Tiểu luận chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, học phần đánh giá trong giáo dục đại học đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực.Tiểu luận chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, học phần đánh giá trong giáo dục đại học đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực
Trang 1TIỂU LUẬN Học phần: Đánh giá trong giáo dục Đại học
Chủ đề tiểu luận:
Đổi mới kiểm tra - đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực
1 Đặt vấn đề
Nghị quyết số 29-NQ/TƯ ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã chỉ rõ những hạn chế của giáo dục đại học hiện nay, đó là: “Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất” Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng này, một trong số đó bắt nguồn từ hạn chế của công tác kiểm tra, đánh giá (KTĐG) kết quả học tập tại các trường đại học Việt Nam Do đó, đổi mới công tác KTĐG kết quả học tập của sinh viên cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp là một việc làm quan trọng Đổi mới KTĐG kết quả học tập theo hướng tiếp cận năng lực sẽ làm thay đổi cách học của sinh viên, qua đó, nâng cao ch ất lượng đào tạo Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, các trường đại học nên lấy đổi mới KTĐG kết quả học tập là việc làm cần được thực hiện đầu tiên, hướng đến mục tiêu đào tạo sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc được ngay và làm việc có hiệu quả
Trang 2Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập là khâu quan trọng trong quá trình dạy và học Tuy nhiên, thực tế cho thấy, kiểm tra, đánh giá tại các trường đại học chưa mang lại hiệu quả cho việc nâng cao chất lượng dạy và học Vì vậy, am hiểu về kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực và đưa ra một số biện pháp góp phần đổi mới công tác này tại các trường đại học Việt Nam, hướng đến mục tiêu đào tạo nhân lực đáp ứng chuẩn đầu ra là những vấn đề vô cùng quan trọng
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chuẩn đầu ra
Đến nay, có rất nhiều khái niệm về chuẩn đầu ra: “Chuẩn đầu ra là sự khẳng định của những điều kỳ vọng, mong muốn một người tốt nghiệp có khả năng LÀM được nhờ kết quả của quá trình đào tạo” (Jenkins and Unwin)
“Chuẩn đầu ra là lời khẳng định của những điều mà chúng ta muốn sinh viên của chúng ta có khả năng làm, biết, hoặc hiểu nhờ hoàn thành một khóa đào tạo” (Univ.New South Wales, Australia)
"Chuẩn đầu ra là sự khẳng định sinh viên tốt nghiệp làm được những gì và kiến thức, kỹ năng, thái độ hành vi cần đạt được của sinh viên" (GS Nguyễn Thiện Nhân)
Có thể hiểu, chuẩn đầu ra như lời cam kết của nhà trường đối với xã hội về những kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi, qua đó, khẳng định những năng lực lao động cụ thể mà sinh viên sẽ thực hiện được sau khi được đào tạo tại nhà trường
Vai trò, ý nghĩa và giá trị của chuẩn đầu ra
- Đố i v ớ i nh à tr ườ ng:
Chuẩn đầu ra là cơ sở để nhà trường xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, đảm bảo sản phẩm đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội; Thông qua chuẩn
Trang 3đầu ra để giới thiệu với xã hội năng lực đào tạo của nhà trường, tạo được niềm tin trong sinh viên, phụ huynh, người sử dụng lao động; Tăng cường khả năng hợp tác giữa nhà trường với xã hội
Chuẩn đầu ra là cơ sở hỗ trợ công tác đảm bảo chất lượng và hình thành các chuẩn đào tạo; gắn kết giáo dục nghề nghiệp với giáo dục đại học tạo điều kiện học liên thông và học suốt đời…
- Đối với giảng viên:
Chuẩn đầu ra là cơ sở để thiết kế lại nội dung giảng dạy; lựa chọn phương pháp dạy học tích cực, lượng hóa rõ ràng về các tiêu chí đánh giá kết quả học tập của sinh viên; cũng qua đó, thực hiện được tính tích cực trong dạy học
Chuẩn đầu ra là cơ sở để đổi mới phương pháp học tập trung vào người học:
khắc phục một số vấn đề tồn tại gắn với cách truyền thống coi trọng đầu vào trong phát triển chương trình đào tạo, giảng viên dạy những gì mà mình có, nhà trường cung cấp dịch vụ giáo dục có đến đâu thì làm đến đó Chuẩn đầu ra cũng là cơ sở nâng cao mối quan hệ Dạy-Học-Đánh giá
- Đối với sinh viên:
Thông qua chuẩn đầu ra, sinh viên lượng hóa được mục đích học tập của mình, xác định cụ thể các yêu cầu đối với bản thân, từ đó, không ngừng nỗ lực học tập và rèn luyện theo các chuẩn đầu ra, đáp ứng yêu cầu của nhà trường và xã hộ Cũng nhờ vậy, sinh viên sẽ được tăng cường cơ hội học tập, cơ hội việc làm
- Đối với các cá nhân, tổ chức sử dụng lao động:
Chuẩn đầu ra của các trường là cơ sở để các cá nhân, tổ chức đánh giá khả năng cung ứng nhân lực của các trường, xác định được nguồn cung cấp nhân lực phù hợp với yêu cầu lao động Bên cạnh đó, các cá nhân, tổ chức sử dụng lao động
Trang 4cũng có thể lựa chọn chính xác nguồn nhân lực tiềm năng cho mình, từ đó, phối hợp với các trường thực hiện đào tạo theo địa chỉ Điều này vừa hỗ trợ hoạt động cho các trường, vừa giảm được chi phí và thời gian đào tạo lại của nơi sử dụng nhân lực
- Đối với xã hội:
Xã hội có cơ sở giám sát hoạt động đào tạo của các trường và có quyền đòi hỏi các trường điều chỉnh hoạt động để thực hiện đúng chuẩn đầu ra đã được xác định Việc thực hiện chuẩn đầu ra giúp xã hội có được nguồn nhân lực chất lượng cao
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010) xác định: Chuẩn đầu ra là quy định về nội dung kiến thức chuyên môn; kỹ năng thực hành, khả năng nhận thức công nghệ và giải quyết vấn đề; công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng trình độ, ngành đào tạo Khái niệm trên có thể hiểu rằng, chuẩn đầu ra được xem như lời cam kết của trường đại học đối với
xã hội về kiến thức, kỹ năng và thái độ mà sinh viên thu nhận được sau quá trình đào tạo tại trường
Năng lực
Có nhiều cách phát biểu về khái niệm năng lực, có thể kể ra một số khái niệm khá phổ biến như sau: Weinert (2001) cho rằng: Năng lực là các khả năng và
kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn
đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công
và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi Theo OECD (2002) thì: Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể Theo Québec – Ministère de
Trang 5l'Education (2004) cho rằng: Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tìn biểu trên về khái niệm năng lực chính là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như công luận khi giáo dục đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực Khái niệm này cũng được định nghĩa khá tương đồng với các định nghĩa mà các nhà nghiên cứu trên thếgiới đưa ra
Chẳng hạn, các nhà tâm lí học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Người ta cũng chia năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn, trong đó, năng lực chung, cốt lõi là năng lực cơ bản cần thiết làm nền tảng để phát triển năng lực chuyên môn Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định, ví dụ như năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ Tuy nhiên, năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên môn không tách rời mà quan hệ chặt chẽ với nhau Trong một báo cáo nghiên cứu về năng lực và mức độ thành công trong kinh doanh, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Ngoại thương đã nêu rõ năng lực là
tổ hợp các thuộc tính về khả năng, tâm lí và phẩm chất của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo đạt kết quảnhư đề ra Tương
tự như các định nghĩa về năng lực trong tâm lí hoặc kinh doanh, trong giáo dục các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các định nghĩa có nội hàm tương đương Chẳng hạn, Trần Khánh Đức, trong “Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ năng lực là “khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ,
Trang 6thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghền ghiệp” Ở một nghiên cứu khác về phương pháp dạy học tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khá khái quát rằng năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm Như vậy, cho dù là khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam
và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này Tựu chung lại, năng lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả
Kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực
KTĐG kết quả học tập là khâu then chốt cuối cùng của quá trình dạy học Đây là khâu quan trọng, tác động lớn đến quá trình nâng cao chất lượng đào tạo iệc kiểm tra đánh giá khách quan, nghiêm túc, đúng cách, đúng hướng sẽ là động lực mạnh mẽ khích lệ sự vươn lên trong học tập, thúc đẩy sự tìm tòi sáng tạo không ngừng của Một yêu cầu tất yếu là khi chuyển mục đích dạy học sang phát triển năng lực của người học thì việc KTĐG kết quả học tập cũng phải thực hiện theo năng lực người học Theo Nguyễn Công Khanh: “Đánh giá người học theo cách tiếp cận năng lực là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra… nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt tới một chuẩn nào đó” Theo khái niệm trên đây, năng lực là một thể thống nhất bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái độ không tách biệt lẫn nhau Do đó, đánh giá theo năng lực là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện một nhiệm vụ ở một mức độ phức tạp thích hợp để tìm ra cách giải quyết một hoặc nhiều vấn đề trong thực tế cuộc sống
Trang 7Trong đó, bản chất của KTĐG theo năng lực là sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tập trung đánh giá những năng lực cốt lõi được chú trọng trong nhiều khung năng lực: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp xã hội, năng lực sử dụng công nghệ…
Những đặc trưng của KTĐG theo năng lực là:
– Đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ vào việc giải quyết tình huống thực tiễn;
– Đánh giá cả quá trình học tập của sinh viên, không đánh giá kiến thức tại một số thời điểm;
– Đánh giá trình độ tư duy th ng qua việc thực hiện bài thi
Sự khác nhau KTĐG truyền thống và KTĐG theo năng lực
Dựa vào đặc trưng của hình thức KTĐG truyền thống và KTĐG theo năng lực, chúng ta có thể thấy những điểm khác biệt giữa hai cách đánh giá này như sau:
TT KTĐG theo năng lực KTĐG truyền thống
Sinh viên phải thực hiện một nhiệm vụ
thực tế
Sinh viên viết đáp án hoặc câu trả lời
Tình huống diễn ra trong đời sống nghề
nghiệp tương lai
Mô phỏng
Trình độ tư duy ở mức độ cao (Phân
tích, Đánh giá, Sáng tạo)
Trình độ tư duy ở mức độ thấp (Biết, Hiểu, Áp dụng)
Vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ để
giải quyết tình huống thực
Tái hiện kiến thức hoặc kỹ năng đã học
Giáo dục dựa trên năng lực
Giáo dục dựa trên năng lực (Competencybased education - CBE) nổi lên từ những năm 1970s ở Mỹ Với hình thái này, giáo dục hướng tới việc đo lường chính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học sau khi kết thúc mỗi chương trình
Trang 8học Nếu giáo dục truyền thống được coi là giáo dục theo nội dung, kiến thức (content-based education) tập trung vào việc tích lũy kiến thức, nhấn mạnh tới các năng lực nhận thức và việc vận dụng kiến thức tập trung vào việc thực hành kĩnăng chứ không hướng tới việc chứng minh khả năng đạt được, và đánh giá của giáo dục truyền thống cũng tập trung đo lường kiến thức thông qua các bài thi viết và nói thì giáo dục theo năng lực tập trung vào phát triển các năng lực cần thiết đểngười học
có thể thành công trong cuộc sống cũng như trong công việc Các năng lực thường được tập trung phát triển bao gồm năng lực xử lí thông tin, giải quyết vấn đề, phản biện, năng lực học tập suốt đời
Giáo dục theo năng lực không chỉ dành cho dạy nghề Trong những thập kỉ gần đây với sự phát triển mạnh của khoa học kĩ thuật cũng như tri thức, giáo dục nếu chỉ hướng tới việc nắm vững kiến thức là không đủ, bởi kiến thức hôm qua còn mới, hôm nay đã trở thành lạc hậu Do đó nhiều hệ thống giáo dục đã hướng tới việc giáo dục để người học có đủ khả năng làm chủ kiến thức và sử dụng kiến thức đểgiải quyết các vấn đề trong khoa học cũng như trong thực tế Khi mục tiêu và hình thái giáo dục chuyển đổi thì phương pháp giảng dạy và đánh giá cũng thay đổi theo Các hệ thống giáo dục tiên tiến đã áp dụng phương pháp giảng dạy theo năng lực thay vì giảng dạy theo nội dung, kiến thức
Giảng dạy theo năng lực là hướng tiếp cận tập trung vào đầu ra của quá trình dạy và học, trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực nhưthếnào sau khi kết thúc một chương trình giáo dục Nói cách khác, chất lượng đầu ra đóng vai trò quan trọng nhất đối với giảng dạy theo năng lực Điều này có nghĩa là đểchương trình giảng dạy theo năng lực có hiệu quả, cần phải bắt đầu với bức tranh rõ ràng vềnăng lực quan trọng mà người học cần phải đạt được, tiếp đến
là xây dựng và phát triển chương trình dạy và học, sau đó giảng dạy và xây dựng các phương pháp đánh giá nhằm đảm bảo rằng mục đích của giáo dục theo năng
Trang 9lực đạt được mục tiêu đề ra Có thể thấy, yếu tố quan trọng của giáo dục năng lực
là xây dựng được các tiêu chuẩn đầu ra rõ ràng thểhiện rõ mục tiêu của giáo dục, thiết lập được các điều kiện và cơ hội để khuyến khích người học có thể đạt được các mục tiêu ấy Rất nhiều nghiên cứu gần đây đã tập trung nghiên cứu mối liên hệgiữa giáo dục năng lực và xây dựng chương trình và đánh giá theo năng lực Điều này cũng có nghĩa là các năng lực mà người học cần đạt được phải rõ ràng, cụ thể
Rõ ràng là, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục theo năng lực là hình thức chuyển đổi từviệc nhấn mạnh việc giáo viên tin là người học cần phải biết gì sang việc người học phải nắm rõ mình cần biết gì và có thểlàm gì trong các tình huống và bối cảnh khác nhau Do đó, giảng dạy theo năng lực là lấy người học làm trung tâm và giáo viên giữ vai trò như người hướng dẫn Phương pháp này giúp người học chủ động hơn trong việc đạt được năng lực cần phải có theo yêu cầu đặt
ra phù hợp với từng điểm mạnh, điểm yếu của cá nhân Giảng dạy theo năng lực là một hình thái giáo dục có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực và bối cảnh Chính vì thế, giáo dục theo năng lực tập trung vào đầu ra gắn liền với nhu cầu của thị trường lao động và xã hội, hoặc cấp học trên
3 Cơ sở của đổi mới KTĐG kết quả học tập theo năng lực
Sự cần thiết và Chủ trương đổi mới giáo dục – đào tạo của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam khóa XI đã chỉ rõ: “Đánh giá kết quả đào tạo đại học theo
hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc”.
Trang 10Nền kinh tế nước ta hiện nay có nhu cầu lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao Trong đó, giáo dục đại học có vai tr quan trọng vì đây là giai đoạn đào tạo phục vụ cho sinh viên bước vào đời sống nghề nghiệp, những thay đổi của nền kinh tế – xã hội đòi hỏi phải có những thay đổi tương ứng trong giáo dục đại học Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy, giáo dục đại học c n nhiều bất cập, chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được sự thay đổi của nền kinh tế, sinh viên tốt nghiệp vẫn phải qua đào tạo lại mới có thể làm việc…Để khắc phục những yếu kém, tồn tại kể trên cần phải có sự đổi mới trong tổ chức, quản lý hoạt động dạy và học Trong đó, đổi mới KTĐG theo năng lực sẽ góp phần quan trọng tạo ra sự thay đổi trong cách dạy của giảng viên và cách học của sinh viên với mục tiêu đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của xã hội
Việc KTĐG hiện nay ở các trường đại học chủ yếu tập trung vào mục tiêu kiến thức, ít chú trọng mục tiêu kỹ năng và thái độ của người học Nguyên nhân của tình trạng này có thể do việc xác định mục đích KTĐG kh ng rõ ràng, chưa đúng mục đích đào tạo nhân lực Việc KTĐG kết quả học tập thường chỉ đòi hỏi sinh viên tái hiện lại những kiến thức hoặc một vài kỹ năng đã được học, hiếm khi yêu cầu sinh viên vận dụng những kiến thức đã học vào một tình huống thực trong cuộc sống Do đó, khi tốt nghiệp và đối mặt với các tình huống thực tế thì sinh viên khó có khả năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết Đây chính là nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đào tạo không đáp ứng yêu cầu xã hội, dẫn đến doanh nghiệp phải đào tạo lại
Việc KTĐG kết quả học tập của các môn học bao gồm các điểm bộ phận như sau: Điểm chuyên cần, điểm kiểm tra giữa kỳ và điểm thi cuối kỳ Bên cạnh
đó, phương pháp KTĐG kết quả học tập chủ yếu là làm bài trên giấy với các hình thức phổ biến là: Tự luận, trắc nghiệm hoặc thực hành Các hình thức này chủ yếu
là kiểm tra khả năng nắm vững kiến thức đã học để giải một số bài tập, giải thích