1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu kĩ thuật viết câu nhiễu trong trắc nghiệm khách quan (mcq) phần di truyền học (sh 12)

20 274 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 275,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM PHẠM THỊ UYÊN NGHIÊN CỨU KĨ THUẬT VIẾT CÂU NHIỄU TRONG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN MCQ PHẦN DI TRUYỀN HỌC SH 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC T

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ UYÊN

NGHIÊN CỨU KĨ THUẬT VIẾT CÂU NHIỄU TRONG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN (MCQ)

PHẦN DI TRUYỀN HỌC (SH 12)

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ UYÊN

NGHIÊN CỨU KĨ THUẬT VIẾT CÂU NHIỄU TRONG TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN (MCQ)

PHẦN DI TRUYỀN HỌC (SH 12)

Chuyên ngành : Lí luận & phương pháp dạy học bộ môn sinh học

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHÖC CHỈNH

THÁI NGUYÊN - 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Phúc Chỉnh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn ban chủ nhiệm khoa, các thày cô giáo khoa Sinh – KTNN và khoa Sau Đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường THPT Chu Văn An Thái Nguyên, Tổ Sinh – công nghệ trường THPT Chu Văn An Thái Nguyên, các đồng nghiệp ở các trường THPT Chuyên, THPT Lương Phú đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Xin được cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, tháng năm 2010

Tác giả

Phạm Thị Uyên

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VIỆC NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG TRẮC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC 7

1.1 Lược sử nghiên cứu của khoa học trắc nghiệm 7

1.2 Những khái niệm cơ bản về kiểm tra - đánh giá kết quả học tập 16

1.3 Vai trò và xu hướng đổi mới của kiểm tra - đánh giá 16

1.4 Các nguyên tắc đánh giá 24

Chương 2: QUY TRÌNH XÂY DỰNG CÂU NHIỄU CỦA TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN (MCQ) TRONG DẠY HỌC PHẦN DI TRUYỀN (SH 12) 27

2.1 Phân tích cấu trúc nội dung phần Di truyền học (sinh học 12) 27

2.2 Quy trình xây dựng câu nhiễu của trắc nghiệm khách quan (MCQ) trong dạy học sinh học 12 phần di truyền học 29

2.3 Kĩ thuật viết câu nhiễu trong trắc nghiệm khách quan MCQ 33

2.4 Mối liên hệ giữa câu nhiễu với độ khó và độ phân biệt 43

2.5 Nghiên cứu lí thuyết kiểm định độ khó độ phân biệt của câu nhiễu trong trắc nghiệm khách quan 43

2.6 Độ khó và độ phân biệt của câu hỏi trắc nghiệm MCQ 44

2.7 Phương pháp kiểm định độ khó của câu trắc nghiệm MCQ 48

2.8 Phương pháp kiểm định độ phân biệt của câu trắc nghiệm MCQ 48

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52

3.1 Mục đích thực nghiệm 52

3.2 Nội dung thực nghiệm 52

3.3 Thời gian - Địa điểm - Đối tượng thực nghiệm 55

3.4 Cách tiến hành 55

BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH ĐỘ KHÓ VÀ ĐỘ PHÂN BIỆT CỦA 150 CÂU HỎI MCQ THỰC NGHIỆM 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

A KẾT LUẬN 65

B ĐỀ NGHỊ 66

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

2 GD - ĐT Giáo dục – Đào tạo

5 KT - ĐG Kiểm tra – đánh giá

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ quan điểm đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá

Trong điều kiện hiện nay, để hoà cùng với sự phát triển như vũ bão của nền văn minh hiện đại, sự phát triển toàn diện của khoa học kĩ thuật trên thế giới, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, đó là một thách thức lớn của toàn ngành giáo dục Việt Nam Nhiệm vụ trước mắt phải tìm được giải pháp hữu hiệu, bước đi hợp lý để đưa nền giáo dục tiến lên tránh được nguy cơ tụt hậu so với các nền giáo dục trong khu vực, đáp ứng nhu cầu nhân lực của nước nhà Với tư cách sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển xã hội, nền GD cần phải đổi mới để đáp ứng những xu hướng lớn đó Muốn vậy, GD phải dựa trên bốn trụ cột, đó là: học để biết; học để làm; học cùng chung sống; học để tự khẳng định mình[11]

Trong suốt một thời gian dài vừa qua, toàn ngành giáo dục đã và đang thực hiện đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo Cụ thể đã có rất nhiều hội nghị, hội thảo ở các cấp lãnh đạo Bộ, Ngành viết và bàn về các vấn đề đổi mới giáo dục bao gồm: đổi mới về chương trình nội dung, cơ

sở vật chất, sách, thiết bị, kiểm tra đánh giá, cơ chế thi cử trong đó, kiểm tra đánh giá là một thành tố rất quan trọng trong quá trình giáo dục nói chung và dạy học nói riêng, đây là một khâu có ý nghĩa quyết định lớn trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục Trang bị cho giáo viên những kĩ thuật kiểm tra đánh giá là một việc làm cần thiết trong xu thế đổi mới giáo dục hiện nay

Kiểm tra là hình thức và là phương tiện góp phần vào quá trình đánh giá Thông qua kết quả của các loại bài kiểm tra, giáo viên sẽ có những thông tin cần thiết để xác định thành tích học tập của học sinh đồng thời

Trang 7

phát hiện những mặt đã đạt được và những mặt chưa đạt được từ đó điều chỉnh qua kiểm tra nhằm thúc đẩy quá trình dạy và học[1]

1.2 Xuất phát từ thực trạng sử dụng trắc nghiệm khách quan trong dạy học

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã hình thành một số hệ thống phương pháp và kỹ thuật đánh giá có thể sử dụng thích hợp với mục đích, đối tượng đánh giá, điều kiện tiến hành đánh giá Trong hệ thống đó không thể không kể đến phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) Phương pháp TNKQ đã khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tự luận, đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin phản hồi một cách chi tiết ở từng thành phần và mức độ kiến thức khác nhau trong một thời lượng nhất định Ngoài ra, TNKQ còn có thể sử dụng để hướng dẫn và giải quyết các vấn đề ở khâu dạy bài mới, ôn tập, củng cố, nâng cao Đặc biệt TNKQ còn giúp cho người học tự học, tự KT-ĐG kết quả học tập của mình một cách rất có hiệu quả Vì vậy, trong những năm gần đây, TNKQ ngày càng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Hiện nay các GV trung học phổ thông nói chung, GV Sinh học nói riêng đều đã áp dụng hình thức kiểm tra TNKQ trong dạy học Có nhiều dạng câu hỏi TNKQ nhưng dạng câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple Choice Question - MCQ) được sử dụng nhiều hơn cả vì dạng câu hỏi này có nhiều

ưu điểm Tuy nhiên trong thực tế, GV còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu ở khâu chuẩn bị câu trắc nghiệm Việc viết câu TNKQ đòi hỏi người GV không chỉ có trình độ chuyên môn sâu mà còn phải nắm được kĩ thuật viết trắc nghiệm Hiện nay môn học về KT-ĐG chưa được triển khai đồng bộ ở các cơ sở đào tạo GV nên phần lớn GV đều xây dựng câu hỏi một cách tự phát Đã có rất nhiều sách tham khảo về TNKQ nhưng chưa có sách viết về

kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ đặc biệt là kĩ thuật gây nhiễu trong câu TNKQ Như vậy, việc trang bị cho các GV kĩ thuật viết câu trắc nghiệm và

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3

tự kiểm định các câu TNKQ là điều rất cần thiết Việc làm này không chỉ có tác dụng nâng cao độ giá trị, độ tin cậy của bài trắc nghiệm mà còn góp phần hoàn thiện các bộ đề kiểm tra TNKQ hiện có

1.3 Xuất phát từ những ƣu điểm của trắc nghiệm khách quan trong dạy học

Từ 2006 Bộ Giáo dục đã thực hiện chuyển đổi từ hình thức thi tự luận sang hình thức thi trắc nghiệm khách quan (TNKQ) trong kì thi tốt nghiệp THPT, kì thi đại học và cao đẳng ở một số môn lý, hoá, sinh, anh Trắc nghiệm khách quan có một số ưu điểm sau:

Thứ nhất: thí sinh không thể học tủ

Thi trắc nghiệm khách quan (TNKQ) có ưu điểm là đánh giá phạm vi kiến thức rộng hơn hình thức thi tự luận Thi tự luận, mỗi câu hỏi, bài tập

có thể rơi vào một vấn đề nào đó Đề bài có tổng hợp đi chăng nữa vẫn có xác suất “trúng tủ” Đề thi TNKQ có từ 40 đến 50 câu hỏi có thể phủ kín phạm vi kiến thức của một môn học trong chương trình.Vì vậy thi bằng TNKQ, thí sinh phải học một cách toàn diện không được bỏ qua bất cứ kiến thức cơ bản nào có trong chương trình

Thứ hai: Thí sinh không thể quay cóp

Thi TNKQ với phạm vi bao quát rộng của đề thi, thí sinh khó có thể chuẩn bị tài liệu để quay cóp Các đề thi trắc nghiệm, nếu chỉ nhìn lướt qua thì rất khó phân biệt được sự khác nhau giữa các đề vì sử dụng các phần mềm đảo đề, máy tính đã giúp xáo trộn thứ tự các câu hỏi trắc nghiệm và các phương án trả lời, thí sinh ngồi gần nhau sẽ nhận được các

đề thi khác biệt nhau về mã đề và phải chọn phương án trả lời hoàn toàn khác nhau Nếu xây dựng được kỹ thuật viết câu hỏi TNKQ với một câu

Trang 9

dẫn, thay đổi các câu nhiễu mục tiêu nâng mức độ khó của đề TNKQ thì lại càng rất khó có thể cóp bài của nhau được

Thứ ba: Thí sinh không thể tồn tại may rủi

Với một đề thi tự luận còn có thể gặp may rủi do trúng tủ, lệch tủ

Còn với đề thi TNKQ, may rủi hầu như hoàn toàn không xảy ra Đối với loại câu trắc nghiệm bốn phương án, nếu chọn ngẫu nhiên xác suất đúng tối đa chỉ được 25% Nhưng, tần suất trả lời đúng đạt tối đa của xác suất này cũng chỉ là khoảng 25% câu hỏi thì theo cách chấm điểm TNKQ thông thường với đề thi chuẩn, làm đúng 25% số câu hỏi vẫn sẽ chỉ đạt ở ngưỡng lân cận với điểm không

Thứ tư: Thí sinh không thể ôn thi cấp tốc

Thí sinh cần tích lũy kiến thức một cách toàn diện, nắm vững toàn bộ kiến thức cơ bản Muốn làm như vậy phải học theo kiểu “mưa dầm thấm lâu” chứ không thể dựa vào luyện thi cấp tốc, nhồi nhét kiến thức trong thời gian ngắn Để làm bài thi trắc nghiệm hiệu quả, thí sinh cần rèn luyện kỹ năng tư duy và khả năng vận dụng kiến thức bởi thi trắ c nghiệm đòi hỏi thí sinh phải xử lý nhanh hơn khi làm bài trắc nghiệm để tiết kiệm thời gian

Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài luận văn là: Nghiên cứu kỹ thuật

viết câu nhiễu của trắc nghiệm khách quan (MCQ) trong dạy học sinh học, phần di truyền học (Sinh học 12)

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu kĩ thuật viết câu nhiễu của trắc nghiệm khách quan (MCQ),

để góp phần nâng cao chất lượng của bài kiểm tra, trong dạy học sinh học phần di truyền học (SH 12)

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5

- Đối tượng nghiên cứu: Kĩ thuật viết câu nhiễu trong trắc nghiệm khách quan (MCQ)

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình kiểm tra – đánh giá trong dạy học sinh học 12 ở trường THPT

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xác định được kĩ thuật viết câu nhiễu sẽ làm thay đổi độ khó độ phân biệt của câu TNKQ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kỹ thuật viết câu trắc nghiệm khách quan (MCQ) đặc biệt là các phương án nhiễu trong dạy học sinh học

- Phân tích mối quan hệ giữa câu nhiễu với câu dẫn và đáp án đúng để thấy được vai trò của kĩ thuật gây nhiễu liên quan đến độ khó độ phân biệt của trắc nghiệm khách quan (MCQ)

- Đề xuất kĩ thuật viết các câu nhiễu (mồi nhử) của câu trắc nghiệm khách quan MCQ phần di truyền học (Sinh học 12)

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra kết quả nghiên cứu

6 Giới hạn nghiên cứu

- Nghiên cứu kĩ thuật xây dựng câu nhiễu của trắc nghiệm khách quan MCQ trong dạy học sinh học phần di truyền học (Sinh học 12)

7 Những đóng góp mới của luận văn

- Bước đầu xây dựng kĩ thuật viết câu nhiễu, phân tích mối liên hệ giữa câu nhiễu với câu dẫn và câu đáp án đúng của câu hỏi TNKQ (MCQ) trong dạy học sinh học Từ đó có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các môn học khác

ở trường THPT khi áp dụng TNKQ (MCQ) trong kiểm tra đánh giá

Trang 11

8 Phương pháp nghiên cứu

*Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu một số văn bản nghị quyết của Đảng và Nhà nước, Bộ

GD-ĐT về chương trình SGK nói chung và môn sinh học nói riêng ở bậc THPT

- Nghiên cứu các văn bản quy định về kiểm tra đánh giá học sinh THPT của Bộ GD-ĐT

- Tham khảo các giáo trình, các luận án, luận văn, các bài báo và các tài liệu có liên quan đến trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá

- Nghiên cứu nội dung chương trình SGK sinh học bậc THPT nói chung

và sinh học 12 nói riêng

* Phương pháp điều tra sư phạm

Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu tình hình sử dụng hình thức kiểm tra TNKQ và các câu trắc nghiệm dạng MCQ trong dạy học sinh học 12

* Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của phương án đề xuất

* Phương pháp thống kê toán học

Thu thập số liệu, sử dụng toán thống kê phân tích số liệu và rút ra kết luận

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG

TRẮC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7

1.1 Lƣợc sử nghiên cứu của khoa học trắc nghiệm

1.1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng trắc nghiệm trên thế giới

Theo nghĩa chữ Hán, "trắc" có nghĩa là "đo lường", "nghiệm" là "suy xét", "chứng thực"[47] Các phương pháp đo lường và trắc nghiệm lần đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII - XVIII trong lĩnh vực Vật lý- Tâm lý học, sau đó là ngành Động vật học ở châu Âu Ban đầu, các nhà nghiên cứu chú trọng các phép đo liên quan đến thính giác, thị giác, tốc độ phản

xạ, sau đó mới nghiên cứu đến thời gian và tốc độ nhận thức Francis Galton là người đầu tiên quan tâm đến vấn đề đặc tính cá nhân có di truyền hay không Francis Galton nghiên cứu cuộc đời của những người Anh xuất chúng và trong cuốn sách “Thiên tài cha truyền con nối”, ông đã

cố gắng chứng minh rằng các đặc điểm cá nhân là di truyền được Nhằm chọn lọc những con người sẽ làm cha mẹ tốt nhất, Galton đã triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm của con người, các đặc điểm này có thể được xem như những chỉ số về độ ưu việt Ông đã gọi những trắc nghiệm này là trắc nghiệm về trí tuệ Tuy nhiên, theo E.Thorm Dike - người đầu tiên đã dùng TNKQ như là một phương pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ HS [15],[22],[44]

Năm 1904, Alfred Binet (nhà tâm lý học người Pháp) được giới lãnh đạo nhà trường ở Paris yêu cầu xây dựng một phương pháp để xác định những trẻ em bị tàn tật về mặt tâm thần mà không thể tiếp thu gì theo cách dạy bình thường ở nhà trường Cách tiếp cận của Binet rất trực tiếp Các câu hỏi trong bài trắc nghiệm mà ông xây dựng yêu cầu những kĩ năng tổng quát, cách lập luận thông thường và một kho những thông tin chung cho câu trả lời Vào năm 1910, trắc nghiệm của Binet được dịch ra để dùng ở Mỹ Đến năm 1916, Lewis Terman (Đại học Stanford) đã dịch và

Trang 13

soạn các bài trắc nghiệm của Binet sang tiếng Anh, từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet[12],[22],[36]

Năm 1919 - 1920 các trắc nghiệm thành quả học tập phát triển rất nhanh chóng Đến năm 1940, ở Mỹ đã có nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá thành tích học tập của HS Khoa học đo lường trắc nghiệm đã bước thêm một bước dài trong lịch sử phát triển của mình khi việc chấm bài trắc nghiệm được thực hiện bằng máy tính IBM, vào năm

1935 Từ năm 1926-1931, một số nhà sư phạm tại Matxơcơva, Kiep, Lêningrat đã dùng trắc nghiệm để chẩn đoán đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểm tra kiến thức HS Nhưng do quá tin vào giá trị của bài trắc nghiệm, không thấy hết được các nhược điểm của việc áp dụng máy móc nên đã thu được kết quả không theo ý muốn Một thời gian dài sau đó, nhiều người đã nghi ngờ, thậm chí phản đối việc dùng trắc nghiệm Ngày 4/9/1936, BCHTƯ Đảng Cộng Sản Liên Xô đã chính thức phê phán việc dùng trắc nghiệm Sau này, khi nhận thức đã thay đổi, năm 1963, việc dùng trắc nghiệm trong trường học để kiểm tra kiến thức của HS mới được phép phục hồi Việc nghiên cứu kết quả của phương pháp trắc nghiệm đã trở thành một đề tài lớn của Viện hàn lâm Sư phạm Liên Xô với nhan đề: “Trình độ kiến thức, khả năng kĩ xảo của học sinh và các phương pháp khắc phục, ngăn ngừa tình trạng học không tiến bộ và lưu ban” do E.I.Monetzen chủ trì Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu TNKQ về các lĩnh vực khoa học GD khác nhau đã được công bố [15],[23]

Ở Mỹ, với việc thành lập một số tổ chức dịch vụ trắc nghiệm đã hình thành nên một ngành công nghiệp trắc nghiệm và đã đem lại cho nền kinh tế

Mỹ hàng trăm triệu USD mỗi năm Chẳng hạn như ETS (Educational Testing Service) là một tổ chức dịch vụ trắc nghiệm nổi tiếng ở Mỹ với các sản phẩm như TOELF, SAT, GMAT… phục vụ cho nhu cầu đánh giá GD

Ngày đăng: 23/06/2016, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w