Theo từ điển Giáo dục học - NXB từ điển Bách khoa 2001: "Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành" Trong Phương pháp dạy học truyề
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
HOÀNG ANH THƯ
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 CHO HỌC SINH LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHUƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
MÃ SỐ 60 14 01 11
Nguời huớng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Ban
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN Luận văn này được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của:
Lãnh đạo trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội, các phòng khoa và các thầy cô trường Đại học giáo dục
Lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp và học sinh trường THPT Lê Quý Đôn, THPT Nguyễn Trãi (Thái Bình), THPT Phan Đình Phùng (Hà Nội)
Đặc biệt sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Nguyễn Thị Ban
Với tấm lòng trân trọng, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của quý thầy cô, các bạn và các em học sinh
Dù đã rất cố gắng song chắc chắc luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự góp ý của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Hà Nội tháng 11 năm 2014
Tác giả
Hoàng Anh Thư
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt
Cơ bản Giáo viên Học sinh Phổ thông Phương pháp dạy học
Số thứ tự Trung học phổ thông Tác phẩm văn chương Văn học
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mụclục iii
Danh mục các bảng, biểu v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 9
1.1 Tự học và năng lực tự học 9
1.1.1 Khái niệm tự học , năng lực, năng lực tự học 9
1.1.2 Các hình thức tự học 14
1.1.3 Chu trình tự học 15
1.1.4 Các biểu hiện của năng lực tự học của học sinh 18
1.1.5 Những năng lực cần thiết của người tự học môn Ngữ văn 21
1.1.6 Vai trò và ý nghĩa của tự học 22
1.2 Truyện ngắn và năng lực tự học truyện ngắn 23
1.2.1 Thể loại truyện ngắn hiện đại và nét riêng của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 23
1.2.2 Năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 27
1.3 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh THPT 29
1.4 Chương trình truyện ngắn Việt Nam trong SGK lớp 11 và thực trạng dạy - tự học truyện ngắn ở THPT 31
1.4.1 Chương trình truyện ngắn lớp 11 31
1.4.2 Thực trạng việc bồi dưỡng năng lực tự học truyện ngắn cho học sinh THPT 33
Tiểu kết Chương 1 41
Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 42
2.1 Một số nguyên tắc tổ chức dạy học truyện ngắn theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS lớp 11 THPT 42
2.1.1 Bám sát mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 42
Trang 52.1.2 Phù hợp với những đặc điểm
tâm sinh lí của HS THPT 42
2.1.3 Quán triệt tinh thần đổi mới PPDH môn học (Ngữ văn) và phần học ( truyện ngắnViệt Nam 1930 - 1945) 43
2.1.4 Xuất phát từ thực tế rèn năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam cho học sinh THPT hiện nay 44
2.2 Hướng dẫn HS lớp 11 tự học trong quá trình dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS THPT 45
2.2.1 Hướng dẫn HS lập kế hoạch tự học 45
2.2.2 Hướng dẫn học sinh tự học trước giờ học 48
2.2.3 Hướng dẫn học sinh tự học trong giờ học 63
2.2.4 Hướng dẫn học sinh tự học sau giờ học 69
Tiểu kết Chương 2 74
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75
3.1 Mục đích thực nghiệm 75
3.2 Đối tượng thực nghiệm 75
3.3 Nội dung thực nghiệm 76
3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 76
3.4.1 Cách tiến hành 76
3.4.2 Cách đánh giá 78
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 78
3.5.1 Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm 78
3.5.2 Kết quả thực nghiệm cụ thể 79
Tiểu kết Chương 3 81
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Khuyến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 1.1 Quy trình dạy - tự học .16 Bảng 1.2 Chương trình truyện ngắn Việt Nam lớp 12 32 Bảng 1.3 Nhận thức của học sinh THPT về tác dụng của tự học .33 Bảng 1.4 Thực trạng sử dụng kĩ năng tự học của học sinh THPT 35 Bảng 1.5 Thực trạng hoạt động dạy - tự học của giáo viên 38 Bảng 3.1 So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 79 Biểu đồ 3.1 So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm .79
Sơ đồ 1.1 Chu trình dạy - tự học 15
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại bùng nổ thông tin đã tiếp sức cho tri thức khoa học của nhân loại phát triển và đổi mới nhanh chóng theo tốc độ lũy tiến Do đó khoảng cách giữa sự vô hạn của tri thức nhân loại và sự có hạn của kiến thức cá nhân ngày càng lớn hơn, thậm chí những kiến thức, kĩ năng hiện có nhanh chóng trở nên lạc hậu và không đủ thỏa mãn nhu cầu sống của con người Tự học, tự nghiên cứu
đã trở thành chìa khóa vàng để rút ngắn khoảng cách trên Với mục đích đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng hiện đại hoá, dân chủ hoá
và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước cũng sớm đưa vào Luật Giáo dục yêu cầu: "Cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng tích cực hóa hoạtđộng học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và
năng lực tự học của học sinh" (NQ TW2 - Luật Giáo dục) Theo đó, tự học đã trở thành nhu cầu của thời đại, không những thế " Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của mỗi con người trong nền kinh tế xã hội nước ta
hiện nay và cả mai sau " (Đỗ Mười)
Đổi mới phương pháp dạy học với phương châm:" Học sinh là mặt trời xung quanh nó quy tụ mọi phương diên giáo dục" (J Dewey) đã đề cao vai trò của học sinh như là nhân vật trung tâm Mục đích của đổi mới giáo dục là " biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo", chuyển mạnh nền giáo dục chủyếu truyền thụ kiến thức một chiều sang giáo dục tương tác nhằm hình thành nhân cách và phát triển năng lực người học Trong số những phẩm chất, năng lực cần hình thành cho học sinh thì năng lực đầu tiên và quan trọng nhất là năng lực tự học Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng từng khuyên "Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt " Năng lực tự học có sẵn trong mỗi người Để đánh thức được kho báu tiềm ẩn đó
người học phải có năng lực tự học, tự nghiên cứu, nhà trường phải thay đổi cách dạy:dạy học sinh cách học trong đó có dạy cách tự học
Dù đang trên đường đổi mới nhưng dạy học Văn hiện nay vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức theo hướng đọc chép nên nhiều học sinh tỏ ra không mặn
Trang 8mà, không hứng thú với môn Văn Để khắc phục hạn chế đó phương pháp dạy
học Văn đã chuyển dần từ giảng văn sang đọc - hiểu văn bản và "dạy cho học sinh
biết cách tự đọc, lấy việc tự đọc nuôi việc tự học, từ đó mà lớn lên, tham gia chủ độngvào các hoạt động xã hội " (Trần Đình Sử) Nghĩa là chuyển từ truyền thụ kiến thứcsang hình thành kĩ năng, lấy kĩ năng tự đọc làm cơ sở cho kĩ năng tự học, lấy kĩ năng
tự học làm cốt lõi để phát triển năng lực tự học Ngữ văn
Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là một phần quan trọng của chương trình Ngữ văn 11 với những truyện ngắn chọn lọc nổi tiếng nhất trong đời văn của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan (Truyện "Hai đứa trẻ " , "Chữ người tử tù", "Chí Phèo", " Đời thừa ", "Tinh Thần thể dục") Trong số đó có bốn truyện ngắn là trọng tâm của kì thi THPT quốc gia, tuy nhiên do thời gian học trên lớp có hạn, người dạy chưa chú trọng dạy kĩ năng tự
học, học trò còn thụ động, chưa dành thời gian cần thiết cho việc tự học nên hiệu quả của chưa cao
Xuất phát từ yêu cầu dạy học theo hướng phát triển năng lực và thực
trạng trên chúng tôi chọn đề tài "Phát triển năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 cho học sinh lớp 11 - Trung học phổ thông" với
mong muốn giúp học sinh lớp 11 tự học truyện ngắn có hiệu quả cao, từ đó pháttriển năng lực tự học môn Văn nói riêng và các môn học khác nói chung Đồng thời giúp giáo viên đáp ứng mục tiêu giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tự học trong nhà trường
Tự học không phải là vấn đề mới trong lý luận và thực tiễn dạy học,
đã có rất nhiều quan điểm, tư tưởng và công trình nghiên cứu về tự học dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau Dù ở góc độ nào thì nhìn chung đều nhấn mạnh tính chủ động, tích cực của người học để chiếm lĩnh tri thức
Ở nước ngoài, người đặt nền móng cho ý thức về hoạt động tự học là nhà giáo dục người cộng hòa Séc J.A Comenxki (1592-1670) Cùng với
Trang 9việc "đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán của người học", Komensky
đã tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn Ông khẳng định: "Không có khát vọng học tập, không có khát vọng suy nghĩ thì sẽ không thể trở thành tài năng" [39]
Vào thế kỷ XVIII - XIX, một số nhà giáo dục lỗi lạc như J.J Rousscau(1712-1778), Pestalozi (1746-1827), Disterver (1790-1886), Usinski (1824-1890), J Dewey (1859-1952)đã hướng việc phát huy yếu tố tiềm ẩn trong cá nhân con người, nhấn mạnh phương thức học tập bằng con đường tích cực tìm tòi, khám phá, nỗ lực của bản thân để giành lấy tri thức Những tư tưởng đó được các nhà giáo dục thế hệ sau này tiếp thu và phát triển thành các phương pháp dạyhọc tích cực, phát huy tính tích cực, tự chủ của HS [39]
Vào thế kỷ XX, các nhà giáo dục tiếp tục kế thừa và phát triển
những thành tựu trước đó, đã tạo ra một giai đoạn phát triển rực rỡ về lý luận dạy học Những nhà giáo dục tên tuổi như X.P.Baranov, T.A.Ilina,
A.N.Leonchiev, A.V Petrovski, A.M.Machiuskin, Makiguchi, J.G.Pestalozi, F.Disterverđã nghiên cứu về vấn đề tự học và đưa ra vấn đề tự học như thế nào; cách độc lập nghiên cứu khoa học; cách suy nghĩ tìm tòi; cách sáng
tạo; [44]
N.A Rubakin (1862-1946) trong tác phẩm "Tự học như thế nào" đã nhấn mạnh vai trò và thái độ tích cực tự học của học sinh trong việc chiếm lĩnhtri thức N.A Rubakin đã thấy rõ vai trò của yếu tố động cơ trong tự học của
HS Muốn người học học tập có kết quả thì trong dạy học phải giáo dục con người có động cơ đúng đắn trong tự học Ông khẳng định: "Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để HS tích cực, chủ động trong tự học" Rubakin kết luận rằng: Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học Tuy nhiên, chỉ có động cơ thôivẫn chưa đủ mà người học cần phải có kỹ năng tự học thì mới tự học có hiệu quả [44]
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, I.F.Kharlamop khẳng định rằng:
Trang 10tự học đóng vai trò rất quan trọng trongviệc nâng cao tính tích cực nhận
thức và hiệu quả cho hoạt động trí tuệ của SV Hoạt động tự học diễn ra theo cách tăng cường nghiên cứu, làm việc với tài liệu học tập, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, cải tiến công tác tự học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá,
[45]
Năm 1994, Raja Roy Singh - nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn
sách "Giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương" đã
nghiên cứu vai trò của tự học của người học và đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong học tập thường xuyên và học tập suốt đời, trong việc hình thành và phát huy năng lực tự học của người học [21] Năm 1996, Uỷ banquốc tế về Giáo dục cho Thế kỷ XXI do Jacque Delor làm Chủ tịch đưa ra một báo cáo khẳng định vai trò quan trọng của
giáo dục đối với sự phát triển tương lai của cá nhân, dân tộc và nhân loại Báo cáo này nhấn mạnh giáo dục là "kho báu tiềm ẩn" và đã đưa ra một tầm nhìn về giáo dục cho thế kỷ XXI dựa trên bốn trụ cột (học để biết, học để làm, học để khẳng định mình, học để cùng chung sống) cũng đã khẳng định tầm quan trong của tự học trong xã hội đầy tính cạnh tranh và trong thời đại bùng nổ củatri thức khoa học, công nghệ như hiện nay
Ở nước ta, những năm gần đây vấn đề tự học rất được quan tâm Tác giả VũQuốc Anh có bài viết: "Tạo ra năng lực tự học sáng tạo của HS THPT" Tại Hà Nội năm 1998, một cuộc hội thảo khoa học với tiêu đề "Nghiên cứu tự học - tự đào tạo" đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo
sư đầu ngành Trong cuộc hội thảo này, nội dung các bài viết, các bài phát biểu đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tự học và yêu cầu các cấp, các ngành phải chăm lo xây dựng phong trào tự học toàn dân Bên cạnh đó, còn có một số cuốnsách đã được xuất bản như "Tôi tự học" - Nguyễn Duy Cần, "Tự học là một nhu cầu của thời đại" - Nguyễn Hiến Lê, "Luận bàn và kinh nghiệm tự học" - Nguyễn Cảnh Toàn Những cuốn sách này chủ yếu đúc kết những kinh
nghiệm quý báu trong quá trình tự học của một
Trang 11số tác giả Đặc biệt, Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học còn cho ra mắt
bạn đọc tạp chí "Tự học" Tạp chí này đã thu hút sự quan tâm chú ý và sự tham gia luận bàn về vấn đề tự học của nhiều nhà khoa học, giáo sư, nhà giáo
Cuốn "Học và dạy cách học" do tác giả Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên là một trong những cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam viết một cách có hệ thống về việc
"học" và "dạy cách học" Cuốn sách này thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học
Tác giả Trịnh Quốc Lập trong bài báo khoa học "Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam" (2008) đăng trên tạp chí khoa học Trường
Đại học Cần Thơ đã cho rằng năng lực tự học không chỉ là một
phẩm chất dành cho người học thuộc thế giới phương Tây, về bản chất mà nói, sinh viên châu Á không phải là không có năng lực tự học; hệ thống giáo dục ở các nước châu Á chưa tạo đủ điều kiện để sinh viên phát triển năng lực tự học Kết quả nghiên cứu của tác giả bài viết này đã chứng minh rằng trong hoàn cảnh Việt Nam năng lực tự học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng học tập tự điều chỉnh
Nhìn chung, các nhà giáo dục đã tập trung nghiên cứu sâu vấn đề tự học dưới nhiều góc độ khác nhau Các tác giả đã đưa ra nhiều kỹ năng tự học cho
người học Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về "Phát triển năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 -1954 cho học sinh
lớp 12 - THPT"
2.2 Tự học môn Ngữ văn
Ngữ văn là một môn học có những đặc trưng riêng nên tự học môn Ngữ văn cũng có những nét khác biệt Cuốn "Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Văn học" do nhóm tác giả Trần Bá Hoành, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến,
Nguyễn Trọng Hoàn biên soạn đã nói đến một trong những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực đó là tự học Trong bài: "Dạy văn để HS tự
Trang 12học văn", GS Phan Trọng Luận đặt ra yêu cầu và mục tiêu của việc dạy Văn
là dạy HS cách tự học Văn Trong các luận văn, luận án, bài viết của các tác giảgần đây, vấn đề tự học cũng rất được quan tâm Hai tác giả Phạm Thị Xuyến và
Vũ Thị Sáu trong hai cuốn luận văn Dạy học văn học sử theo hướng hình thành và phát triển năng lực tự học ở học sinh lớp 10 và Hình thành thói quen tự học cho học sinh THPT qua bài học Văn học sử (tác gia) đã quan tâm đến việc hình thành năng lực, thói quen tự học trong phần văn học sử Tác giả Trần Thị Hương Mai trong luận văn Dạy học phần đọc thêm các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 11 theo hướng tự học có hướng dẫn lại đi sâu nghiên cứu dạy học các bài đọc thêm theo hướng tự học có hướng dẫn Luận văn Rèn kĩ năng tự học truyện dân gian cho học sinh THPT của tác giả Nguyễn Kim Anh chú trọng
đến các kĩ năng tự học phần văn học dân gian cho
học sinh lớp 10 Ngoài ra còn có một số bài viết khác như Cách tự học môn Ngữ văn hiệu quả (Nguyễn Văn Phiên), Rèn kĩ năng tự học môn Ngữ văn (Đặng
Quang Sơn) trong đó các tác giả mới đề xuất những cách làm mang tính chất kinh nghiệm chứ chưa đi sâu nghiên cứu kĩ vấn đề
Như vậy, qua tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy: Lí luận chung về tự học đã được các tác giả nghiên cứu khá kĩ tạo ra cơ sở lí luận vững chắc cho những nghiên cứu tiếp theo về tự học Tuy nhiên có rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh cụ thể của tự học như năng lực tự học, kĩ năng tự họcRiêng ở bộ môn Ngữ văn, những nghiên cứu sâu về kĩ năng tự học các phần học cụ thể như Tiếng Việt, Làm văn, Đọc văn (trong đọc văn có đọc văn bản văn học) cũng chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về phát triển năng lực tự học, đề xuất những hướng dẫn học sinh cách tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, thiết kế giáo án và dạy thử nghiệm truyện
Trang 13ngắn "Chí Phèo" của Nam Cao, nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh,
góp phần đổi mới PPDH Ngữ văn ở trường THPT để từ đó nâng cao chất lượngdạy học Ngữ văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tự học và phát triển năng lực tự học
- Nghiên cứu chương trình truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cho HS lớp 11 và khảo sát thực tế dạy học truyện ngắn theo hướng phát triển năng lực tự học ở THPT
- Đề xuất những hướng dẫn học sinh tự học nhằm phát triển năng lực tự học
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 của học sinh lớp 11 THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phần truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ văn 11 và năng lực tự học truyện ngắn của học sinh lớp 11 THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Tìm hiểu các tài liệu, sách báo, văn kiện của Đảng và Nhà nước, nội dung kiến thức của quá trình học tập cao học, các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu điều tra, phỏng vấn đối với
GV và HS
- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại kết quả khảo sát
Trang 14- Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động tự học của HS trong và ngoài giờ lên lớp
- Phương pháp thực nghiệm: ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tổ chức dạy học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 11 - Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tự học và năng lực tự học
1.1.1 Khái niệm tự học , năng lực, năng lực tự học
1.1.1.1 Khái niệm tự học
Tự học là một khái niệm được nhiều người quan tâm Hồ Chủ Tịch đã định
hướng: "Tự học là một cách hành động", tức là: Học tập một cách hoàn toàn tự
giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch ra kế hoạch học tập cho mình, rồi tự mình triển khai, thực hiện kế hoạch đó một cách tự giác, tự mình làm chủ thời gian để học và tự mình kiểm tra đánh giá việc học của mình [9]
Theo từ điển Giáo dục học - NXB từ điển Bách khoa 2001: "Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành"
Trong Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, tác giả Thái Duy
Tuyên viết: "Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo,
là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học" [30]
Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: "Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiệnmình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải phápTự học
thuộc quá trình cá nhân hóa việc học" [29]
Còn theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: "Tự học (self learning) là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm
Trang 16chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm,
cả nhân sinh quan, thế giới quan (như
trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫnnại, lòng say mê khoa học, ý chí muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó
thành sở hữu của mình [22]
Trên thế giới khái niệm tự học cũng được tập trung nghiên cứu từ cuối thế kỉ XX Tác giả Candy (1987) đã xác định có ít nhất 30 khái niệm khác nhauđược sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tự học Ví dụ, ông liệt kê ra tự học, họctập độc lập, người học tự kiểm soát, hướng dẫn bản thân, học tập phi truyền thống, học tập mở, tham gia học tập, tự học, tự giáo dục, học tập tự tổ chức, tự học theo kế hoạch, tự chịu trách nhiệm về việc học, tự học và tự dạy Trong quá trình nghiên cứu về tự học, một số tác giả đi đến thống nhất:
có hai phương diện liên quan đến tự học đó là tính cách của người học và phương pháp học tập Đặc điểm tính cách hay "tính tự định hướng của người học" thuộc về bản chất của người học và là những đặc trưng cá nhân cho phép
họ thể hiện "mong muốn chịu trách nhiệm với việc học" Đây là đặc điểm bên trong Phương pháp học tập là một đặc điểm bên ngoài nói đến "một quá trình mà trong
đó người học có vai trò chính trong việc lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá các trải nghiệm" (Brockett 11 & Hiemstra) Với Brockett & Hiemstra, hai phương diện này có mối quan hệ biện chứng và cùng nhau dẫn đến "tự học"
Từ các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng: tự học là một quá trình học tập độc lập, chủ động, tích cực của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học, cũng như những kiến thức trong cuộc sống hằng ngày Nó có thể được cá nhân người học tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp học
1.1.1.2 Khái niệm năng lực
Năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh "competentia" Ngày
nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau
Trang 17Theo TS Nguyễn Văn Tuấn (ĐHSP kĩ thuật TP Hồ Chí Minh) trong chuyên đề "Tài liệu học tập về phương pháp dạy học theo hướng tích hợp " thì : Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm.
Cấu trúc của năng lực bao gồm: Năng lực chuyên môn (Professional
competency), năng lực phương pháp (Methodical competency), năng lực xã hội (Social competency), năng lực cá thể (Induvidual competency) và được thể
hiện cụ thể như sau:
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống trong bài "Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn theo yêu cầu phát triển năng lực " đã chỉ ra rằng: Tuy cách phát biểu
về năng lực có thể khác nhau nhưng đều thống nhất trong cách hiểu về bản chất
của khái niệm này: Năng lực là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố: kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, ý chí , kinh nghiệm và nhiều nguồn lực tinh thần khác để giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống
Trang 181.1.1.3 Năng lực tự học
Theo Nguyễn Kì, trong bất cứ con người Việt Nam nào trừ những người bị khuyết tật, tâm thần - đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề thực tiễn, tự đổi mới, tự sáng tạo trong công việc hàng ngày gọi chung là NLTH sáng tạo [11]
"Năng lực tự học là tổng thể các năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng
lực phương pháp và năng lực xã hội của người học tác động đến nội dung học trong những tình huống cụ thể nhằm đạt mục tiêu (bằng khả năng trí tuệ và vật chất, thái độ, động cơ, ý chí v.v của người học) chiếm lĩnh tri thức kĩ năng"
1.1.1.4 Phân biệt năng lực tự học với kĩ năng tự học
Kĩ năng tự học
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hà trong luận án "Biện pháp hoàn thiện kĩ
năng tự học môn Giáo dục học cho siinh viên Đại học Sư phạm theo quan điểm
sư phạm ttương tác" đã cho rằng: kĩ năng tự học là khả năng thực hiện có kết
quả hoạt động tự học đúng như những hiểu biết về hoạt động tự học và về kĩ
năng tự học mà người học đã được lĩnh hội trong hoạt động dạy học.[16
Có thể nhận thấy, kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để người học thực hiện sự nghiên cứu khám phá, biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể, giúp người học biết ứng dụng sáng tạo để vận dụng kiến thức đã có vào giải quyết mâu thuẫn của quá trình nhận thức Kĩ năng tự học bao gồm cả vốn thông tin và tri thức sẵn có, phương pháp và các thao tác vận dụng chúng để
Trang 1917
Trang 20thập thông tin, kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng vận dụng thông tin, kĩ năng tự
kiểm tra, đánh giá, Mỗi kĩ năng trên đòi hỏi người học phải có sự hiểu biết và mức độ thành thạo nhất định trong thao tác Cho nên trong quá trình tổ chức hoạt động học tập cho HS, người dạy cần phải coi trọng hình thành kĩ năng tự học, coi kĩ năng tự học vừa là phương tiện, điều kiện vừa là nội dung và mục đíchcủa tự học, tự đào tạo
Phân biệt năng lực với kĩ năng
Khái niệm kĩ năng nhiều khi bị dùng lẫn với khái niệm năng lực Vậy đâu là điểm phân biệt giữa kĩ năng với năng lực ? "Năng lực là những khả năng
và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong
những tình huống linh hoạt"(Weinert, 2001) Trong tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông và phát triển chương trình giáo dục phổ thông, tác giả Nguyễn
Thúy Hồng cũng thống nhất cho rằng: Năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, tổng hòa của các thành tố; kiến thức, kĩ năng, thái độ, các giá trị và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động của cá nhân được thể hiện thông qua giải quyết
có trách nhiệm và hiệu quả các nhiệm vụ, vấn đề trong những bối cảnh và tình huống khác nhau Như vậy năng lực là sức mạnh tổng hợp của kiến thức, kĩ năng và thái độ trong đó thái độ sẽ đưa ra những cam kết thực hiện và quyết định kết quả công việc, kĩ năng cần có để cam kết công việc sẽ được thực hiện, kiến thức sẽ quyết định đến quá trình thực hiện và kết quả công việc đạt được trong một tình huống cụ thể
Những nghiên cứu trên cho thấy: năng lực và kĩ năng có mối liên hệ mật thiết với nhau, mang tính chất cấu thành và kĩ năng là một yếu tố cơ bản, quan trọng cấu thành nên năng lực Muốn phát triển năng lực cần dựa trên cơ sở phát triển các thành phần như kiến thức, kĩ năng, thái độ, huy động tổng hợp các thành phần trong những tình huống đa dạng Để có thể tự học, người học phải nắm được những tri thức về hành động, phải vận dụng những tri thức
Trang 21đó để tiến hành các hành động nhằm thu được những kết quả phù hợp với mục
đích Nói cách khác, người học phải có kĩ năng tự học phù hợp với môn học Những kĩ năng tự học này, cùng với các thành phần khác sẽ góp phần hình thành và phát triển năng lực tự học ở người
- Tự học trong cuộc sống: là hình thức tự học được tiến hành ở bên ngoài các cơ sở giáo dục, diễn ra bất cứ lúc nào, với bất cứ ai có nhu cầu học tập
Xét về mức độ và cách thức tự học có hai hình thức tự học sau:
- Tự học hoàn toàn: là hình thức tự nghiên cứu của các nhà khoa học, được tiến hành dựa trên nền tảng vốn tri thức sâu rộng cùng niềm khát khao, say
mê khám phá tri thức mới Ở hình thức tự học này, người học tự lực tìm hiểu,
cọ xát với thực tiễn để tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình
- Tự học có hướng dẫn: là hình thức tự học phổ biến của HS được tiến hành linh hoạt theo từng cấp học, từng loại hình trường học, từng đối tượng; trong đó, HS tự nghiên cứu, tự lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng thông qua các hoạt động tự học do GV tổ chức, hướng dẫn, điều khiển
Xét về mối quan hệ của người tự học trong tự học, có:
- Tự học không tương tác: là hình thức học tập mà người học làm việc độc lập, chủ động có hoặc không có sự hướng dẫn của người thầy
- Tự học trong tương tác: là hình thức tự học mà người học kết hợp với những người khác (có thể với bạn, với thầy) trong học tập để nghiên cứu, lĩnh hội và vận dụng kiến thức, kĩ năng; có hoặc không có sự hướng dẫn của người thầy
Trang 22Như vậy với HS, hoạt động tự học chủ yếu liên quan đến các cơ sở giáo dục Hoạt động này thường kết hợp giữa học cá nhân với học hợp tác và là tự học có hướng dẫn của giáo viên
Tổ chức
Tự học
Tự thể hiện 3
Trọng tài
Sơ đồ 1.1 Chu trình dạy - tự học (theo sách: Quá trình dạy - tự học, tr.162)
Trong sơ đồ trên: Hình tròn bên trong tương ứng với nội lực - năng lực tự học của trò theo 3 thời: Tự nghiên cứu tự thể hiện tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Hình tròn ở giữa tượng trưng cho ngoại lực - tác động dạy của thầy, cùng với 3 thời tương ứng của quá trình dạy:
Hướng dẫn - tổ chức - trọng tài - cố vấn, kết luận, kiểm tra
Các mũi tên trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực "thầy"; sáng kiến điều hành chung cả chu trình dạy - tự học đều thuộc về thầy: Thầy là người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của trò
Chu trình là một quá trình khép kín, cho nên quá trình dạy - tự học - một tậphợp các chu trình - dạy - tự học - có thể xem là quá trình người dạy hướng
Trang 23dẫn, tổ chức cho người học "tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh", tự chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình
Quá trình dạy - tự học cũng là quá trình dạy cộng hưởng với tự học , dạy học vừa sức tự phát triển vươn lên của người học, tạo ra chất lượng, hiệu quả giáo dục cao
Đó là một cuộc "hành trình nội tại" phát triển ở mỗi người học năng lực và thói quen tự học suốt đời "để biết ", "để làm", "để cùng chung sống" và "để
tự khẳng định mình"
- Dưới tác động của thầy, hoạt động tự học của trò được tiến hành theo
quy trình 3 thời nhằm đạt mục tiêu giáo dục như sau:
Bảng 1.1 Quy trình dạy - tự học
Thời Hoạt động dạy - tự học của thầy Hoạt động tự học của trò Tri thức -
Sản phẩm khoa học
Thời 1 Hướng dẫn - đạo diễn Nghiên cứu cá nhân Sản phẩm
Thầy hướng dẫn trò về các tình Theo hướng dẫn của thầy, HS giáo dục huống học, các vấn đề cần giải tự đặt mình vào vị trí của ban đầu
quyết, các nhiệm vụ phải thực người tự nghiên cứu theo - Mang tính
hiện bằng cách: trình tự các thao tác sau: cá nhân
1 Giới thiệu vấn đề (mục tiêu, ý 1 Nhận biết, phát hiện vấn đề - Có thể có nghĩa, định hướng) 2.Định hướng giải quyết vấn sai sót
2 Hướng dẫn cách thu nhận đề
3 Hướng dẫn cách xử lí thông tin 4 Xử lí thông tin
4 Hướng dẫn cách giải quyết vấn 5 Xây dựng các giải pháp
5 Tạo điều kiện thuận lợi cho trò 6 Thử nghiệm các giải pháp,
7 Đưa ra kết luận
8 Ghi lại kết quả cùng cách nghiên cứu
Trang 24Thời 2 Tổ chức - trọng tài Hợp tác với bạn, học bạn Sản phẩm
Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện HS phải tương tác với bạn, học
mình và hợp tác với các bạn, với tích cực, chủ động tự mình thể - Mang tính thầy
để tìm ra kiến thức, chân lí hiện theo các trình tự thao tác hợp tác xã
Ở thời này, thầy là người đạo sau (không thụ động nghe bạn hội, khách
1 Tổ chức trao đổi trò - trò, trò - 1 Tự trình bày, giới thiệu, sản phẩm
2 Hướng dẫn trò trình bày bảo vệ mình
3 Điều khiển cuộc tranh luận của trước chủ kiến của bạn
trò theo đúng mục tiêu 3 Tự ghi lại ý kiến của các 4
Kết luận cuộc tranh luận bạn theo nhận thức của mình
Thời 3 Cố vấn Hợp tác với thầy, học thầy, Tri thức
tự kiểm tra, tự điều chỉnh khoa học
Từ chỗ đưa ra kết luận để khẳng Trong lúc học thầy, HS cũng mới
định về mặt khoa học kiến thức không thụ động nghe thầy kết do
người học tự tìm ra, thầy trở luận mà tích cực học thầy thành người
cố vấn, kiểm tra, bằng hành động của chính đánh giá kết quả tự học
của trò mình theo trình tự các thao tác
trên cơ sở trò tự đánh giá, tự điều sau đây:
1 Hướng dẫn trò tự kiểm tra, tự giải quyết vấn đề theo sự
đánh giá, tự kết luận hướng dẫn của thầy
2 Cung cấp thông tin liên hệ 2 Chủ động hỏi thầy về
Trang 25Như vậy, rõ ràng quá trình tự học của HS trong nhà trường không thể thiếu vai trò hướng dẫn, tổ chức, cố vấn của người thầy Và luôn có sự kết hợp hữu cơ giữa quy trình dạy - tự học của thầy với quy trình tự học của trò qua từng thời để cho người học tự mình chiếm lĩnh tri thức
Xem xét quy trình 3 thời chúng ta thấy: thời nào cũng có vai trò và hoạt động của thầy và trò Song ở thời 1 nổi lên vai trò lao động cá nhân của HS với kết quả là sản phẩm ban đầu; ở thời 2 là vai trò của cộng đồng các chủ thể - lớp học;
ở thời 3 nổi bật vai trò của thầy với những kết luận khoa học tạo điều kiện cho
cá nhân HS tự đánh giá, điều chỉnh Quy trình trên cũng cho thấy rõ một điều:
cả 3 thời đều diễn ra hành động học, tự học tích cực, chủ động của chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV Có thể cho rằng, thời 2 và 3 là sự tiếp tục lao động cá nhân ở thời 1 dưới hình thức lao động khác là lao
động hợp tác với bạn và thầy để tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu thành một sản phẩm khoa học, tiến bộ hơn
1.1.4 Các biểu hiện của năng lực tự học của học sinh
Năng lực tự học của học sinh là khả năng độc lập thực hiện hoạt động học tập, nghiên cứu, đồng hóa các tri thức học tập từ môi trường thành của chính mình với chất lượng cao Các biểu hiện năng lực tự học của học sinh bao gồm:
a Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi học sinh phải quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, khái quát hóa các tài liệu, kiến thức, suy xét từ nhiều góc độ, có
hệ thống trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm cá nhân; phát hiện ra các khó khăn, thách thức, mâu thuẫn, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, cần bổ sung và phát hiện các bế tắc, nghịch lí cần khai thông, làm sáng tỏ, Trong dạy học, năng lực nhận biết và phát hiện vấn đề thường gắn với những tình huống cóvấn đề Trên nền tảng kiến thức, kĩ năng đã có, học sinh nhận biết mâu thuẫn giữa cái cũ và cái mới và có nhu cầu tìm tòi, giải quyết mâu thuẫn đó để tìm ra tri thức mới
Trang 26Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này tạo cho học sinh thói quen hoạt
động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọi nơi, mọi lúc, mọi trường hợp và nhiều đối tượng khác nhau
b Năng lực giải quyết vấn đề
Hoạt động học tập được tiến hành trong những tình huống giáo dục hoặc học tập, cần được kế hoạch hóa trong chương trình, trong đơn vị dạy học ứng với mục tiêu xác định Việc giải quyết vấn đề không phải giải quyết từng bài tập lẻ tẻ, mà tiến hành giải quyết những tình huống học tập ứng với mục tiêu xác định, một hệ thống kỹ năng, thái độ rõ ràng Mỗi quá trình giải quyết vấn
đề đều sử dụng những thao tác trí tuệ và hướng đến những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đều có thể chia được thành những mục tiêu thành phần Giải quyết vấn đề chính là quá trình thực hiện các thao tác
trí tuệ để chiếm lĩnh những mục tiêu thành phần và từ đó chiếm lĩnh mục tiêu cuối cùng
Theo John Dewey, giải quyết vấn đề có thể chia thành 5 bước:
Bước 1: Tìm hiểu vấn đề Bước
2: Xác định vấn đề
Bước 3: Đưa ra những giả thuyết khác nhau để giải quyết vấn đề
Bước 4: Xem xét hệ quả của từng giả thuyết dưới ánh sáng của kinh nghiệm trước đây
Bước 5: Thử nghiệm giải pháp thích hợp nhất
c Năng lực tư duy quyết định đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp ) từ quá trình phát hiện vấn đề và quá trình giải quyết vấn đề
Quyết định bắt nguồn ở vấn đề, có vấn đề mới cần đến quyết định Giải quyết vấn đề là mục đích, nhưng giải quyết vấn đề đến mức độ nào lại là vấn đềmục tiêu Do đó bước thứ hai của tư duy quyết định đúng là xác định một mục tiêu thích hợp Xác định mục tiêu để giải quyết vấn đề xong thì vạch phương
án ra quyết định thích hợp, cần phải có nhiều phương án giải quyết để lựa chọn Đây là năng lực quan trọng cần cho học sinh đạt đến những kết luận
Trang 27đúng của quá trình giải quyết vấn đề Nănglực đó bao gồm các kĩ năng khẳng
định hay bác bỏ giả thuyết, kĩ năng lựa chọn, hình thành kết quả và đề xuất vấn
đề mới hoặc áp dụng
d Năng lực vận dụng phương pháp tư duy biện chứng, tư duy logic vào việc phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề và quyết định đúng, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Quá trình học tập của học sinh là quá trình rèn luyện tư duy biện chứng trong phát hiện vấn đề (phát hiện mâu thuẫn, các mối quan hệ, đưa ra những con đường khác nhau để đi đến mục tiêu ), vận dụng tư duy logic trong việc giải quyết vấn đề (như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa, cụ
thể hóa, đặc biệt hóa, suy luận )
e Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của học sinh đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích, bắt buộc học sinh đánh giá và tự đánh giá Chỉ có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi, sáng tạo cái mới, cái hợp lý, cái có hiệu quả cao hơn
Theo tác giả Vũ Quốc Chung, [7] thì: Sự đánh giá trong thang nhận thức
có thể hiểu là: người học ra những quyết định hay đưa ra những nhận định, kết luận, phán xét, lựa chọn, liên quan tới tính chính xác, tính chân lý, sự xác đángđúng đắn, tính tương hợp, sự mong muốn phù hợp với những tiêu chuẩn, với những ý tưởng, với những mục tiêu đã được chuẩn hóa nhằm đáp ứng mục đích của vấn đề đang được đặt ra Một đề thi, một đề kiểm tra cũng nhằm đánh giá và
đo đếm mức thang nhận thức của thí sinh Chuẩn mực của các đề thi và đề kiểmtra là đáp án của đề thi hoặc đề kiểm tra đó Công cụ để đánh giá các mức thang nhận thức là biểu điểm, thang điểm, là đánh giá nhận xét của người chấm Mỗi một chương mục trong giáo trình có rất nhiều kiến thức (câu hỏi và bài tập) được đưa ra để đánh giá và đo đếm mức độ nắm vững các kiến thức trong chương mục đó Các dạng câu hỏi và bài tập có thể yêu cầu người học phải hiểu, phải ngoại suy, phải phân tích, phải tổng hợp, phải
Trang 28ứng dụng Nếu người học trả lời đúng các câu hỏi và giải được các bài tập của
chương mục đó có nghĩa rằng người học đã đưa ra được những quyết định, phán xét, lựa chọn, gải pháp, đúng đắn, phù hợp và đã nắm vững chương mục đó
1.1.5 Những năng lực cần thiết của người tự học môn Ngữ văn
Để tự học môn Ngữ văn đạt hiệu quả, bên cạnh những năng lực chung, người học cần phải có những năng lực chuyên biệt Có ba loại năng lực văn chương tương ứng với ba hình thức hoạt động khác nhau về văn bản: loại năng lựcsáng tác văn, loại năng lực nghiên cứu phê bình văn học và loại năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học Trong nhà trường phổ thông, năng lực cần thiết nhất là năng lực tiếp nhận tác phẩm văn học và năng lực sáng tạo văn học, cụ
thể là:
- Năng lực tiếp nhận văn học:
+ Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn học
+ Năng lực tái hiện hình tượng
+ Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học
+ Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm trong chỉnh thể của nó
+ Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận
+ Năng lực cảm xúc thẩm mĩ
+ Năng lực tự nhận thức
+ Năng lực đánh giá
- Năng lực sáng tạo văn học
+ Niềm say mê văn học
+ Năng lực phát triển về cảm xúc nhân văn và thẩm mĩ
+ Năng lực tưởng tượng sáng tạo
+ Năng lực khái quát hóa bằng hình tượng là một đặc trưng tư duy sáng tạo văn học nghệ thuật
+ Năng lực sáng tạo ngôn từ
Trang 291.6 Vai trò và ý nghĩa của tự học
Tự học là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh:
đã khẳng định "Trong cách học, phải lấy tự học làm cốt " Vì vậy tự học được xác
định là nút "bấm" mà nhấn vào đó bộ máy giáo dục sẽ hoạt động hết sức thuận lợi và chất lượng giáo dục sẽ tăng lên nhanh chóng
Tự học là con đường chủ yếu để học sinh tự nâng cao trình độ, khả nănglàm việc độc lập, sáng tạo, chủ động và khả năng thích ứng với các điều kiện biến đổi của thực tiễn Xuất phát từ mục tiêu xây dựng một "Xã hội học tập", hay khẩu hiệu "Học tập là nhiệm vụ suốt đời", "Ai cũng biết học một cách thông minh" thì tự học chính là con đường, là điều kiện để thực hiện mục tiêu đó Tự học chính là mảnh đất gieo mầm và nuôi dưỡng khả năng làm việc độc lập, sáng tạo, chủ động và khả năng thích ứng với sự thay đổi của
thực tiễn
Tự học tạo nền tảng xuất hiện các nhà khoa học Tự học tạo điều kiện đểphát hiện vấn đề cần giải quyết, từ đó xuất hiện đề tài nghiên cứu Tự học tạo điều kiện để phát hiện vấn đề cần giải quyết, từ đó xuất hiện đề tài nghiên cứu Tự học là bước khởi đầu cho quá trình nghiên cứu khoa học Có tự học mới có nghiên cứu khoa học để phát hiện ra tri thức mới Các nhà khoa học đều đi lên
từ tự học Vậy quá trình tự học chính là bước tập dượt, làm quen và tiếp xúc với nghiên cứu khoa học Tự học là mảnh đất gieo mầm và nuôi dưỡng các nhà khoa học
Tự học đã và đang trở thành chiếc "chìa khoá vàng" mở cánh cửa thôngtin hiện nay Bất cứ một nền giáo dục tiên tiến nào cũng đề cao năng lực cá nhân, coi trọng vấn đề tự học, tự mình giáo dục, tự mình phát triển Tự học là con đường tự khẳng định, con đường đi đến thành công của mỗi con người
Tự học còn là con đường thử thách rèn luyện và hình thành ý chí cao đẹp của mỗi con người trên con đường lập nghiệp Con người luôn luôn phải tự học để nâng cao học vấn Vì tự học chính là một biểu hiện rõ nét của
Trang 30chí lớn lập nghiệp để hoà nhập với cộng đồng của mỗi con người
Như vậy, có thể khẳng định rằng: nếu xây dựng được phương pháp tự học,đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học
1.2 Truyện ngắn và năng lực tự học truyện ngắn
1.2 1 Thể loại truyện ngắn hiện đại và nét riêng của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
1.2.1.1 Thể loại truyện ngắn hiện đại
Truyện ngắn hiện đại là kiểu tư duy nghệ thuật mới, một phong cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại với đặc điểm loại hình riêng biệt Truyện ngắn hiện đại xuất hiện tương đối muộn trong lịch
- Về dung lượng: truyện ngắn thường có dung lượng nhỏ Nhà văn chỉ cắt lấy một lát,"cưa lấy một khúc", nắm lấy một khoảnh khắc đời sống để xây dựng nên tác phẩm của mình Trong truyện ngắn, nhà văn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người, rồi cô đúc lại trong một thời gian và không gian hạn chế Vì thế, truyện ngắn ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, chồng chéo ; nhân vật chỉ là một mảnh nhỏ của thế giới Nhưng không vì thế mà truyện ngắn không tái hiện cái rộng lớn của đời sống, của thân phận con người Ngược lại, đúng như Nguyễn Minh Châu viết: "Tôi thường hình dung thể loại truyện ngắn như mặt cắt giữa một thân cây cổ thụ: Chỉ liếc qua những đường
Trang 31vân trên cái khoanh gỗ tròn, dù sau trăm năm vẫn thấy cả cuộc đời của thảo
mộc" (Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002, tr.332) Hay như nhà văn J Rudrin đã lên tiếng: "Người ta đã nhầm lẫn khi tưởng rằng truyện ngắn là cuốn tiểu thuyết đẽo gầy và bào mỏng đi - tưởng như nhồi nhét một thiên anh hùng ca vào một bài "son-nê" Truyện ngắn là "Cái lớn lao được chứađựng trong cái nhỏ bé" (Baroche) Xét cho cùng, truyện ngắn hiện đại ít nhiều
có những đặc tính của tư duy tiểu thuyết ở sự tiếp cận cái thực tại đương thành (M.Bakhtin gọi tiểu thuyết là thể loại chia theo thì hiện tại chưa hoàn thành), vai trò của hư cấu tự do của nhà văn, thể hiện kinh nghiệm sống trực tiếp của tác giả
- Về kết cấu: Truyện ngắn hiện đại không nhiều tầng nhiều tuyến và thường không theo trật tự tự nhiên của sự kiện Nhà văn thường bắt đầu ở giữa hay ở đoạn cuối câu chuyện, sử dụng lối hồi thuật, hồi tưởng, vận dụng các hình thức ghép nối tạo hiệu quả đối sánh và thường dựng truyện theo kiểu tương phản hoặc liên tưởng
- Truyện ngắn hiện đại còn có xu hướng tổng hợp, đan xen, xâm nhập về mặt loại hình giữa các thể loại (đan xen kịch, tiểu thuyết hoặc thơ) Sự đan xen, xâm nhập như thế sẽ tạo nên các dạng truyện khác nhau: truyện giàu kịch tính, truyện giàu tính trữ tình, truyện ngắn giàu chất tiểu thuyết (gồm nhiều tình huống, bao quát cả cuộc đời và số phận nhân vật) Bút pháp thường là chấm phá, chi tiết được chưng cất cô đặc lại theo lối hành văn có nhiều ẩn ý , tạo cho tácphẩm những chiều sâu chưa nói hết, khiến người đọc cảm giác truyện không có đáy
- Về hình tượng tác giả: Ở truyện ngắn hiện đại, hình tượng tác giả thường xuất hiện gián tiếp đóng vai trò người trần thuật, kể chuyện, dẫn
chuyện ở ngôi khác nhau trong tác phẩm, nhưng giúp người đọc hiểu tính hệ thống của văn bản văn học, mối quan hệ của văn bản với ý thức về vai trò xã hội vàvăn học của bản thân văn học Đồng thời, qua hình tượng tác giả, người đọc sẽ nắm bắt được phong cách nghệ thuật của nhà văn, giọng điệu trong lời
Trang 32văn nghệ thuật của tác giả Vì vậy, có người quan niệm hình tượng tác giả là
"hình tượng lời nói"
- Về thời gian của cốt truyện và thời gian trần thuật: Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có nhân vật người kể chuyện Câu chuyện kể trong một thời gian nhất định là thời gian của truyện ngắn mà ta thường gọi là thời gian nghệ thuật Còn chuyện được kể theo phương thức nào: theo trình tự thời gian, quay ngược lại thờigian, đan cài thời gian, gọi là thời gian trần thuật Nhà văn sử dụng thời gian trầnthuật để kết nối các sự kiện xảy ra trong các thời điểm khác nhau để chúng bộc
lộ ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm, giãi bày Như vậy thời gian của truyện không đồng nhất với thời gian trần thuật
- Về phương thức phân tích và diễn tả tâm lý nhân vật: Khác với nhân vật hành động, nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc đồng nhất bên ngoài và bên trong để biểu hiện tâm lý theo bút pháp gián tiếp (bút pháp ngoại hiện), ước lệ của văn học trung đại, văn học hiện đại bao gồm các thể truyện, kí dùng bút pháp trực tiếp (bút pháp tâm lí) để phân tích và diễn tả tâm lí nhân vật
Theo bút pháp trực tiếp, để diễn tả tâm lí nhân vật, các nhà văn hiện đại thường sử dụng ba phương thức trần thuật sau:
+ Phương thức trần thuật thứ nhất: người kể chuyện giấu mình, nhân vật làđối tượng được kể nên thuộc ngôi thứ ba (hắn, y, thị, nó, Hộ, Xuân Tóc Đỏ, )
+ Phương thức trần thuật thứ hai: nhân vật tự kể chuyện mình, xưng
"tôi", thuộc ngôi thứ nhất
+ Phương thức trần thuật thứ ba: người kể chuyện giấu mình, nhưng chuyển điểm nhìn trần thuật cho nhân vật, lời kể theo giọng điệu nhân vật thuộc ngôi thứ ba (lời nửa trực tiếp)
1.2 1.2 Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945 ra đời trong hoàn cảnh thực dân Pháp hoàn thành việc xâm lược, đẩy mạnh khai thác thuộc địa, đàn áp các phong trào khởi nghĩa Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, lãnh đạo
Trang 33Cách mạng giải phóng dân tộc tới thắng lợi, khai sinh nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà Bên cạnh đó, xã hội Việt Nam có sự chuyển biến sâu sắc: từ xã hội phong kiến lạc hậu chuyển thành xã hội thực dân nửa phong kiến với các giai cấp, tầng lớp mới ra đời (tư sản, tiểu tư sản, công nhân, dân nghèo thành thị) hình thành một lớp công chúng - bạn đọc mới với thị hiếu mới và những đòi hỏi văn chương mới Trong khi đó văn hóa Việt Nam lúc này dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hoá Hán, tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây Đây là thời kì mưa Âu gió Mĩ, Á Âu xáo trộn, cũ mới xen nhau Bên cạnh đó, sự ra đời
và phát triển mạnh mẽ sâu rộng với phong trào truyền bá chữ quốc ngữ, tạo điềukiện cho công chúng tiếp xúc với sách báo Nhu cầu của lớp công chúng mới đãlàm nảy sinh hoạt động kinh doanh văn hóa, làm cho nghề in, nghề xuất bản nghề làm báo ,viết văn phát triển
Những tiền đề đó đã tạo đà thuận lợi để văn học tạo ra một một bước tiếnvượt bậc với một tốc độ nhanh chóng, mau lẹ khác thường " Ở nước ta, một năm
đã có thể kể như ba mươi năm của người "(Vũ Ngọc Phan) Đây cũng là thời kì văn học Việt Nam bước vào quá trình hiện đại hóa Hoạt động hiện đại hoá diễn
ra sôi nổi mạnh mẽ, toàn diện trên mọi mặt hoạt động văn học, làm biến đổi toàn diện, sâu sắc diện mạo của nền văn học Đến giai đoạn này, Văn học Việt Nam đã thực sự hiện đại, có sự hội nhập vào nền Văn học thế giới Tuy hình thành hai bộ phận và phân hoá thành nhiều xu hướng khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau cùng phát triển vì vậy giai đoạn này đạt nhiều thành tựu rực rỡ
Thành tựu phong phú và vững chắc của văn xuôi đầu thế kỉ XX đến hết cách mạng tháng Tám 1945 là truyện ngắn với hàng loạt phong cách độc đáo, nối tiếp nhau đẩy thể loại này đạt đến trình độ nghệ thuật cao Với những phong cách ấy, một số truyện ngắn Việt Nam thời kì này không đến nỗi xa cách với những thành tựu truyện ngắn xuất sắc trên thế giới
Từ những truyện ngắn hiện đại buổi đầu của Phạm Duy Tốn và Nguyễn Bá Học đến khoảng những năm 1930-1945, truyện ngắn phát triển mạnh mẽ,
Trang 34liên tục Mở đầu là lối truyện ngắn trào phúng rất ngắn và rất vui của Nguyễn
Công Hoan Tiếp đó là những truyện "không có truyện" với những trang viết tinh tế, đậm chất thơ của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, rồi đến những truyện ngắn của Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân, đã làm sống lại những phong tụccủa người dân quê qua con mắt quan sát sắc sảo, hóm hỉnh Những truyện truyện của Nam Cao mang tư tưởng sâu sắc, có ý nghĩa khái quát rộng lớn, phân tích tâm lí tinh tế, chính xác, khắc họa nhân vật sinh động, góc cạnh, dựng truyện linh hoạt, giọng văn biến hóa, ngôn ngữ có sức diễn tả phong phú
1.2.2 Năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
Năng lực tự học truyện ngắn: là khả năng thực hiện có kết quả một hay một nhóm hành động tự học truyện ngắn bằng cách vận dụng những tri t hứ c ,
nh ữ ng k i nh n ghi ệ m đ ã có để hà nh đ ộn g ph ù hợp v ới nh ữ ng đi ề u ki ệ n ch o p h é p
Tự học truyện ngắn thực chất là quá trình HS tự đọc - hiểu tác phẩm truyện ngắn Quá trình này trong nhà trường phổ thông hiện nay được HS tiến hành ở cả 3 khâu: trước khi lên lớp, trong khi lên lớp và sau khi lên lớp
- Trước khi lên lớp, HS phải chuẩn bị bài ở nhà bằng việc soạn bài theo
câu hỏi hướng dẫn học bài trong SGK hoặc theo hướng dẫn của GV Ở khâu này, HS phải tự mình phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, phân tích, cắt nghĩa vàđánh giá văn bản truyện được học để đề ra cách giải quyết vấn đề Hoạt động này của người học tương ứng với giai đoạn 1: Tự nghiên cứu trong chu trình tự học Sản phẩm của hoạt động tự học này là bài soạn được ghi lại trong vở Soạn
văn, Phiếu học tập hoặc dưới những hình thức khác gọi là sản phẩm ban đầu
- Trong khi lên lớp, dưới sự điều khiển của thầy, HS trình bày, trao đổi,
chia sẻ kết quả đọc - hiểu của mình với bạn, với thầy Trong quá trình hợp tác này, HS vừa bảo vệ chủ kiến, vừa lắng nghe, tiếp thu, vừa bổ sung, chỉnh sửa nhằm hoàn thiện hơn kết quả đọc - hiểu ban đầu Sau khi nghe kết luận của thầy, HS tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành sản phẩm khoa học
Trang 35Hoạt động tự học của HS ở khâu này tương ứng với giai đoạn 2, 3 của chu
trình tự học
- Sau khi lên lớp, HS ôn lại bài đã học bằng việc trả lời câu hỏi hoặc giải
bài tập ứng dụng để vừa củng cố kiến thức vừa rèn kĩ năng Mặt khác, HS có thể
mở rộng kiến thức bằng việc tự đọc những tác phẩm cùng loại hoặc gần gũi Và như thế, hoạt động tự học lại tiếp diễn nhưng lúc này, kĩ năng tự học đã trở nên thành thạo hơn, từ đó, năng lực tự học của người học ngày càng
được trau dồi thêm Để tự học truyện ngắn, HS cần có các năng lực sau:
- Năng lực tự nghiên cứu
Theo hướng dẫn của thầy, HS tự đặt mình vào vị trí của người tự nghiên cứu, tự tiến hành khám phá tìm ra các kiến thức mới hoặc các giải pháp bằng cách tự lực suy nghĩ, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề thầy đặt ra cho mình theo trình tự các thao tác sau:
1 Nhận biết, phát hiện vấn đề
2 Định hướng giải quyết vấn đề
3 Thu thập thông tin
4 Xử lí thông tin
5 Xây dựng các giải pháp giải quyết 6
Thử nghiệm các giải pháp, kết quả
7 Đưa ra kết luận
8 Ghi lại kết quả cùng cách nghiên cứu
- Năng lực tự thể hiện:
HS tương tác với bạn thông qua hình thức trao đổi cá nhân, thảo luận nhóm
- lớp, các hoạt động tập thểDù ở hình thức nào, người học cũng phải tích cực, chủ động tự mình thể hiện theo các trình tự thao tác sau (không thụ động
nghe bạn nói, nhìn bạn làm):
1 Tự trình bày, giới thiệu, bảo vệ sản phẩm ban đầu của mình
2 Tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn
3 Tự ghi lại ý kiến của các bạn theo nhận thức của mình
Trang 364 Khai thác những gì đã hợp tác với bạn, bổ sung, điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm tiến bộ hơn
- Năng lực tự kiểm tra, tự đánh giá
Thầy là người trọng tài kết luận về những gì cá nhân và tập thể lớp đã tìm ra thành bài học khoa học Trong lúc học thầy, HS cũng không thụ động nghe thầy kết luận mà tích cực học thầy bằng hành động của chính mình theo trình tự các thao tác sau đây:
1 Tự lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy
2 Chủ động hỏi thầy về những gì mình còn thắc mắc
3 Tự ghi lại chính xác ý kiến kết luận của thầy
4 Học cách phân tích, tổng hợp các ý kiến khác nhau của thầy, cách ứng
xử của thầy trước những tình huống gây cấn nổi lên trong quá trình hoạt động tập thể
5 Dựa vào kết luận của thầy, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình thành sản phẩm khoa học
1.3 Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh THPT
Tâm lí học lứa tuổi chia các giai đoạn phát triển tâm lí của HS ra làm ba thời kì Mỗi thời kì phát triển có những nét đặc trưng riêng
Thời kì nhi đồng: từ 6 - 11, 12 tuổi
Thời kì thiếu niên: từ 11, 12 - 14, 15 tuổi
Thời kì đầu tuổi thanh niên: từ 14, 15 - 17, 18 tuổi
Theo sự phân chia đó, HS THPT ở vào độ tuổi đầu thanh niên
Về sinh lý: tuổi thanh niên là thời kì đạt được sự tăng trưởng về mặt thể lực Về tâm lý: do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển, cùng với sự phát triển của quá trình nhận thức và ảnh hưởng của hoạt động học tập, HS THPT đã đạt được sự phát triển trí tuệ và nhân cách tương đối cao
Trang 37Sự phát triển trí tuệ:
Trong thời kì này năng lực trí tuệ của các em đã phát triển cao Người học có sự thay đổi về tư duy như: có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, chặt chẽ có căn cứ và mang tính nhất quán Khả năng tư duy của các em cũng trở nên sâu sắc và rộng mở, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn hơn, có tiến bộ hơn Những sự phát triển nói trên cùng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo khả năng cho HS biết cáchlĩnh hội một cách tối ưu, mà đó là cơ sở của toàn bộ quá trình học tập
- Sự phát triển nhân cách:
Điều đáng nói nhất trong sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này là sự phát triển của tự ý thức Các em nhận thức được địa vị mới mẻ của bản thân trong tập thể Những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc các em phải ý thức được đặc điểm nhân cách của mình Không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại mà người tuổi đầu thanh niên còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, tương lai Ở lứa tuổi này, các em có khả năng đánh giá những cử chỉ,hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính riêng biệt; biết đánh giá nhân cách của mình nói chung trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách
Cùng với sự phát triển của tự ý thức là sự hình thành thế giới quan ở các em.Chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sự phát triển của hứng thú nhậnthức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, của xã hội Việc hình thành thế giới quan của các
em không chỉ giới hạn ở tính tích cực nhận thức, mà còn thể hiện ở phạm vi nội dung
Trong lĩnh vực giao tiếp và đời sống tình cảm, tuổi thanh niên mới lớn là lứa tuổi mang tính chất tập thể nhất Ở lứa tuổi này, các em có khuynh hướng làm bạn với bạn bè cùng tuổi Các em giao tiếp trong nhóm bạn và tham gia vào nhiều nhóm bạn khác nhau
Trang 38Những đặc điểm về tâm lí, nhận thức trên của HS THPT góp phần định hướng cho nhà trường, GV trong công tác giáo dục, dạy học Một mặt, người
GV cần giúp các em phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của mình, nhìn nhận và đánh giá các vấn đề một cách khách quan; mặt khác, GV cũng cần phảitôn trọng ý kiến của học sinh, biết lắng nghe ý kiến của các em, đồng thời có biệnpháp khéo léo để các em hình thành được một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình Bên cạnh đó, GV cũng cần chú ý đến ảnh hưởng của nhóm, tổ chức cho các nhóm HS tham gia vào các hoạt động tập thể Từ đó, xây dựng thếgiới quan lành mạnh, đúng đắn cho các em
Riêng với học sinh lớp 11, các em đã phát triển khá hoàn thiện về thể chất và phẩm chất, lại đứng trước ngưỡng cửa của các kì thi quan trọng quyết định bước ngoặt cho tương lai của mình,cho nên đã có ý thức tự giác, kĩ năng tự học, quyết tâm đạt mục tiêu đề ra Đó là những tiền đề thuận lợi cho việc phát triển năng lực tự học truyện ngắn Việt Nam Tuy nhiên một số học sinh nghiêng
về các môn tự nhiên , ngại học Văn, lười suy nghĩ, thiếu cảm xúcđó là một thử thách không nhỏ đối với việc phát triển năng lực tự học truyện
ngắn, đòi hỏi người giáo viên phải khơi gợi được hứng thú tự học ở học sinh 1.4 Chương trình truyện ngắn Việt Nam trong SGK lớp 11 và thực trạng dạy - tự học truyện ngắn ở THPT
Trang 39Bảng 1.2 Chương trình truyện ngắn Việt Nam lớp 11
STT Bài học Năm sáng tác Số tiết Chương trình học
72 tiết của chương trình học kì 1 lớp 11 (với SGK cơ bản), và 13 tiết đối với SGK nâng cao
- Những truyện được học trong chương trình đều là những truyện (đoạn trích) hay, tiêu biểu cho đời văn của tác giả và giai đoạn văn học, phù hợp với khả năng nhận thức của HS THPT
- Yêu cầu kiến thức, kĩ năng: hiểu được một số đặc điểm cơ bản của thể loại truyện ngắn, khám phá và lĩnh hội được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của từng truyện; đồng thời rèn luyện một số kĩ năng đọc - hiểu truyện ngắn theo đặc trưng thể loại; từ đó biết trân trọng, bảo tồn những thành tựu văn học và giá trị văn hóa, thẩm mĩ
Trang 401.4.2 Thực trạng việc bồi dưỡng năng lực tự học truyện ngắn cho học
s i nh TH P T
Để nghiên cứu cụ thể thực trạng tự học của HS và thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học truyện ngắn cho HS THPT của GV, chúng tôi đã tiến hành điềutra 120 HS khối 11 và 20 GV ở các trường : THPT Lê Quý Đôn - Thành phố Thái Bình, THPT Nguyễn Trãi - Vũ Thư - Thái Bình, THPT Phan Đình Phùng
- Hà Nội Đây là 3 trường THPT thuộc các địa bàn khác nhau: THPT Nguyễn Trãi là trường vùng nông thôn hệ công lập của tỉnh Thái Bình, THPT Phan Đình Phùng là trường hệ công lập của thành phố Hà Nội, THPT Lê Quý Đôn là
trường thuộc khu vực thành phố Thái Bình Các vấn đề cơ bản được chúng tôi quan tâm điều tra là: Nhận thức của HS về tác dụng của tự học; những năng lực
tự học HS đã được rèn luyện ; vai trò của GV trong việc hình
thành và phát triển năng lực tự học cho HS THPT; thực trạng việc rèn năng lực
tự học truyện ngắn cho HS THPT của GV hiện nay Kết quả điều tra thu
được như sau:
1 Giúp hiểu sâu bài học 82 68,3 27 22,5 11 9,2
2 Giúp mở rộng và nâng cao