1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (nghiên cứu vận dụng tại nhà máy len hà đông)

78 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 444,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức thực hiện đầu tư của Chính phủ vào các doanh nghiệp nhà nước cụthể như sau: Một là, giá trị quyền sử dụng đất, Chính phủ giao đất cho doanh nghiệp nhà nước hay cho doanh nghiệp

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, thành phần kinh tế nhà nước (mà trong đódoanh nghiệp nhà nước là nòng cốt) giữ vai trò chủ đạo Nhà nước thực hiện giaovốn cho doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước hoàn thành nhiệm vụnhà nước giao Việc Nhà nước giao vốn cho doanh nghiệp nhà nước đặt ra yêu cầuphải quản lý số vốn đó Đồng thời, việc thay đổi phương thức quản lý hiện vậtsang phương thức quản lý bằng giá trị là chủ yếu đòi hỏi phải tăng cường hơn nữavai trò của nhà nước trong công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Songthực tế cho thấy, công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhànước còn có những bất cập trong chế độ chính sách quản lý, trong tổ chức bộ máyquản lý và trong tổ chức thực hiện Điều đó khiến vốn nhà nước tại nhiều doanhnghiệp đang bị ăn mòn và việc thực hiện vai trò chủ đạo của thành phần kinh tếnhà nước bị hạn chế Do vậy, việc hoàn thiện công tác quản lý vốn nhà nước tạidoanh nghiệp nhà nước trở thành yêu cầu cấp bách hiện nay Trong điều kiện ngânsách nhà nước còn hạn hẹp, công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhànước càng cần được thực hiện tốt hơn

Trong thời gian thực tập tại Nhà máy len Hà Đông, em đã nghiên cứu tìm hiểu

về công tác quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy và thấy rằng bên cạnh những thànhtựu Nhà máy gặt hái được trong những năm gần đây còn tồn tại nhiều hạn chếtrong công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà máy (cả khi giao vốn vàtrong quá trình sử dụng vốn) Do đó, để thực hiện nhiệm vụ bảo toàn và phát triểnvốn nhà nước giao, công tác quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy cần sớm đượchoàn thiện

Em chọn đề tài: “Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

(Nghiên cứu vận dụng tại Nhà máy len Hà Đông)”

với mục đích qua nghiên cứu phát hiện những hạn chế trong công tác quản lý đốivới phần vốn tại Nhà máy len Hà Đông, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế

Trang 2

đó, từ đó đưa ra những đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn nhà nước tạiNhà máy len Hà Đông.

Nội dung đề tài gồm ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà

máy

len Hà Đông

Chương 3: Đề xuất hoàn thiện công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại

Nhà máy len Hà Đông

Trang 3

cá nhân? Từ đó, ông quan niệm rằng: Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệpchịu sự kiểm soát trực tiếp của nhà nước, được phân làm hai loại: Loại một là các

xí nghiệp, tổ chức sản xuất những sản phẩm không dùng để bán, nó làm việc vì lợiích chung và được gọi là các cơ quan hành chính; Loại hai là các xí nghiệp côngcộng, loại này lại được chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất là các doanh nghiệpsản xuất mặt hàng để bán, trao đổi, hoạt động vì lợi ích chung, sản phẩm của nóthường là các dịch vụ công cộng Nhóm hai là các doanh nghiệp hoạt động trongmôi trường phải cạnh tranh, thường hoạt động vì lợi ích riêng nào đó

Ở nước ta, theo Luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội thông qua ngày20/4/1995: doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập, đầu

tư vốn và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằmthực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao Doanh nghiệp nhà nước

có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộhoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý Doanh

Trang 4

nghiệp nhà nước có tên gọi, con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ ViệtNam.

Doanh nghiệp nhà nước mang các đặc điểm chung với các loại hình doanhnghiệp khác như:

Thứ nhất, chức năng kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước bao gồm: sản

xuất-cung ứng trao đổi, hợp tác và tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá dịch vụ

Hai là, doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân Tư cách pháp nhân của

doanh nghiệp nhà nước là điều kiện cơ bản quyết định sự atồn tại của doanhnghiệp nhà nước trong hệ thống kinh tế quốc dân Tư cách pháp nhân của doanhnghiệp nhà nước đòi hỏi doanh nghiệp nhà nước phải tự chịu trách nhiệm về quản

lý, về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh toán những khoản công nợ khi doanhnghiệp phá sản hay giải thể Với tư cách là một pháp nhân độc lập, doanh nghiệpnhà nước có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạtđộng sản xuất kinh doanh Tư cách này tạo cho doanh nghiệp nhà nước địa vịpháp lý để đảm bảo độc lập tự chủ

Ba là, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cũng chịu sự

chi phối và tác động của môi trường kinh tế

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nhà nước có thể được phân biệt với các loại hìnhdoanh nghiệp khác bởi các đặc điểm sau đây:

Một là, doanh nghiệp nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ra

quyết định thành lập nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao.Như vậy doanh nghiệp nhà nước không chỉ được thành lập để thực hiện các hoạtđộng kinh doanh (nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế) mà còn để thực hiện cáchoạt động công ích (nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội) Các loại hình doanhnghiệp khác không phải do nhà nước thành lập mà chỉ được nhà nước cho phépthành lập trên cơ sở đơn xin thành lập của các chủ thể kinh doanh

Hai là, doanh nghiệp nhà nước do nhà nước tổ chức quản lý Nhà nước tổ chức

bộ máy quản lý các doanh nghiệp nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng; nhà

Trang 5

nước bổ nhiệm các cán bộ chủ chốt của doanh nghiệp, phê duyệt chiến lược, quyhoạch, kế hoạch dài hạn hay trung hạn của doanh nghiệp

Ba là, tài sản của doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận tài sản của nhà nước.

Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đầu tư vốn thành lập nên nó thuộc sở hữunhà nước Doanh nghiệp nhà nước là một chủ thể kinh doanh không có quyền sởhữu đối với tài sản mà chỉ là chủ quản lý và tiến hành hoạt động kinh doanh trên

số tài sản của nhà nước Trong khi đó, các chủ thể kinh doanh khác đều là chủ sởhữu với tài sản kinh doanh của họ

Có thể phân loại doanh nghiệp nhà nước thành hai loại căn cứ vào chức nănghoạt động của doanh nghiệp là: doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh(hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận) và doanh nghiệp nhà nước hoạtđộng công ích (hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chínhsách của Nhà nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ) Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phát triển trong mối quan hệkinh tế đa dạng về hình thức sở hữu, về vốn và tài sản, về cơ chế tổ chức quản lý.Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường không chỉ tồn tại đơn nhất trong khuvực kinh tế quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) như trong nền kinh tế kế hoạchhoá mà còn tồn tại dưới nhiều hình thức sở hữu bao gồm các loại hình tổ chứcdoanh nghiệp khác nhau như: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh Nhưng doanh nghiệp nhà nước có vị tríđặc biệt quan trọng, nó là bộ phận nòng cốt của thành phần kinh tế nhà nước,thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Vai trò của doanh nghiệpnhà nước được thể hiện qua những chức năng cụ thể sau:

Thứ nhất, chức năng định hướng sự phát triển của nền kinh tế Chức năng này

thể hiện ở chỗ doanh nghiệp nhà nước phải đi tiên phong trong các lĩnh vực chiếnlược theo đường lối phát triển của nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh

tế khác tham gia; doanh nghiệp nhà nước phải là mẫu mực về trình độ quản lý, vềhiệu quả kinh doanh để các doanh nghiệp khác noi theo;

Thứ hai, chức năng hỗ trợ và phục vụ Sự khác biệt giữa doanh nghiệp nhà

nước và các loại hình doanh nghiệp khác là sự phát triển của doanh nghiệp nhà

Trang 6

nước không phải đơn thuần vì bản thân nó mà quan trọng hơn cả là tạo điều kiệncho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Bởi vậy, doanh nghiệp nhànước được bố trí xây dựng ở những khu vực ngành nghề cần thiết tạo điều kiệncho nền kinh tế phát triển đồng đều giữa các vùng của đất nước;

Thứ ba, chức năng đảm bảo sức mạnh vật chất để nhà nước điều tiết và hướng

dẫn nền kinh tế thị trường Chức năng này được hiểu là các doanh nghiệp nhànước phải có đóng góp thích đáng cho sự phát triển kinh tế bằng việc kinh doanh

có hiệu quả; doanh nghiệp nhà nước phải bảo đảm vai trò quyết định này để Chínhphủ có đủ nguồn lực chỉ đạo và hướng dẫn nền kinh tế phát triển theo mục tiêu đề

ra

1.1.2 Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

1.1.2.1 Vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Vốn Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng là vốn được cấp từ ngân sách, vốn có nguồn gốc ngân sách và vốn của doanh nghiệp nhà nước tự tích luỹ.

Từ khái niệm trên có thể thấy vốn nhà nước được cấu thành bởi ba bộ phận:

Một là, vốn được cấp từ ngân sách, là vốn doanh nghiệp nhà nước được cấp

phát lần đầu khi mới hoạt động (xác định từ thời điểm giao nhận vốn), vốn đượccấp bổ sung trong quá trình hoạt động; vốn được tiếp quản từ chế độ cũ để lại

Hai là, vốn có nguồn gốc ngân sách, là các khoản vốn tăng thêm do được miễn,

giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc được cấp lại các khoản phải nộp ngân sáchtheo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chênh lệch giá tài sản cốđịnh, vật tư, hàng hoá tồn kho qua các lần kiểm kê, điều chỉnh giá; các nguồn vốnviện trợ: viện trợ nhân dân, viện trợ của các nước và các tổ chức quốc tế, quà tặngtheo qui định phải ghi tăng vốn ngân sách cấp;

Ba là, vốn của doanh nghiệp nhà nước tự tích luỹ, chính là phần thu nhập sau

thuế doanh nghiệp nhà nước giữ lại để tái đầu tư

Trang 7

Hình thức thực hiện đầu tư của Chính phủ vào các doanh nghiệp nhà nước cụthể như sau:

Một là, giá trị quyền sử dụng đất, Chính phủ giao đất cho doanh nghiệp nhà

nước hay cho doanh nghiệp thuê đất, thực hiện những chính sách ưu đãi về đất đaiđối với doanh nghiệp nhà nước;

Hai là, cấp vốn điều lệ và bổ sung vốn:

- Vốn điều lệ để san lấp mặt bằng, xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy mócthiết bị đưa vào sản xuất;

- Vốn bổ sung được cấp trong trường hợp doanh nghiệp nhà nước được giaothêm nhiệm vụ;

Ba là, không thu khấu hao, miễn giảm thuế hay cấp tín dụng nhà nước ưu đãi

Những khoản đó được doanh nghiệp nhà nước sử dụng để tái đầu tư, thay thế đổi mới tài sản cố định và sử dụng cho các yêu cầu kinh doanh khác theo quy định củaChính phủ

1.1.2.2 Tính tất yếu của việc quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Nhà nước phải quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước vì:

Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu nhà nước nhưng nhà nước giao

cho một số cá nhân, đơn vị sử dụng Như vậy có sự tách biệt giữa người sở hữuvốn và người sử dụng vốn, hai đối tượng này có thể có mục tiêu không phù hợpnhau Các doanh nghiệp nhà nước không phải đương đầu với nguy cơ bị đối thủcạnh tranh mua lại như các doanh nghiệp trong khu vực tư nhân Do đó người sửdụng vốn có thể sử dụng vào những động cơ cá nhân, những động cơ có thể làmcho những nhà lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước hành động không nhất quánvới các mục tiêu của doanh nghiệp Khi những người này không nắm quyền sởhữu vốn của doanh nghiệp và cũng không thể tăng thêm sự giàu có cho bản thânbằng cách tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thì chẳng có gì kích thích họphải nhìn xa khi quyết định phương án sản xuất kinh doanh Vì thế đòi hỏi phải có

sự quản lý chặt chẽ của nhà nước nhằm đảm bảo vốn và tài sản của nhà nước

Trang 8

không bị xâm phạm trong quá trình kinh doanh cũng như doanh nghiệp hoạt độngtheo đúng mục tiêu nhà nước đề ra.

Thứ hai, nhà nước quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước cũng là

thực hiện vai trò quản lý nhà nước của mình Nhà nước ban hành các chế độ tàichính đối với doanh nghiệp nhà nước, theo dõi và kiểm tra việc chấp hành các chế

độ đó Việc theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhànước giúp cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình thực tế tại các doanh nghiệp,theo dõi tiến trình thực hiện các văn bản Từ đó thu thập thông tin để chỉnh sửa, bổsung, hoàn thiện các chính sách cho kịp thời, phù hợp với thực tế Đồng thời thôngqua công tác quản lý vốn, nhà nước mới có những thông tin chính xác để đánh giáđúng chất lượng kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà nước Trên cơ sở các thôngtin đánh giá này, nhà nước có kế hoạch sắp xếp, bố trí lại các doanh nghiệp, vốn

và lao động, hoàn thiện các khâu quản lý nhằm đạt hiệu quả kinh doanh và thựchiện các mục tiêu xã hội

Thứ ba, đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, phần lợi

nhuận sau thuế thuộc về nhà nước Nhà nước sử dụng lợi nhuận đó để duy trì vàtái sản xuất mở rộng doanh nghiệp hoặc đáp ứng một lợi ích nào đó của nhà nước

Do đó, để lợi nhuận sau thuế được tối đa hoá, nhà nước phải quản lý phần vốn đầu

tư của mình để nó được sử dụng một cách có hiệu quả, trên cở sở đó tăng lợi íchnhà nước

Tóm lại, việc nhà nước quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước là mộtđòi hỏi khách quan để bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trong việc bảo toàn vốn và tàisản cũng như để thực hiện vai trò quản lý của mình

1.2 Nội dung công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

1.2.1 Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Thiết lập căn cứ về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước là việclàm cần thiết nhằm tạo cơ sở giúp các đơn vị được giao vốn thực hiện quản lý vốn

Trang 9

được giao và giúp các cơ quan kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ giám sát củamình.

Hình thức biểu hiện cụ thể của nội dung công tác này là việc xây dựng hệ thốngvăn bản pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Khác với cách thứcquản lý doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong nền kinh tế thịtrường có sự điều tiết, Nhà nước quản lý doanh nghiệp một cách gián tiếp theonguyên tắc: Nhà nước điều chỉnh thị trường, thị trường điều chỉnh doanh nghiệp.Nhà nước ban hành chính sách nhằm định hướng sự phát triển theo mục tiêu củaNhà nước và giúp doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh; Nhànước tạo hành lang pháp lý thông thoáng, bình đẳng và môi trường kinh doanhvừa thuận lợi, vừa đòi hỏi hiệu quả kinh tế cao để các doanh nghiệp hoạt động.Chính sách quản lý vốn được ban hành hướng vào việc khai thác, động viên và sửdụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của doanh nghiệp nhằm khuyến khíchphát triển kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần phát triển kinh tế

xã hội của đất nước và nâng cao hiệu quả của nền tài chính quốc gia

Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước là một bộphận quan trọng trong chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nói riêng và hệthống các chính sách tài chính nói chung Chính sách quản lý vốn đúng đắn sẽkích thích sự chuyển dịch các luồng giá trị trong nền kinh tế quốc dân theo hướngduy động mọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển sản xuất, tăng khả năng tích tụ vàtập trung vốn ở doanh nghiệp, nhờ đó tăng quy mô và tốc độ phát triển sản xuấtkinh doanh, tăng nguồn thu vào ngân sách nhà nước Nguồn thu vào ngân sáchnhà nước càng nhiều thì Chính phủ càng có khả năng tài chính để tăng quy mô đầu

tư vốn, phát triển các quỹ tài trợ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; kế đó,quy mô đầu tư và tài trợ từ ngân sách đối với doanh nghiệp càng lớn thì nó sẽ kíchthích mạnh mẽ hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, và qua đó Chính phủ còn thực hiệnđược yêu cầu điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế theo định hướng đã đề ra

Các Chính phủ thường ban hành chính sách quản lý vốn và tài sản theo hướng:

Trang 10

Một là, tăng cường quyền tự chủ về mặt tài chính của các doanh nghiệp nhà

nước trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vựcquản lý vốn và tài sản;

Hai là, nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc quản lý và sử

dụng các nguồn lực nhà nước giao Thiết lập các cơ chế thích hợp để hướng sựquan tâm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn như:

cơ chế trích lập dự phòng, cơ chế bù lỗ

Ba là, quy định các chính sách ưu đãi về mặt tài chính đối với các doanh

nghiệp nhà nước hoạt động công ích như: hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiệncác nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng lợi ích vật chất cho người laođộng trong các doanh nghiệp nhà nước này Đồng thời thiết lập cơ chế quản lýhợp lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các nguồn lực nhànước giao

Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước bao trùm các nội dung quản lý sau:

a, Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước:

Doanh nghiệp nhà nước có thể được đầu tư vốn khi mới thành lập hoặc đầu tư

bổ sung trong quá trình hoạt động Ngoại trừ các doanh nghiệp hình thành do kếtquả quốc hữu hoá, các doanh nghiệp nhà nước đều được hình thành trên cơ sởnguồn vốn cấp phát ban đầu của nhà nước Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế

mà nhà nước quyết định cấp dưới hình thức trực tiếp (cấp thẳng từ ngân sách nhànước) hay gián tiếp (qua các hình thức ghi thu-ghi chi như: chuyển vốn từ doanhnghiệp nhà nước này sang doanh nghiệp nhà nước khác hoặc cho doanh nghiệpnhà nước nhận trực tiếp các khoản viện trợ để đầu tư ) Đối với vốn lưu động,nhà nước có thể cấp theo định mức một phần, phần còn lại doanh nghiệp phải huyđộng trên thị trường vốn và chịu lãi suất thị trường Đồng thời, tuỳ thuộc vào khảnăng của ngân sách nhà nước của mỗi nước mà chính sách đầu tư vốn cho doanhnghiệp nhà nước ở các nước là khác nhau Ở Pháp, những doanh nghiệp nhà nướchoạt động theo yêu cầu của nhà nước thì cấp vốn 100%, các doanh nghiệp do nhà

Trang 11

nước quản lý nhưng tự chọn chính sách phát triển, phải cạnh tranh với doanhnghiệp khác thì nhà nước không cấp vốn Ở Nhật, mức vốn đầu tư cho doanhnghiệp tăng nhưng mức độ kiểm soát cũng chặt chẽ hơn Ở Malaysia, nguồn vốncủa các doanh nghiệp nhà nước được hình thành như sau: Vốn cố định ban đầuđược nhà nước cấp 100% và hàng năm, doanh nghiệp phải trả lãi (theo lãi suất ưuđãi) trên tổng số vốn đầu tư của nhà nước; vốn lưu động thì các công ty phải vaytheo lãi suất thị trường Còn ở nước ta, việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản trongdoanh nghiệp nhà nước được hướng dẫn cụ thể trong Thông tư số 62/1999/TT-BTC ngày7/6/1999, Nhà nước đầu tư vốn cho các doanh nghiệp nhà nước mớithành lập ở những ngành, những lĩnh vực quan trọng Các cơ quan có thẩm quyềnkhi quyết định thành lập doanh nghiệp mới phải đảm bảo đủ vốn thực có tại thờiđiểm thành lập không thấp hơn mức vốn pháp định nhà nước quy định cho mỗingành nghề Trong quá trình kinh doanh, căn cứ vào hiệu quả sản xuất dinh doanh,nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội mà nhà nước giao cho doanh nghiệp và khảnăng của ngân sách nhà nước, nhà nước xem xét đầu tư bổ sung cho các doanhnghiệp trong những trường hợp cần thiết Doanh nghiệp nhà nước được nhà nướcgiao vốn thuộc sở hữu nhà nước hiện có tại doanh nghiệp sau khi đã được kiểmtra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nước

Số vốn giao cho doanh nghiệp được xác định như sau:

+ Đối với doanh nghiệp thành lập mới là số vốn nhà nước ghi trong quyết toánvốn đầu tư xây dựng cơ bản bàn giao sang sản xuất kinh doanh, vốn điều lệ đượcnhà nước bổ sung và vốn khác thuộc sở hữu nhà nước (nếu có)

+ Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động và thành lập lại (sáp nhập, chiatách) là số vốn sở hữu hiện có tại doanh nghiệp hoặc các doanh nghiệp thành viên,sau khi đã được kiểm tra, thẩm định theo quy định hiện hành của nhà nước

Trong khi khu vực kinh tế tư nhân có thể được huy động một cách tự chủ vàlinh động trong môi trường kinh doanh, khu vực kinh tế nhà nước thường chỉ đượcphép huy động vốn dưới một số hình thức nhất định, các kênh huy động vốn đó là:

Thứ nhất, huy động vốn từ Ngân sách nhà nước: Các doanh nghiệp khi có nhu

cầu về vốn có thể đề nghị nhà nước xét duyệt cấp vốn cho doanh nghiệp mình

Trang 12

Đây là nguồn vốn đặc biệt , chỉ các doanh nghiệp nhà nước mới có đặc quyềnđược yêu cầu và đây cũng là nguồn vốn chủ lực của các doanh nghiệp nhà nước

Thứ hai, huy động vốn thông qua hoạt động liên doanh, liên kết: Đây là việc

góp tiền hoặc tài sản với các doanh nghiệp khác để mở rộng sản xuất kinh doanh.Doanh nghiệp có thể liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, tổ chức khác đểhuy động vốn

Thứ ba, huy động vốn bằng cách đi vay: Doanh nghiệp có thể đáp ứng nhu cầu

vốn của mình bằng cách đi vay những khoản tín dụng dài hạn, ngắn hạn, hoặctrung hạn từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các doanhnghiệp khác, các cá nhân (kể cả các cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp),được phát hành trái phiếu huy động vốn để đầu tư phát triển

Thứ tư, huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu, cổ phiếu thường mới để

bán cho công nhân viên chức trong doanh nghiệp và ngoài xã hội

Ngoài ra, doanh nghiệp có thể huy động vốn cho sản xuất kinh doanh từ chínhcác quỹ của doanh nghiệp Nhà nước có quy định cụ thể về việc sử dụng các quỹnày

b, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước

Quản lý sử dụng vốn và tài sản trong phạm vi doanh nghiệp:

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước là một đơn vị sản xuấtkinh doanh độc lập, được tự chủ trong hoạt động kinh tế và tự chịu trách nhiệm vềkết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Nhà nước thực hiện việc giao quyền sửdụng vốn và tài sản cho doanh nghiệp nhằm tạo ra sự độc lập tương đối trong việc

tổ chức sản xuất kinh doanh Mục tiêu cuối cùng của chính sách quản lý sử dụngvốn và tài sản là bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp Vì thế, doanh nghiệp

có nghĩa vụ theo dõi chặt chẽ sự biến động của vốn và tài sản, đảm bảo theo đúngcác nguyên tắc kế toán hiện hành, tránh thất thoát tài sản, mất vốn của nhà nước.Đồng thời doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ cấu tài sản và cácloại vốn cho hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả

Trang 13

Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ và ghi sổ kế toán theo dõi chính xác toàn

bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kế toán, thống kê hiện hành;phản ánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trongquá trình kinh doanh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp được quyền sử dụng vốn và qũy để kinh doanh theo nguyên tắc

có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn Trường hợp sử dụng các loại vốn và qũykhác với mục đích sử dụng đã quy định cho các loại vốn và qũy đó thì phải theonguyên tắc hoàn trả, như: dùng các qũy dự phòng, qũy khen thưởng, qũy phúclợi để kinh doanh thì phải hoàn trả qũy đó khi có nhu cầu sử dụng Doanh nghiệpđược quyền thay đổi cơ cấu tài sản và các loại vốn cho việc phát triển kinh doanh

có hiệu qủa, bảo toàn và phát triển vốn

Doanh nghiệp Nhà nước phải xây dựng quy chế quản lý, bảo quản, sử dụng tàisản của doanh nghiệp; quy định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân đối vớicác trường hợp làm hư hỏng, mất mát tài sản

Định kỳ và khi kết thúc năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kêtoàn bộ tài sản và vốn hiện có Xác định chính xác số tài sản thừa, thiếu, tài sản ứđọng, mất phẩm chất, nguyên nhân và xử lý trách nhiệm; đồng thời để có căn cứlập báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản công nợ phải thutrong và ngoài doanh nghiệp Định kỳ (tháng, qúy) doanh nghiệp phải đối chiếu,tổng hợp, phân tích tình hình công nợ phải thu; đặc biệt là các khoản nợ đến hạn,qúa hạn và các khoản nợ khó đòi Các khoản nợ không thu hồi được, cần xác định

rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý

Doanh nghiệp được quyền cho thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý

và sử dụng của mình, để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập nhưng phảitheo dõi, thu hồi tài sản khi hết hạn cho thuê Đối với tài sản cho thuê hoạt động,doanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định Doanh nghiệp đượcđem tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình để cầm cố, thế chấp vay vốn

Trang 14

hoặc bảo lãnh tại các tổ chức tín dụng theo đúng trình tự, thủ tục quy định củapháp luật Doanh nghiệp không đợc đem cầm cố, thế chấp, cho thuê các tài sản đimượn, đi thuê, nhận giữ hộ, nhận cầm cố, nhận thế chấp của doanh nghiệp khácnếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu tài sản đó

Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹthuật để thu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu qủa hơn Chênhlệch giữa số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên

sổ kế toán và chi phí nhượng bán, thanh lý (nếu có) được hạch toán vào kết qủakinh doanh của doanh nghiệp

Mọi tổn thất tài sản của doanh nghiệp phải lập biên bản xác định mức độ,nguyên nhân và trách nhiệm đưa ra biện pháp xử lý

Doanh nghiệp được đánh giá lại tài sản và hạch toán tăng giảm vốn khoảnchênh lệch do đánh giá lại tài sản trong các trường hợp sau: Kiểm kê đánh giá lạitài sản theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Thực hiện cổ phầnhóa, đa dạng hóa hình thức sở hữu, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; Dùng tài sản

để liên doanh, góp vốn cổ phần (khi đem tài sản đi góp vốn và khi nhận tài sảnvề)

 Quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp:

Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theonguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn, tăng thu nhập và đảm bảonhiệm vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu tư phải tuân theo các quy địnhhiện hành của pháp luật Các hình thức đầu tư ra ngoài doanh nghiệp gồm: mua

cổ phiếu, góp vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư khác

Doanh nghiệp Nhà nước được phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nướcngoài theo quy định của pháp luật

 Bảo toàn và phát triển vốn:

Trang 15

Bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh nghiệp để bảo vệ lợi íchcủa Nhà nước về vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước, tạo điều kiện chodoanh nghiệp ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu nhập chongười lao động và làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước Các biện pháp bảo toànvốn thường được áp dụng là:

Thứ nhất, thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản theo các qui định

của Nhà nước;

Thứ hai, thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng

của doanh nghiệp Tiền mua bảo hiểm được hạch toán vào chi phí sản xuất kinhdoanh;

Thứ ba, doanh nghiệp Nhà nước được hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi

phí hoạt động khác một số khoản dự phòng theo quy định như: Dự phòng giảm giáhàng tồn kho, dự phòng các khoản nợ thu khó đòi, dự phòng giảm giá các loạichứng khoán trong hoạt động tài chính

Việc lập và sử dụng các khoản dự phòng nói trên thực hiện theo quy định hiệnhành Ngoài các biện pháp trên, doanh nghiệp được dùng lãi năm sau (trước thuếhoặc sau thuế) để bù lỗ các năm trước, được hạch toán một số thiệt hại (thiên tai,dịch bệnh ) vào chi phí hoặc kết qủa kinh doanh theo qui định của Nhà nước

1.2.2 Phân cấp trong quản lý

Để quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, mỗi nước đều tổ chức chomình một bộ máy quản lý khác nhau với cách thức quản lý khác nhau Bộ máynày bao gồm bản thân doanh nghiệp nhà nước (với tư cách là người trực tiếp quản

lý, sử dụng vốn nhà nước giao) và các cơ quan quản lý cấp trên (giám sát việcthực hiện quản lý, sử dụng vốn nhà nước của doanh nghiệp nhà nước và ra cácquyết định quản lý) Mỗi cấp quản lý được phân rõ chức năng nhiệm vụ trong việcthực hiện hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Ở Pháp và Malaysia, nhà nước trực tiếp cử nhân viên của mình làm công táckiểm tra tại doanh nghiệp, nhân viên đó thuộc biên chế Bộ tài chính; ngoài ra mỗi

Trang 16

doanh nghiệp còn chịu sự điều tra của một nhân viên do toá án chỉ định, có chứcnăng kiểm tra tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước Bên cạnh đó, ở các doanhnghiệp còn có Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng này là đại diện của nhànước, đại diện cho doanh nghiệp và đại diện của công nhân

Ở một số nước khác như Trung Quốc thì việc quản lý vốn nhà nước tại doanhnghiệp nhà nước lại do các Công ty đầu tư tài chính nhà nước đảm nhận Hoạtđộng của Công ty tài chính là hoạt động kinh doanh, khác với việc cử đại diện của

Bộ tài chính làm công việc kiểm tra trực tiếp tại doanh nghiệp Đây là một tổ chứctài chính do Chính phủ thành lập giúp Chính phủ thành lập chức năng kinh doanhcác nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp Công ty đầu tư tài chính nhànước có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, chủ sở hữu công ty là Chính phủ

Thứ hai, công ty đầu tư tài chính là một doanh nghiệp nhà nước, công ty được

thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước

Thứ ba, công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, được Chính phủ

giao vốn ban đầu và đầu tư bổ sung vốn trong quá trình hoạt động

Thứ tư, chức năng của công ty là kinh doanh vốn nhà nước Điều này khẳng

định mục đích đầu tư vốn vào các doanh nghiệp nhà nước là để đảm bảo đồng vốnchẳng những được bảo toàn mà còn được phát triển (gia tăng giá trị của chủ sởhữu)

Thứ năm, đối tượng hoạt động của công ty là các doanh nghiệp, bao gồm:

doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cóphần vốn góp của nhà nước như: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Ở Việt Nam, tháng 10/1999, Chính phủ quyết định giải thể Tổng cục quản lývốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, thành lập Cục tài chính doanh nghiệptrực thuộc Bộ tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính đối vớidoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và đại diện chủ sở hữu đối với số vốn

Trang 17

nhà nước đã đầu tư vào doanh nghiệp Chức năng của Cục tài chính doanh nghiệpđược cụ thể hoá như sau:

Một là, thống nhất quản lý nhà nước về tài chính doanh nghiệp thuộc các thanh

phần kinh tế trong cả nước, có thể tóm tắt các công việc cơ bản như sau:

+ Tổ chức nghiên cứu chiến lược và đề xuất các vấn đề cóm liên quan đến tàichính doanh nghiệp; dự báo khả năng động viên tài chính từ doanh nghiệp, qua đóxây dựng các chính sách, chế độ quản lý tài chính doanh nghiệp, chế độ quản lý,bảo toàn và phát triển vốn tại doanh nghiệp, chế độ hỗ trợ tài chính cho doanhnghiệp và các chế độ khác có liên quan đến quản lý tài chính doanh nghiệp theoquy định của Bộ trưởng Bộ tài chính;

+ Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ quản lý tài chính; chế

độ quản lý vốn nhà nước; chế độ kế toán, kiểm toán doanh nghiệp thống nhấttrong cả nước;

+ Tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trong cảnước, đồng thời tổ chức thông tin tài chính doanh nghiệp nhằm cung cấp cho các

cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và khách hàng những thông tin cậpnhật, chính xác đầy đủ về tình hình tài chính doanh nghiệp; hướng dẫn, bồi dưỡngnghiệp vụ quản lý tài chính doanh nghiệp;

Thứ hai, quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp do Thủ tướng chính

phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủthành lập hoặc góp vốn trong đó:

+ Hướng dẫn doanh nghiệp kiểm kê đánh giá tài sản, xác định số vốn nhànước; tổ chức giao vốn cho các doanh nghiệp theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ tàichính;

+ Tổ chức đánh giá, xác định giá trị doanh nghiệp, giá trị vốn nhà nước tạidoanh nghiệp nhà nước trong các trường hợp giải thể, phá sản hoặc chuyển đổiquyền sở hữu; giám sát việc xử lý vốn, tài sản nhà nước trong các trường hợp chiatách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản và chuyển đổi quyền sở hữu doanhnghiệp nhà nước; giám sát việc phân phối lợi nhuận sau thuế, việc sử dụng cácquỹ tại doanh nghiệp;

Trang 18

+ Thẩm định nhu cầu hỗ trợ tài chính hàng năm và cấp phát các khoản chi hỗtrợ cho doanh nghiệp Tham gia ý kiến về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch pháttriển kinh doanh của các doanh nghiệp trọng điểm, các tổng công ty nhà nước;tham gia xây dựng và thông báo chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước hàng năm củadoanh nghiệp theo uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ tài chính; tham gia các phương ángiá sản phẩm và dịch vụ do nhà nước quy định giá; tham gia việc xây dựng đơngiá, quỹ tiền lương và xếp hạng doanh nghiệp theo quy định của nhà nước;

+ Kiểm tra việc thực hiện chính sách, chế độ quản lý tài chính, kế toán, kiểmtoán của doanh nghiệp; kiểm tra báo cáo tài chính, xác định khả năng hoàn trả nợ,mức độ bảo toàn và phát triển vốn hàng năm của doanh nghiệp;

+ Tổng hợp, phân tích tình hình quản lý, sử dụng vốn, việc bảo toàn và pháttriển vốn thuộc sở hữu nhà nước tại các loại hình doanh nghiệp trong cả nước vàtheo ngành kinh tế;

+ Quản lý các quỹ tài chính hỗ trợ doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ tài chính uỷquyền;

+ Hướng dẫn các Sở tài chính-vật giá thống nhất quản lý nhà nước về tài chínhđối với doanh nghiệp do tỉnh thành phố thành lập hoặc góp vốn, tổng hợp phântích tình hình tài chính doanh nghiệp trên địa bàn;

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ tài chính giao

Dưới Cục tài chính doanh nghiệp, ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

có các Chi cục tài chính doanh nghiệp thuộc Sở tài chính vật giá Cục tài chínhdoanh nghiệp quản lý trực tiêp các doanh nghiệp nhà nước trung ương Các doanhnghiệp nhà nước địa phương chịu sự quản lý trực tiếp của các Chi cục tài chínhdoanh nghiệp thuộc Sở tài chính-vật giá tỉnh, thành phố

Hình thức phân công mới này có ưu điểm ở chỗ do doanh nghiệp nhà nước vẫnđược tổ chức theo hai hình thức, đó là doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệpđịa phương, đồng thời việc tổ chức cán bộ ở địa phương do UBND tỉnh quyếtđịnh, ở trung ương do Bộ ngành quyết định Mặt khác các doanh nghiệp trungương lớn thường có các chi nhánh ở các địa phương khác nhau nên việc quản lýtheo vùng sẽ hạn chế, đặc biệt là các Tổng công ty thường tập trung ở các địa bàn

Trang 19

thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ khiến choviệc quản lý ở các địa phương rất phức tạp

Sơ đồ quản lý như sau:

Có thể nói rằng, sự ra đời và đi vào hoạt động theo hệ thống dọc từ Trung ươngtới các tỉnh, thành phố đã giải quyết được những vấn đề có tính nguyên tắc trongquản lý doanh nghiệp nhà nước, đó là thu gọn đầu mối, thực hiện nguyên tắc mộtđầu mối cho từng chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, từng bướcxoá bỏ cơ chế chủ quản, sự phân biệt giữa doanh nghiệp trung ương và doanhnghiệp địa phương

1.2.3 Tổ chức thực hiện

Dựa trên các căn cứ về quản lý vốn nhà nước đã được thiết lập (các văn bảnpháp luật liên quan), các cơ quan quản lý (đã được phân cấp quản lý vốn nhà nướctại doanh nghiệp) sẽ tổ chức thực hiện quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhànước theo phạm vi chức năng của mỗi cấp đã được quy định

1.2.3.1 Quản lý việc hình thành vốn của doanh nghiệp nhà nước

BỘ TÀI CHÍNH

Cục tài chính doanh

nghiệpChi cục tài chính doanhnghiệp tỉnh, thành phố

Trang 20

Một việc không dễ song không thể thiếu trong hoạt động quản lý là phải xácđịnh được nhu cầu vốn của doanh nghiệp, trên cơ sở đó đánh giá và xét duyệt cáctrường hợp để đầu tư, giao vốn cho doanh nghiệp một cách hợp lý.

Nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong bất cứ thời điểm nào cũng chính bằngtổng giá trị tài sản mà doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo cho hoạt động kinhdoanh Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu vốn của doanh nghiệp thường xuyênbiến động tuỳ thuộc vào xu hướng biến động của thị trường Đồng thời các doanhnghiệp khác nhau với những đặc điểm kinh tế kỹ thuật khác nhau thì nhu cầu vềvốn cũng khác nhau Do vậy, xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp là việc làmcần thiết của các nhà quản lý Các nhà quản lý thường dùng hai phương pháp sau:

Thứ nhất, phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, đây là phương pháp dự

tính ngắn hạn, đơn giản nhưng đòi hỏi phải hiểu rõ quy trình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, đồng thời phải hiểu rõ tính quy luật của mối quan hệ giữadoanh thu tiêu thụ sản phẩm với tài sản, vốn và phân phối lợi nhuận của doanhnghiệp Đây có thể là phương pháp ước tính nhu cầu vốn của doanh nghiệp trongthời gian ngắn, vì cơ bản nó dựa trên giả thiết cho rằng tất cả các chi phí thànhphẩm sẽ chiếm một tỷ lệ ổn định trong doanh thu bán hàng tương lai, không thayđổi so với tỷ lệ của chúng trong quá khứ Tỷ lệ phần trăm trên doanh thu này là tỷ

lệ chi phí trung bình trong hai năm gần đây và mỗi khoản mục của báo cáo nhucầu vốn dự kiến được tính theo tỷ lệ phần trăm trung bình của doanh thu Khi tìmđược tỷ lệ phần trăm trung bình của doanh thu thì việc xây dựng báo cáo nhu cầu

sử dụng vốn cho năm kế tiếp theo phương pháp phần trăm trên doanh thu khá đơngiản

Thứ hai, phương pháp hồi quy, đây là phương pháp dự tính dài hạn, bản chất

của phương pháp này dựa trên lý thuyết tương quan trong toán học Khi sử dụngphương pháp này, nhà quản lý vốn cũng cần xuất phát từ doanh thu tiêu thụ.Phương pháp hay được sử dụng để xem xét khả năng nguồn đối với các khoản cóliên quan trực tiếp tới tăng giảm doanh thu

Trang 21

Sau khi đã xác định nhu cầu vốn của doanh nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩmquyền tiến hành đầu tư, giao vốn cho doanh nghiệp, công việc này được thực hiệncăn cứ vào các quy định đã được nêu ra trong các văn bản pháp luật liên quan

Ở nước ta, cấp vốn đã trở thành hình thức đắc lực nhất đối với doanh nghiệpnhà nước trong suốt thời kỳ bao cấp Đến nay tuy đã giảm nhiều song các doanhnghiệp nhà nước vẫn được bao cấp nhiều qua giá và qua cấp vốn từ ngân sách nhànước Trước đây và hiện nay, Nhà nước cấp toàn bộ vốn cố định và một phần vốnlưu động cho các doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào nhu cầu vốn lưu động củadoanh nghiệp, thường là 30% Nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp nhà nước

ở nước ta được xác định theo công thức sau:

Nhu cầu vốn lưu động = Tổng doanh thu

Vòng quay vốn lưu động Nếu trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp thiếu vốn, số vốn thiếuxin được cấp bổ sung Nhu cầu vốn cấp bổ sung tính theo công thức:

Số vốn thiếu xin được

là để cấp vốn bổ sung cho các doanh nghiệp Có thể thấy việc quản lý nhu cầu, cấpphát vốn đã từng bước chặt chẽ hơn Nhà nước đã chú ý đầu tư cho các doanhnghiệp nhà nước một cách có trọng điểm hơn chứ không dàn trải như trước Vốnđược cấp cho doanh nghiệp nhà nước một cách hợp lý hơn Các doanh nghiệpđược nhà nước đầu tư vốn phải nằm trong chiến lược phát triển của Nhà nước vàphải thoả mãn một số yêu cầu nhất định Đồng thời, mức hỗ trợ tối đa cũng đượcquy định rõ Ví dụ như trong đợt hỗ trợ vốn năm 1998 quy định rõ các đối tượngđược xét đầu tư vốn là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, các doanhnghiệp nhà nước hạch toán độc lập đang hoạt động có sản xuất chế biến hàng xuất

Trang 22

khẩu, chế biến hàng nông hải thuỷ sản, xây dựng các công trình quan trọng củanhà nước với những điều kiện cụ thể cho mỗi loại hình doanh nghiệp về doanh thulợi nhuận và mức nộp ngân sách Nhờ có sự chọn lọc trong nhu cầu vốn bổ sungnày mà đồng vốn của nhà nước trong những năm gần đây đã được sử dụng có hiệuquả hơn và đúng đối tượng hơn Trong hai năm 1997 và 1998, Nhà nước đã đầu tưthêm vào một số doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thông qua việc cấp bổ sung mộtlượng vốn đáng kể (khoảng 3000 tỷ đồng) cho các doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệsản phẩm xuất khẩu cao và có thị trường xuất khẩu Các doanh nghiệp đã biết kếthợp vốn ngân sách với các nguồn vốn tự có của doanh nghiệp Số vốn tự bổ sungcủa một số ngành chiếm tỷ trọng rất lớn trong nguồn vốn chủ sở hữu và cũng tăng

về số tuyệt đối liên tục qua các năm, ví dụ: ngành Hàng hải, Bưu điện, Hàngkhông Kết quả thống kê của Cục tài chính doanh nghiệp cho biết: Quy mô vốnnhà nước tại doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua tăng Tuy nhiên, việccấp vốn của nhà nước vẫn còn những hạn chế Hiện tượng thiếu vốn trầm trọng tại

số đông các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay là một minh chứng cho sựchưa hợp lý trong việc cấp vốn cho doanh nghiệp nhà nước Tình trạng chung củacác doanh nghiệp nhà nước ta hiện nay là tình trạng thiếu vốn sản xuất kinhdoanh Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước đầu tư thành lập nhưng vốn nhà nướckhông đủ mức tối thiểu cho sản xuất kinh doanh Có tới 60% doanh nghiệp nhànước không đủ vốn pháp định theo Nghị định 50/CP Trên 50% các doanh nghiệpnhà nước chưa đủ vốn lưu động tương ứng với quy mô hoạt động kinh doanh.Tổng công ty nhà nước được ưu tiên các điều kiện vật chất, nguồn lực để pháttriển song hiện vẫn có tới gần 80% số Tổng công ty có mức vốn nhà nước dướimức vốn bình quân của các Tổng công ty, trong đó 35% Tổng công ty có mức vốnnhà nước dưới 1000 tỷ đồng Con số này chứng tỏ có tình trạng chênh lệch về vốnkhá lớn giữa các Tổng công ty và số Tổng công ty thiếu vốn, ít vốn là chiếm đa số Bên cạnh nguồn vốn nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, sử dụng, nguồnvốn huy động được bằng việc sử dụng các khoản nợ, đặc biệt là các khoản vaycũng được quản lý khá chặt chẽ do nó ảnh hưởng đến cơ cấu vốn, cơ cấu tài sảncủa doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu Ở nước

ta, các khoản nợ phải trả cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của các doanh

Trang 23

nghiệp nhà nước Theo kết quả kiểm kê nguồn vốn của doanh nghiệp nhà nướcthời điểm 0 giờ ngày 1/1/2000, tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước là527.267 tỷ đồng trong đó vốn chủ sở hữu là 173.857 tỷ đồng (chiếm 32,9%), còntổng vốn huy động qua các khoản nợ phải trả là 353.410 tỷ đồng (chiếm tới 67%tổng nguồn vốn) Việc huy động vốn qua các khoản nợ cũng ngày một tăng Nợcủa các doanh nghiệp nhà nước ngày càng tăng về quy mô cũng như về tỷ trọngtrong cơ cấu vốn đối với một số doanh nghiệp nhà nước Điều này phản ánh khảnăng huy động vốn của các doanh nghiệp có tăng lên

b, Quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước

Là một loại hình doanh nghiệp nên doanh nghiệp nhà nước cũng có những đặcđiểm như các loại hình doanh nghiệp khác về tư cách pháp nhân, về điều kiện vàmục đích kinh doanh Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp thuộc thành phầnkinh tế khác, doanh nghiệp nhà nước là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước

Vì vậy để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ lợi ích của mình với tư cách làchủ sở hữu Nhà nước cần thiết phải thực hiện hoạt động giám sát Giám sát sửdụng vốn nhà nước là một nội dung quan trọng của hoạt động giám sát tài chính-một bộ phận của giám sát doanh nghiệp nhà nước, đó là việc theo dõi kiểm tra củachủ thể quản lý đối với khách thể quản lý nhằm hướng các hoạt động của kháchthể quản lý theo đúng mục tiêu mà chủ thể quản lý đã lựa chọn, phủ hợp với quychế pháp luật hiện hành Giám sát sử dụng vốn nhà nước vừa là yêu cầu kháchquan, vừa xuất phát từ chức năng quản lý nhà nước với doanh nghiệp, vừa do yêucầu bảo vệ lợi ích của nhà nước với tư cách là chủ sở hữu

Các đơn vị quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp thực hiện vai trò quản lýnhà nước thông qua giám sát Việc giám sát nhằm đánh giá hiệu quả hoạt độngkinh doanh, hiệu quả sự dụng vốn và khả năng thanh toán nợ đối với từng doanhnghiệp để xem xét quyết định việc tăng thêm hoặc giảm bớt số vốn đầu tư vàodoanh nghiệp, xếp loại doanh nghiệp và quyết định thưởng phạt đối với ngườiquản lý và điều hành doanh nghiệp hoặc sắp xếp lại doanh nghiệp Ngoài ra, giámsát doanh nghiệp còn để đánh giá việc chấp hành các văn bản quy phạm pháp luật,

Trang 24

chế độ tài chính, chuẩn mực kế toán hiện hành và đánh giá tổng thể về tình hìnhhoạt động sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp để phục vụ cho việc ban hành,hoàn thiện các chính sách vĩ mô và chế độ đối với doanh nghiệp trong từng ngành,từng lĩnh vực, thực hiện sự hỗ trợ đối với trường hợp cần hỗ trợ của nhà nướcnhằm khắc phục những khó khăn tạm thời và phát triển doanh nghiệp Các hìnhthức giám sát doanh nghiệp nhà nước bao gồm:

Thứ nhất, giám sát từ bên trong: là giám sát nội bộ do các tổ chức của doanh

nghiệp như kiểm toán nội bộ, ban kiểm soát, thanh tra nhân dân và do doanhnghiệp tự tổ chức thực hiện

Thứ hai, giám sát từ bên ngoài: là giám sát do cơ quan chức năng của nhà

nước hoặc các tổ chức cá nhân bên ngoài doanh nghiệp tổ chức thực hiện Việcgiám sát bên ngoài doanh nghiệp được thực hiện dưới hai hình thức:

Một là, giám sát gián tiếp: là theo dõi và kiểm tra từ xa thông qua báo cáo

tài chính, thống kê và chế độ báo cáo khác do các cơ quan chức năng của nhànước quy định, thông qua báo cáo công khai tình hình tài chính tại thị trườngvốn, thị trường chứng khoán

Hai là, giám sát trực tiếp: được thực hiện bằng các hoạt động kiểm tra,

thanh tra, khảo sát nắm tình hình trực tiếp tại doanh nghiệp

Ngoài ra, còn có thể thông qua các công ty tư vấn (bao gồm công ty tư vấn tàichính kế toán, thuế, các công ty kiểm toán độc lập, công ty đánh giá tài sản ) đểthực hiện các dịch vụ về giám sát doanh nghiệp

Có thể giám sát trước, trong quá trình thực hiện và sau khi thực hiện:

+ Giám sát trước khi thực hiện là việc kiểm tra tính khả thi của các dự ánnhư kế hoạch ngắn hạn hoặc dài hạn; dự án đầu tư xây dựng hoặc đầu tư rangoài doanh nghiệp, dự án huy động vốn

+ Giám sát trong quá trình thực hiện là theo dõi, kiểm tra hoặc thanh tra tínhhiệu lực của các quy định pháp luật, nguyên tắc quản lý điều hành của doanhnghiệp và hiệu quả các hoạt động của doanh nghiệp

Trang 25

+ Giám sát sau khi thực hiện là việc theo dõi, kiểm tra, thanh tra các kết quảhoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở các báo cáo kết quả hoặc quyết toánđịnh kỳ và giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật, quyết định củachủ sở hữu hoặc điều lệ doanh nghiệp

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp nhà nước, có thể sử dụngmột số chỉ tiêu sau:

 Hiệu quả sử dụng vốn và khả năng sinh lời:

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = Tổng lợi nhuận

Số vốn nhà nướcđầu tư thêm hoặcrút về

+

Số vốn đầu tưthêm từ lợinhuận sau thuế

 Khả năng thanh toán:

Khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Khả năng thanh toán nhanh = Tiền

Nợ ngắn hạn

Trang 26

Các chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán nợ quá hạn của doanh nghiệp Hiệu quả của việc quản lý sử dụng vốn tại các doanh nghiệp nhà nước được thểhiện bằng hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nóiriêng của các doanh nghiệp nhà nước.

Trong công tác kiểm tra giám sát quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệpcần:

Thứ nhất, nắm được tình hình vốn, tài sản của doanh nghiệp trong cả nước và

phân loại theo doanh nghiệp nhà nước trung ương, doanh nghiệp nhà nước địaphương một cách có hệ thống;

Thứ hai, thiết lập cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về doanh nghiệp nhà nước ở các địa

phương và trung ương dựa trên tiêu chí nhất định Cơ sở dữ liệu sẽ phục vụ choviệc phân tích đánh giá về doanh nghiệp nhà nước không chỉ của cơ quan tài chính

mà của nhiều ngành chức năng của trung ương, các chuyên gia trong nước vàquốc tế; giúp phân biệt giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp lớn, đóngvai trò quyết định trong nền kinh tế Chất lượng của cơ sở dữ liệu cần được nângcao bằng việc xử lý, sắp xếp khoa học các dữ liệu Khai thác, sử dụng hệ thống cơ

sở dữ liệu sao cho có hiệu quả, không chỉ phục vụ cho việc đánh giá tổng quát tìnhhình doanh nghiệp cả nước mà còn được sử dụng đề phân tích đánh giá từngdoanh nghiệp, từng ngành

Thứ ba, bên cạnh việc giám sát từ xa cần thực hiện việc giám sát tại chỗ Hàng

năm, tuỳ theo điều kiện cụ thể tình hình quản lý vốn của các doanh nghiệp, cơquan quản lý tài chính doanh nghiệp tổ chức kiểm tra theo chuyên để hoặc kiểmtra toàn diện ở một số hoặc toàn bộ các doanh nghiệp trên địa bàn Việc kiểm tranhư vậy giúp cho doanh nghiệp nhà nước chấn chỉnh công tác quản lý vốn, hạchtoán kế toán

Thêm vào đó, các cơ quan thanh tra tài chính, kiểm toán nhà nước cùng tiếnhành thường xuyên việc thanh tra và kiểm toán tại doanh nghiệp nhà nước Việckiểm tra này sẽ giúp khắc phục được một số yếu kém còn tồn tại trong công tác

Trang 27

Việc giám sát, kể cả giám sát từ xa và giám sát tại chỗ cần tập trung vào đánhgiá, phát hiện khả năng thanh toán của doanh nghiệp Trên cơ sở đó dự báo sớmtình hình mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp và đề xuất biện pháp để ngănchặn tình trạng này Công tác giám sát cần giúp cho việc đánh giá đúng thực trạngtình hình quản lý vốn và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, như việc pháthiện doanh nghiệp bị thua lỗ, doanh nghiệp đầu tư lãng phí, công nghệ thiết bị lạchậu, khả năng tiêu thụ sản phẩm, giá thành sản phẩm và khả năng thu hồi vốnkhông được tính toán kỹ để có biện pháp ngăn chặn kịp thời;

Thứ tư, kênh thông tin từ doanh nghiệp lên các cơ quan tài chính cũng như

trong hệ thống cơ quan tài chính doanh nghiệp thường phải nhanh, đầy đủ

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

1.3.1 Quan điểm của nhà nước về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp Quan điểm của nhà nước về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là nhân tố

đầu tiên, có ảnh hưởng quyết định tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Sở dĩ như vậy là vì nhân tố này sẽ quyết định tổ chức bộ máy quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp như thế nào? Nội dung các văn bản pháp luật phục vụ cho công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp phải như thế nào? Trình độ của cán bộ quản lý? Chẳng hạn: Nếu một nhà nước quan niệm nên tạo sự chủ động cao cho doanh nghiệp thì việc xây dựng văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy quản lý cũng được thực hiện theo hướng tạo sự chủ động cho doanh nghiệp, bộ máy quản lý gọn nhẹ, chấm dứt sự can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

1.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý

Hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước tiếp đó phụ thuộc vào tổ chức bộ máy quản lý, vốn nhà nước sẽ không thể được quản lý tốt nếu tổ chức bộ máy quản lý không hợp lý Hiện nay ở nhiều nước, cơ quan trực tiếp tiến hành công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn nhà nước nói riêng đối

Trang 28

với doanh nghiệp cũng là cơ quan trực tiếp hoặc gián tiếp ban hành các chính sách, chế độ quản lý vốn tại doanh nghiệp (thông qua việc dự thảo các chính sách trình cơ quan có thẩm quyền ký ban hành) Bộ máy quản lý gồm một cơ quan trung ương và các cơ quan địa phương Với mô hình này, việc giám sát doanh nghiệp được thực hiện theo phương thức từ xa, định kỳ theo quy định, tiến hành từcấp địa phương đến trung ương Công tác giám sát từ xa nếu được thực hiện đầy

đủ, kịp thời sẽ tạo điều kiện cho cơ quan quản lý có được cái nhìn tổng thể về toàn

bộ hệ thống doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế Tuy nhiên, việc quản vốn nhà nước không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan duy nhất, nó đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý khác như đơn vị chủ quản, cơ quan thuế Các cơquan này cũng thực hiện việc giám sát tại chỗ đối với các doanh nghiệp Doanh nghiệp rất nhạy cảm đối với hoạt động giám sát tại chỗ này Việc giám sát tại chỗ

có thực sự phát huy hiệu quả, nghĩa là thấy và phản ánh được kịp thời những khó khăn mà doanh nghệp đang gặp phải để tìm cách tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư doanh nghiệp đang thực hiện Đồng thời các cơ quan quản lýphải tổ chức việc giám sát tại chỗ cho phù hợp, không gây cản trở đối với hoạt động của doanh nghiệp và không để cho một số cán bộ lợi dụng việc giám sát ngay tại doanh nghiệp để làm lợi cho riêng mình

Ở nước ta, việc tổ chức phân cấp quản lý các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn những vướng mắc Cơ chế quản lý Bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản vẫn còn gây nhiều khó khăn cho hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhànước Hiện nay, Cục tài chính doanh nghiệp chịu trách nhiệm quản lý các doanh nghiệp nhà nước trong cả nước, song thực sự thì Cục chỉ quản lý và trực tiếp giải quyết những vấn đề về vốn liên quan đến những doanh nghiệp nhà nước trung ương, những doanh nghiệp nhà nước địa phương thì do Sở tài chính vật giá tỉnh, thành phố quản lý Việc phân cấp quản lý này tạo ra một sự phát triển không cân đối giữa các doanh nghiệp nhà nước trung ương và các doanh nghiệp nhà nước địaphương, đồng thời cũng chưa triệt để trong việc thực hiện mục đích hình thành Cục tài chính doanh nghiệp là quản lý thống nhất các doanh nghiệp nhà nước Quy

mô của các doanh nghiệp nhà nước trung ương lớn hơn các doanh nghiệp nhà nước địa phương, các doanh nghiệp nhà nước trung ương cũng mau đổi mới máy

Trang 29

móc thiết bị hơn doanh nghiệp nhà nước địa phương do có nhiều nguồn vốn đầu

tư Các doanh nghiệp nhà nước trung ương làm ăn cũng hiệu quả hơn các doanh nghiệp nhà nước địa phương Từ đây có thể thấy, việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước tuy đã tập trung gọn lại về một đầu mối là Cục tài chính doanh nghiệp nhưng trên thực tế thì việc quản lý các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự được tập rtung và đó là một trong các nguyên nhân gây ra sự phát triển không đồng đều giữa các doanh nghiệp nhà nước Sở dĩ việc quản lý vẫn cần phải phân cấp như vậy vì hiện nay khối lượng công việc cho cán bộ quản lý tại Cục tài chính doanh nghiệp là quá lớn Bởi vậy, việc xây dựng và hoàn thiện hơn nữa bộ máy quản lý các doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới là một vấn đền không kém phần không kém phần quan trọng được đặt ra cùng với việc đổi mới công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước ở nước ta

1.3.3 Sự phù hợp của các văn bản pháp luật liên quan

Để tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp có thể bất chấp những lợi ích chung của toàn xã hội Để hạn chế mặt tiêu cực đó, bên cạnh “bàn tay vô hình”- các quy luật của thị trường còn có “bàn tay hữu hình”-sự can thiệp của nhà nước Sự can thiệp của nhà nước thể hiện qua những chính sách quản lý vĩ mô đối với nền kinh

tế, qua hệ thống pháp luật Các chính sách quản lý của nhà nước vừa trực tiếp, vừa gián tiếp tác động tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Sự tác động trực tiếp thể hiện qua những chính sách trực tiếp liên quan tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Đó là những chính sách quy định về nội dung quản lý vốn, phương pháp quản lý vốn, bộ máy quản lý vốn Các chính sách này được thực hiện bởi cơ quan quản lý nhà nước cũng như hệ

thống các doanh nghiệp nhà nước Một hệ thống chính sách quản lý đúng đắn, đầy

đủ sẽ đem lại hiệu quả quản lý cao và ngược lại, một hệ thống chính sách quản lý chưa đầy đủ, không đồng bộ, còn thiếu sót sẽ làm giảm hiệu quả của công tác quản lý

Trang 30

Sự tác động gián tiếp của chính sách quản lý của nhà nước tới hoạt động quản

lý vốn nhà nước thể hiện ở chỗ: các chính sách quản lý của nhà nước có tạo ra được một môi trường thuận lợi cho công tác quản lý vốn nhà nước hay không, haytạo khó khăn cho công tác quản lý? Ví dụ như: chính sách về sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước có tạo điều kiện cho công tác quản lý vốn nhà nước hay không?

Ở nước ta, tác động của yếu tố này tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước thể hiện rất rõ Cùng với việc không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản chính sách về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (căn

cứ để quản lý), việc tổ chức thực hiện đã cho thấy những dấu hiệu tích cực rõ rệt Tuy vậy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong hệ thống chính sách đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện để quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước tốt hơn

1.3.4 Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý

Trình độ, năng lực của cán bộ quản lý trực tiếp tác động tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Bộ máy quản lý các doanh nghiệp nhà nước là cơ quan trực tiếp tiến hành hoạt động quản lý tài chính nói chung và quản

lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước nói riêng Không những thế ở nhiều nước đây còn là cơ quan trực tiếp hay gián tiếp ban hành các chính sách, chế độ vềquản lý vốn tại các doanh nghiệp Bởi vậy, sự am hiểu của cán bộ quản lý về ngành nghề lĩnh vực mình quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng nắm bắt tình hình của họ với lĩnh vực đó, do đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc cán bộ quản

lý đó có phân tích và đưa ra được những kết luận đúng đắn hay không, có dự thảo

ra được những chính sách quản lý đúng đắn hay không? Thêm vào đó, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý sẽ quyết định việc họ có thực hiện quản lý đúng theo lương tâm trách nhiệm hay không?

1.3.5 Môi trường kinh tế-chính trị-xã hội

Sự ổn định về kinh tế-chính trị-xã hội là nhân tố quan trọng, có tác động lớn tớihiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp và do đó tác động tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Môi trường chính trị-xã hội ổn định, nền

Trang 31

kinh tế tăng trưởng ổn định, ít lạm phát và ít biến động sẽ tạo ra cho các nhà đầu

tư một tâm lý yên tâm trong quá trình huy động và sử dụng vốn, do đó vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước có điều kiện được bảo toàn và phát triển

Nền kinh tế nước ta mới chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường-một cơ chế kinh

tế luôn được quan niệm là năng động, bất ổn định, chứa đựng nhiều cơ hội và cả những khó khăn Trong thời gian qua, do nhiều lý do như ảnh hưởng khủng hoảngkinh tế khu vực, thiên tai khiến môi trường kinh tế nước ta chưa thực sự ổn định Mặt khác, môi trường kinh tế hiện nay của nước ta còn đang thiếu nhiều yếu tố cần thiết để tạo điều kiện cũng như tạo động lực cho hoạt động kinh doanh của cácdoanh nghiệp

Các nhân tố trên đây đều tác động lớn tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Bởi vậy việc nghiên cứu tác động của từng nhân tố cũng như tác động tổng hợp của các nhân tố tới hoạt động quản lý vốn nhà nước là hết sức cần thiết Từ đó tìm ra được các nguyên nhân dẫn đến những bất hợp lý trong hoạt động quản lý vốn nhà nước, rồi đưa ra những đề xuất để hoàn thiện công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỐI VỚI PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI NHÀ MÁY LEN HÀ ĐÔNG

Trang 32

2.1 Tổng quan Nhà máy len Hà Đông

2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển

Nhà máy len Hà Đông là một doanh nghiệp nhà nước, được khởi công xây

dựng vào tháng 4/1958 Năm 1959, chính thức đi vào hoạt động và có tên là Nhàmáy nhuộm in hoa Hà Đông Khi đó, Nhà máy chỉ là một cơ sở gia công nhuộmtẩy các mặt hàng vải lụa, sợi thuộc công ty Bông vải, sợi-Bộ nội thương Ban đầu,công nghệ sản xuất chủ yếu là sản xuất thủ công tren chảo rang và hong khô ngoàitrời

Tháng 1/1961, Nhà máy chính thức được chuyển sang cho bộ Công nghiệp nhẹquản lý và đổi tên thành Xí nghiệp in hoa Hà Đông Nhiệm vụ chủ yếu của xínghiệp lúc đó là in hoa trên vải và khăn mặt bông, nhuộm vải sợi phục vụ tiêudùng trong nước

Năm 1973, theo kế hoạch đầu tư mở rộng của Bộ Công nghiệp nhẹ, xí nghiệpđược đầu tư xây dựng thêm một phân xưởng sản xuất len phục vụ cho dệt thảmxuất khẩu Nhờ đó, thiết bị sản xuất của xí nghiệp được cơ khí hoá dần dần Đếnnăm 1977, xí nghiệp được đổi tên thành Nhà máy len nhuộm Hà Đông, thuộc Liênhiệp các xí nghiệp dệt Bộ công nghiệp

Từ năm 1990, thực hiên chương trình Đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước,Nhà máy đã tiến hành tổ chức lại sản xuất và sắp xếp lại lao động Để giải quyếtcông ăn việc làm cho số lao động dư thừa, Nhà máy đã xây dựng thêm một bộphận dệt thảm len xuất khẩu, đồng thời phát triển thêm dây truyền in vải hoa (lànghề truyền thống của nhà máy) Cũng trong năm này, Nhà máy đổi tên thànhCông ty len Hà Đông Năm 1996, Nhà máy đầu tư xây dựng thêm một phânxưởng sản xuất len Acrylic đan áo từ xơ hoá học với dây chuyền công nghệ vàmáy móc nhập khẩu từ Pháp

Năm 1999, Nhà máy chính thức sát nhập trở thành đơn vị trực thuộc Công tylen Việt Nam (thành viên của Tổng công ty dệt may Việt Nam) và mang tên Nhàmáy len Hà Đông Hiện mặt hàng chủ yếu của Nhà máy là len thảm và lenAcrylic; ngoài ra, nhà máy còn nhận gia công nhuộm vải và in hoa

Trang 33

may Việt Nam

Qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, Nhà máy đã có nhiều cố gắng trongviệc đầu tư mở rộng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sản xuất Từ một cơ sở gia công,sản xuất thủ công ban đầu, đến nay đã trở thành một nhà máy với 320 cán bộ côngnhân viên Trong những năm gần đây, do biến động của thị trường tiêu thụ, sảnphẩm của nhà máy phải cạnh tranh với các hàng hoá nhập lậu bằng các đường tiểunghạch qua biên giới nên Nhà máy gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, Nhà máy vẫnluôn cố gắng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, đảm bảo việc làm cho sốlao động hiện có

+ Đổi mới công nghệ, trang thiết bị theo chiến lược phát triển của Tổng công ty + Giao lại cho các đơn vị thành viên quản lý, sử dụng các nguồn lực mà Tổngcông ty đã nhận của Nhà nước; điều chỉnh những nguồn lực đã giao cho các đơn

vị thành viên trong trường hợp cần thiết, phù hợp với kế hoạch phát triển chungcủa toàn Tổng công ty

+ Lựa chọn, khai thác và mở rộng thị trường trong và ngoài nước; hướng dẫn

và phân công thị trường cho các đơn vị thành viên; được xuất khẩu, nhập khẩutheo quy định của Nhà nước

Trang 34

+ Hướng dẫn giá hoặc khung giá xuất, nhập khẩu vật tư, nguyên liệu, phụ liệu,thiết bị, phụ tùng, sản phẩm và dịch vụ trong Tổng công ty; quy định khung giáxuất, nhập khẩu một số vật tư, nguyên phụ liệu, thiết bị, phụ tùng, sản phẩm vàdịch vụ quan trọng Trường hợp các đơn vị thành viên phải áp dụng mức giákhông nằm trong khung giá xuất, nhập khẩu do Tổng công ty quy định thì phảiđược sự đồng ý của Tổng Giám đốc.

+ Xây dựng và áp dụng các định mức lao động, vật tư chủ yếu, đơn giá tiềnlương trên đơn vị sản phẩm trong khuôn khổ các định mức, đơn giá của Nhà nước

Công ty Len Việt nam là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, hạch

toán độc lập, được Tổng công ty dệt may Việt Nam giao vốn, tài nguyên, đất đai

và các nguồn lực khác Công ty chịu trách nhiệm về cam kết của mình trong phạm

vi số vốn do Công ty quản lý và sử dụng, cụ thể là:

- Trong chiến lược và đầu tư phát triển, Công ty được giao tổ chức thực hiệncác dự án đầu tư phát triển theo kế hoạch của Tổng công ty và được Tổng công tygiao các nguồn lực để thực hiện dự án đó;

- Trong hoạt động kinh doanh, Công ty xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạchcủa mình trên cơ sở bảo đảm các mục tiêu, chỉ tiêu, các cân đối lớn, các định mứckinh tế - kỹ thuật chủ yếu, đơn giá và giá của Công ty phù hợp với kế hoạch chungcủa Tổng công ty;

- Trong hoạt động tài chính và hạch toán kinh tế:

+ Công ty được nhận vốn là nguồn lực khác của Nhà nước do Tổng công tygiao lại cho Công ty Công ty có nhiệm vụ bảo toàn, phát triển vốn và các nguồnlực này;

+ Công ty được hình thành quỹ đầu tư xây dựng cơ bản, quỹ phát triển sảnxuất, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự trữ tài chính theo Quy chế tài chínhcủa Tổng công ty; có nghĩa vụ trích nộp và sử dụng các quỹ tập trung của Tổngcông ty quy định tại Quy chế tài chính Tổng công ty và theo các quyết định củaHội đồng quản trị;

+ Công ty giao vốn và nguồn lực khác cho các nhà máy thành viên, được quyền điều hoà vốn, điều động tài sản giữa các nhà máy thành viên, tương ứng với nhiệm

vụ sản xuất kinh doanh Công ty giao theo nguyên tắc tăng, giảm

Trang 35

M ĐỐC

Nhà máy len Hà Đông, với tư cách là một thành viên hạch toán phụ thuộc Công ty len Việt Nam, được Công ty giao vốn, chịu trách nhiệm trước Công ty và Nhà nước về hiệu quả sử dụng, bảo toàn phát triển vốn và các nguồn lực được giao Nhà máy chịu sự chỉ đạo, điều phối trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong hoạt động tài chính của Công ty

Nhà máy Len Hà Đông tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh theo mô hình trựctuyến Đứng đầu nhà máy là giám đốc- chịu trách nhiệm lãnh đạo chung toàn nhàmáy Giám đốc chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước nhà máy về mọi hoạtđộng sản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước Giúp việc chogiám đốc có phó giám đốc kĩ thuật là người tham mưu cho giám đốc Dưới nữa,Nhà máy có các phòng ban chức năng như: Phòng tổ chức hành chính, Phòng kĩ

thuật, Phòng kinh doanh, Phòng tài chính- kế toán Giữa các phòng ban chức

năng có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, cùng triển khai thực hiện các mục tiêu sảnxuất kinh doanh của Nhà máy Dưới đây là sơ đồ tổ chức quản lý của Nhà máy len

Hà Đông:

Phó giámđốc kỹ

Phân xưởngnhuộm, inhoa

Ngành cơđiện

Trang 36

2.1.3 Đặc điểm tổ chức hệ thống sản xuất và tiêu thụ

2.1.3.1 Nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu của Nhà máy bao gồm nguyên liệu chính và vật liệu phụ (hoáchất thuốc nhuộm, nước nhuộm, nhiên liệu động lực) với nhiều chủng loại dùng

để sản xuất các loại sản phẩm khác nhau

Nguyên liệu chính chủ yếu bao gồm: Lông cừu nhập từ NewDiland dùng đểsản xuất len thảm; Tow Acrylic trắng nhập từ Nhật Bản để sản xuất len Acrylic Vật liệu phụ bao gồm: Midlonfast blue E 200%, Polar Yellow, Albegal A dùng

để sản xuất len thảm; Tinegal MR, Soft AWT dùng để sản xuất len Acrylic; Cácloại vật liệu phụ khác

2.1.3.2 Lao động

Nhà máy len Hà Đông có số công nhân viên trong danh sách là 405 người

nhưng hiện thực tế đi làm tại Nhà máy là 320 người trong đó nhân viên quản lý là

44 người (do thời gian trước, Nhà máy không có việc làm nên đã giải quyết chomột bộ phận công nhân viên về nghỉ không lương)

2.1.3.3 Trang thiết bị, máy móc

Máy móc, thiết bị của Nhà máy len Hà Đông hiện nay đã quá cũ Hầu hết các

máy móc, thiết bị của Nhà máy đã được đưa vào sử dụng từ năm 1976 và 1982.Riêng máy móc thiết bị tại phân xưởng 2 tuy mới được đầu tư mua năm 1996nhưng không phải máy móc thiết bị mới được sản xuất mà cũng chỉ là hàng dùnglại, theo xác minh chúng được sản xuất từ năm 1989

2.1.3.4 Cơ cấu tổ chức sản xuất

Nhà máy gồm có 3 phân xưởng và một ngành sản xuất Các phân xưởng đều có

mô hình tổ chức quản lý như sau: Đứng đầu các phân xưởng, ngành là các quảnđốc, trưởng ngành Giúp việc cho các quản đốc có các đốc công, các cán bộ kĩthuật và các tổ trưởng sản xuất, giúp việc cho trưởng ngành cũng có các tổ trưởng

Trang 37

sản xuất Mỗi phân xưởng và ngành sản xuất một hoặc một nhóm sản phẩm: Phânxưởng len 1 sản xuất len thảm, phân xưởng len 2 sản xuất len cao cấp Acrylic đan

áo từ xơ hoá học, phân xưởng nhuộm- in hoa nhuộm, in vải hoa gia công các loạitheo yêu cầu của khách hàng, ngành cơ điện sản xuất phụ trợ cho các phân xưởngtrong nhà máy

2.1.3.5 Tình hình tiêu thụ:

Hiện nay, Nhà máy có hai cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm của Nhà máy,nhưng chỉ có một cửa hàng là hoạt động thực sự có hiệu quả Tình hình tiêu thụsản phẩm được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1: Sản lượng thực tế năm 2001, 2002

Loại sản phẩm Sản lượng sản xuất (kg) Sản lượng tiêu thụ (kg)

Năm 2001 Năm 2002 Năm 2001 Năm 2002

Len Acrylic 187.335 306.675 179.485 229.684

(Nguồn: Báo cáo tình hình tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy)

Như vậy, sản lượng sản xuất, tiêu thụ len thảm giảm do nhu cầu đối với mặthàng này giảm mạnh Chỉ có len Acrylic là tăng sản lượng sản xuất, tiêu thụ; vớimặt hàng này, đối thủ cạnh tranh đáng kể nhất của Nhà máy là len AC của TrungQuốc có giá hiện rẻ hơn len của Nhà máy 2000đ/cân song chất lượng kém hơn,tràn vào theo đường tiểu ngạch chiếm lĩnh thị trường và len Vĩnh Thịnh chuyênsản xuất len Acrylic dùng để đan áo, công ty này nhập khẩu top màu nên có lợi thế

là màu của họ đẹp và đồng đều hơn song lại có hạn chế là không chủ động được

về màu của sản phẩm nên không đáp ứng được nhu cầu đa dạng và thường xuyênthay đổi của khách hàng, trong khi đó Nhà máy len Hà Đông do quy trình sản xuất

là tự nhuộm màu nên tuy sản phẩm không đẹp và đồng đều được như bên VĩnhThịnh (do công nghệ lạc hậu hơn và tay nghề công nhân yếu hơn) song lại có thểchủ động trong việc nhuộm màu đáp ứng nhu cầu đa dạng và hay thay đổi củangười tiêu dùng; nhờ lợi thế đó mà sản lượng sản xuất, tiêu thụ của Nhà máy nămqua vẫn tăng Có thể kể tên một số khách hàng lớn của Nhà máy trong 2 năm qua

Trang 38

gồm có: Công ty TNHH Hoàng Dương (60 tấn len Acrylic mỗi năm), Công ty cổphần kinh doanh len Sài Gòn (20 tấn len Acrylic mỗi năm), Công ty TNHH Đông

Đô (20 tấn len thảm), Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ NamĐịnh (6 tấn len thảm)

2.2 Thực trạng công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà máy len Hà Đông

2.2.1 Cơ sở thực hiện quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy len Hà Đông

Quốc hội, Chính Phủ, các Bộ ban hành các văn bản pháp luật (từ Luật tớiThông tư) quy định các chế độ quản lí vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước

Có thể kể tên một số văn bản sau đây: Luật doanh nghiệp nhà nước ngày20/04/1995; Nghị định số 59/CP ngày 3/10/1996 của Chính phủ về Quy chế quản

lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước; Nghị định số27/1999/NĐ-CP ngày 20/04/1999 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Nghịđịnh số 59/CP nói trên; Nghị định số 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 về quản lý

và xử lý nợ tồn đọng đối với DNNN và Thông tư số 85/2002/TT-BTC hướng dẫnthực hiện Nghị định này; Thông tư số 62/1999/TT-BTC ngày7/6/1999 hướng dẫnviệc quản lý, sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; Chế độ quản lí,

sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định (Ban hành kèm theo Quyết định số166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 của Bộ trưởng Bộ tài chính)

Tổng công ty dệt may Việt Nam dựa vào những văn bản pháp luật liên quannhư trên và Quy chế tài chính mẫu của Tổng công ty nhà nước (Ban hành kèmtheo Quyết định số 838 TC/QĐ/TCDN ngày 28/8/1996 của Bộ trưởng Bộ Tàichính) xây dựng Quy chế tài chính của Tổng công ty dệt may Việt Nam (Ban hànhkèm theo Quyết định số 36/QĐ/HĐQT ngày 15/2/1997 của Chủ tịch Hội đồngquản trị Tổng công ty dệt may Việt Nam) Công ty len Việt Nam (một thành viênhạch toán độc lập Tổng công ty dệt may Việt Nam) căn cứ vào đó xây dựng Quychế tài chính Công ty len Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 19/QĐ-CTLVN ngày 19/8/1999 của Tổng giám đốc Công ty len Việt Nam), trong đó đưa

ra Chế độ tài chính của các đơn vị thành viên ( là các thành viên hạch toán phụ

thuộc Công ty len Việt Nam trong đó có Nhà máy len Hà Đông) Các nhà máy

Trang 39

thành viên chịu trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh các quy định trong quy chếnày Ngoài các quy định trên, các nhà máy thành viên thực hiện đúng quy chếquản lý tài chính và hạch toán kinh doanh theo quy định hiện hành của nhà nước Nội dung các văn bản trên đây hình thành nên căn cứ để các cấp quản lý quản

lý vốn nhà nước tại Nhà máy len Hà Đông

2.2.2 Tổ chức thực hiện quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy

2.2.2.1 Quản lý quá trình hình thành vốn

Được thành lập ngày 29/3/1999, Công ty len Việt Nam thực hiện giao vốn choNhà máy len Hà Đông trên cơ sở số vốn Nhà máy len Hà Đông đang quản lý và sửdụng Theo Biên bản giao vốn đó, vốn Công ty len Việt Nam giao cho Nhà máylen Hà Đông sử dụng và bảo toàn tính đến 0h ngày 1/7/1999 thể hiện ở Bảng dưới:

Bảng 2: Vốn giao cho Nhà máy len Hà Đông tính đến ngày 1/7/1999

đơn vị : đồng

Chỉ tiêu Tổng nguồn

vốn

Trong đó Nguồn ngân sách Nguồn bổ sung

Tổng số vốn giao 11.250.652.059 4.847.958.744 6.402.693.315

1 Vốn cố định 5.200.688.859 2.503.093.658 2.697.595.201-Dùng trong SXKD 4.956.668.276 2.259.073.075 2.697.595.201

2 Vốn lưu động 6.049.963.200 2.344.865.086 3.705.098.114-Dùng trong SXKD 2.833.413.014 0 2.833.413.014-Ứ đọng chờ thanh

(Nguồn : Biên bản giao vốn cho Nhà máy len Hà Đông ngày 1/7/1999)

Ngày đăng: 23/06/2016, 11:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. PGS.TS.Hoàng Công Thi-Nguyễn Thị Thanh Thảo, 1999, Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc, NXB Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: ải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Nhà XB: NXB Tài chính
3. Tạp chí Tài chính 2/2002, Tạp chí Thông tin tài chính 12/2001, Thời báo kinh tế Việt Nam số 146 ngày 6/12/2000 Khác
4. Luật doanh nghiệp nhà nước ngày 20/04/1995 Khác
5. Thông tư số 62/1999/TT-BTC ngày7/6/1999 hướng dẫn việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nước Khác
6. Chế độ quản lí, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định (Ban hành kèm theo Quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 của Bộ trưởng Bộ tài chính) Khác
7. Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty dệt may Việt Nam Khác
8. Quy chế tài chính Công ty len Việt Nam Khác
9. Báo cáo tài chính của Nhà máy len Hà Đông các năm 2001 và 2002 Khác
10. Biên bản giao vốn cho Nhà máy len Hà Đông ngày 1/7/1999 Khác
11. Biên bản xác định chất lượng vật tư, hàng hoá, thành phẩm kém, mất phẩm chất tồn kho đến 1/1/2000 của Nhà máy len Hà Đông Khác
12. Biên bản xử lý công nợ khó đòi năm 2002 của Nhà máy len Hà Đông Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sản lượng thực tế năm 2001, 2002 - Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (nghiên cứu vận dụng tại nhà máy len hà đông)
Bảng 1 Sản lượng thực tế năm 2001, 2002 (Trang 37)
Bảng 2: Vốn giao cho Nhà máy len Hà Đông tính đến ngày 1/7/1999 - Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (nghiên cứu vận dụng tại nhà máy len hà đông)
Bảng 2 Vốn giao cho Nhà máy len Hà Đông tính đến ngày 1/7/1999 (Trang 39)
Đồ thị 1: Tình hình biến động vốn nhà nước qua hai năm 2001-2002 - Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (nghiên cứu vận dụng tại nhà máy len hà đông)
th ị 1: Tình hình biến động vốn nhà nước qua hai năm 2001-2002 (Trang 40)
Bảng 3: Các khoản nợ tồn đọng khó đòi phát sinh từ năm 1996 đến nay STT Tên người nợ Số nợ (đ) Năm p/s nợ Lý do lập dự phòng - Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (nghiên cứu vận dụng tại nhà máy len hà đông)
Bảng 3 Các khoản nợ tồn đọng khó đòi phát sinh từ năm 1996 đến nay STT Tên người nợ Số nợ (đ) Năm p/s nợ Lý do lập dự phòng (Trang 49)
Bảng 5: Bảng cân đối kế toán ngày 31/12/2001 và 31/12/2002 - Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (nghiên cứu vận dụng tại nhà máy len hà đông)
Bảng 5 Bảng cân đối kế toán ngày 31/12/2001 và 31/12/2002 (Trang 55)
Bảng 7: Kết cấu tài sản của Nhà máy len Hà Đông - Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (nghiên cứu vận dụng tại nhà máy len hà đông)
Bảng 7 Kết cấu tài sản của Nhà máy len Hà Đông (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w