C.Mác và Ph.Ăngghen cũng dự báo trên những nét lớn về những đặc trưng cơ bản của xã hội mới, đó là: có lực lượng sản xuất xã hội cao, chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất được xác lập, chế độ người bóc người bị thủ tiêu, sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội , nền sản xuất được tiến hành theo một kế hoạch thống nhất trên phạm vi toàn xã hội, sự phân phối sản phẩm bình đẳng, sự đối lập giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay bị xóa bỏ... Để xây dựng xã hội mới có những đặc trưng như trên cần phải trải qua hai giai đoạn: Giai đoạn thấp (giai đoạn đầu) và giai đoạn sau (giai đoạn cao). Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội và giai đoan sau là chủ nghĩa cộng sản. C.Mác gọi giai đoạn đầu xã hội chủ nghĩa là thời kỳ quá độ chính trị lên giai đoạn cao của xã hội cộng sản. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thời kỳ này ở các nước có trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau có thể diễn ra với khoảng thời gian dài ngắn khác nhau. Đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển ở trình độ cao khi tiến lên xã hội chủ nghĩa thời kỳ quá độ có thể tương đối ngắn. Những nước trải qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản ở trình độ trung bình, đặc biệt là những nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu thì thời kỳ quá độ tương đối khó khăn, phức tạp. Ở nước ta thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm 1945 ở miền Bắc và năm 1975 trên phạm vi cả nước sau khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi, đất nước hòa bình và thống nhất quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Đảng ta vẫn quyết định nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa. Nước ta tiến lên xã hội chủ nghĩa bỏ qua tư bản chủ nghĩa là tất yếu khách quan, do nó phù hợp với sự phát triển chung của xã hội loài người, và trong thời đại ngày nay, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa do đất nước ta giành độc lập dân tộc tất yếu phải đi lên chủ nghĩa xã hội.Đó là lý do tôi chọn đề tài “Trình bày lý luận của Lê nin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình nhận thức và vận dụng lý luận này trong việc lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta”.
Trang 1Để xây dựng xã hội mới có những đặc trưng như trên cần phải trải quahai giai đoạn: Giai đoạn thấp (giai đoạn đầu) và giai đoạn sau (giai đoạn cao).Sau này Lênin gọi giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội và giai đoan sau là chủnghĩa cộng sản C.Mác gọi giai đoạn đầu xã hội chủ nghĩa là thời kỳ quá độchính trị lên giai đoạn cao của xã hội cộng sản.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng toàndiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Thời kỳ này ở các nước cótrình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau có thể diễn ra với khoảng thờigian dài ngắn khác nhau Đối với những nước đã trải qua chủ nghĩa tư bảnphát triển ở trình độ cao khi tiến lên xã hội chủ nghĩa thời kỳ quá độ có thểtương đối ngắn Những nước trải qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản ởtrình độ trung bình, đặc biệt là những nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậuthì thời kỳ quá độ tương đối khó khăn, phức tạp
Ở nước ta thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu từ năm
1945 ở miền Bắc và năm 1975 trên phạm vi cả nước sau khi cuộc cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi, đất nước hòa bình và thốngnhất quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Đảng ta vẫnquyết định nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua tư bản chủ nghĩa Nước tatiến lên xã hội chủ nghĩa bỏ qua tư bản chủ nghĩa là tất yếu khách quan, do nó
Trang 2phù hợp với sự phát triển chung của xã hội loài người, và trong thời đại ngàynay, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa do đất nước ta giành độclập dân tộc tất yếu phải đi lên chủ nghĩa xã hội.Đó là lý do tôi chọn đề tài
“Trình bày lý luận của Lê nin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Quá trình nhận thức và vận dụng lý luận này trong việc lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta”.
Trang 3CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA MÁC LÊNIN VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CNXH
1 Tính tất yếu của thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, bất cứ quốcgia nào đi lên chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua, kể cả các nước có nền kinh
tế rất phát triển Tất nhiên, đối với các nước có nền kinh tế phát triển, thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều thuận lợi hơn, có thể diễn ra ngắn hơn sovới các nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa có nềnkinh tế lạc hậu
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâusắc, triệt để, toàn diện từ xã hội cũ thành xã hội mới: chủ nghĩa xã hội Nódiễn ra từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền bắt tay vào xây dựng xãhội mới và kết thúc khi xây dựng thành công những cơ sở của chủ nghĩa xãhội cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúcthượng tầng
Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được quy định bởiđặc điểm ra đời, phát triển của cách mạng vô sản và những đặc trưng kinh tế,
xã hội của chủ nghĩa xã hội Để chuyển từ xã hội TBCN lên xã hội XHCNcần phải trải qua một thời kỳ quá độ nhất định Tính tất yếu của TKQĐ lênCNXH được lý giải từ các căn cứ sau đây:
- Một là, CNTB và CNXH khác nhau về bản chất CNTB được xâydựng trên cơ sở chế độ tư hữu TBCN về các tư liệu sản xuất; dựa trên chế độ
áp bức và bóc lột CNXH được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tưliệu sản xuất chủ yếu, tồn tại dưới 2 hình thức là nhà nước và tập thể; khôngcòn các giai cấp đối kháng, không còn tình trạng áp bức, bóc lột Muốn có xãhội như vậy cần phải có một thời kỳ lịch sử nhất định
- Hai là, CNXH được xây dựng trên nền sản xuất đại công nghiệp cótrình độ cao Quá trình phát triển của CNTB đã tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật
Trang 4nhất định cho CNXH, nhưng muốn có cơ sở vật chất – kỹ thuật đó cần phải cóthời gian tổ chức, sắp xếp lại Đối với những nước chưa từng trải qua quátrình CNH tiến lên CNXH , TKQĐ cho việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹthuật cho CNXH có thể kéo dài với nhiệm vụ trọng tâm của nó là tiến hànhCNH XHCN.
- Ba là, các quan hệ xã hội của CNXH không tự phát nảy sinh tronglòng CNTB, chúng là kết quả của quá trình xây dựng và cải tạo XHCN Sựphát triển của CNTB dù đã ở trình độ cao cũng chỉ có thể tạo ra những điềukiện, tiền đề cho sự hình thành các quan hệ xã hội XHCN, do vậy cũng cầnphải có thời gian nhất định để xây dựng và phát triển các quan hệ đó
- Bốn là, công cuộc xây dựng CNXH là một công việc mới mẻ, khókhăn và phức tạp, cần phải có thời gian để giai cấp CN từng bước làm quenvới những công việc đó
TKQĐ lên CNXH ở các nước có trình độ phát triển kinh tế - xã hộikhác nhau có thể diễn ra với khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau Đối vớinhững nước đã trải qua CNTB phát triển ở trình độ cao thì khi tiến lênCNXH, TKQĐ có thể tương đối ngắn Những nước đã trải qua giai đoạn pháttriển CNTB ở mức độ trung bình, đặc biệt là những nước còn ở trình độ pháttriển tiền tư bản, có nền kinh tế lạc hậu thì TKQĐ thường kéo dài với rấtnhiều khó khăn, phức tạp Đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ từ CNTBlên CNXH là sự tồn tại đan xen giữa những yếu tố của xã hội cũ bên cạnhnhững nhân tố mới của CNXH trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa đấutranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực (kinh tế, chính trị, tư tưởng – văn hóa)của đời sống xã hội
2 Thực chất của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
Thực chất của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là chuyên chính vôsản Nghĩa là giai đoạn: giai cấp vô sản bao gồm giai cấp công nhân và quầnchúng nhân dân lao động,sau khi giành chính quyền ,sẽ tước đoạt toàn bộ tưliệu sản xuất từ giai cấp tư sản đã bị đánh bại,không còn là giai cấp thống trị
Trang 5và những thế lực chống phá chủ nghĩa xã hội.Xóa bỏ triệt để tàn dư phongkiến,tích lũy cơ sở vật chất để xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng những biệnpháp chuyên chính vô sản.Bản chất là dùng bộ máy chính quyền cưỡng bức.
Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội chính là sự khác biệt giữa họcthuyết của C Mác và của V Lê-nin Có thể khẳng định thời kì quá độ không
có trong học thuyết C Mác! Không ai có thể khẳng định được: Nếu C Mácsống đến thời V Lê-nin thì ông có đồng ý luận điểm đó không? Và có đồng ýghép học thuyết của mình vào với học thuyết của Lê nin để gọi chung là họcthuyết Mác - Lê nin, để trở thành Chủ nghĩa Mác - Lê nin?
Theo Hồ Chí Minh: Thực chất của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là quá trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất hiện đại Thựcchất phát triển và cấu tạo nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấpgay go, phức tạp trong điều kiện mới.Khi mà nhân dân ta hình thành cơ bảncách mạng dân tộc dân chủ,so sánh lực lượng trong nước và quốc tế đã cónhững biến đổi Điều này đòi hỏi phải áp dụng toàn diện các hình thức đấutranh cả về chính trị,kinh tế,tư tưởng-văn hóa,nhằm chống lại các thế lực đingược lại con đường xã hội chủ nghĩa
3.Nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình được tiến hành trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội, là 1 quá trình khó khăn và phức tạp
- Trên lĩnh vực kinh tế: thực hiện việc sắp xếp, bố trí lại các lực lượng
sản xuất hiện có của xã hội; cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sảnxuất mới theo hướng tạo ra sự phát triển cân đối của nền kinh tế, bảo đảmphục vụ ngày càng tốt đời sống nhân dân lao động Việc sắp xếp, bố trí lại cáclực lượng sản xuất của xã hội nhất định không thể theo ý muốn nóng vội, chủquan mà phải tuân theo tính tất yếu khách quan của các quy luật kinh tế, đặcbiệt là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất
Trang 6Đối với những nước chưa trải qua quá trình CNH TBCN, tất yếu phảitiến hành CNH XHCN nhằm tạo ra được cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH.Nhiệm vụ trọng tâm của những nước này trong TKQĐ là phải tiến hành CNH,HĐH nền kinh tế theo định hướng XHCN Quá trình CNH-HĐH XHCN diễn
ra ở các nước khác nhau với những điều kiện lịch sử khác nhau có thể đượctiến hành với những nội dung cụ thể và hình thức, bước đi khác nhau Nước taquá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, chưa trải qua quá trình CNH TBCN,nên trong thời gian qua, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH, tạo nềntảng để đi lên CNXH; bên cạnh đó là chủ trương phát triển kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN cũng là để giải phóng sức sản xuất, tiến tới một nền sảnxuất lớn
=> Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nềnkinh tế nhiều thành phần và tương ứng với nó có nhiều giai cấp, tầng lớp xãhội khác nhau nhưng vị trí, cơ cấu và tính chất của giai cấp trong xã hội đãthay đỗi một cách sâu sắc Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần làkhách quan và lâu dài, có lợi cho sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng trưởngkinh tế Theo Lênin, mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội làmâu thuẩn giữa chủ nghĩa xã hội đã giành thắng lợi nhưng còn non yếu vớichủ nghĩa tư bản đã bị đánh bại nhưng vẫn còn khả năng khôi phục Vì vậy,thời kỳ quá độ là thời kỳ diễn ra cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa tư bản quyết liệt, quanh co, khúc khuỷu và phức tạp
- Trong lĩnh vực chính trị: tiến hành cuộc đấu tranh chống lại các thế
lực thù địch chống phá sự nghiệp xây dựng CNXH; xây dựng, củng cố nhànước và nền dân chủ XHCN ngày càng vững mạnh, bảo đảm quyền làm chủtrong hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nhân dân lao động, xâydựng các tổ chức chính trị - xã hội thực sự là nơi thực hiện quyền làm chủ củanhân dân lao động; xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh ngangtầm với các nhiệm vụ của mỗi thời kỳ lịch sử
Trang 7- Trong lĩnh vực tư tưởng – văn hóa: tuyên truyền, phổ biến những tư
tưởng khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân trong toàn xã hội; khắcphục những tư tưởng và tâm lý có ảnh hưởng tiêu cực đối với tiến trình xâydựng CNXH; xây dựng nền văn hóa mới XHCN, tiếp thu giá trị tinh hoa cácnền văn hóa trên thế giới
- Trong lĩnh vực xã hội: khắc phục những tệ nạn xã hội do xã hội cũ để
lại; từng bước khắc phục sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, các tầnglớp dân cư trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội; xây dựngmối quan hệ tốt đẹp giữa người với người theo mục tiêu lý tưởng: tự do củangười này là điều kiện, tiền đề cho sự tự do của người khác
Tóm lại, TKQĐ lên CNXH là một thời kỳ lịch sử tất yếu trên con đường
phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Đó là thời kỳ lịch
sử có đặc điểm riêng với những nội dung kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hộiđặc thù mà giai đoạn xã hội XHCN trên con đường phát triển của hình thái kinh
tế - xã hội CSCN chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoàn thành các nội dung đó
4 Khả năng quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Phân tích tính chất và đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trong thới kỳ tự
do cạnh tranh, C.Mác và Ph Ăngghen đã nêu ra khả năng quá độ lên chủnghĩa cộng sản ở các nước lạc hậu khi cách mạng vô sản ở các nước Tây Âugiành được thắng lợi
Khi phân tích đặc điểm của chủ nghĩa tư bản trong thời kỳ độc quyền,phát triển ra quy luật phát triển không đều về kinh tế và chính trị của chủnghĩa tư bản, V.I.Lênin rút ra kết luận quan trọng về khả năng thắng lợi củachủ nghĩa xã hội ở một số nước riêng lẻ chứ không thể thắng lợi cùng một lúc
ở tất cả cả nước Khi chủ nghĩa xã hội thắng lợi ở một nước, thì nhân loại bắtđầu bước vào thời đại mới- thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vitoàn thế giới Trong điều kiện đó, các nước lạc hậu có thể quá độ lên chủnghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Theo V.I.Lênin, điều kiện đểmột nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là:
Trang 8-Thứ nhất, điều kiện bên trong, có Đảng cộng sản lãnh đạo giành đượcchính quyền và sử dụng chính quyền nhà nước công, nông, trí thức liên minhlàm điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
-Thứ hai, điều kiện bên ngoài, có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản củacác nước tiên tiến đã giành thắng lợi trong cách mạng vô sản
Các nước lạc hậu có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa nhưng không phải là quá độ trực tiếp, mà phải qua conđường gián tiếp với một loạt những bước quá độ thích hợp, thông qua “chínhsách kinh tế mới” Chính sách kinh tế mới là con đường quá độ gián tiếp lênchủ nghĩa xã hội, được áp dụng ở Liên Xô từ mùa xụân 1921 thay cho “chínhsách cộng sản thời chiến” được áp dụng trong nhửng năm nội chiến và canthiệp vũ trang của chủ nghĩa đế quốc
Nội dung cơ bản của “chính sách kinh tế mới” bao gồm:
- Dùng thuế lương thực thay cho trưng thu lương thực thừa trongchính sách cộng sản thời chiến
- Thiết lập quan hệ hàng hóa tiền tệ, phát triển thị trường , thươngnghiệp thay cho Chính sách cộng sản thời chiến
- Sử dụng nhiều thành phần kinh tế, các hình thức kinh tế quá độ,khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân thay cho sự thủtiêu kinh doanh tư nhân trong chính sách cộng sản thời chiến, sử dụng củnghĩa tư bản nhà nước , chuyển các xí nghiệp nhà nước sang chế độ hạch toánkinh tế, chủ trương phát triển qua hệ kinh tế với các nước phương Tây đểtránh thủ vốn, kỹ thuật
“Chính sách kinh tế” mới có ý nghĩa to lớn Về thực tiễn, nhờ có chínhsách đó nước Nga Xôviết đã làm khôi phục nhanh chóng nền kinh tế sauchiến tranh, khắc phục được khủng hoảng kinh tế và chính trị Về lý luận, nóphát triển nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội
Ở nước ta từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, những quan điểm kinh tếcủa Đảng ta đã thể hiện sự nhận thức và vận dụng “ chính sách kinh tế mới”của V.I.Lênin phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của thời kỳ quá độ ởnước ta
Trang 9CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ
xã hội trước nó Sự biến đổi của các hình thái kinh tế- xã hội nói trên đều tuântheo quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất
Cho dù ngày nay, chủ nghĩa tư bản đang nắm nhiều ưu thế về vốn, khoahọc, công nghệ và thị trường, đang cố gắng điều chỉnh trong chừng mực nhấtđịnh quan hệ sản xuất để thích nghi với tình hình mới, nhưng không vượt rakhỏi những mâu thuẫn vốn có của nó, đặc biệt là mâu thuẫn giữa tính chất xãhội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Mâu thuẫn này không những không dịu
đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc Sự phát triển mạnh mẽ của lựclượng sản xuất và xã hội hóa lao động làm cho các tiền đề vật chất, kinh tế, xãhội ngày càng chín muồi cho sự phủ định chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của xãhội mới - chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa tư bản không phải là tương lai của loàingười Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủnghĩa xã hội
- Hai là, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợpvới xu thế của thời đại, mà còn phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt
Trang 10Nam: cách mạng dân tộc, dân chủ gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa.Cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ trước hết là giải phóng dân tộc, giành độclập, tự do, dân chủ đồng thời nó là tiền đề để “ làm cho nhân dân lao độngthoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no, vàsống một đời hạnh phúc”, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh” Vì vậy, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
là sự tiếp tục hợp lôgíc cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, làm cho cách mạngdân tộc, dân chủ được thực hiện triệt để
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với mọi quốc gia đilên chủ nghĩa xã hội, nhưng nó lại có đặc điểm riêng đối với mỗi quốc gia ; dođiều kiện xuất phát riêng của mỗi quốc gia quy định Trước đây, miền Bắcnước ta bước vào thời kỳ quá độ với “đặc điểm lớn nhất là từ một nước nôngnghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạnphát triển tư bản chủ nghĩa” Khi cả nước thống nhất cùng tiến lên chủ nghĩa
xã hội, đặc điểm trên vẫn còn tồn tại Phân tích rõ hơn thực trạng kinh tế,chính trị của đất nước, trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “nước ta quá
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản, từ một xã hội vốn là thuộc địa,nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp Đất nước trải qua hàng chục nămchiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề Những tàn dư thực dân phong kiếncòn nhiều Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội
và nền độc lập của nhân dân ta”
Như vậy, đặc điểm đặc trưng bao trùm nhất của thời kỳ quá độ ở nước
ta là bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Nhưng, thế nào là bỏ qua chế độ tư bảnchủ nghĩa? Gỉai quyết vấn đề này có ý nghĩa lớn cả về nhận thức và hoạt độngthực tiễn
Sẽ là sai lầm và phải trả giá nếu quan niệm “bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa” theo kiểu phủ định sạch trơn, đem đối lập chủ nghĩa xã hội với chủnghĩa tư bản, bỏ qua cả những cái “không thể bỏ qua” như đã từng xảy ra ở
Trang 11các nước xã hội chủ nghĩa trước đây Vì vậy, báo cáo chính trị tại Đại hộiĐảng IX Đảng cộng sản Việt Nam đã nói rõ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là
“bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượngtầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại
đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ đểphát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thực chất là phát triển theo con đường
“rút ngắn” quá trình lên chủ nghĩa xã hội Nhưng “rút ngắn” không phải là đốtcháy giai đoạn, duy ý chí, coi thường quy luật, như muốn xóa bỏ nhanh sởhữu tư nhân và các thành phần kinh tế “phi chủ nghĩa xã hội” hoặc coi nhẹsản xuất hàng hóa, Trái lại, phải tôn trọng quy luật khách quan và biết vậndụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước, tận dụng thời cơ và khả năngthuận lợi để tìm ra con đường, hình thúc, bước đi thích hợp Phát triển theocon đường “rút ngắn” là phải biết kế thừa những thành tựu mà nhân loại đãđạt được ở chủ nghĩa tư bản không chỉ về lực lượng sản xuất mà cả về quan
hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, như Lênin đã nói về chủnghĩa xã hội ở nước Nga với kỹ thuật hiện đại trong các tơrớt của Mỹ và nghệthuật quản lý trong ngành đường sắt ở Đức
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng không thể thực hiện quá độ trựctiếp lên chủ nghĩa xã hội mà phải qua con đường gián tiếp, qua việc thực hiệnhàng loạt các hình thức quá độ Sự cần thiết khách quan và vai trò tác dụngcủa hình thức kinh tế quá độ được Lênin phân tích sâu sắc trong lý luận vềchủ nghĩa tư bản nhà nước Thực hiện các hình thức kinh tế quá độ, các khâutrung gian vừa có tác dụng phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất, vừacần thiết để chuyển từ các quan hệ tiền tư bản lên chủ nghĩa xã hội, nó làhình thúc vận dụng các quy luật kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể
Tóm lại, xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở
nước ta tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là quátrình rất khó khăn, phức tạp, tất yếu “phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài