1. Theo thông tin của Bộ giáo dục, đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn năm 2016 tương tự cấu trúc đề thi năm 2015 gồm hai phần: phần đọc hiểu chiếm 3 điểm và phần làm văn gồm nghị luận xã hội (3 điểm) và nghị luận văn học (3 điểm). Như vậy, nghị luận xã hội là phần bài viết chiếm tỉ lệ điểm của toàn bài là khá lớn. 2. Trong kỳ thi quốc gia THPT năm 2016, Bộ giáo dục có những điều chỉnh nhất định cho môn Ngữ văn: cấu trúc môn Ngữ văn phù hợp đề thi hai trong một để đánh giá đúng năng lực của người viết. Như vậy, mức độ đề thi sẽ được nâng lên để phân hóa được đối tượng theo hướng sát với đề thi đại học. Câu hỏi nghị luận xã hội cũng không nằm ngoài định hướng đó. 3. Theo dõi sự phân bố trong đề thi Đại học môn Ngữ văn từ năm 2010 2015, có thể thấy trong câu nghị luận xã hội thì nghị luận về tư tưởng đạo lý giữ vị trí đặc biệt quan trọng, hoặc là đứng một mình, hoặc là có sự kết hợp với dạng nghị luận về hiện tượng đời sống, nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học. Hơn nữa, trong cấu trúc đề, phần Đọc hiểu gồm hai văn bản: văn bản nghệ thuật và văn bản nhật dụng. Văn bản nhật dụng có xu hướng đề cập đến những vấn đề có tính thời sự đòi hỏi thí sinh phải có chính kiến của bản thân về vấn đề đó thông qua một đoạn văn ngắn. Đây cũng có thể coi là một dạng ngắn gọn của kiểu nghị luận về một hiện tượng đời sống. Mặt khác, trong phần Làm văn, dạng đề kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội như năm học 2014 sẽ không có. Chính vì vậy, theo nhận định của bản thân người viết, nghị luận về tư tưởng, đạo lý là sẽ là phần viết có tỷ lệ cao được sử dụng trong phần Làm văn của đề thi THPT quốc gia năm 2016. 4. Đề thi được ra theo hướng mở để khắc phục tình trạng học sinh học thuộc lòng, đồng thời phải huy động kiến thức tổng hợp, liên môn, đặc biệt là vốn sống của học sinh vào việc làm bài. Học sinh phải chủ động, linh hoạt, thể hiện những chính kiến của mình trước một vấn đề được đặt ra, phải có sự sáng tạo. Vì vậy, học sinh cần phải được trang bị những kỹ năng cần thiết cũng như những kiến thức bên ngoài, đặc biệt là kiến thức về những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Điều này đồng nghĩa với việc giáo viên phải có những định hướng cụ thể cả về kỹ năng làm bài lẫn tư liệu đời sống cho các em. Từ những thay đổi của Bộ giáo dục về môn Ngữ văn năm 2016 cùng với sự nghiên cứu, phân tích, nhận định của bản thân, tôi đề xuất sáng kiến Nghị luận về tư tưởng, đạo lý từ chuyên đề đến chủ đề nhằm chuẩn bị tốt nhất cho học sinh cả về kiến thức lẫn tâm thế cho câu nghị luận về tư tưởng, đạo lý một trong những phần viết làm nên sự thành công của bài thi Ngữ văn THPT quốc gia.
Trang 1A MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1 Theo thông tin của Bộ giáo dục, đề thi THPT quốc gia môn Ngữ văn năm
2016 tương tự cấu trúc đề thi năm 2015 gồm hai phần: phần đọc - hiểu chiếm 3 điểm và phần làm văn gồm nghị luận xã hội (3 điểm) và nghị luận văn học (3
điểm) Như vậy, nghị luận xã hội là phần bài viết chiếm tỉ lệ điểm của toàn bài
là khá lớn
2 Trong kỳ thi quốc gia THPT năm 2016, Bộ giáo dục có những điều chỉnh nhất định cho môn Ngữ văn: cấu trúc môn Ngữ văn phù hợp đề thi "hai trong một" để đánh giá đúng năng lực của người viết Như vậy, mức độ đề thi sẽ được
nâng lên để phân hóa được đối tượng theo hướng sát với đề thi đại học Câu hỏi nghị luận xã hội cũng không nằm ngoài định hướng đó
3 Theo dõi sự phân bố trong đề thi Đại học môn Ngữ văn từ năm 2010 - 2015,
có thể thấy trong câu nghị luận xã hội thì nghị luận về tư tưởng đạo lý giữ vị trí đặc biệt quan trọng, hoặc là đứng một mình, hoặc là có sự kết hợp với dạng
nghị luận về hiện tượng đời sống, nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
nhưng biết xấu hổ còn quan trọng hơn.
Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ
Kẻ cơ hội thì nôn nóng tạo
ra thành tích, người chân chính thì kiên nhẫn lập nên thành tựu
Hãy viết một bài văn ngắn
Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu
có nêu một nhận xét về lối sống của người Việt Nam truyền
thống: Khôn
g ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo Khôn
Kẻ mạnh không phải
là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kì.
Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình
Việc rèn luyện kĩ năng sống cũng cần thiết như việc tích lũy kiến thức.
Bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về vấn đề trên
Trang 2trình bày suy nghĩ
về ý kiến trên
khéo là ăn đi trước, lội nước theo sau, biết thủ thế, giữ mình, gỡ được tình thế khó khăn.
Hãy bày tỏ quan điểm sống của chính mình
Nêu ý kiến
về điều làm nên sức mạnh chân chính của mỗi con người cũng như của quốc gia
Hơn nữa, trong cấu trúc đề, phần Đọc - hiểu gồm hai văn bản: văn bản nghệ thuật và văn bản nhật dụng Văn bản nhật dụng có xu hướng đề cập đến những vấn đề có tính thời sự đòi hỏi thí sinh phải có chính kiến của bản thân về vấn đề
đó thông qua một đoạn văn ngắn Đây cũng có thể coi là một dạng ngắn gọn củakiểu nghị luận về một hiện tượng đời sống Mặt khác, trong phần Làm văn, dạng
đề kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội như năm học 2014 sẽ
không có Chính vì vậy, theo nhận định của bản thân người viết, nghị luận về tư tưởng, đạo lý là sẽ là phần viết có tỷ lệ cao được sử dụng trong phần Làm văn của đề thi THPT quốc gia năm 2016
4 Đề thi được ra theo hướng mở để khắc phục tình trạng học sinh học thuộc
lòng, đồng thời phải huy động kiến thức tổng hợp, liên môn, đặc biệt là vốn sống của học sinh vào việc làm bài Học sinh phải chủ động, linh hoạt, thể hiện những chính kiến của mình trước một vấn đề được đặt ra, phải có sự sáng tạo
Vì vậy, học sinh cần phải được trang bị những kỹ năng cần thiết cũng như
những kiến thức bên ngoài, đặc biệt là kiến thức về những vấn đề đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày Điều này đồng nghĩa với việc giáo viên phải có
những định hướng cụ thể cả về kỹ năng làm bài lẫn tư liệu đời sống cho các
Trang 3Từ những thay đổi của Bộ giáo dục về môn Ngữ văn năm 2016 cùng với sự
nghiên cứu, phân tích, nhận định của bản thân, tôi đề xuất sáng kiến Nghị luận
về tư tưởng, đạo lý - từ chuyên đề đến chủ đề nhằm chuẩn bị tốt nhất cho học
sinh cả về kiến thức lẫn tâm thế cho câu nghị luận về tư tưởng, đạo lý - một trong những phần viết làm nên sự thành công của bài thi Ngữ văn THPT quốc gia
B PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
1 Phạm vi triển khai
Nhiệm vụ mà đề tài hướng tới là xây dựng chuyên đề, xác định các chủ đề và
tạo lập, định hướng tư liệu cho dạng văn nghị luận về tư tưởng, đạo lý
Đối tượng học sinh mà tôi tiến hành rèn luyện là những học sinh do bản thân trực tiếp giảng dạy Bao gồm: 02 lớp: Lớp 12C3 - 25 học sinh Lớp 12C4 - 23 học sinh Tổng số: 48 học sinh
2 Phạm vi nghiên cứu
2.1 Chuyên đề về văn nghị luận về tư tưởng, đạo lý
2.2 Các chủ đề của văn nghị luận về tư tưởng, đạo lý
2.3 Các tư liệu đời sống liên quan đến chủ đề tương ứng
khóa trong chương trình lớp 9 với bài Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý ,
được cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về khái niệm, các kiểu biểu hiện, cách làm chung nhất về kiểu bài này Tuy nhiên, có thể coi đây mới chỉ là bước
khởi động cho việc tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn ở bậc THPT Trong chương trình THPT, các em tiếp tục được nghiên cứu với bài Nghị luận về tư tưởng, đạo
lý, SGK Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Từ những kiến thức nền tảng đã
có từ trước, các em tiến sâu hơn, cao hơn trong hành trình nhận thức về dạng bài
Trang 4này Như vậy, tìm hiểu về nghị luận về tư tưởng, đạo lý là một quá trình, đã được chú ý nhưng thời lượng trong chương trình lại hạn chế
Để củng cố cũng như bổ sung kiến thức, kỹ năng cho học sinh, rất nhiều thầy
cô đã tham gia biên soạn những cuốn sách, tạo dựng những clip, hoặc là những
có bài viết chia sẻ kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy trên các trang mạng xã hội Mỗi thầy cô là một phương pháp giúp học sinh tiếp cận mộtcách tốt nhất kiểu bài này Đây chính là những tư liệu và gợi ý quý báu cho người viết trong quá trình nghiên cứu đề tài
1.2 Tình trạng của nhà trường
Nhận rõ tầm quan trọng của kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý, các thầy
cô trong bộ môn Ngữ văn của trường THPT Nà Tấu đã có những phương án chủđộng để rèn luyện cho học sinh các kiến thức, kỹ năng cơ bản về dạng đề này như xây dựng chuyên đề nghị luận xã hội, xây dựng các tiết tự chọn, phụ đạo riêng Tuy nhiên, chuyên đề còn mang tính chất chung, khái quát nhất cho văn nghị luận xã hội (gồm cả nghị luận về hiện tượng đời sống và nghị luận về tư tưởng, đạo lý), tiết tự chọn và phụ đạo rất hạn chế (tự chọn có 02 tiết, phụ đạo
có 02 tiết cho kiểu bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý) Thêm nữa, về phía học sinh, tuy đã được làm quen với dạng đề này nhưng dường như lên bậc THPT lại trở thành kiến thức lạ lẫm, mới mẻ! Chính vì vậy, những kỹ năng gần như là không có Những khó khăn và hạn chế này đòi hỏi bản thân mỗi người thầy lại phải có những tìm tòi, nghiên cứu, nghiền ngẫm riêng cho đối tượng học sinh của mình làm sao giúp các em có những kiến thức, kỹ năng đúng, rộng và sâu vềvăn nghị luận về tư tưởng, đạo lý
2 Nội dung giải pháp
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài hướng đến mục đích
1 Xây dựng chuyên đề về văn nghị luận về tư tưởng, đạo lý
2 Phân loại văn nghị luận về tư tưởng, đạo lý theo các chủ đề
3 Định hướng cách viết tư liệu phù hợp theo từng chủ đề
2.2 Nội dung sáng kiến
Trang 52.2.1 Nghị luận về tư tưởng, đạo lý - từ chuyên đề
2.2.1.1 Khái lược chung về văn nghị luận về tư tưởng, đạo lý
Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ
để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức) Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin của mình Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh…
(Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập 2)
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là một trong những dạng đề của nghị luận
xã hội Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý là bàn về những vấn đề như tư tưởng, đạo đức, một quan niệm sống, một lối sống, mối quan hệ giữa người và người trong xã hội Sử dụng các thao tác giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận,
so sánh để chỉ ra chỗ đúng, chỗ sai của một tư tưởng nào đó, nhằm khẳng địnhcái đúng và lập trường của người viết
2.2.1.2 Nghị luận về tư tưởng, đạo lý - chuyên đề
I Xác định nội dung chuyên đề
1 Tên bài
- Nghị luận về tư tưởng, đạo lý, SGK Ngữ văn 12, Tập một, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2015
2 Hình thức
- Tổ chức dạy học trong lớp và không gian ngoài lớp học
II Bảng mô tả chuẩn kiến thức, kỹ năng, năng lực
Chuẩn kiến thức, kỹ năng Hình thành năng lực, phẩm chất
1 Kiến thức
- Nội dung, yêu cầu của bài văn
nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
- Cách thức triển khai bài văn nghị
Trang 6luận về một tư tưởng, đạo lý.
2 Kỹ năng
- Phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn
nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
- Nêu ý kiến nhận xét, đánh giá đối
với một tư tưởng, đạo lý
- Biết huy động các kiến thức và
những trải nghiệm của bản thân để
viết bài văn nghị luận về một tư
tưởng, đạo lý
3 Thái độ
- Có ý thức và khả năng tiếp thu
những quan niệm đúng đắn và
phê phán những quan niệm sai
lầm về tư tưởng, đạo lí
các câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ, yêu cầu
mà giáo viên đề ra)
+ Năng lực tự học, tự khám phá tri thức, thu thập thông tin
+ Năng lực hợp tác (phối hợp với các thành viên để giải quyết các câu hỏi, bài tập về tư tưởng, đạo lý, sưu tầm tài liệu )
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực tự quản bản thân
- Năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực đọc - hiểu tư tưởng, đạo lý.+ Năng lực giao tiếp tiếng Việt: biết trìnhbày suy nghĩ, quan điểm của bản thân về nội dung kiến thức được tìm hiểu, biết trao đổi, thảo luận với giáo viên, bạn bè.+ Năng lực thẩm mỹ
+ Năng lực tiếp nhận và tạo lập văn bản
- Phẩm chất:
+ Có ý thức tìm hiểu, giữ gìn và phát huynhững phẩm chất, truyền thống tốt đẹp của dân tộc
+ Trung thực trong học tập và cuộc sống,biết phê phán hành vi thiếu trung thực trong học tập, cuộc sống
+ Có ý thức giải quyết công việc theo lẽ phải, công bằng
III Bảng mô tả các mức độ yêu cầu
Trang 7Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng thấp Vận dụng cao
- Thấy được nội
dung bao quát của
tư tưởng, đạo lý
(vấn đề nghị luận)
- Hiểu được đặc điểm của văn nghịluận về tư tưởng, đạo lý
- Hiểu và giải thích được những
từ ngữ, cụm từ ngữ và tư tưởng chung của tư tưởng, đạo lý
- Hiểu được mặt đúng, mặt sai hoặcbiểu hiện sai lệch trong thực tế đời sống của tư tưởng,đạo lý
Bàn luận, đánh giá
ý kiến (đưa ra quan điểm cá nhân với vấn đề cần nghị luận và bảo vệ, dẫn chứngđược quan điểm đó)
- Thấy được mối quan hệ giữa những vấn đề đặt
ra trong tư tưởng, đạo lý với cuộc sống thực tại
- Tự tìm hiểu, lập dàn ý và làm một bài văn nghị luận
về tư tưởng, đạo lý
- Phân biệt nghị luận về tư tưởng, đạo lý với nghị luận về hiện tượngđời sống, nghị luận về một vấn
đề đặt ra trong tác phẩm văn học
- Đánh giá, mở rộng, nâng cao tư tưởng, đạo lý
- Kết nối nghị luận
về tư tưởng, đạo
lý với thực tiễn để rút ra bài học cho bản thân và nhữngngười xung quanh
IV Tiến trình dạy học
1 Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
a Chuẩn bị của học sinh
- Đọc và soạn bài theo hướng dẫn đọc bài
- Tra cứu và tham khảo những thông tin liên quan đến bài học
- Thực hiện nhiệm vụ học tập do giáo viên giao
b Chuẩn bị của giáo viên
Trang 8- Đọc SGK, chuẩn kiến thức, kỹ năng, sách giáo viên, tài liệu tham khảo.
- Chuẩn bị các phương tiện dạy học: máy tính, máy chiếu, tranh ảnh có liên quan đến bài dạy
2 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
Là một dạng của nghị luận xã hội, nghị luận về một tư tưởng, đạo lý có những đặc điểm riêng về nội dung và hình thức
2.1 Đặc điểm nội dung: đề cập đến
- Những vấn đề liên quan đến nhận thức như lý tưởng sống, mục đích sống, nghề nghiệp, ước mơ
- Những vấn đề liên quan đến đạo đức, tâm hồn, tính cách như trình bày về lòng yêu nước, lòng nhân ái, đức tính vị tha, bao dung, độ lượng, vị tha - ích kỷ, thói
Trang 9ba hoa,
- Những vấn đề liên quan đến quan hệ gia đình, xã hội như cha mẹ - con cái, thầy cô, bè bạn
b Đặc điểm hình thức: Thường tồn tại dưới hai dạng:
- Dạng trực tiếp: Câu ca dao, tục ngữ, châm ngôn, danh ngôn, hoặc thơ đưa trực tiếp vấn đề
- Dạng gián tiếp: Những mẩu truyện ngắn hoặc những bài thơ ngắn mang ý nghĩa triết lý
Về tính chất, những vấn đề mà tư tưởng, đạo lý đề cập đến là những vấn đề
có tính muôn thủa, vấn đề chung về con người, cuộc sống, cách sống mà con người sẽ luôn quan tâm, trăn trở Những vấn đề này thường trừu tượng, khái quát
Đều là kiểu bài nghị luận chính trị - xã hội, nhưng nghị luận về hiện tượng đời sống xuất phát từ thực tế đời sống mà nêu ra tư tưởng, bày tỏ thái độ Trong khi đó, nghị luận về một tư tưởng, đạo lý xuất phát từ tư tưởng, đạo lý sau đó dùng lập luận giải thích, phân tích, vận dụng các sự thực cuộc sống để chứng minh nhằm thuyết phục mọi người nhận thức đúng tư tưởng, đạo lý đó
-> Từ việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng trong chủ đề, học sinh sẽ có nền tảng cơ bản
để làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
NỘI DUNG 2:
Bài: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÝ
* Mục tiêu
1 Kiến thức
- Nội dung, yêu cầu của bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
- Cách thức triển khai bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
2 Kỹ năng
- Phân tích đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
- Nêu ý kiến nhận xét, đánh giá đối với một tư tưởng, đạo lý
- Biết huy động các kiến thức và những trải nghiệm của bản thân để viết bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý
Trang 103 Thái độ
- Có ý thức và khả năng tiếp thu những quan niệm đúng đắn và phê phán những quan niệm sai lầm về tư tưởng, đạo lí
A Hoạt động khởi động
Trong những đề bài sau, đề nào không thuộc bài nghị luận về tư tưởng, đạo lý?
A Suy nghĩ về câu tục ngữ Uống nước nhớ nguồn.
b Suy nghĩ từ truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng.
C Suy nghĩ về câu tục ngữ Có chí thì nên.
D Suy nghĩ về một tấm gương vượt khó
B Hoạt động hình thành kiến thức
? Nêu khái niệm văn nghị luận? Hãy kể ra
một số đề nghị luận mà em biết?
GV gợi ý giúp HS nhớ lại những kiến thức
đã được học về văn nghị luận ở bậc THCS
GV tạo dựng môi trường, không khí cho
buổi học: Trình chiếu các đề bài nghị luận
mà HS đã được học ở bậc THCS
? Văn nghị luận được chia làm mấy loại?
GV: Thuyết trình trước lớp những đặc điểm
cơ bản và những ví dụ minh họa cho những
dạng văn nghị luận
I Giới thiệu chung
1 Văn nghị luận
- Khái niệm văn nghị luận
- Phân loại văn nghị luận:
+ Nghị luận về hiện tượng đời sống
+ Nghị luận về tư tưởng, đạo lý
GV: Thuyết trình về các kiểu cơ bản của
bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lý
2 Nghị luận về tư tưởng, đạo lý Kiểu 1: Nghị luận về tư tưởng,
đạo lý trong một nhận định (châmngôn, tục ngữ, ca dao )
Kiểu 2: Nghị luận về một tính
cách, một trạng thái tâm lý (tính trung thực, sự ích kỷ, lòng tự trọng, lòng dũng cảm , sự bình yên, một khoảng lặng trong tâm
Trang 11GV trình chiếu trước lớp một đoạn clip về
một lối sống đẹp (các trương trình nhân văn
của Đài truyền hình Việt Nam như Lục lạc
vàng, Cặp lá yêu thương ) Từ đó, HS có
những hình dung một cách cụ thể, sinh
động bước đầu về bài
Hãy xác định vấn đề cần nghị luận, thao
tác nghị luận, phạm vi tư liệu?
GV: Lưu ý HS xem xét đề bài yêu cầu vận
dụng thao tác nào, giải quyết vấn đề gì, cần
sử dụng các tư liệu thuộc lĩnh vực nào
+> Sống đẹp: có MĐ sống đúng đắn, tình cảm đẹp: lành mạnh, trong sáng, nhân hậu
+> Để sống đẹp, mỗi người cần xác định:
+ Lí tưởng (mục đích sống) đúng đắn, cao cả,
+ Tâm hồn, tình cảm lành mạnh, nhân hậu
+ Trí tuệ (kiến thức) mỗi ngày thêm mở rộng, sáng suốt
+ Hành động tích cực, lương thiện
- Các thao tác lập luận cần vận dụng:
+ Giải thích (“sống đẹp”); + Phân tích (các khía cạnh biểu hiện của “sống đẹp”);
Trang 12+ Chứng minh, bình luận (nêu những tấm gương người tốt; bàn cách thức rèn luyện để “sống đẹp”; phê phán lối sống ích kỉ, vô trách nhiệm, thiếu ý chí, nghị lực)
- Dẫn chứng: chủ yếu tư liệu thực tế, có thể lấy dẫn chứng trong thơ văn nhưng không cần nhiều
GV nhận xét, bổ sung: Giới thiệu vấn đề có
thể theo lối diễn dịch, quy nạp hay phản
đề… nhưng đều phải dẫn đến vấn đề nghị
luận
+ Dù dẫn nguyên văn hoặc tóm tắt đều
phải xuất hiện câu, đoạn chứa luận đề
? Phần thân bài cần sắp xếp các ý theo
trình tự như thế nào?
GV: Tổ chức cho HS thảo luận nhóm lớn
HS thảo luận, trình bày, bổ sung.
GV nhận xét, bổ sung:
GV lưu ý: Khi chứng minh có thể:
+ Phân tích đến đâu đưa dẫn chứng đến
- Phân tích, chứng minh các khía cạnh biểu hiện của sống đẹp
Hành động: tích cực, hướng thiện
Trang 13+ Hoặc sau khi đưa ra hết lý lẽ mới đưa dẫn
chứng
Lưu ý: Vì đây là kiểu bài nghị luận xã hội
nên có thể lấy dẫn chứng từ cuộc sống thực
tế do bản thân người viết chứng kiến hoặc
trải nghiệm Có thể lấy dẫn chứng từ thơ
văn nhưng nên hạn chế nếu không sẽ trở
thành bài nghị luận văn học
GV (lưu ý) phần bình luận: Có hai phần:
* Kết bài
- Khẳng định ý nghĩa của lối sốngđẹp: là chuẩn mực đạo đức, nhân cách của con người
- Nhắc nhở mọi người coi trọng lối sống đẹp, sống cho xứng đáng;cảnh tỉnh sự mất nhân cách của thế hệ trẻ trong đời sống nhiều cám dỗ hiện nay
Cách làm một bài văn nghị luận về một
tư tưởng, đạo lý?
HS rút ra kết luận từ việc lập dàn ý trên
lần lượt trình bày từng ý cần có trong mỗi
phần của bài văn.
GV nhận xét, bổ sung:
a Mở bài: Khi trích vấn đề: đối với dạng đề
ngắn dẫn nguyên văn; đối với dạng dài hơn
thì phải nêu được nhan đề, tóm tắt được nội
dung của câu chuyện hoặc bài thơ
4 Bình luận, mở rộng bác bỏ những luận điệu sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận
Trang 14+ Giải thích từ là cách để giải thích nghĩa
của cả câu nói
- Như thế nào?: Nêu biểu hiện của vấn đề
(trong chiến đấu, trong lao động, trong đời
sống hàng ngày )
* Phân tích, chứng minh: Trả lời các câu
hỏi:
- Tại sao vấn đề đó đúng?
- Vấn đề đúng thì đem lại kết quả gì?
- Dẫn chứng nào chứng tỏ điều ấy?
* Bình luận vấn đề: Trả lời cho câu hỏi:
- Vấn đề có đúng hoàn toàn trong mọi
hoàn cảnh không?
- Thực tế, có phải ai cũng thực hiện đúng
như tư tưởng, đạo lý đó không?
- Nếu không thực hiện theo thì sẽ phải
gánh chịu những hậu quả gì?
- Dẫn chứng nào chứng tỏ điều ấy?
* Mở rộng vấn đề: Trả lời cho câu hỏi:
- Làm thế nào để có được điều ấy?
- Nếu con người chỉ có điều ấy thì đã đủ
Trang 15- Liên hệ bản thân
c Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa chung của vấn đề
được đặt ra
- Kêu gọi được mọi người làm theo phương
diện đúng đắn của tư tưởng, nhắc nhở tránh
những phương diện hạn chế
Cách diễn đạt trong bài văn về tư tưởng
đạo lý cần tuân thủ những yêu cầu nào ?
HS suy nghĩ trả lời
GV nhận xét, bổ sung
GV tóm lược lại những đơn vị kiến thức và
yêu cầu học sinh đọc Ghi nhớ - SGK
* Diễn đạt
- Chuẩn xác, mạch lạc
- Có thể sử dụng phép tu từ, biểu cảm nhưng phải ở mức độ phù hợp
* Ghi nhớ: SGK - 21
C Hoạt động luyện tập
1 Anh/ chị hãy bình luận ca từ sau đây trong một bản nhạc của Trịnh Công Sơn:
Sống trên đời cần có một tấm lòng/ Để làm gì em biết không?
2 Anh/ chị suy nghĩ gì về câu nói: Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi thiếu tình thương.
3 Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình (Tố Hữu) Dựa vào câu thơ trên, hãy
viết một đoạn văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ riêng của anh/ chị
D Hoạt động vận dụng
- Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý.
1 Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về ý kiến sau:
Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ còn đánh mất thêm nhiều thứ quý giá khác nữa.
2 Duy chỉ có gia đình, người ta mới tìm được chốn nương thân để chống lại tai ương của số phận (Euripides) Anh (chị) nghĩ thế nào về câu nói trên?
3 Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng Từ
ý kiến trên, hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ về sự nguy hại của đạo đức giả đối với cuộc sống con người
E Hoạt động tìm tòi, mở rộng