời
- Cán bộ tín dụng mở sổ theo dõi doanh nghiệp đến tong khế vay, diễn biến dư
có trên tài khoản tiền gửi để thu nợ đúng hạn
- Phân tích các báo cáo tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh mới nhất củakhách hàng Đối với khách hàng có dư nợ lớn, định kỳ 6 tháng và 1 năm, cán
bộ tín dụng phải phân tích toàn diện hoạt đồng sản xuất kinh doanh, tài chính
Trang 32- Phân tích, đánh giá, xếp loại các danh mục nợ quá hạn, khó đòi, nợ có vấn đề
để có biện pháp xử lý
Bước 8: Thu hồi nợ, gia hạn nợ
- Căn cứ vào khế ước nhận nợ, trước kỳ hạn thu nợ 5 ngày, cán bộ tín dụng lậpphiếu báo thu nợ trình giám đốc gửi cho doanh nghiệp vay vốn
- Các khoản nợ có vấn đề, khách hàng có đơn đề nghị được gia hạn nợ, gim nợ,cán bộ tín dụng them định, kiểm tra rồi lập tờ trình cho giám đốc xem xét vàquyết định
- Các khoản nợ đến hạn mà không trả được, không được gia hạn, gim nợ,khoanh nợ thì áp dụng các biện pháp kiên quyết đê thu hồi nợ
Bước 9 : Xử lý rủi ro
Những khoản nợ đ^ dùng mọi biến pháp giải quyết nhưng không thu hồi được thì phảitiến hành xử lý rủi ro theo quyết định bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng của ngânhàng
Bước 10: Thanh lý hợp đồng vốn
Sau khi khách hàng trả hết nợ gốc và lãi hoặc dư nợ vay đã được xử lý bằng quỹ rủi rohoặc xoá nợ, cán bộ tín dụng và cán bộ kế toán đối chiếu, tất toán tài khoản cho vaycủa món nợ đó Chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan đến khoản vay vào kho lưu trữ tàiliệu
Trang 33một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, đó là một lĩnh vực rất nhạy cảm vàrủi ro rất cao Trong các nghiệp vụ của ngân hàng thì có lẽ tín dụng là một nghiệpmang lại phần lớn doanh lợi cho ngân hàng nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ronhất Ngay cả khi khoản vay có tài sản thế chấp, cầm cố thì rủi ro vẫn xảy ra với tỷ lệcao khoảng 50%(theo uỷ ban Bale quốc tế) Sẽ là sai lầm nếu quan niệm cho vay cótài cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỷ lệ quy định là an toàn nhất, trong khi đó kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng mới là quantrọng nhất đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng.
Chất lượng tín dụng được nhìn nhận từ các giác độ:
Chất lượng tín dụng được xét dưới giác độ doanh nghiệp: Do nhu cầu vốn vay đượcđáp ứng để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh bù đắp đượcchi phí sản xuất, trả nợ ngân hàng và có lãi nên chất lượng tín dụng ngân hàng đứngtrên góc độ doanh nghiệp chỉ đơn giản là thoả mãn nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp
và làm cho đồng vốn sử dụng có hiệu quả
Xét dưới giác độ ngân hàng: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giớihạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thânngân hàng và đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường đảm bảo nguyên tắc hoàntrả đúng hạn và có lãi Khi cho vay ngân hàng phải thực hiện theo pháp lệnh ngânhàng và các văn bản chế độ hiện hành của nghành Xác định đối tượng cho vay vàthem định kỹ khách hàng trước khi cho vay, nắm bắt thông tin và hiểu được tình hìnhsản xuất kinh doanh, khả năng tài chính và mục đích sử dụng vốn vay, cơ sở hoàn trả
Trang 34hạn chế mức thấp nhất khả năng rủi ro có thể xảy ra, đây là nguyên tắc cơ bản nhấtđối với ngân hàng.
Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế -xã hội: Tín dụng ngân hàng trongnhững năm gần đây phản ánh rỏ rệt sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang nềnkinh tế thị trường Tín dụng ngân hàng phải huy động mức tối đa vốn tiền tệ tạm thờinhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanhnghiệp phát triển Tín dụng đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sản phẩm chất lượng cao, giáthành hạ làm tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tạo thêm việc làm cho người cho ngườilao động, góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác mọi khả năng tiềm tàng, tích tụvốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vốn vay nước ngoài có lợi cho kinh tế phát triển
Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng Tín dụngngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán chi trả cao, tránh đượcrủi ro hệ thống Nâng cao chất lượng tín dụng làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh,đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hoà nhập với thế giới
Qua đó ta có thể rút ra rằng:
Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể(thể hiện qua các chỉ tiêu tính toánđược), vừa trìu tượng(thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nềnkinh tế ) Chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan(khả năngquản lý, trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ )và khách quan(sự thay đổicủa môi trường kinh tế, do chủ quan của khách hàng )
Trang 35Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi củaNHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức cạnh tranh của mộtngân hàng trong môi trường hoạt động.
Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố như: Thu hút được nhiều kháchhàng tốt, cho vay được nhiều, thủ tục đơn giản, mức độ an toàn của vốn tín dụng
Chất lượng tín dụng không phải tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy trình kếthợp giữa các con người trong một tổ chức; giữa các tổ chức với nhau vì một mục đíchchung: An toàn, hiệu quả và khả năng cạnh tranh với các khoản tín dụng
Như vậy, chất lượng tín được hình thành và bảo đảm từ hai phía là ngân hàng và yếu
tố bên ngoài Để tránh rủi ro và thu được lợi nhuận trong hoạt động tín dụng, không cócách nào khác là ngân hàng phải nâng cao chất lượng tín dụng của mình 4.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Xu hướng cho vay cho thấy rằng cơ hội cho vay của các ngân hàng đối với các kháchhàng có rủi ro thấp đã giảm Các giấy tờ thương mại, chứng khoán và cạnh tranh phingân hàng đã đẩy ngân hàng sang các loại khách hàng có độ rủi ro cao hơn thay thếnhững khách hàng truyền thống Ví dụ: những người vay là doanh nghiệp lớn và ổnđịnh đã từng có quan hệ trong danh mục cho vay của ngân hàng đã chuyển sang cácnguồn thị trường mở như thị trường như thị giấy tờ thương mại và trái phiếu nhằmgiảm chi phí giao dịch của họ Các ngân hàng đã tìm cách thay thế đối tượng kháchhàng này bằng những khách hàng vay nhỏ và kém ổn định hơn Như vậy, do cáckhoản mục cho vay ngày càng ngày càng có độ rủi ro cao hơn và không ổn định do
Trang 36đánh giá chất lượng tín dụng đối với một ngân hàng là hết sức quan trọng Bởi chấtlượng tín dụng biểu hiện khả năng hoạt động của ngân hàng tốt hay xấu, làm cơ sở để
để đánh giá ngân hàng Mặt khác, việc đánh giá chất lượng tín dụng cũng giúp chongân hàng có những thay đổi hợp lý, điều chỉnh hoạt động để nâng cao khả năng cạnhtranh của mình Việc nâng cao chất lượng tín dụng không những làm cho ngân hàngtăng thu nhập mà còn giúp ngân hàng được an toàn Phương pháp đánh giá chất lượngtín dụng mang tính khoa học, nó vừa cụ thể vừa trừu tượng nên để đánh giá chất lượngtín dụng người ta dựa vào 2 hệ thống chỉ tiêu: Chỉ tiêu định lượng và chỉ tiêu địnhtính
4.2.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng
- Chỉ tiêu nợ quá hạn: Nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn mà khách hàngkhông trả được số tiền trong hợp đồng tín dụng và tiền lãi của số tiền đó và khôngđược ngân hàng gia hạn Số tiền này ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn và áp dụnglãi suất quá hạn đối với những khoản nợ này(cao hơn lãi suất thông thường) Đây lànhững khoản những khoản nợ có độ rủi ro cao và ngân hàng có khả mất vốn Để đánhgiá chất lượng tín dụng trên cơ sở nợ quá hạn, người ta người ta thường thông qua tỷ
lệ nợ quá hạn và tỷ lệ đầu tư rủi ro:
Tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn = Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn/ Tổng dư nợ cho vay ngắnhạn X 100%
Tỷ lệ đầu tư rủi ro = Tổng dư nợ món vay có phát sinh nợ quá hạn/Tổng dư nợ cho
Trang 37Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là tấtnhiên Do đó nợ quá hạn của ngân hàng là tất yếu Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn,sinh lời và tăng khả năng cạnh tranh ngân hàng phải cố gắng giảm thiểu tỷ lệ nợ quáhạn Hai chỉ tiêu trên rất quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn.
Cả hai chỉ tiêu này đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản cho vay Tuy nhiên,
sự khác biệt giữa hai tỷ lệ là nợ quá hạn chỉ xem xét đến giá trị khoản nợ quá hạn,trong khi đó tỷ lệ đầu tư rủi ro xem xét món vay mà phát sinh nợ quá hạn
Hai chỉ tiêu này đều chịu ảnh hưởng của chính sách xoá nợ của ngân hàng, một ngânhàng có chính sách tốt là phải thiết lập quỹ dự phòng rủi ro đủ mạnh và thông báođịnh kỳ về những món vay không đủ khả năng thu hồi, để tránh tình trạng trong mộtlúc ngân hàng phải thông báo con số nợ không có khả năng thu hồi quá lớn và làmgiảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng Tuy nhiên, nếu ngân hàng thựchiện xoá nợ quá nhanh thì hai tỷ lệ này sẽ ở mức thấp nhất nhưng không có ý nghĩathực tiễn Thông thường khi lập bảng theo dõi nợ quá hạn ngân hàng thường phân nợquá hạn theo thời gian: 30, 60, 90, 120 ngày Sự phân loại phân loại này có ý nghĩađối với việc quản lý chất lượng tín dụng và đánh giá để thiết lập dự phòng mất vốn
Tỷ lệ mất vốn = Tổng dư nợ quá hạn được xoá nợ/Dư nợ bình bình quân
Tỷ lệ này lệ này càng nhỏ càng tốt
Những khoản nợ quá hạn, nếu khách hàng tiếp tục không trả được nợ thì ngân hàngthực hiện khoanh nợ và xoá nợ bằng quỹ dự phòng rủi ro Khi món nợ được xoá thì
Trang 38một phương pháp quản lý tài chính của ngân hàng chứ không phải là sự thừa nhận vềmặt pháp lý rằng người vay không còn nợ ngân hàng nữa.
Tỷ lệ dự phòng = Dự phòng mất vốn /Tổng dư nợ
Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt
Tỷ lệ này được hình thành dựa trên tỷ lệ vỡ nợ trước đây, tỷ lệ chỉ ra % dư nợ được dựđoán là không có khả năng thu hồi Tỷ lệ dự phòng mất vốn liên quan đến tỷ lệ dựphòng mất vốn trích lập theo quy định và tỷ lệ mất vốn Tỷ lệ dự phòng mất vốn tríchlập theo quy định đại diện cho khoản trích lập mất vốn được xoá nợ một thời kỳ Tỷ lệmất vốn tính trên tổng giá trị các khoản nợ quá hạn được xoá trong một thời kỳ
-Chất lượng tín dụng ngắn hạn được đánh giá thông qua lợi nhuận thu được từ chovay ngắn hạn Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng ngắn hạn
Tỷ lệ sinh lời ngắn hạn # Lợi nhuận tín dụng ngắn hạn/Dư nợ tín dụng ngắn hạn Chỉtiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay ngắn hạn Tỷ lệ sinh lờicao chứng tỏ khoản cho vay đó có hiệu quả, có chất lượng cao Để đạt tỷ lệ sinh lờicao thì việc thu nợ và giải quyết nợ quá hạn tốt Tỷ lệ này cao một phần nói lên kếtquả kinh doanh tốt của ngân hàng, điều này rất quan trọng vì doanh thu từ hoạt độngtín dụng là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn
Vòng quay vốn tín dụng:
Vòng quay vốn tín dụng # Doanh số thu nợ /Dư nợ bình quân
Trang 39chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng rất tốt Mặt khác vòng quay vốn tín dụngnhanh chứng tỏ tốc độ luân chuyển tiền tệ trong nền kinh tế nhanh, ngân hàng đ^ thamgia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá Với một lượng vốn nhất địnhnhưng do tốc độ chu chuyển vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng có thể đáp ứng nhucầu vốn tín dụng của doanh nghiệp trong phát triển kinh doanh.
Chi phí cho vay ngắn hạn:
Chi phí cho một đồng vốn cho vay ngắn hạn # Chi phí cho vay ngắn hạn/Tổng doanh
số cho vay ngắn hạn
Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả của việc giải ngân vốn Chiphí cho vay ngắn hạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm chi phí đầu vào như chiphí trả lãi huy động vốn, chi phí bảo hiểm Chi đầu ra bao gồm chi phí để trả lươngcông nhân, chi phí quản lý Tuy nhiên trong một số trường hợp chỉ số này khôngphản ánh đúng thực tế: nếu chi phí cho vay tăng trong khi đó danh mục đầu tư khôngtăng thì tỷ lệ này sẽ lớn, ngược lại nếu có nhiều món vay ngắn hạn được thực hiệntrong một thời kỳ( dẫn đến doanh thu cho vay và doanh số cho vay tăng một kỳ) thìchi phí cho một đồng vốn sẽ giảm
Hiệu suất sử dụng nguồn vốn ngắn hạn:
Hiệu suất sử dụng nguồn vốn ngắn hạn = Dư nợ ngắn hạn/Nguồn vốn ngắn hạn Chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng, liệu ngân hàng đã sử dụng hết khả năng của mình trong cho vay ngắn hạn hay chưa?
Trang 40Tỷ lệ doanh số cho vay ngắn hạn = Doanh số cho vay (%)/Tổng doanh số cho vayHai chỉ tiêu này cho biết cơ cấu dư nợ và cơ cấu doanh số cho vay của tín dụng ngắn hạn trong tổng dư nợ và tổng doanh số cho vay Từ đó có thể so sánh hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn với các loại tín dụng trung và dài hạn - Chỉ tiêu xử lý nợ:
Tỷ lệ thanh toán nợ do bán tài sản của KH#Số tiền thu nợ do bán tài sản của KH/Tổngdoanh số thu nợ
Để thu hồi nguồn vốn của mình ngân hàng có hai nguồn để thu đó là, từ hoạt độngkinh doanh của ngân hàng nếu khách hàng làm ăn thua lỗ thì ngân hàng có nguồn thuthứ hai đó là tài sản thế chấp, cầm cố và bảo hiểm Khi đến hạn nếu khách hàng khôngtrả được nợ thì ngân hàng có thể phát mãi tài sản Như vậy nếu tỷ lệ này lớn thì khôngthể đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng cao được, kể cả trường hợp số tiềnbán tài sản thu được nợ
4.2.2 Nhóm chỉ tiêu định tính
Trong quá trình đánh giá chất lượng tín dụng ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hoáđược thì còn có rất nhiều yếu tố mà không thể lượng hoá được Các chỉ tiêu định tínhđược qua quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng, qua độ thoả mãn của khách hàng đối vớisản phẩm của khách hàng, độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng
4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn của NHTM
NHTM là một chủ thể trong nền kinh tế và có quan hệ mật thiết với sự phát triển củanền kinh tế NHTM có quan hệ rất rộng với nền kinh tế, do đó để đánh giá chất lượng