Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài "Hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS" với mongmuốn góp phần nâng cao chất lư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ HỒNG DUYÊN
HỆ THỐNG BÀI TẬP LUYỆN VIẾT ĐOẠN VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Ninh
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới PGS TS Nguyễn Quang Ninh - người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng các Thầy, Cô giáo và cán bộ các Phòng - Ban Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia
Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Trung học cơ sở Việt - Úc Hà Nội (Hà Nội), trường Trung học cơ sở Đoàn Thị Điểm (Hà Nội) và trường Trung học cơ sở Yên Phụ (Bắc Ninh) cùng các bạn bè, đồng nghiệp, người thân và học sinh đã dành cho tôi sự chia sẻ quý báu trong quá trình hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thị Hồng Duyên
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ v.i MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP LUYỆN VIẾT ĐOẠN VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.0 1.1 Cơ sở lý luận 1.0 1.1.1 Chứng minh và lập luận chứng minh 1.0 1.1.2 Đoạn văn và đoạn văn lập luận chứng minh 1.7 1.2 Cơ sở thực tiễn 2.4 1.2.1 Bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở 2.4 1.2.2 Thực trạng dạy học luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh ở trường Trung học cơ sở 2.8 Tiểu kết Chương 1 3.4 Chương 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP LUYỆN VIẾT ĐOẠN VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 3.5 2.1 Những nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh Trung học cơ sở 35
2.1.1 Khái niệm hệ thống bài tập 35 2.1.2 Những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng hệ thống bài tập 3.7 2.2 Hệ thống bài tập luyện kĩ năng lập luận chứng minh trong đoạn
văn nghị luận cho học sinh Trung học cơ sở 3.9 2.2.1 Bài tập nhận diện 4.0 2.2.2 Bài tập dựng đoạn 5.4 2.2.3 Bài tập chữa lỗi 6.3
Trang 6Tiểu kết Chương 2 7.9
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 8.0 3.1 Mục đích thực nghiệm 8.0 3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 8.0 3.3 Kế hoạch thực nghiệm 8.1 3.4 Nội dung thực nghiệm 8.2 3.4.1 Thiết kế giáo án 8.2 3.4.2 Tổ chức thực nghiệm 9.6 3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 9.6
Tiểu kết Chương 3 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Khuyến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 106
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1: Thời lượng dành cho các phép lập luận trong chương trình
Ngữ văn THCS 2.6 Bảng 1.2: Hệ thống các bài về phép lập luận chứng minh trong
chương trình Ngữ văn THCS 26 Bảng 1.3: Hệ thống các bài về đoạn văn nghị luận trong chương trình
Ngữ văn THCS 2.7 Bảng 1.4: Sự phân bố các dạng bài tập viết đoạn văn trong các bài
liên quan đến lập luận chứng minh chương trình Ngữ văn THCS 27 Bảng 1.5: Tổng hợp điều tra giáo viên 2.9 Bảng 1.6: Tổng hợp điều tra học sinh 3.1 Bảng 1.7: Tổng hợp khảo sát lỗi lập luận của học sinh 32 Bảng 3.1: Thông tin lớp thực nghiệm và đối chứng 81 Bảng 3.2: So sánh kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và đối chứng 98
Trang 8DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, MÔ HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổng quát hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập
luận chứng minh cho học sinh THCS 0 4
Mô hình 2.1: Mô hình các kiểu đoạn văn thường gặp trong văn nghị luận 4.6 Biểu đồ 3.1 Kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 9 9
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu, cũng là một trong những kiểu văn bản quan trọng được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Tập làm văn nói chung và làm văn nghị luận nói riêng mang tính chất thực hành, tổng hợp rõ rệt, cái đích của nó không chỉ là giúp học sinh nắm vững các nội dung lý thuyết mà quan trọng hơn là rèn luyện và phát triển tư duy, nhận thức trừu tượng, lí tính, khoa học trước một vấn đề đặt ra trong đời sống Đây là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu trong giáo dục giúp học sinh có được một bản lĩnh sống đúng đắn, dám thể hiện quan điểm, chính kiến của mình, rèn cho học sinh phát huy được tiềm năng, cá tính sáng tạo của bảnthân trước những hiện tượng đặt ra trong văn học và cuộc sống
1.2 Mục đích của văn nghị luận là trình bày tư tưởng, tác động mạnh mẽ vào nhận thức lí tính và thuyết phục người đọc, người nghe Lập luận chính là một
phương tiện quan trọng để tạo nên tính thuyết phục của một bài văn nghị luận Trongcuộc sống cũng như trong làm văn nghị luận, lập luận chứng minh có ý nghĩa hết sức quan trọng Aristote từng nói: "Để thuyết phục cần phải chứng minh"[36, tr.221] Nhà giáo Văn Như Cương khi trả lời cho câu hỏi vì sao cần dạy chứng minh đã khẳngđịnh: "Đâu phải chỉ trong Toán học mới có chứng minh Muốn mọi người tin vào điều
ta nói, ta cần phải chứng minh ( ) Muốn vậy thì phải nói có sách, mách có chứng, không nói vu vơ, hàm hồ Học cách chứng minh tức là học cách lập luận cho chặt chẽ, cho có lí, học cách trình bày cho trong sáng, cho có tính thuyết phục."[Văn Như
Cương, dẫn từ Một góc nhìn của tri thức, Nhà xuất bản Trẻ, 2003] Do đó, rèn luyện
thao tác lập luận chứng minh là vô cùng cần thiết trong cuộc sống và trong làm văn nghị luận
1.3 Đoạn văn được xác định như một đơn vị cơ sở của văn bản Đoạn văn có thể được nghiên cứu dưới góc độ tĩnh: mô hình, cấu trúc, phân loại cũng có thể dưới góc độ động: quy trình xây dựng đoạn văn Trong quá trình dạy học làm văn nghị luận, việc rèn luyện kĩ năng lập luận chứng minh trong đoạn văn thông qua hệ thống bài tập là một một mắt xích không thể thiếu của quá trình dạy học Bởi lẽ, rèn luyện kĩ năng lập luận chứng minh trong đoạn văn sẽ là một bước cơ bản nhưng vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển kĩ năng lập luận trong
Trang 10bài văn nghị luận Chất lượng của một bài văn phụ thuộc rất nhiều vào khả năng
dựng đoạn của người viết Hơn nữa, đoạn văn còn đáp ứng được những yêu cầu khác
về sư phạm như gọn, dễ xây dựng và ít mất thời gian
1.4 Hiện nay, lập luận chứng minh đã được đưa vào trong chương trình giảngdạy từ lớp 7 và trở thành một thao tác lập luận khá quen thuộc với giáo viên và học sinh Nhưng để lập luận chứng minh trở thành một kĩ năng trong tư duy và phát huy được hiệu quả của nó thì giáo viên cần chú trọng hơn nữa trong việc rèn luyện kĩ năngnày trong bài văn nghị luận, mà trước hết là thông qua đơn vị cơ bản của văn bản là đoạnvăn Trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên chưa có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành, chưa đưa ra được những mẫu bài tập phong phú để rèn cho học sinh viết đoạn văn, từ đó tiến tới một yêu cầu lớn hơn là viết bài văn hoàn chỉnh Vì thế, xuất hiện tình trạng nhiều bài văn không có kết cấu rõ ràng, rành mạch, thiếu logic, mà một trong những nguyên nhân chính là kĩ năng viết đoạn văn chưa đượcluyện tập thành thục
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài "Hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS" với mongmuốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn nghị luận nói chung và thao tác lập luận chứng minh nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về lập luận chứng minh
Từ lâu, logic học đã quan tâm nghiên cứu về lập luận nói chung và lập luận chứng minh nói riêng Sự quan tâm này đã được đặt ra từ thời cổ đại trong logic hình thức của Aristote (thế kỉ IV, trước CN) và được nghiên cứu sâu hơn trong Logic hìnhthức ở các thời kì cận hiện đại và trong cả logic biện chứng Buổi đầu, lập luận được coi là lĩnh vực, phạm vi của thuật hùng biện - một dạng nghệ thuật nói năng Tiếp sau
đó, lập luận được trình bày trong các phép suy luận logic, trong nghệ thuật ngụy biện hay trong những cuộc nghị luận, tranh cãi ở tòa án
Cùng với sự phát triển của logic học, chứng minh cũng được đề cập tới qua nhiều công trình nghiên cứu Tiêu điểm trong tất cả các công trình logic học của Aristote mà sau này được gọi bằng tên chung là "Bộ công cụ" là suy luận và chứng minh diễn dịch Aristote từng khẳng định vai trò của chứng minh trong các công
Trang 11trình nghiên cứu của mình: "Để thuyết phục thì cần chứng minh." [36, tr.221] Sau
này, Ơcơlit (khoảng 322 -283 TCN) viết tác phẩm: "Những cơ sở của hình học" để tổng kết sự phát triển của toán học Hy Lạp ở ba thế kỉ trước, cũng ở đó phương phápchứng minh diễn dịch xây dựng lý thuyết khoa học đã thể hiện sức mạnh vô địch Bắtđầu từ thế kỉ XVI, logic học gắn bó hữu cơ với việc xây dựng logic học quy nạp qua các công trình của F.Bacon (1561 - 1626) Trong tác phẩm "Organon mới", ông đã bổ sung, phát triển suy luận quy nạp và coi đó là phương pháp khái quát các kết quả thựcnghiệm để phát minh ra các lý thuyết khoa học Cùng với F Bacơn, nhà triết học và logic học người Pháp - R Descartes (1590 - 1650) đã viết tác phẩm "Phương pháp luận" trong đó nhấn mạnh ý nghĩa, vai trò của chứng minh theo lối trực giác về tính rõ ràng, rành mạch, hiển nhiên của các lý thuyết khoa học Những tư tưởng trên về sau được J.S.Min (1806 - 1873) và R.Cacsnap (1891 - 1970) tiếp tục hoàn thiện và phát triển
Một xu hướng mới trong sự phát triển của logic hình thức là xu hướng toán học hóa các cách thức lập luận của tư duy, xu hướng này đã mở ra một thời kì phát triển rất phong phú của logic hình thức và được ứng dụng rộng rãi trong sự phát triển của công nghệ hiện đại Xu hướng này gắn liền với các tên tuổi như: G.Bool
(1815 - 1864), De Morgan (1806 - 1871), G.Freghe (1848 - 1925)
Ở Việt Nam, chứng minh với tư cách là một hình thức của tư duy hay quá trình sử dụng hình thức ấy cũng được đề cập đến trong các cuốn giáo trình của Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Như Hải, Nguyễn Anh Tuấn
Những nghiên cứu về chứng minh có bề dạy nhất định được chúng tôi coi là một trong những cơ sở quan trọng làm nền tảng trong quá trình thực hiện đề tài
Trong văn nghị luận, lập luận chứng minh chưa được nghiên cứu như một vấn
đề độc lập mà chủ yếu xuất hiện trong các công trình nghiên cứu về văn nghị luận nói chung Dưới thời kì Pháp thuộc (trước 1945), căn cứ vào những tài liệu và sách Làm văn của nhiều tác giả được sống và được học Làm văn thời thời kì này ("Việt Nam văn học sử yếu" của Dương Quảng Hàm, 1959; "Phương pháp làm văn nghị luận" của Thẩm Thệ Hà, Nhà xuất bản Sống Mới, Sài Gòn, 1959), văn nghị luận được đưa vào giảng dạydưới hai dạng là nghị luận xã hội - luân lí và văn học - văn chương Ở thời kì này, lí thuyết chưa được chú ý nhiều: "Trong giờ luận Pháp
Trang 12và Việt văn, các giáo sư chỉ cho đầu bài, có khi làm một dàn ý sơ lược rồi để mặc ta
thao túng" (Nguyễn Đăng Thư, "Nghị luận khái quát", 1953) Ở những năm 1950, Nghiêm Toản đã viết "Luận văn thị phạm", sau đó, hàng loạt các tác giả miền Nam (trước 1975) liên tiếp cho ra nhiều sách về văn nghị luận: Thẩm Thệ Hà, Phạm Việt Tuyển, Lê Thái Ất, Lữ Hồ, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Duy Nhường, Vũ Kí, Minh Văn, Xuân Tước Quan niệm và cách trình bày của các tác giả có khác nhau nhưng nhìn chung đều chia văn nghị luận thành hai loại lớn: nghị luận văn chương và nghị luận luân lí, trong đó, các tác giả miền Bắc có đề cập đến chứng minh như một kiểu bài tồn tại bêncạnh các kiểu bài khác (trần thuật, miêu tả, phát biểu cảm
nghĩ, tường thuật, kể chuyện, viết thư, đơn, từ, phân tích, giải thích, bình luận)
Ở miền Bắc trước cải cách giáo dục, các sách Làm văn chủ yếu tập trung xây dựng các cuốn dàn bài: "Dàn bài Tập làm văn 10" (tức lớp 12 sau cải cách giáo dục, biên soạn 1962), Dàn bài làm văn 8 Phổ thông (1971), "Dàn bài Tập làm văn 9" (1974), "Dàn bài Tập làm văn 10" (1974) Năm 1978, nhà xuất bản Giáo dục in cuốn
"Dạy Tập làm văn ở trường Phổ thông", 1980 phát hành tài liệu "Hướng dẫn giảng dạyTập làm văn PTTH" (tập 1) và năm 1982 (tập 2) của nhóm tác giả Nguyễn Lộc, Đỗ Quang Lưu, Tạ Phong Châu, Nguyễn Quốc Túy Cùng thời gian này, nhóm tác giả Nguyễn Hữu Tuyển và Nguyễn Gia Phong cho ra cuốn "Tập làm văn và ngữ pháp" (1981) Nhìn chung, các tài liệu trên đã chú ý tới thực hành các dạng bài cơ bản như giải thích, phân tích , trong đó có chứng minh Tuy nhiên, phần lớn dẫn chứng văn học đểminh họa cho một nhận định chính trị - xã hội Các kĩ năng được chú ý là: phân tích đề,lập dàn ý, diễn đạt, mở bài, kết bài nhưng chưa chú ý tới đặc thù đoạn văn theo từng dạng bài
Trong chương trình cải cách giáo dục, chứng minh đã được đưa vào từ lớp 8 bên cạnh các kiểu bài: giải thích, phân tích, bình luận, phân tích, bình luận, bình giảng Chương trình và sách giáo khoa Tập làm văn mới căn cứ vào phương thức biểuđạt để chia ra sáu kiểu văn bản và chứng minh không phải là một kiểu bài độc lập mà là một thao tác lập luận Theo quan niệm mới, không có một bài văn nào chỉ dùng một phương thức biểu đạt và một thao tác lập luận Bài văn hay là bài văn biết vận dụng tổnghợp nhiều phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận khác nhau Tất nhiên trong một bài văn bao giờ cũng có một phương thức biếu đạt chính, một
Trang 13vài thao tác lập luận đóng vai trò chủ đạo Các tác giả Trần Đình Sử, Đỗ Ngọc
Thống, Lê A đã thể hiện rõ quan điểm này trong một số công trình: "Làm văn",
"Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT"
Như vậy, quan niệm về chứng minh qua các giai đoạn là khác nhau: có thời kì coi đó là một kiểu bài; hiện nay, chứng minh lại được coi là một thao tác lập luận Dùquan niệm có khác nhau nhưng điểm chung là khẳng định tầm quan trọng của chứng minh Các tài liệu đã cũng đề cập đến chứng minh nhưng không phải dưới góc độ nghiên cứu độc lập mà nằm trong phần nghiên cứu chung về văn nghị luận Đặc biệt, bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cũng đã có nhưng không nhiều và chưa thành một hệ thống chuyên sâu Đây sẽ là những cơ sở quan trọng đồng thời cũng là điểm xuất phát cho chúng tôi khi thực hiện đề tài "Hệ thống
bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS."
2.2 Lịch sử nghiên cứu về đoạn văn
Đoạn văn là đơn vị cơ bản trong hệ thống ngôn ngữ và có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giao tiếp và tạo lập văn bản Chính vì vậy nó trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học, nhà sư phạm Trong những năm gần đây, khá nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đề cập đến đoạn văn ở nhiều góc độ khác nhau: khái niệm đoạn văn, cấu trúc đoạn văn, kĩ năng dựng đoạn và liên kết đoạn
Trước hết, ở góc độ đoạn văn nói chung đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến
Hà Thúc Hoan trong cuốn "Những vấn đề về Ngữ nghĩa Tiếng Việt" đã đề cậpđến đoạn văn ở góc độ "cấu trúc đoạn" Người viết đã đưa ra quan niệm của mình về
"cấu trúc đoạn" dựa trên năm mẫu cơ bản của đoạn văn Năm mẫu cơ bản này tạo nên bởicấu tạo của đôi câu liên kết (đôi câu liên kết với nhau bằng nội dung quan hệ hoặc là dùng phép liên kết) Những mẫu cấu trúc nói trên tuy là bó buộc, công thức nhưng là cần thiết cho giai đoạn đầu của luyện văn [22]
Tác giả Nguyễn Quang Ninh, Hoàng Dân trong cuốn "Tiếng Việt (Phần ngữ pháp văn bản)" [29] đã đề cập đến đoạn văn ở phương diện chủ yếu là lý thuyết: những quan niệm, quan điểm, khái niệm đoạn văn truyền thống và tác giả đã đưa ra quan niệm đoạn văn của mình, đồng thời mở rộng hướng nghiên cứu bằng những vấn đề liên quan: quan niệm về đơn vị trên câu, khái niệm đoạn văn, chỉnh thể trên
Trang 14câu, cách tách đoạn văn Những vấn đề người viết đề cập mang tính chất khái
quát, thống nhất và khoa học, vừa có tính kế thừa quan niệm cổ điển, vừa mang tính chất hiện đại mới mẻ
Như vậy có thể thấy, đoạn văn đã được một số nhà nghiên cứ quan tâm và đề cập đến trong các công trình của mình Đây sẽ là những tiền đề, cơ sở quan trọng
làm định hướng cho chúng tôi trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh
Bên cạnh đó, tiếp cận đoạn văn theo hướng xây dựng hệ thống bài tập luyện kĩ năng viết đoạn cũng được một số tác giả quan tâm nghiên cứu
Năm 1989, tác giả Đình Cao và Lê A [12] trong phần nghiên cứu "Kĩ năng dựng đoạn văn" đã đưa ra cách hiểu về đoạn văn, các mô hình cấu trúc đoạn văn; phân loại đoạn văn; cách tách đoạn văn, liên kết đoạn; quy trình viết đoạn văn Có thể nói từ nhiều khía cạnh khác nhau, hai tác giả không chỉ đưa ra quan niệm về đoạn văn mà còn đưa ra được một hệ thống bài tập về đoạn văn rất phong phú
Đi sâu nghiên cứu đoạn văn, tác giả Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thị Ngọc Diệu, trong cuốn "Giản yếu về ngữ pháp văn bản" có đề cập đến "Đoạn văn và mối quan hệ liên kết trong đoạn văn" bằng một chương sách Xét ở góc độ thực hành, tài liệu đã tuyển chọn được một hệ thống bài tập phù hợp với quan niệm của tác giả "cấu trúc đoạn", "mối quan hệ giữa đoạn với văn bản" [14] Đặc biệt dưới góc độ xây dựng hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn phải kể đến đóng góp của tác giả Nguyễn Quang Ninh trong cuốn "150 bài tập rèn kĩ năng dựng đoạn văn" Về lý thuyết, tác giả chỉ gợi mở hướng dẫn để đủ hiểu được về đoạn, biết cách tiến hành dựng đoạn và biến đổi đoạn Sách dành nội dung chính cho việc xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng dựng đoạn vàbiến đổi đoạn: nếu bài tập, hướng dẫn giải bài tập Đây là
cuốn sách có ý nghĩa phương pháp cao, không chỉ ở nội dung mà còn ở kết cấu xây dựng hệ thống bài tập [28]
Tác giả Trần Hữu Phong trong công trình nghiên cứu "Lập luận với việc luyệncho học sinh phổ thông trung học cách lập luận trong đoạn văn nghị luận" [31] cũng
đã xây dựng được một hệ thống bài tập để luyện cách lập luận trong đoạn văn Trong công trình này, người viết đề cập đến đoạn văn theo những cách lập luận
khác nhau: lập luận diễn dịch, lập luận quy nạp, lập luận phối hợp diễn dịch với quy nạp; lập luận so sánh, lập luận nhân quả hay lập luận hỏi - đáp
Trang 15Như vậy, đoạn văn với tư cách là đơn vị cơ bản của văn bản nói chung và văn nghị luận nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến trong các công trìnhcủa mình Đây sẽ là những cơ sở quan trọng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện
đề tài Tuy nhiên, dưới góc độ đoạn văn lập luận chứng minh, trong nghiên cứu vẫn còn nhiều bỏ ngỏ Dựa trên những căn cứ này, đặc biệt thông qua thực tế giảng dạy và nhận thức của học sinh, chúng tôi đề xuất xây dựng hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học Tập làm văn ở THCS, trong đó đặc biệt chú ý luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ cở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
- Xây dựng hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của hệ thống bài
Trang 165 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Chúng tôi dùng nhóm phương pháp nay để phân tích, tổng hợp, thu thập thông tin khoa học từ các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, nhằm rút ra các cơ cở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
5.2 Phương pháp điều tra khảo sát
Nhóm phương pháp này dùng để điều tra, khảo sát thực trạng dạy học luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh; dựa trên các số liệu thống kê nhằm xác định cơ sở thực tiễn cho đề tài
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Chúng tôi tổ chức giờ học thực nghiệm và đối chứng nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập đã đề xuất
5.4 Phương pháp thống kê
Phương pháp này được dùng để khảo sát, phân loại, đánh giá các loại bài tập, mẫu, kết quả thu được, xử lý các thông tin nhằm đối chiếu, kiểm chứng
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS một cách khoa học, đảm bảo tính thống nhất và tính phát triển, tích cực hóa hoạt động của học sinh và phong phú, đa dạng thì sẽ trở thành phương tiện dạy học tích cực, hữu ích cho giáo viên và học sinh, góp phần nâng cao khả năng tạo lập văn bản cho học sinh, cũng như chất lượng dạy học văn nghị luận nóiriêng và Làm văn nói chung
7 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm phong phú lý luận về dạy học Tập làm văn trong nhà trường THCS nói chung và dạy văn nghị luận nói riêng trong chương trình Ngữ văn THCS
Hệ thống hóa kiến thức về chứng minh và lập luận chứng minh làm cơ sở cho quá trình giảng dạy của giáo viên và học sinh
- Xây dựng được hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh chohọc sinh THCS phong phú, đa dạng, tích cực hóa hoạt động của học sinh, đảm bảo tính thống nhất và tính phát triển để nâng cao chất lượng dạy học phép lập luận chứng minh nói riêng và văn nghị luận nói chung
Trang 17- Thiết kế một số giáo án thể nghiệm cho việc dạy học phép lập luận chứng minh thông qua đoạn văn làm tài liệu vận dụng và tham khảo trong quá trình dạy học
ở trường THCS
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh trung học cơ sở
Chương 2: Hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh trung học cơ sở
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP
LUYỆN VIẾT ĐOẠN VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Chứng minh và lập luận chứng minh
Chứng minh là một khái niệm phổ biến có mặt không chỉ trong mọi lĩnh vực của khoa học mà cả đời sống Bởi lẽ, khoa học không là tổng số những thông tin
phân tán về lĩnh vực hiện thực này hay khác mà đó là hệ thống chặt chẽ các tri thức, nơi các thành tố liên hệ mật thiết với nhau, phụ thuộc và chế định lẫn nhau Nhiệm
vụ của mọi khoa học không chỉ khám phá ra và lớn tiếng tuyên bố về chân lý được tìm
ra, mà còn phải chứng minh chúng Trong đời thường, chứng minh có mặt khắp nơi, trong bất cứ diễn ngôn nào, khi chúng ta cần phải lí luận, tranh luận với nhau, khi chúng ta kể lại một sự kiện, miêu tả một hiện thực
Để xây dựng được một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng lập luận chứng minh trong đoạn văn nghị luận cho học sinh THCS một cách hiệu quả, rất cần đặc biệt chú ý hai phương diện: chứng minh dưới góc độ hoạt động tư duy và thao tác ngôn ngữ Đây là hai lĩnh vực có quan hệ mật thiết với nhau: "Tư duy con người như là hệ thống phản ánh luôn gắn liền thống nhất hữu cơ với ngôn ngữ" [36, tr 12] Nắm được nội dung lý thuyết vềlập luận chứng minh trên góc độ hoạt động tư duy là nắm được bản chất tổ chức, kết cấu của tư tưởng; nắm được nội dung lý thuyết về lập luận chứng minh
trên góc độ hoạt động ngôn ngữ là nắm được cách thức sử dụng ngôn ngữ tự nhiên
để biểu đạt tư tưởng, nhận thức
1.1.1.1 Chứng minh với tư cách là một thao tác của tư duy
Theo "Từ điển Tiếng Việt" của Hoàng Phê (chủ biên), thao tác là" thực hiện những động tác nhất định để làm một việc gì đó trong sản xuất"[30, tr.917] Với định nghĩa này, thao tác được hiểu như các bước tiến hành để thực hiện một công việc, hay nói cách khác đó là những thao tác cơ học Ví dụ thao tác khởi động máy tính, thao tác mở ti vi
Trang 19Trong tâm lý học, thao tác được xem là hệ thống những hành động trong tư duy, là cốt lõi của cách thức hành động bị quy định và chi phối bởi hoàn cảnh , điều kiện
cụ thể Trong đời sống, hoạt động của con người, thao tác là một yếu tố không thể thiếu được, nó chi phối mọi hoạt động của con người để đạt được mục đích nhất định Thao tác là cách để làm nên nội dung của hành động Vì vậy nó có ý nghĩa cơ học, có tính chất cơ động, yếu tố kỹ thuật, có thể lắp ghép trong các chuỗi hành động miễn sao nó phù hợp với mục đích thực hiện hành động, và cách thức cũng như quy trình hành động đối với mỗi sự việc cụ thể
Tư duy là hệ thống hữu cơ có những tiền đề và điều kiện xuất hiện của nó, được cấu thành từ những bộ phận liên hệ với nhau Hay nói một cách chung nhất:
"Tư duy là sự phản ánh gián tiếp và khái quát hiện thực khách quan vào đầu óc con người, được thực hiện bởi con người xã hội trong quá trình hoạt động thực tiễn cải biến thế giới xung quanh" [36, tr 9] Có thể nói tư duy chính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật hiện tượng bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý các vấn
đề
Trong logic học, tư duy được xem xét dưới góc độ chức năng và cấu trúc của nó,
từ phía vai trò và ý nghĩa của tư duy như là phương tiện nhận thức nhằm đạt tới chân
lý, từ sự phân tích cấu trúc tư duy và các mối liên hệ giữa các bộ phận của nó Do đó, chứng minh được coi là một khái niệm khá quan trọng trong logic học với tư cách là một thao tác cơ bản của tư duy
Mục đích của nhận thức khoa học và thực tiễn là đạt tới tri thức chân thực khách quan và trên cơ sở đó, con người tác động tích cực vào thế giới xung quanh nhằm cải biến nó phục vụ cho nhu cầu của mình Để nhận thức đúng đắn các sự vật vàhiện tượng, con người có thể dựa vào cảm tính Chẳng hạn, chúng ta nhìn thấy trời mưa, nghe thấy tiếng ồn, cảm thấy vị cay của hạt tiêu Tất cả những sự thực đó không cần phải lập luận và đã thấy rõ ràng nhờ cơ quan thụ cảm Song, nhiều trường hợp chúng ta phải chứng minh, phải lập luận những luận điểm do chúng ta nêu ra Theo
đó, chứng minh "là thao tác logic xác định tính chân thực của một luận điểm nào đó nhờ sử dụng những luận điểm chân thực khác có quan hệ hữu cơ với các luận điểm ấy" [20, tr.200]
Trang 20Chứng minh là quá trình rút ra, xác định giá trị một tri thức mới từ một số tri thức đúng đắn đã được thực tiễn kiểm nghiệm Bởi vậy, xét cho cùng, chứng minh là kiểm tra nguyên lý lý luận, kết luận bằng thực tiễn Không có sự kiểm tra đó, không thể sử dụng được những tri thức và những phát minh khoa học vào hoạt động thực tiễn Chứng minh có thể làm sáng tỏ tính chân thực của các luận điểm được nêu ra trước và các luận điểm chưa được nêu ra trước Đây là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải sử dụng tất cả các hình thức tư duy, các loại suy luận và các tri thức thông tin khoa học đã biết để làm sáng tỏ tính đúng đắn của một luận điểm hay một giả định nào đó, nhằm hình thành ở con người một niềm tin khoa học, vững chắc vào những luận điểm đó Do vậy, chứng minh được coi là "thao tác cơ bản của
tư duy chính xác, là điệu kiện quan trọng của nhận thức khoa học" [20, tr 200]
Một phép chứng minh bất kì, không phụ thuộc vào nội dung cụ thể rất khác nhau trong các lĩnh vực hoạt động khoa học và thực tiễn đa dạng của nó, đều có cấu trúc như nhau với ba bộ phận chính: luận đề, các luận cứ và luận chứng Luận đề là cái phải chứng minh, luận cứ là cái dùng để chứng minh, tồn tại dưới dạng ẩn là luận chứng, tức là chứng minh như thế nào, chứng minh bằng cách nào
Căn cứ vào cách chứng minh có thể chia chứng minh thành hai phương pháp: trực tiếp và gián tiếp Chứng minh trực tiếp là loại chứng minh trong đó sử dụng các luận cứ để trực tiếp rút ra tính chân thực của luận đề Nếu P là luận đề ; a,b,c là các luận cứ ; k,l,m là các phán đoán chân thực được suy ra từ a,b,c thì
phương pháp chứng minh có thể được biểu diễn theo công thức:
(a,b,c, ) (k,l,m, ) P
Ở công thức trên, vì a,b,c, chân thực nên mối liên hệ logic từ a,,b,c, qua k.l,m tới P là đúng đắn nên luận đề phải chứng minh P là chân thực
Chứng minh gián tiếp là loại chứng minh trong đó, tính chân thực của luận
đề được rút ra trên cơ sở luận chứng tính giả dối của các phản luận đề hoặc loại trừ các khả năng khác Một phương pháp thường được sử dụng trong chứng minh gián tiếp là phương pháp phản chứng Đây là phương pháp qua xác lập tính giả dối của phản luận đề mà khẳng định tính chân thực của luận đề Chẳng hạn, để khẳng định tính chân thực của quan điểm: "nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vị nghệ thuật"
Trang 21ta có thể tiến hành xác lập tính giả dối của luận điểm "nghệ thuật chân chính là nghệ
thuật vị nghệ thuật"
Như mọi thao tác logic khác, chứng minh cũng có thể đúng, có thể sai Một phép chứng minh đúng cần tuân thủ những yêu cầu gọi là các quy tắc chứng minh:
- Quy tắc với luận đề:
Quy tắc 1: Luận đề phải xác định, nghĩa là luận đề nêu ra phải rõ ràng và chính xác
Quy tắc 2: Luận đề phải giữ nguyên trong suốt quá trình lập luận
- Quy tắc với luận cứ:
Quy tắc 1: Luận cứ phải chân thực
Quy tắc 2: Luận cứ phải là cơ sở đầy đủ để khẳng định giá trị của luận đề
Quy tắc 3: Các luận cứ phải được chứng minh độc lập với luận đề
- Quy tắc với luận chứng:
Quy tắc 1: Phải tuân theo các quy luật của tư duy và các quy tắc của suy luận được sử dụng trong luận chứng
Quy tắc 2: Luận chứng phải rút ra được luận đề một cách tất yếu
1.1.1.2 Chứng minh với tư cách là một phép lập luận
Trong thực tiễn cuộc sống, nhiều khi con người phải đánh giá và bày tỏ ý kiến, thái độ của mình đối với các vấn đề được trình bày Để làm được điều này, người ta phải sử dụng đến lập luận Về cơ bản, xuất phát từ tiền đề (những sự kiện, chân lý được mọi người thừa nhận), dựa trên những lý lẽ chúng ta đi tới những kết luận - đó là lập luận Theo Vương Tất Đạt, "cách thức logic rút ra kết luận từ những tiền đề gọi là lập luận" [18, tr.80] Có hai loại lập luận Thứ nhất, lập luận trong khoahọc để chứng minh một chân lý; chẳng hạn toán chứng minh trong hình học; và thứ hai, lập luận trong đời thường để thuyết phục, tạo niềm tin, nói (chứng minh) cốt sao người nghe thấy "lọt lỗ tai" rồi tin theo kết luận đưa ra hoặc từ bỏ những xác tín cũ
Tuy nhiên, lập luận trong văn nghị luận lại có những điểm đặc thù riêng, phụ thuộc vào đặc trưng riêng của văn nghị luận Để tạo lập văn bản, người viết có
thể sử dụng những cách biểu đạt khác nhau, gắn với những kiểu tư duy khác nhau Nếu "văn miêu tả", "văn kể chuyện" được gọi chung là "lối văn hình tượng" với đặc
Trang 22thù "nhằm khêu gợi, tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của người đọc" [17, tr.5] thì
văn nghị luận là sản phẩm của tư duy logic, giúp cho việc phát triển tư duy và nhận thức trừu tượng, lí tính, khoa học trước một vấn đề đặt ra trong cuộc sống Theo "Từ điển Bách khoa Toàn thư" của Mĩ, văn nghị luận (Esay/Literature Criticsm) được xếp vào dạng thức "không hư cấu" (forms of nonfiction) ("Từ điển Bách khoa toàn thư" của Mĩ định nghĩa: "Văn học là những sản phẩm viết của xã hội bằng văn xuôi hoặc thơ Theo nghĩa rộng, văn học bao gồm tất cả các kiểu viết theo lối hư cấu (fiction) hoặc không hư cấu (nonfiction) nhằm mục đích xuất bản" [dẫn theo 35, tr.189]) Hư cấu là hoạt động cơ bản của tư duy hình tượng Đó là lối tư duy dựa vào trí tưởng tượng để sáng tạo ra, "bịa ra" (như M.Gorki nói) những nhân vật, câu chuyện, tình tiết trong tác phẩm nghệ thuật Văn nghị luận không dùng hư câu, không dựa vào trí tưởng tượng mà dựa vào tư duy logic để trình bày tư tưởng, quan điểm nào đó của người viết Sách giáo khoa Ngữ Văn 7 định nghĩa "Văn nghị luận là văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó" (trang 9) Có lẽ vì thế nên có tác giả khẳng định: "Văn nghị luận là tư duy bằng khái niệm", "nghị luận là hoạt
động chiếm lĩnh thế giới bằng tư duy logic" [34, tr.8,9]
Như vậy, ở văn nghị luận, người viết nhất thiết phải phản ánh cho được những nhận thức quan điểm của bản thân về những vấn đề của văn học hay đời sống của xã hội, phải trình bày những tư tưởng, tình cảm bằng chính các ý kiến xác định trên cơ sở của các lí lẽ và dẫn chứng cụ thể Chính điều này đã khiến cho lập luận không thể chỉ là một hành động thuần túy của tư duy logic, hay thuần túy chỉ là một hành động ngôn ngữ Sách giáo khoa "Ngữ văn 7" định nghĩa :"Lập luận là cách lựa chọn, sắp xếp, trình bày luận cứ sao cho chúng làm cơ sở vững chắc cho luận điểm" [3, tr.19] Ở đây, lập luận là để cho vấn đề bàn luận trở nên sâu sắc, đầy đủ, sáng rõ, lại vừa là để tạo ra được sự tác động mạnh mẽ đến người đọc, thuyết phục người ta tin vào ý kiến của chính mình nên ra trong bài văn Xét ở góc độ đó, lâp luận trong văn nghị luận rất gần với kiểu lập luận thứ hai với mục đích thuyết phục, xác lập niềm tin hơn là kiểu chứng minh một chân lý Kiểu lập luận thứ nhất: lập luận để chứng minh một chân lý thuộc lôgíc hình thức Đó là toán chứng minh trong hình học, đại số, vật
lý, hoá học dạy trong trường học Lý lẽ trong loại này
Trang 23là những định lý, định luật, quy tắc đã biết.Trong đời thường còn có loại lập luận
để thuyết phục, tạo niềm tin, nói sao cốt để người nghe thấy "lọt lỗ tai" rồi tin theo điều mình nói hoặc từ bỏ những xác tín cũ Lý lẽ chủ yếu ở loại lập luận này là những lôgíc đời thường: "ở hiền gặp lành" là lý lẽ về quan hệ nhân quả, "trời kêu ai người ấy dạ" là lý lẽ về số mạng, "con nhà tông không giống lông cũng giống cánh" là lý lẽ về dòng dõi Đó là những lẽ thường hay lý lẽ "hiển nhiên là thế" Loại lập luận này thuộc lôgíc phi hình thức Ở đây lý lẽ có tầm quan trọng hàng đầu Chất vấn, trả lời, tranh luận trước Quốc hội là những lập luận để thuyết phục Lập luận trong văn nghị luận muốn chặt chẽ phải xuất phát từ chân lý (hiển nhiên) hoặc một ý kiến đã được nhiều người thừa nhận
Nghị luận được coi là một trong những kiểu văn bản quan trọng được đưa vào dạy trong chương trình phổ thông Trong chương trình và sách giáo khoa trước đổi mới, văn nghị luận được đưa vào từ lớp 8 với ba loại: chứng minh, giải thích và phân tích;lớp 9 với văn bình luận và phân tích tác phẩm văn học Lên THPT văn
nghị luận chia làm hai loại:
- Nghị luận xã hội gồm: giải thích, bình luận, chứng minh
- Nghị luận văn học gồm: phân tích văn học, bình giảng văn học, bình luận văn học, chứng minh văn học
Như vậy, trong chương trình và sách giáo khoa trước đổi mới, các kiểu bài vănnghị luận được chia theo thao tác Kết quả, có khá nhiều kiểu bài nhỏ và chứng minh được coi là một kiểu bài tồn tại bên cạnh các kiểu bài khác như: giải thích, phân tích, bình luận, bình giảng Việc này là không cần thiết và rất khó phân biệt với học sinh Trong chương trình và sách giáo khoa mới căn cứ vào phương thức biểu đạt để chia rasáu kiểu văn bản, dạy xuyên suốt từ tiểu học lên THPT: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyếtminh, nghị luận và hành chính công vụ Trong văn nghị luận lấy nội dung cần bàn luận
và làm sáng tỏ để chia ra hai loại: nghị luận xã hội và nghị luận văn học Cả hai loại đều phải vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận như giải thích, chứng minh, so sánh,phân tích, bình luận, bình giải Theo quan niệm mới, không có bài văn nào chỉ dùng một phương thức biểu đạt và một thao tác lập luận Bài văn hay là bài biết vận dụng tổng hợp nhiều phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận khác nhau Tất nhiên trong một bài văn bao giờ cũng có một phương thức biểu đạt chính, một vài thao tác
Trang 24Trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay, văn nghị luận được đưa vào giảng dạy từ lớp 7 với các phép lập luận sau: chứng minh, giải thích (Ngữ văn 7), phân tích, tổng hợp (lớp 9) Ở chương trình THPT, học sinh làm quen với khái niệm thao tác nghị luận và ôn lại các thao tác đã học và tiếp nhận các thao tác mới: so sánh,bác bỏ, bình luận Như vậy, theo chương trình Ngữ văn THCS, chứng minh "là một phép lập luận dùng những lí lẽ, bằng chứng chân thực đã được thừa nhận để chứng tỏ luận điểm mới (cần được chứng minh) là đáng tin cậy" [3, tr.42]
Lí lẽ và bằng chứng dùng trong lập luận chứng minh không phải là những định lí, định luật, quy tắc đã được chứng minh như trong lĩnh vực khoa học tự nhiên mà là những lí lẽ, bằng chứng đã được lựa chọn, thẩm tra, phân tích thì mới có sức thuyết phục Dẫn chứng có thể là số liệu, là tài liệu đã được thừa nhận, là câu chuyện thực được kể lại, là danh ngôn của một ai đó Lí lẽ trong phép lập luận chứngminh có thể là những đạo lý đã được thừa nhận "Luận điểm mới (cần được chứng minh)" trong phép lập luận chứng minh được giảng dạy trong nhà trường cũng khôngphải là những tri thức mới, những định luật chưa được khám phá, chứng minh giốngnhư trong lập luận khoa học Cái "cần được chứng minh" là những tri thức, phán đoán đã được thừa nhận, học sinh tự "khám phá lại", "tái tạo lại" con đường đi đến nhận thức đó một cách thuyết phục Có nghĩa là trong phép lập luận chứng minh được giảng dạy trong nhà trường, điều quan trọng không phải là đích đến, là kết quả
mà là con đường, là quá trình dẫn đến đích
Phép lập luận chứng minh có một số điểm khác biệt so với các phép lập l u ậ n k
h á c mà h ọ c s i n h đ ư ợ c h ọ c t r o n g c h ư ơ n g t r ì n h TH C S n h ư g i ả i t h í c h , p h ân tích, tổng hợp
Nếu lập luận chứng minh xuất phát từ nhu cầu thuyết phục, tạo lập và xây dựng niềm tin đối với một quan điểm nào đó thì lập luận giải thích lại xuất phát từ nhucầu hiểu biết, nhận thức của con người trong đời sống Lập luận giải thích là làm cho người đọc hiểu rõ các tư tưởng, đạo lí, phẩm chất, quan hệ cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho con người Người ta thường giải thích bằng các cách: so sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi, hại, nguyên nhân, hậu quả, cách đề phòng hoặc noi theo của hiện tượng hoặc vấn đề được giải thích
Trang 25Trong khi đó, phân tích và tổng hợp lại xuất phát từ nhu cầu làm rõ ý nghĩa của một sự vật, hiện tượng nào đó Phân tích là phép lập luận trình bày từng bộ phận, phương diện của vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự vật, hiện tượng Phân tích khôngchi đơn thuần là chia các bộ phận trên cùng một bình diện mà còn phải dùng các biện pháp khác như so sánh, đối chiếu, suy luận để tìm ra ý nghĩa của các
bộ phận trong một tổng thể
Tổng hợp là một phép lập luận ngược lại với phân tích Nó đem các bộ phận, cácđặc điểm của một sự vật đã được phân tích riêng mà liên hệ lại với nhau để nêu ra nhận định chung về sự vật ấy Hai phép lập luận phân tích và tổng hợp tuy đối lập nhau nhưng không tách rời nhau Phân tích rồi phải tổng hợp mới có ý nghĩa, mặt khác trên
cơ sở phân tích mới có được sự tổng hợp Trong làm văn cũng vậy, sau khi phân tích từng ý, từng phần, người viết phải tổng hợp lại thì mới thành một bài văn hoàn chỉnh
Trong thực tế làm văn nghị luận, các phép lập luận không đứng tách biệt độc lập với nhau mà thường liên quan, kết hợp với nhau Sự kết hợp này giúp nhận thức được
- Đoạn văn dùng để chỉ sự phân đoạn nội dung của văn bản Biểu hiện cụ thể
của quan niệm này bộ lộ rõ nhất ở những câu hỏi, kiểu như: bài này được chia làm mấy đoạn, nội dung của mỗi đoạn là gì? Như vậy, một đoạn có thể rất dài, bao gồm nhiều phần xuống dòng, đoạn trong những trường hợp này được quan niệm cần đạt đến một sự hoàn chỉnh nhất định về mặt nội dung
- Đoạn văn còn được hiểu là sự phân đoạn mang tính chất hình thức Cách hiểu này được ghi nhận trong các lời nói, kiểu như: mỗi chỗ xuống dòng sẽ cho ta một đoạn văn, muốn có đoạn văn ta phải chấm xuống dòng Cách hiểu này nếu chỉ nhấn mạnh vào mặt hình thức, như vậy cũng sẽ là phiến diện, tuy rằng cách hiểu như vậy đã có cơ sở, gần gũi với quan niệm về đoạn văn nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay
Theo quan niệm của chúng tôi, và cũng là quan niệm đã có sự thống nhất giữa những người nghiên cứu, đoạn văn vừa là sự phân đoạn mang tính nội dung, vừa là
Trang 26sự phân đoạn mang tính hình thức Theo PGS
TS Nguyễn Quang Ninh: "Đoạn văn là
đơn vị cơ sở của văn bản, trực tiếp đứng trên câu, diễn đạt một nội dung nhất định (nội dung logic hay nội dung biểu cảm) được mở đầu bằng chỗ lùi đầu dòng, viết hoa và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn Như vậy, về mặt nội dung đoạn văn có thể hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định (phù hợp với cách hiểu truyền thống) hoặc không hoàn
chỉnh Sự không hoàn chỉnh này nằm trong ý đồ của người viết [28, tr 7]
Như vậy, khi nói đến đoạn văn chúng ta cần lưu ý những đặc điểm chính như sau: - Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, thường gồm một số câu (trường hợp
hãn hữu có thể chỉ có một câu) Các câu trong đoạn văn luôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau
- Mỗi đoạn văn thường thể hiện một cách tương đối trọn vẹn một tiểu chủ đề Tiểu chủ đề này là một bộ phận của chủ đề toàn văn bản Chính vì thế mỗi đoạn văn của một văn bản có tính độc lập tương đối và nếu tách ra khỏi văn bản thì nó có tư cách như mộtvăn bản nhỏ Tuy thế, nằm trong văn bản, mỗi đoạn văn luôn luôn có sự liên kết với các đoạn văn khác
- Mỗi đoạn văn có một cấu trúc nhất định Cấu trúc của đoạn văn, cũng như cấu trúc của câu, từ thường có tính chất trừu tượng, khái quát và như một bộ khung, một
mô hình chung, tồn tại ở nhiều đoạn cụ thể
- Đoạn văn có đặc trưng hình thức: bắt đầu bằng chữ cái viết hoa, lùi đầu dòng
và kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng
Những đặc trưng trên phối hợp với nhau cùng thể hiện trong một đoạn văn Do vậy, khi xem xét đoạn văn, chúng ta không chỉ chú ý riêng về một phương diện nào
1.1.2.2 Đoạn văn lập luận chứng minh
Xét trên bình diện làm văn, "đoạn văn là một đơn vị cơ bản để xây dựng văn
bản nghị luận" [13, tr.25] Đoạn văn trong mối quan hệ với bài văn nghị luận xét về mặt lậpluận chứng minh cũng được nhìn nhận trên những quan điểm chung về đoạn văn nhưng có thêm một số điểm cần lưu ý
Thứ nhất, khi xác định về vị trí đoạn văn lập luận chứng minh trong mối quan hệ với bài văn nghị luận, chúng tôi không tập trung vào cách thức lập luận trongđoạn mở bài (đặt vấn đề) và kết bài (kết thúc vấn đề) Điều này xuất phát từ quan niệm
"đoạn văn nghị luận nói chung được hiện lên với tính cách là một cấu
Trang 27trúc lập luận để làm sáng tỏ kết luận mà nó hướng tới" [31, tr.60] Do chức năng
riêng mà phần Mở bài và Kết bài có cách thức lập luận nhất định nhưng về cơ bản nó không có khác biệt lớn và phản ánh những đặc trưng bản chất trong phép lâp luận chứng minh Với tính cách là những đoạn văn gắn với việc giải quyết vấn đề, đoạn văn
ở phần thân bài thể hiện rõ nhất sự gắn bó chặt chẽ với quá trình thuyết phục luận điểm, với sự vận động lập luận trong bài văn nghị luận
Thường để sáng tỏ một kết luận, thuyết phục người đọc tin vào kết luận đó, người viết cần soi chiếu vấn đề từ nhiều góc độ, nói cách khác là phải đặt ra và trả lời nhiều câu hỏi về vấn đề đang được bàn tới: Là gì? Tại sao? Như thế nào? Từ việc đặt
ra và trả lời câu hỏi, có thể hình dung một bài văn nghị luận thường được
triển khai theo các bước cơ bản sau:
- Giải thích (trả lời câu hỏi là gì?)
- Phân tích, lý giải (trả lời câu hỏi vì sao)
- Bình luận, đánh giá (trả lời câu hỏi như thế nào)
Với mỗi góc độ soi chiếu, người viết thường sử dụng một pháp lập luận chủ yếu như: giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp Thường, mục đích đoạn văn lập luận chứng minh để trả lời câu hỏi Tại sao? ứng với phần thứ hai của phần giải quyết vấn đề Tất nhiên, để trả lời được câu hỏi này, không phải chỉ cần có một mà có thể là hai hoặc ba đoạn văn Phần trả lời câu hỏi này có vị trí, ý nghĩa rất quan
trọng trong việc giải quyết vấn đề, tạo sự thuyết phục, tin tưởng đối với người đọc, người nghe
C h ẳ n g h ạ n , v ới m ộ t đề b à i s a u : C hứ ng m i n h : " S á c h l à ng ư ờ i b ạ n l ớ n c ủ a c o nngư ời "
Với đề văn trên, học sinh cần hiểu được bản chất của vấn đề mà bài viết cần tập trung làm sáng tỏ: Vai trò và tác dụng to lớn của sách đối với con người Từ nhận thức ấy, học sinh xây dựng ý bằng cách đặt ra những câu hỏi:
- Câu nói trên có nghĩa là gì?
- Tại sao sách lại là người bạn lớn của con người?
- Câu nói trên có ý nghĩa như thế nào trong cuộc sống? Chúng ta cần làm gì
để phát huy vai trò, sức mạnh của sách?
Trang 28Để trả lời được câu hỏi thứ hai, học sinh có thể chứng minh qua ba luận điểm: 1- Sách cung cấp kiến thức cho con người, 2 - Sách làm tâm hồn chúng ta thêmphong phú, 3 - Sách giúp ta giải trí, thư giãn sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng Như vậy, ba luận điểm tương ứng với ba đoạn văn mà phép lập luận chủ yếu trong ba đoạn là phép lập luận chứng minh, ta có ba đoạn văn lập luận chứng minh Đây được coi là phần quan trọng nhất trong bài, giải quyết vấn đề cốt lõi mà đề bài đặt
ra
Trên cơ sở đó, khi xây dựng hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS, chúng tôi giả định đã hoàn thành bước tìm hiểu đề và lập ý cho bài văn nghị luận Vì vậy, chúng tôi ưu tiên tập trung vào cách thức tổ chức, sắp xếp các lí lẽ, dẫn chứng sao cho đạt được hiệu quả thuyết phục cao nhất với các luận điểm đặt ra
Thứ hai, xét về bản chất, đoạn văn lập luận chứng minh có sự tương đồng cao nhất với mục đích của bài văn lập luận chứng minh là thuyết phục và xác lập niềm tin.Điều này trước hết xuất phát từ đặc điểm của đoạn văn: "Khi đoạn văn đạt đến mức độ tương đối hoàn chỉnh về nội dung, đoạn văn có những đặc điểm kết cấu đồng dạng ở mứccao nhất với văn bản" [31, tr 7] Điều này có nghĩa là trong một bài văn có rất nhiều đoạn văn, nhưng đoạn văn "tương đối hoàn chỉnh về nội dung" sẽ là đoạn có sự tương đồnglớn nhât với văn bản Đoạn văn lập luận chứng minh thể hiện rõ điều đó Tư tưởng, quan điểm của bài văn chứng minh là luận điểm, nó là linh hồn của bài viết, thống nhất các đoạn văn thành một khối Còn trong đoạn văn "nội dung đoạn văn phải chứa đựng một tiểu chủ đề thống nhất, tức là một ý lớn duy nhất trọn vẹn Tiểu chủ đề là cốt lõi, là trục của cả đoạn văn, tất cả các câu trong đoạn đều phải xa gần xoay quanh cái trục này" [13, tr.248] Tiểu chủ đề trong đoạn văn lập luận chứng minh cũng chính là luận điểm của đoạn văn Luận điểm này hướng vào luận điểm lớn của toàn bộ văn bản
Thứ ba, sự đồng dạng về mục đích giữa đoạn văn lập luận chứng minh với bài văn nghị luận dẫn tới một phương diện đồng dạng khác là mặt cấu tạo Có nghĩa là đoạn văn lập luận chứng minh có cấu tạo tương tự với bài văn nghị luận Nếu một bài nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ bản là vấn đề nghị luận (còn gọi là luận đề), luận điểm, luận cứ và lập luận (còn gọi là luận chứng); thì đoạn văn lập
Trang 29luận chứng minh cũng gồm các yếu tố sau: luận điểm và luận cứ (lập luận đương
nhiên là sử dụng phép lập luận chứng minh)
Luận điểm là linh hồn của đoạn văn lập luận chứng minh, thường được thể hiệnbằn một phán đoán (câu văn) mang nghĩa khẳng định những tính chất, thuộc tính của vấn
đề, những khía cạnh nội dung được triển khai để làm sáng tỏ cho luận đề
Luận cứ là lí lẽ và dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Luận cứ trả lời cho các câu hỏi: vì sao phải nêu ra luận điểm? nêu ra để làm gì? luận điểm ấy có đángtin cậy không? Luận cứ phải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyết phuc
Lí lẽ và lập luận giúp người đọc hiểu, còn dẫn chứng làm người đọc tin vào vấn đề người viết nêu ra Một khi đã hiểu và tin tức là đã bị thuyết phục
Có thể thấy rõ những yếu tố đó trong đoạn văn sau:
"Lịch sử ra đã có rất nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta Chúng ta có quyền tự hào vì những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng"
(Hồ Chí Minh, Tinh thần yêu nước của nhân dân ta)
Trong đoạn văn trên, luận điểm nằm trong câu văn đầu tiên của đoạn văn, dẫn chứng là "vì những trang sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, LêLợi, Quang Trung, "; lí lẽ là "chúng ta có quyền tự hào vì [ ], chúng ta phải ghi nhớcông lao [ ] vì [ ]'
Cuối cùng, một yếu tố không thể không xét đến khi nói tới đặc điểm của đoạn văn lập luận chứng minh là cấu trúc Theo Diệp Quang Ban, "cấu trúc là những quan
hệ hình thức giữa các yếu tố (cụ thể ở đây là các câu trong đoạn văn) có quan hệ với nhau"[1, tr.216] Việc quan tâm đến cấu trúc hình thức của đoạn văn là rất quan trọng nhất là với việc dạy học tập làm văn cho học sinh THCS bởi lẽ, cấu trúc hình thức luôn có mặt trong đoạn văn, tuy nhiên, ta chỉ quan tâm đến nó khi ta cần phân tích một
ý nghĩa quan hệ nào đó, nói cách khác, "ta làm việc này với mục đích phân tích" [1, tr.216] Bằng việc phân tích cấu trúc của một đoạn văn, cụ thể ở đây là đoạn văn lập luận chứng minh, học sinh sẽ nhận ra rõ những đặc trưng của phép lập luận chứng minh
Trang 30Trong đoạn văn (cũng như trong văn bản), có nhiều kiểu cấu trúc, tác giả Diệp Quang Ban đã chia thành một số kiểu cấu trúc thường gặp: liệt kê, diễn dịch và quynạp, đề - thuyết (với hai cách sắp xếp là móc xích và song hành) Theo đó "Trong ba kiểu quan hệ này thì liệt kê, diễn dịch và quy nạp thuộc về thành tố logic trong văn bản (trong thành tố nghĩa quan niệm, theo cách hiểu của Halliday - hay nghĩa miêu tả, nghĩa mệnh đề); đó là sự sắp xếp các ý (thường diễn đạt băng các câu - mệnh đề, tương đương
"câu đơn") bên trong các chuỗi câu nối tiếp liên quan nahu Còn quan hệ đề - thuyết thuộc thành tố nghĩa văn bản; đó là sự sắp xếp các đoạn ý bên trong một câu - mệnh đề."[1, tr 227 - 228] Do đó, khi nói tới chứng minh như một thao tác logic thì cấu trúc có liên quan trực tiếp tới đoạn văn lập luận chứng minh chính là câu trúc diễn dịch và quy nạp
Diễn dịch là cách lập luận đi từ các ý chung, cái khái quát phổ biến đến cái riêng, cái cụ thể Đoạn văn được trình bày theo cách diễn dịch là đoạn văn diễn dịch Ở đoạn văn này, phần đầu đoạn thường là câu chủ đề nêu lên một nhận định chung có tínhkhái quát mà người ta gọi là câu chủ đề, và câu này cũng là câu kết luận của lập luận Những câu còn lại thường mang nội dung suy ra từ câu chủ đề, hoặc những nội dung
cụ thể hơn nằm trong phạm vi khái quát của câu chủ đề, vì vậy nó được xem như các luận cứ của lập luận
Quy nạp là cách thức lập luận đi từ cái riêng, cái cụ thể đến cái chung, cái khái quát Ở đoạn văn này, cầu chủ đề thường đứng ở cuối đoạn Phần đầu đoạn văn là những câu có nội dung cụ thể, ít khái quát, vì thế đó là các luận cứ của lập luận Kết thúc đoạn văn là câu mang nội dung tổng quát, nên cái nhìn chung được suy ra, rút ra từ các luận cứ đi trước
Phối hợp hai cách lập luận diễn dịch và quy nạp ta có đoạn văn tổng hợp - phân tích - tổng hợp Đoạn văn này thường bắt đầu bằng một nội dung, một vấn đề chung,khái quát, sau đó là những câu triển khai, phân tích nội dung trên thành những bộ phận nhỏ để xem xét và cuối cùng lại là việc khái quát hóa, mở rộng hoặc nâng cao nộidung đã được phân tích
Đoạn văn nghị luận chứng minh là đoạn văn phổ biến, thường gặp trong vản bản nghị luận Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa đoạn văn lập luận chứng minh chỉ
Trang 31xuất hiện trong văn bản nghị luận Thực tế chúng ta còn gặp loại đoạn văn này trong cả
kiểu văn bản, phương thức biểu đạt khác như miêu tả, biểu cảm, tự sự, thuyết minh
Xét các đoạn văn sau:
Đoạn 1:
"Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai Trông đặc như một thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mầ rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc cái quần nái đen với cái
áo tây vàng Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một
ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế Trông gớm chết! "
(Nam Cao, Chí Phèo)
Đoạn 2:
"Nhưng trong những năm gần đây, các phương pháp đọc nhanh đã được phổ biến khá rộng nhưng nó không phải là điều mới lạ Trong các thời kì khác nhau trước đây, các nhà chính trị, nhà văn lỗi lạc, đã phát triển nó và hoàn toàn nắm vững nó
Ví dụ: Na-pô-lê-ông đọc tốc độ 2000 từ/phút, Băn-dắc đọc tốc độ 4000 từ/phút, xim Go-rơ-ki đọc mỗi trang sách chỉ mất vài giây Còn Lê-nin như lướt qua trang sách nhưng Người nắm chắc được nội dung Nhận rõ tầ quan trọng của phương pháp đọc nhanh, ở Nga, Mĩ và nhiều nước tiên tiến khác, các lớp dạy đọc nhanh đã được
Mác-mở ngày càng nhiều Sau khi dự các lớp này, người đọc có thể đạt tốc độ 1500 từ/phút,
và đối với những bài viết nhẹ nhàng đơn giản như truyện
trinh thám, tốc độ đọc có thể lên đến 12 000 từ/phút."
(Theo Lịch Văn hóa tổng hợp 1987 -1990)
Có thể thấy hai đoạn trên đều là hai đoạn văn sử dụng phép lập luận chứng minh nhưng không nằm trong văn bản nghị luận Đoạn 1 sử dụng phương thức biểu đạt miêu tả nhưng lại nằm trong văn bản có phương thức biểu đạt chủ yếu là
tự sự, đoạn 2 nằm trong văn bản có phương thức biểu đạt chủ yếu là thuyết minh
Như vậy, đoạn văn lập luận chứng minh không chỉ tồn tại trong văn bản nghị luận mà còn có trong kiểu văn bản khác Tuy nhiên, ở góc độ luận văn, khi xây dựng
hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luyện chứng minh cho học sinh THCS, chúngtôi đặt đoạn văn lập luận chứng minh chủ yếu trong mối quan hệ với bài văn nghị luận.Việc tách bạch rạch ròi như thế trước hết phù hợp với trình độ
Trang 32và khả năng tiếp nhận của học sinh THCS, nhất là khi học sinh lần đầu làm quen
với văn nghị luận và đang trong quá trình tập làm văn Hơn nữa điều này sẽ giúp học sinh nhận rõ các đặc trưng của từng kiểu bài, từ đó luyện tập cho nhuần nhuyễn từng kiểu bài, tránh nhầm lẫn Đặc biệt, trong một văn bản thường xuất hiện một phương thức biểu đạt chính, các phương thức biểu đạt khác nếu có xuất hiện cũng chỉ
để làm rõ, làm phong phú thêm cho phương thức biểu đạt chính Do đó, đoạn văn lập luận chứng minh xuất hiện trong các kiểu bài, phương thức biểu đạt khác không phải
là nghị luận thường đóng vai trò phụ hỗ trợ phương thức biểu đạt chính của văn bản 1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh trong chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở
Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần 8 (khóa XI) đã nêu rõ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam Trong đó, việc đổi mới ở phổ thông được coi là khâu đột phá Nội dung trọng tâm của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là sự phát triển năng lực của người học Theo định hướng năng lực, môn Ngữ văn sau năm 2015, bên cạnh việc quan tâm đến những năng lực chung,
sẽ phải chú ý đến những năng lực đặc trưng của môn học là năng
lực tiếp nhận văn bản và năng lực tạo lập văn bản Tập làm văn là quá trình mang tính tích hợp cao và thể hiện rõ sự sáng tạo của học sinh Bởi lẽ bản thân việc vận dụng ngôn ngữ để nói, viết, trình bày tư tưởng của một cá nhân trong những hoàn cảnh giao tiếp cụ thể là hoạt động mang tính sáng tạo Bên cạnh đó, trong khi thực hành làm văn, học sinh sẽ phải vận dụng những kiến thức về tiếng Việt, văn học, kinh nghiệm sống và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để thể hiện suy nghĩ, quan điểm của bản thân trước một vấn đề Việc luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS không chỉ hướng vào việc cung cấp kiến thức mà thể hiện sự chú trọng
vào kĩ năng thực hành, chú trọng phát triển năng lực tạo lập văn bản cho học sinh
Để xây dựng được hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của việc đổi mới quá trình dạy học, chúng tôi tiến hành khảo sát thực tiễn chương trình, Sách giáo khoa và quá trình dạy học của giáo viên và học sinh
Trang 33Trước hết, chúng tôi tiến hành khảo sát về thuật ngữ được dùng trong sách giáo khoa Sách giáo khoa Ngữ văn từ THCS đến THPT đã đưa các phép lập luận thành các nội dung cụ thể, nhằm giúp học sinh hiểu sâu bản chất các phép lập luận, từ
đó vận dụng vào quá trình tạo lập văn bản Ở THCS, học sinh được làm quen với khái niệm lập luận "lập luận là đưa ra luận cứ nhằm dẫn dắt người nghe, người dọc đến mộtkết luận hay chấn nhận mọt kết luận, mà kết luận đó là tư tưởng (quan điểm, ý định) của người nói, người viết" [3, tr.32], đồng thời sách giáo khoa đã cung cấp cho các
em bốn phép lập luận là chứng minh, giải thích, phân tích và tổng hợp Đến sách giáo khoa Ngữ văn 10, học sinh được làm quen với khái niệm "thao tác" với quan niệm
"thao tác nghị luận là những động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận." [6, tr.134] Theo đó, "Phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp và so sánh là những thao tác nghị luận thường gặp trong hoạt động nghị luận" [6, tr.134] "Ngữ văn 10" tập 2, nâng cao cho rằng chứng minh, giải thích, diễn dịch, quy nạp là các thao tác lập luận [7, tr 147] Ngoài những thao tác trên, sách
"Ngữ văn 11" cơ bản lại đưa thêm thao tác lập luận bác bỏ [8, tr.24 -27], thao tác lập luận bình luận [8, tr.71-74] Như vậy, theo chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn THPT, có tổng cộng là chín thao tác lập luận: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp,
so sánh, chứng minh, giải thích, bác bỏ, bình luận Liệu có sự mâu thuẫn khi sách giáo khoa THCS gọi chứng minh là "phép lập luận" và sách giáo khoa THPT gọi chứng minh là "thao tác" Theo chúng tôi, hai cách gọi về cơ bản không làm thay đổi bản chất của chứng minh, vì xét cho cùng chứng minh là một thao tác tư duy, thao táclogic (như chúng tôi đã trình bày) Cách gọi là phép lập luận chứng minh là phù hợp hơn với trình độ tiếp nhận của học sinh THCS
Thứ hai, khảo sát về thời lượng và phân bố bài dạy về phép lập luận chứng minh trong tương quan với ba phép lập luận được học trong chương trình THCS, chúng tôi thu được kết quả như sau:
Trang 34Bảng 1.1: Thời lượng dành cho các phép lập luận trong
chương trình Ngữ văn THCS Phép lập luận Chứng minh Giải thích Phân tích và tổng hợp Chương trình Ngữ văn 7 Ngữ văn 7 Ngữ văn 9
Như vậy, tỉ lệ thời lượng dành cho phép lập luận chứng minh là (42.85%), chiếm khá cao so với các phép lập luận khác, đặc biệt là so với phép phân tích và tổng hợp (14.29%) Hơn nữa, lập luận chứng minh lại được đưa ngay vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 7 khi học sinh lần đầu tiếp xúc và làm quen với văn nghị luận Điều này theo chúng tôi xuất phát từ những lí do sau: lập luận chứng minh là một trong những phép lập luận quan trọng, cơ bản trong văn nghị luận góp
phần rèn tư duy, giúp học sinh làm quen và nắm rõ được những đặc trưng của văn nghị luận Đặc biệt, phép lập luận chứng minh hầu như không được nhắc tới trong tên bài học ở chương trình THPT (ban cơ bản) Ban nâng cao được nhắc tới qua hai bài
"Thực hành thao tác chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn dịch" và "Thực hành viết các đoạn văn chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn dịch" [7] Do đó, việc dạy học phép lập luận chứng minh cho học sinh THCS là vô cùng quan trọng, giống như việcđặt những viên gạch đầu tiên làm nền móng cho sự hình thành kĩ năng lập luận trong bài văn nghị luận của học sinh sau này
Theo phân phối chương trình, phép lập luận chứng minh được dạy trong 6 bài 7 tiết (bao gồm cả lý thuyết và thực hành), cụ thể như sau:
Bảng 1.2: Hệ thống các bài về phép lập luận chứng minh
trong chương trình Ngữ văn THCS
Tên bài Tìm hiểu chung về phép lập luận chứng minh
Cách làm bài văn lập luận chứng minh
Luyện tập về lập luận chứng minh
Viết bài tập làm văn số 5: Văn nghị luận chứng minh (làm tại lớp)
Luyện tập viết đoạn văn chứng minh
Trả bài tập làm văn số 5
Số tiết 111211
Trang 35Về đoạn văn nghị luận, chương trình, sách giáo khoa THCS đã đưa giảng dạy trong hai bài với thời gian là hai tiết, cụ thể như sau:
Bảng 1.3: Hệ thống các bài về đoạn văn nghị luận trong
chương trình Ngữ văn THCS Tên bài Chương trình Số tiết Luyện tập viết đoạn văn chứng minh Ngữ văn 7 1
Viết đoạn văn trình bày luận điểm Ngữ văn 8 1
Có thể thấy, chương trình Ngữ văn 7 đã chú trọng vào phần thực hành về phép lập luận chứng minh cho học sinh Cụ thể, trong 7 tiết học về phép lập luận chứng minh, thời lượng thực hành là 5/7 tiết (không kể thời gian thực hành luyện tập trong bài học lý thuyết mới) Tuy nhiên, trong thời lượng đó, chương trình chủ yếu chú trọng hình thành cho học sinh kĩ năng lập ý cho bài văn nghị luận, thời lượng dành cho việc luyện trên đơn vị đoạn văn lại không nhiều: đoạn văn nghị luận chỉ có hai tiết thực hành, trong hai tiết đó, chỉ có một tiết dành cho luyện tập, thực hành đoạn văn lập luận chứng minh
Cuối cùng, về sự phân bố của hệ thống bài tập luyện viết đoạn lập luận chứngminh, chúng tôi tiến hành khảo sát trên các đơn vị bài học liên quan trực tiếp tới lập luận chứng minh và văn nghị luận có chứa các bài tập về đoạn văn và thu
được kết quả như sau:
Bảng 1.4: Sự phân bố các dạng bài tập viết đoạn văn trong các bài liên quan
đến lập luận chứng minh chương trình Ngữ văn THCS
Tên bài
Luyện tập viết đoạn văn chứng minh (Ngữ văn 7)
Ôn tập về luận điểm
Viết đoạn văn trình bày luận điểm
Luyện tập xây dựng và trình bày luận điểm
Tỉ lệ
Bài tập nhận diện 012136.36%
Bài tập dựng đoạn 103254.55%
Bài tập chữa lỗi 10009.09% Qua bảng thống kê trên có thể thấy, các bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh trong chương trình, sách giáo khoa đã phân bố thành các dạng bài, tuy
Trang 36tập dựng đoạn Đặc biệt khi tiến hành khảo sát bài tập rèn viết đoạn văn lập luận
chứng minh trong chương trình Ngữ văn THCS chúng tôi nhận thấy các bài tập chưatạo được sự phân định rạch ròi về mặt tỉ lệ cho loại bài luyện ở trên lớp, giờ trả bài với loại tiếp tục luyện ở nhà
Đây là những cơ sở, tiền đề quan trọng để chúng tôi xây dựng hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS
1.2.2 Thực trạng dạy học luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh ở trường
Trung học cơ sở
Để có cơ sở thực tiễn cho đề tài, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy và học luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh trong chương trình Ngữ văn THCS lớp 7, 8, 9 Mục đích của việc khảo sát là tìm hiểu những phương pháp, phương tiện dạy học hiện đang được các giáo viên sử dụng để dạy các bài tập luyện tập
và khả năng nhận thức, vận dụng của học sinh Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất hệ thống bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh một cách hiệu quả
1.2.2.1.Đối tượng khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 10 giáo viên dạy khối 7, 8, 9 và 100 học sinh thuộc các khối trên tại hai trường THCS Đoàn Thị Điểm (Đoàn Thị Điểm), THCS Yên Phụ (Bắc Ninh)
1.2.2.2 Nội dung khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành dự giờ bài dạy liên quan tới lập luận chứng minh và đoạn văn lập luận chứng minh đồng thời lấy ý kiến qua phiếu thăm dò để có một cái nhìn thực tế về việc giảng dạy của giáo viên Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành điều tra bằng các phiếu thăm dò ý kiến học sinh về hứng thú trong giờ học của các em ở tiết học và khi làm bài tập luyện tập
Qua quá trình khảo sát chúng tôi phân tích và nhận xét hoạt động dạy học như sau:
Trang 37Mức độ cần thiết của dạy luyện viết đoạn văn lập luận
chứng minh với học sinh THCS là:
- Chưa cần thiết
- Cần thiết
- Rất cần thiết
Khó khăn lớn nhất khi dạy luyện viết đoạn văn lập luận
chứng minh cho học sinh THCS là:
- Nguồn tài liệu, bài tập chưa phong phú
- Thời lượng chương trình còn ít
- Trình độ, năng lực học sinh còn yếu
Nhóm bài tập bản thân gặp khó khăn nhất khi dạy luyện viết
đoạn văn lập luận chứng minh là
- Nhận diện cấu trúc lập luận trong đoạn văn
- Xây dựng một lập luận hoàn chỉnh bằng một đoạn văn
- Chữa lỗi lập luận cho một đoạn văn mắc lỗi
Phương pháp dạy học được sử dụng nhiều nhất khi hướng
dẫn học sinh làm bài tập luyện viết đoạn văn lập luận chứng
1/10 3/10 6/10
3/10 3/10 4/10
2/10 6/10 2/10
4/10 4/10 2/10
TỈ LỆ
%
10% 30% 60%
30% 30% 40%
20% 60% 20%
40% 40% 20%
Có thể thấy, về nhận thức, đa phần giáo viên đều thấy được sự cần thiết của việc dạy luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS (50% số giáo viên được hỏi cho rằng dạy viết đoạn văn lập luận chứng minh là "rất cần thiết") Khókhăn lớn nhất mà các giáo viên gặp phải khi dạy luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS là "trình độ, năng lực học sinh còn yếu" (40%) Theo chúng tôi, điều này là do nghị luận vốn đã là một phương thức biểu đạt tương đối khó
so với các phương thức biểu đạt còn lại vì nó gắn với tư duy logic, đòi hỏi
sự logic chặt chẽ trong lập luận Trong các phép lập luận, chứng minh lại là "thao tác cơ bản của tư duy chính xác" [20, tr.200] Với học sinh lớp 7, các em đã quen với kiểu văn bản đòi hỏi tư duy hình tượng (tự sự, biểu cảm) và lần đầu tiên tiếp xúc, làm quen với văn nghị luận nói chung và thao tác lập luận chứng minh nói riêng Vì vậy,
Trang 38luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cũng là điều tất yếu Qua khảo sát, dạng
bài tập giáo viên thấy khó khăn nhất khi dạy viết đoạn văn lập luận chứng minh là xây dựng một lập luận hoàn chỉnh bằng một đoạn văn Bởi lẽ, dạng bài tập này yêu cầu học sinh huy động tổng hợp các kiến thức đã học về lập luận chứng minh, trong đó cóxác định cấu trúc lập luận trong đoạn văn, chữa lỗi lập luận cho đoạn văn mắc lỗi Tuy nhiên, phương pháp mà hầu hết giáo viên sử dụng khi hướng dẫn luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS lại là hai phương pháp tương đối truyền thống: vấn đáp (40%) và giảng giải (40%) Tất nhiên, hai phương pháp này có vai trò trong việc giúp các em bộc lộ suy nghĩ cá nhân, nhưng chỉ ở một số ít học sinh được phát biểu Trong khi phương pháp thảo luận nhóm lại được sử dụng tương đối ít (20%), bởi lẽ phương pháp này giống như một con dao hai lưỡi: nếu tổ chức chặt chẽ, khoa học, tất cả học sinh được đưa ra ý kiến, phương án giải quyết, nhưng nếu tổ chức lỏng lẻo, thiếu khoa học, việc thảo luận nhóm chỉ còn là hình thức và hầu như không phát huy được tác dụng vốn dĩ của nó
Trên đây là một số vần đề về thực trạng dạy luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS của giáo viên Bên cạnh đó, một điều hết sức quan trọng tạo trong việc xác định cơ sở xây dựng hệ thống bài tập là thực trạng học của học sinh
Trước hết, chúng tôi tiến hành khảo sát tình hình học luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh cho học sinh THCS qua phiếu điều tra và thu được kết quả cụ thể như sau:
Trang 39STT
1
2
3
Bảng 1.6: Tổng hợp điều tra học sinh
NỘI DUNG ĐIỀU TRA
Phân biệt được phép lập luận chứng minh với các phép
lập luận đã học (giải thích, phân tích, tổng hợp) (nối
phép lập luận với đặc điểm tương ứng)
- Phân biệt chính xác
- Còn nhầm lẫn
Nhóm bài tập bản thân gặp khó khăn nhất khi luyện viết
đoạn văn lập luận chứng minh là
- Nhận diện cấu trúc lập luận trong đoạn văn
- Xây dựng một lập luận hoàn chỉnh bằng một đoạn văn
- Chữa lỗi lập luận cho một đoạn văn mắc lỗi
Khi viết một đoạn văn chứng minh hoàn thiện, điều khó
69/100 31/100
27/100 33/100 40/100
24/100 41/100 35/100
TỈ LỆ
%
69% 31%
27% 33% 40%
24% 41% 35%
Về lý thuyết lập luận chứng minh (trong tương quan so sánh với những phép lập luận khác), học sinh nắm được tương đối tốt (69% phân biệt chính xác, 31% còn nhầm lẫn) Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với việc viết đoạn văn lập luận chứng minh lại là khả năng vận dụng lý thuyết vào bài tập thực tế Về điều này, học sinh vẫn còn cảm thấy khó khăn khi làm dạng bài tập chữa lỗi lập luận cho một đoạn văn mắc lỗi (trong khi đó, giáo viên lại cảm thấy khó khăn trong việc dạy dạng bài tập luyện xây dựng một lập luận hoàn chỉnh bằng một đoạn văn) Bởi lẽ, với học sinh, xây dựng một lập luận bằng một đoạn văn đôi khi vẫn còn yếu tố cảm tính, nhưng phát hiện chỗ sai
đã khó, sửa chữa lỗi sai đó một cách logic, hợp lý lại càng khó hơn nhiều Khi viết một đoạn văn chứng minh hoàn thiện, điều khó với học sinh lại nằm ở khâu tìm dẫn chứng và lí lẽ (41%) Nguyên nhân của hiện tượng này
Trang 40là do vốn kiến thức của học sinh, đặc biệt làhọc sinh THCS còn chưa phong phú
Trong quá trình làm bài, giáo viên nhiều khi còn phải gợi dẫn, học sinh còn hiện tượng thiếu sự độc lập trong tư duy
Để có cái nhìn chính xác hơn về chất lượng đoạn văn lập luận chứng minh ở học sinh THCS, chúng tôi tiến hành khảo sát hệ lỗi lập luận của học sinh qua bài làm của các em Qua việc khảo sát 80 đoạn văn lập luận chứng minh lấy từ bài kiểm
tra, bài luyện, chúng tôi thu được kết quả cụ thể như sau:
Bảng 1.7: Tổng hợp khảo sát lỗi lập luận của học sinh STT LỖI THƯỜNG GẶP SỐ LỖI TỈ LẸ
Thực trạng trên theo chúng tôi xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, văn nghị luận nói chung và phép lập luận chứng minh nói riêng tương đối khó so với các kiểu văn bản và phép lập luận khác, nhất là với trình độ và vốn hiểu biết của học sinh lớp 7 còn hạn chế Nếu những kiểu văn bản học sinh đã học như
tự sự, miêu tả và biểu cảm đòi hỏi nhiều về tư duy hình tượng, khả năng quan sát, tưởng tượng thì văn nghị luận, đặc biệt là phép lập luận chứng minh không chỉ đòi hỏi về tư duy hình tượng mà còn cả tư duy logic, vốn hiểu biết xã hội, văn học sâu rộng để lập luậnđảm bảo sức thuyết phục
Thứ hai, thời lượng dành chương trình dành cho việc luyện viết đoạn văn lập luận chứng minh chưa nhiều Như đã phân tích, trong 7 tiết thực hành về phép lập luận chứng minh thời lượng thực hành là 5/7 tiết Nhưng trong thời lượng đó,
chương trình lại chủ yếu chú trọng việc luyện kĩ năng lập ý và xây dựng dàn ý cho bàivăn chứng minh