Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ là nhằm trang bị cho người nước ngoài vốn kiến thức về tiếng Việt để họ có thể giao tiếp, học tập, qua đó hiểu thêm về văn hóa,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 21
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 42
Trang 5Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thời Tân, người đã tận tâm chỉ dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp ở Học viện An ninh nhân dân đã tạo điều giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn tới cha mẹ, gia đình, bạn bè, những người đã luôn động viên và tin tưởng tôi trong suốt khóa học
Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Tống Thị Hảo
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY NGỮ PHÁP CÂU TIẾNG VIỆT THEO LÍ THUYẾT GIAO TIẾP 9
1.1 Cơ sở lí luận
9 1.1.1 Dạy học tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp 9
1.1.2 Câu trong tiếng Việt và việc dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp 23
1.2 Cơ sở thực tiễn 32
1.2.1 Một số giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài viết về ngữ pháp câu tiếng Việt
33 1.2.2 Việc dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt cho sinh viên Lào ở Học viện An ninh nhân dân 43
Kết luận chương 1
50 Chương 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ PHÁP CÂU TIẾNG VIỆT THEO LÍ THUYẾT GIAO TIẾP 51
2.1 Định hướng chung về việc dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
51 2.1.1 Dạy học ngữ pháp tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp đòi hỏi phải gắn với tình huống giao tiếp cụ thể 54
2.1.2 Dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp phải đảm bảo phát huy vai trò chủ động, tích cực của sinh viên 59
2.1.3 Dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp phải tổ chức các hoạt động giao tiếp cho sinh viên một cách có hiệu quả 62 2.2 Quy trình tổ chức dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết
Trang 766
2.2.2 Giới thiệu nội dung ngữ pháp 68
ii
Trang 82.2.3 Luyện tập thực
hành 70
2.3 Một số điểm cần lưu ý trong việc ra đề kiểm tra đánh giá ngữ pháp câu theo lí thuyết giao tiếp
72 Kết luận chương 2
76 Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 78
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm
78 3.2 Việc chuẩn bị thực nghiệm sư phạm 80
3.2.1 Biện soạn tài liệu thực nghiệm 80
3.2.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 81
3.2.3 Xây dựng kế hoạch dạy học thực nghiệm và tổ chức tập huấn cho GV dạy học thực nghiệm 82
3.3 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 84
3.3.1 Nội dung thực nghiệm 84
3.3.2 Cách thức thực nghiệm
91 3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm
93 3.4.1 Các tiêu chí đánh giá
93 3.4.2 Kết quả thực nghiệm 95
3.4.3 Những kết luận chung rút ra từ thực nghiệm sư phạm 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 3 10 1 Kết luận 3
10 2 Khuyến nghị 5
10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 7
10 PHỤ LỤC 2
Trang 9iii
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Kết quả dạy thực nghiệm đối chứng 95 Bảng 3.2 Kết quả dạy thực nghiệm 95 Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả bài thực nghiệm và bài thực nghiệm đối chứng 96 Bảng 3.4 Xếp loại, đánh giá kết quả bài thực nghiệm và bài thực
nghiệm đối chứng 96
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau hơn 20 năm đổi mới với những
thành tựu hết sức rực rỡ, giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam với các nước trong khu vực nói riêng và các nước trên thế giới nói chung ngày càng được mở rộng Đã có nhiều người nước ngoài đến Việt Nam để học tập, nghiên cứu, giao lưu, tham quan, hội thảo, sinh sống, du lịch, Vì vậy, việc học tiếng Việt đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của họ Tiếng Việt trở thành một ngoại ngữ đối với nhiều người nước ngoài Việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ là nhằm trang bị cho người nước ngoài vốn kiến thức về tiếng Việt để họ có thể giao tiếp, học tập, qua đó hiểu thêm về văn hóa, phong tục tập quán sinh hoạt của người Việt Để đáp ứng nhu cầu của người học, nhiều khoa, trung tâm dạy tiếng đã ra đời và không ngừng được củng cố, nâng cao chất lượng đào tạo
Việt - Lào là hai quốc gia có mối quan hệ hữu nghị đặc biệt "Trong lịch
sử thế giới chưa có mối quan hệ nào lại sâu sắc, nồng nàn bằng tình đoàn
kết và hữu nghị đặc biệt Việt - Lào" [33, tr.11] Trải qua những năm tháng đấu tranh lâu dài, gian khổ trong cuộc cách mạng dân tộc và trong suốt hơn 20 năm đổi mới đất nước, mối quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt
- Lào không chỉ góp phần làm nên những thắng lợi chung của hai nước, mở ra
kỷ nguyên mới của độc lập, tự do mà còn tiếp tục đưa hai nước bước vào giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng hợp tác, cùng phát triển và hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Cùng với quá trìnhhữu nghị hợp tác đặc biệt giữa hai quốc gia Việt - Lào, trong những năm qua, mối quan hệ hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh Lào không ngừng được củng cố và đẩy mạnh Một trong những lĩnh vực hợp tác rất thành công là lĩnh vực hợp tác đào tạo Hàng năm, Bộ Công an Việt Nam đã đào tạocho Bộ An ninh Lào nhiều cán bộ chiến sĩ công an có
Trang 12trình độ chuyên môn cao, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Riêng Học viện An ninh nhân dân, cho đến nay đã đào tạo được hơn 20 khóa học cho sinh viên Lào Hàng năm, hàng trăm cán bộ an ninh tốt nghiệp trình độ đại học và trên đại học tại Học viên An ninh đã trở về nước và cống hiến hết sức mình cho công tác an ninh của đất nước Phần lớn sinh viên Lào tốt nghiệp về nước đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và có nhiều người giữ những trọng trách cao trong Bộ An ninh Lào Có được thành công đó phần quan trọng là nhờ vào vốn kiến mà sinh viên Lào đã học tập tại Học viện An ninh nhân dân Tiếng Việt đối với sinh viên Lào chính là công cụ,phương tiện hết sức quan trọng để có thể học được các môn chuyên ngành nghiệp vụ Giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Lào và làm thế nào để nâng caohơn nữa chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Lào đang là một trong những nhiệm vụ, nỗi niềm trăn trở của các cán bộ giáo viên giảng dạy tiếng Việt
ở Học viên An ninh
1.2 Cũng từ năm 1990 đến nay, dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ đã phát triển
khá mạnh mẽ, thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều học giả, nhà nghiên cứu Nhiều đề án về giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được thực hiện như đề án "Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước ngoài từ nay đến năm 2010" Các hội nghị khoa học về giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng được tổ chức trong và ngoài nước Trong đó có những bài nghiên cứu khá sâu sắc và có tính thực tiễn rất cao Các bài nghiên cứu không chỉ là những kinh nghiệm quý báu mà còn khái quát lên thành những vấn đề lí luận về phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ
1.3 Vấn đề phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học tiếng
Việt như một ngoại ngữ đang thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
Có nhiều phương pháp mới ra đời với nhiều ưu điểm và nhằm khắc phục những hạn chế của những phương pháp trước nó Dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ theo lí thuyết giao tiếp/ quan điểm giao tiếp đang là một trong những nôi dung dạy học được nói đến phổ biến hiện nay
Trang 13Trên thế giới, dạy học theo quan điểm giao tiếp đã được đề cao từ năm
1960 (bắt đầu là ở Anh), cực thịnh vào cuối những năm 1970 ở Mĩ và nhiều nước sau đó Ở Việt Nam, phương pháp này bắt đầu được đề cao là từ năm 1990 Tuy nhiên, hiện nay, lại cũng có xu hướng khá cực đoan là quá đề cao quan điểm giao tiếp vào dạy học và phủ nhận vai trò của một số quan điểm dạy học truyền thống và nhiều người coi thường vai trò của việc dạy ngữ pháp Vì vậy, việc vận dụng lí thuyết giao tiếp vào giảng dạy ngữ pháp tiếng Việt cũng như dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt như thế nào cho hiệu quả cũng đang được các học giả, nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, các bài viết mới chỉ bước đầu nên còn mang tính khái quát về lí thuyết chứ chưa thật đầy đủ, cụ thể về quy trình, cách thức vận dụng lí thuyết giao tiếp vào giảng dạy ngữ pháp để đạt hiệu quả cao nhất Các bài nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở các hiện tượng ngữ pháp tiếng Việtnói chung chứ chưa thật sự đi sâu nghiên cứu về ngữ pháp câu của tiếng Việt
để từ đó đưa ra phương pháp dạy hiệu quả nhất
1.4 Qua thực tiễn nhiều năm giảng dạy tiếng Việt cho đối tượng là sinh viên Lào,
chúng tôi nhận thấy rằng hạn chế lớn nhất của họ là tâm lí khá e dè, thiếu tự tin
và ngại giao tiếp Suy nghĩ của hầu hết sinh viên Lào là ngữ pháp tiếng Việt nói chung rất khó Trong khi đó, việc tạo lập câu đúng ngữ pháp, ngữ nghĩa vàbiết cách sử dụng các câu đó đúng với các tình huống giao tiếp, bối cảnh giao tiếp là vấn đề hết sức quan trọng trong việc rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Chính vì vậy, việc vận dụng lí thuyết giao tiếp vào dạy tiếng Việt nói chung và ngữ pháp câu tiếng Việt nói riêng cho sinh viên Lào là rất cần thiết và phù hợp với đối tượng Mục đích là giúp SV được thực hành giao tiếp nhiều, SV mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp khác nhau, từ đó nâng cao năng lực giao tiếp Bởi suy cho cùng, dạy học tiếng Việt chính là để người học có thể dùng tiếng Việt để giao tiếp trong môi trường văn hóa của người bản ngữ Để có thể giao tiếp được tốt, người học phải hiểu tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt đúng Nói cách
Trang 14khác, để giao tiếp tốt, người học vẫn rất cần nắm vững cấu trúc ngữ pháp của câu và quan trọng hơn là biết sử dụng các câu đúng ngữ pháp và ngữ nghĩa trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau
Với những lí do trên, chúng tôi chọn dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt
cho sinh viên Lào theo lí thuyết giao tiếp là đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc vận dụng lí thuyết giao tiếp vào dạy tiếng Việt nói chung và ngữ pháp câu tiếng Việt cho người nước ngoài nói riêng cho đến nay còn chưa được bàn đến một cách cụ thể, chi tiết trong những bài viết, công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu, các nhà phương pháp cũng như các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Tuy nhiên, những vấn đề chung của lí thuyết giao tiếp và sự vận dụng chúng vào dạy học tiếng Việt và ngữ pháp tiếng Việt cho người nước ngoài đã luôn được quan tâm, nhất là từ những năm 1990 trở lại đây
2.1 Những vấn đề về giao tiếp và hoạt động giao tiếp nói chung trong Giáo dục học
Những vấn đề về giao tiếp và hoạt động giao tiếp nói chung đã được đề cập từ khá lâu trong Giáo dục học Trong các công trình "Giao tiếp - một hoạt động đặc trưng của con người" [47] của tác giả Trần Trọng Thủy; "Quy tắc giao tiếp xã hội, giao tiếp bằng ngôn ngữ" [35]; "Vấn đề giao tiếp" [34] của tácgiả Nguyễn Văn Lê những vấn đề tổng quan về hoạt động giao tiếp, các quy tắc giao tiếp đã được trình bày một cách hệ thống Theo các tác giả này,
khi bàn về giao tiếp cần quan tâm đến những vấn đề như:
- Giao tiếp bằng lời (bằng ngôn ngữ) hay giao tiếp phi lời Nếu là giao tiếp bằng lời thì lời nói phải đúng vai xã hội; phù hợp với trình độ của người nghe; phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và cách thức nói năng Nếu là giao tiếp phi lời nói thì cần phải chú ý đến các yếu tố như: nét mặt, tư thế, cử chỉ, hành
vi, khoảng cách giữa người nói và người nghe
Trang 15- Một số quy tắc giao tiếp xã hội như: tạo ra ấn tượng ban đầu, thể hiện
sự quan tâm đến người khác, biết tôn trọng thể diện của người khác và của chính mình
2.2 Những nghiên cứu của Ngôn ngữ học về hoạt động giao tiếp
Cùng với Giáo dục học, Ngôn ngữ học với tư cách là ngành khoa học
cơ bản, trực tiếp liên quan và cung cấp những vấn đề khoa học về ngôn ngữ nói chung, tiếng Việt nói riêng cho nội dung dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ đã có nhiều công trình, nhiều bài viết nghiên cứu tiếng Việt theo quan điểm hành chức Trong đó, quan trọng nhất phải kể đến sự phát triển mạnh mẽ của Ngữ dụng học trong những thập niên cuối của thế kỉ XX Người có công trong sự phát triển của ngành Ngữ dụng học đầu tiên của Việt Nam là GS Đỗ Hữu Châu Từ công trình nghiên cứu đầu tiên là
Giản yếu về Ngữ dụng học đến toàn bộ nội dung ngữ dụng học trong 2 tập của
cuốn Đại cương ngôn ngữ học tác giả đã trình bày các kết quả nghiên cứu về
ngôn ngữ trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp và những vấn đề cụ thể về
lí thuyết hội thoại Đây được xem như là cơ sở cho việc xây dựng các tình huống giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
2.3 Những nghiên cứu về dạy học theo lí thuyết giao tiếp khi giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ
Cuốn Tiếng Việt như một ngoại ngữ - Các vấn đề tiếng Việt cho người
nước ngoài tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, các giáo viên trực
tiếp tham gia giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, hầu hết các tác giả của các bài viết trong sách này đều đề cập đến phương pháp dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Bài viết "Các phương pháp giảng dạy ngoại ngữ" của Nguyễn Đức Dân (Trường đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh) đã trình bày về các phương pháp dạy học tiếng Việt Tác giả của bài viết này nhấn mạnh đến ưu điểm của dạy học giao tiếp so với một số phương pháp truyền thống và việc vận dụng quan điểm giao tiếp vào giảng dạy ngữ pháp
Trang 16tiếng Việt cho người nước ngoài sẽ khắc phục được một số hạn chế của các phương pháp truyền thống
TS Nguyễn Thiện Nam - Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn trong đề tài khoa học "Những nội dung cơ bản của chương trình đào tạo giáo viên tiếng Việt như một ngoại ngữ" đã trình bày khá cụ thể về các phương pháp dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp
2.4 Những nghiên cứu về lí thuyết giao tiếp khi dạy học ngữ pháp tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ
PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương có bài "Dạy ngữ pháp theo cách tiếp
cận giao tiếp" (Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, 2007) đã rất nhấn mạnh đến quan
điểm giao tiếp, "trọng tâm của cách tiếp cận giao tiếp là phát triển năng lực giao tiếp cho người học" và "cách tiếp cận giao tiếp coi ngữ pháp là một thành tố cấu thành năng lực giao tiếp" [32; 20]
Trong bài viết "Dạy ngữ pháp như một ngoại ngữ theo phương pháp
giao tiếp" của PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn (Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống, số 9,
2012) cũng trình bày khá rõ về phương pháp giao tiếp, những ưu điểm của việc dạy ngữ pháp theo phương pháp giao tiếp, cách dạy ngữ pháp theo phương pháp giao tiếp "phương pháp giao tiếp cho rằng, trong dạy ngoại ngữ,ngữ pháp không nên được dạy như là kiến thức ngôn ngữ học thuần túy mà như là phương tiện để người học tiếp nhận và tạo lập các diễn ngôn và văn bản" [13; 16]
Nhìn chung, mỗi tác giả có một cách tiếp cận vấn đề khác nhau nhưng đều khẳng định ưu điểm của việc dạy học theo quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng và việc dạy ngữ pháp theo quan điểm giao tiếp sẽ giúp người học có
cơ hội được thực hành giao tiếp nhiều hơn, phát triển được năng lực giao tiếp tốt hơn Song, các bài viết nghiên cứu cũng chỉ mới dừng lại ở các hiện tượng ngữ pháp tiếng Việt nói chung mà chưa đi vào nghiên cứu cụ thể ngữ pháp câu tiếng Việt như thế nào Mặc dù vậy, các kết quả nghiên cứu của các tác
Trang 17giả đi trước sẽ chính là những định hướng cơ bản, quan trọng giúp chúng tôi
có được cái nhìn nhận thấu đáo hơn nhằm thực hiện tốt đề tài "Dạy học ngữ
pháp câu tiếng Việt cho sinh viên Lào theo lí thuyết giao tiếp"
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Dựa trên kết quả nghiên cứu lí luận về giao tiếp và dạy học theo quan điểm giao tiếp với những ưu điểm, bản chất, đặc tính của nó và từ thực tiễn giảng dạy sinh viên Lào, luận văn đưa ra những định hướng dạy học cụ thể và thiết kế các quy trình dạy học cho các bài học về ngữ pháp câu tiếng Việt theo
lí thuyết giao tiếp nhằm nâng cao năng lực giao tiếp cho người học
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện một số nhiệm
vụ cơ bản sau:
Một là, tìm hiểu về lí thuyết giao tiếp trong dạy học tiếng nói chung và
dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt nói riêng
Hai là, xây dựng những định hướng cơ bản cho việc tổ chức thực hiện
dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
Ba là, thực nghiệm để làm rõ tính khả thi và hiệu quả của quy trình dạy
học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Trang 185 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục đích đề ra, trong luận văn này chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này giúp chúng tôi tìm
hiểu các tài liệu lí luận về một số quan điểm, phương pháp dạy học tiếng nói chung và quan điểm dạy học giao tiếp nói riêng
5.2 Phương pháp điều tra khảo sát: Phương pháp này được sử dụng để tìm
hiểu đánh giá về giáo trình dạy tiếng cho người nước ngoài cũng như thực tiễngiảng dạy ngữ pháp câu tiếng Việt cho người nước ngoài có theo lí thuyết giao tiếp hay không Trên cơ sở đó làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất quy trình, cách thức dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Được sử dụng nhằm làm rõ tính
khả thi và hiệu quả của các quy trình dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp mà luận văn đã xây dựng Luận văn sẽ sử dụng các hình thức thực nghiệm sư phạm cơ bản là: thực nghiệm thăm dò, thực nghiệm dạy học, thực nghiệm kiểm tra đánh giá nhằm đánh giá hiệu quả ứng dụng các quy trình dạy học đã xây dựng trong thực tiễn dạy học
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: quan sát, thống kê, phân loại, đối chiếu, so sánh để bổ sung cho các phương pháp trên trong quá trình nghiên cứu
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học ngữ pháp câu
tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
Chương 2: Tổ chức dạy học ngữ pháp tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19CHƯƠNG
1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY NGỮ PHÁP
CÂU TIẾNG VIỆT THEO LÍ THUYẾT GIAO TIẾP
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Dạy học tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
1.1.1.1 Khái niệm giao tiếp
a Giao tiếp là gì?
Cùng với lao động, ngôn ngữ là một trong những yếu tố quyết định quá trình phát triển lịch sử loài người và sự phát triển của mỗi cá nhân Nhờ có ngôn ngữ mà con người thiết lập sự giao tiếp xã hội với nhau Và ngôn ngữ trở thành phương tiện giao tiếp xã hội quan trọng nhất và có hiệu quả nhất, giúp con người có thể bộc lộ và trao đổi với nhau mọi người tư tưởng, tình cảm cũng như những kinh nghiệm sống
Giao tiếp là một hiện tượng rất đặc trưng của con người và xã hội loài người Giao tiếp là nhu cầu và điều kiện tất yếu, không thể thiếu được trong cuộc sống con người Thông qua giao tiếp, con người tiếp thu nền văn hóa xã hội
và biến thành của riêng mình, đồng thời cũng góp phần sáng tạo và phát triển văn hóa xã hội Qua giao tiếp, con người biết được giá trị xã hội của người khác và của bản thân, trên cơ sở đó tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực xã hội Và hơn nữa, giao tiếp không chỉ quan trọng đối với cuộc sống con người, với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người nói chung mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân trong cộng đồng
Với tất cả những ý nghĩa trên, vấn đề giao tiếp đã được con người chú ý nghiên cứu từ thời Hi Lạp cổ đại Nhưng nhìn chung, trước thế kỉ XIX, giao tiếp chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc như một chuyên ngành tâm lí học Giao tiếp chỉ được một số nhà triết học nhắc đến như là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người và con người Đến thế kỉ XIX, giao tiếp được đánh
Trang 20giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành, phát triển bản chất xã hội của con người Nhà triết học Đức Phơ - bách đã từng khẳng định: Bản chất của con người chỉ biểu hiện qua giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con người với con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa
họ Sang thế kỉ XX, giao tiếp đã trở thành một vấn đề thời sự trong khoa học được nhiều nhà triết học, tâm lí học, xã hội học quan tâm Nó được xem xét ở nhiều khía cạnh từ triết học thực dụng, triết học hiện sinh đến học thuyết Freud, lí thuyết thông tin và điều khiển học giữa thế kỉ XX
Riêng về việc định nghĩa giao tiếp là gì, cho đến nay các nhà nghiên cứu
đã đưa ra khá nhiều các quan niệm khác nhau, theo vào các phạm vi, lĩnh vực nghiên cứu của mình như y học, xã hội học, tâm lí học Ở Việt Nam, trong các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, khái niệm giao tiếp được dung với
nhiều thuật ngữ khác nhau như "giao lưu", "giao tiếp" Thậm chí, có những người trong cùng một tác phẩm dùng cả hai thuật ngữ này Trong khi đó, Từ điển
tiếng Việt định nghĩa khái niệm này hoàn toàn khác nhau: "giao lưu là có sự tiếp xúc
và trao đổi qua lại giữa hai dòng, hai luồng khác nhau", "giao tiếp là trao đổi tiếp xúc với nhau Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp" [24 ; tr.349]
Trong ngôn ngữ học, giao tiếp là đối tượng nghiên cứu của một bộ môn ngôn ngữ học khá mới mẻ là Ngữ dụng học nên cũng xuất hiện khá nhiều quan niệm về giao tiếp "khi có ít nhất hai người gặp nhau và bày tỏ với nhau về một điều gì đó như nỗi buồn niềm vui, ý muốn, hành động hay nhận xét nào đấy về sự vật xung quanh thì giữa họ diễn ra một cuộc giao tiếp (gọi tắt là giao tiếp)" [15; tr.34]
"giao tiếp là một hoạt động xảy ra khi có một chủ thể phát tin, sử dụng mộttín hiệu để truyền đến cho chủ thể nhận tin một nội dung nào đó Nội dung được truyền đạt nhằm cung cấp những thông tin (hiểu biết) cho người nghe hoặc nhằm bày tỏ thái độ tình cảm của người nói cho người nghe hoặc tạo lập,duy trì quan hệ giữa người nói và người nghe"
Trang 21Rõ ràng, có nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp nhưng nhìn chung các quan niệm trên đều khẳng định giao tiếp là hoạt động trao đổi, tương tác, tiếp xúc giữa con người với con người trong xã hội nhằm truyền đạt thông tin hoặc trao đổi tư tưởng, tình cảm, thái độ Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng quanniệm của GS Đỗ Hữu Châu - một quan niệm được xem là phản ánh được những phương diện cốt lõi của giao tiếp bằng ngôn ngữ Trong cuốn giáo trình
Giản yếu về ngữ dụng học, GS viết: "Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông
tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hành động, ) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn
ra trong một ngữ cảnh và một tình huống nhất định,
bằng một hệ thống nhất định" [15; tr.8]
Với cách hiểu như trên, có thể thấy giao tiếp đóng một vai trò quan trọng đối với con người và xã hội loài người Giao tiếp là điều kiện tồn tại của conngười Nhu cầu của con người trước hết là nhu cầu được tiếp xúc với người khác Đó là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người đồng thời cũng là một trong những nhu cầu đặc trưng và xuất hiện rất sớm của con người Nó quy định hành vi của con người không kém gì cái được gọi là nhu cầu sống Điều đó là tự nhiên bởi vì giao tiếp là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bình thường của con người như là thành viên của xã hội, như là nhân cách.C.Mác cũng chỉ rõ rằng: "Sự phát triển của một cá nhân được quy định bởi sự phát triển của tất cả cá nhân khác mà nó giao lưu một cách trực tiếp" Có thể nói, ở đâu có sự tồn tại của con người thì ở đó có sự giao tiếp giữa con người với con người Giao tiếp là cơ chế bên trong của sự tồn tại và phát triển của conngười Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu "vĩ đại nhất", "phong phú nhất" Sự phát triển của nhu cầu này trong một con người chính là "một điều kiện làm cho conngười trở thành con người" Đối với xã hội loài người, giao tiếp bằng ngôn ngữ
là giao tiếp chủ yếu nhất và hiệu quả nhất
Quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ bao gồm hai hoạt động cơ bản là hoạt động sản sinh (tạo lập) lời nói và hoạt động lĩnh hội (tiếp nhận) lời nói Quá trình này có thể được mô tả như sau: Người nói, khi đã chuẩn bị được nội
Trang 22dung nói là những tư tưởng, tình cảm còn nằm trong suy nghĩ thuộc lĩnh vực
tinh thần Để người nghe tiếp nhận được, người nói phải chuyển nội dung đang thuộc lĩnh vực tinh thần đó thành nội dung mang thể chất thông qua ngôn ngữ Đó chính là quá trình mã hóa ngôn ngữ để tạo thành lời nói bằng cách nói miệng hoặc viết ra giấy (hay còn gọi là hoạt động sản sinh lời nói)
Về phía người nghe, quá trình giao tiếp lại bắt đầu bằng việc tiếp xúc với các yếu tố ngôn ngữ do người nói phát ra Khi tiếp nhận các yếu tố ngôn ngữ này, người nghe phải tìm cách luận giải chúng bằng cách đọc hoặc nghe kết hợp kĩ năng tư duy của bản thân để hiểu được nội dung của âm thanh, ngữ điệu, ngữ nghĩa chứa đựng những yếu tố ngôn ngữ đó Quá trình này gọi là hoạt động lĩnh hội lời nói Kết thúc một hoạt động sản sinh (tạo lập) lời nói là một hoạt động lĩnh hội (tiếp nhận) lời nói là kết thúc một quá trình giao tiếp Như vậy, hoạt động giao tiếp ngôn ngữ sẽ liên quan đến cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
Nói đến chức năng của giao tiếp là nói đến nhiệm vụ mà giao tiếp phải đảm nhiệm trong đời sống xã hội, bao gồm bốn chức năng sau:
- Chức năng thông tin (thông báo): Con người sử dụng ngôn ngữ nhằm truyền đạt, trao đổi với nhau những tin tức này thường mang tính tri thức khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người Như vậy có nghĩa là họ
đã thực hiện được chức năng thông báo của giao tiếp Đây là chức năng chính thường gặp nhiều nhất trong giao tiếp
- Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp, con người có thể tự bộc lộ bản thân mình về các mặt như: trình độ, sở thích, tình cảm, trạng thái, sức khỏe hay nguyện vọng, năng khiếu, sự hiểu biết đối với các sự vật, hiện tượng hoặc một vấn đề nào đó mà họ quan tâm Tất cả những điều đó thể hiện trong lời nói của họkhi giao tiếp
- Chức năng tạo lập quan hệ: Bên cạnh việc thông báo tin tức hoặc bộc lộthái độ, tình cảm với nhau hoạt động giao tiếp còn giúp tạo lập nên những mốiquan hệ tốt đẹp giữa những nhân vật tham gia giao tiếp Ví dụ: chào hỏi khi gặp nhau, xin lỗi khi mắc lỗi
Trang 23- Chức năng giải trí: Trong cuộc sống, có những lúc con người phải làm việc, học tâp quá vất vả, mệt mỏi làm cho thần kinh căng thẳng Những lúc như thế, họ rất cần được nghỉ ngơi, thư giãn Hoạt động giao tiếp với những câu chuyện hài hước, vui đùa sẽ là liều thuốc hiệu nghiệm xua tan những mệt mỏi,căng thẳng làm cho con người cảm thấy vui vẻ, thoải mái hơn để tiếp tục trở lại công việc Chức năng này có ý nghĩa rất tích cực trong việc dạy học ngoại ngữ nóichung và dạy tiếng Việt cho sinh viên Lào nói riêng Trong khi giảng dạy ngoài việc tạo ra những cuộc giao tiếp có nội dung vui vẻ, hài hước, giáo viên còn có thể tạo ra các trò chơi ngôn ngữ vừa giúp người học được thư giãn vừa
có thể giao tiếp phát triển các kĩ năng nhất là kĩ năng nghe và nói
Những chức năng giao tiếp trên đây sẽ giúp mỗi chúng ta có cơ sở để tiến hành một cuộc giao tiếp trong khi dạy học Đồng thời cũng giúp giáo viên đánh giá kết quả của những ngôn bản nói - viết mà người học tạo ra trong quá trình học tập giao tiếp một cách đầy đủ và chính xác hơn
Khi dạy tiếng Việt cho sinh viên Lào, rất cần chú ý đến cơ sở lí thuyết giao tiếp bằng ngôn ngữ đến vai trò của câu trong hoạt động giao tiếp và sự chi phối của các nhân tố giao tiếp và sử dụng câu Tác giả Lê Phương Nga khẳng định: "câu là đơn vị giao tiếp tự nhiên nhất" Câu chính là phương tiện quan trọng để hoạt động giao tiếp được tiến hành Nhưng ngược lại cũng chịu
sự chi phối của các nhân tố trong hoạt động giao tiếp
b Các nhân tố giao tiếp
Nhân tố giao tiếp là những nhân tố có mặt trong giao tiếp, ảnh hưởng, chi phối hiệu quả của cuộc giao tiếp đó Có thể thấy rằng mỗi nhân tố giao tiếp đều để lại dấu ấn của mình trong lời nói - sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tổ chức xây dựng lời nói Chính vì thế, từ việc xác định lại các nhân tố giao tiếp này và chỉ ra sự tác động của chúng trong hoạt động giao tiếp, một lần nữa chúng tôi muốn khẳng định đây là những nhân tố thể hiện đậm nét nhất việc chi phối
Trang 24của các yếu tố bên ngoài ngôn ngữ tới việc sử dụng ngôn ngữ và chi phối trực tiếp đến hiệu quả của việc giao tiếp Các nhân tố mà chúng tôi muốn nói tới ở đây bao gồm:
- Mục đích giao tiếp: Mỗi người khi viết hoặc nói đều nhằm đến những mục đích giao tiếp riêng Có thể mục đích đó là thông báo tin tức mới, trao đổi một vài vấn đề được nhiều người quan tâm, hoặc cũng có thể đó là sự phê phán, sự động viên cổ vũ, hoặc cũng có thể là sự đe dọa, lên án, Mục đích giao tiếp rất đa dạng và được xác định một cách cụ thể tùy thuộc vào từng cuộc giao tiếp Và tất nhiên căn cứ vào từng mục đích giao tiếp khác nhau người ta sẽ sử dụng nội dung giao tiếp khác nhau, các kiểu câu khác nhau sao cho cuộc giao tiếp diễn ra hiệu quả nhất
Mục đích của một văn bản có thể chia nhỏ ra thành: Mục đích nhận thức, mục đích tác động về tình cảm và mục đích tác động về hành động Hiệu quả của việc giao tiếp sẽ được đáng dấu bằng những mục đích giao tiếp đãđạt đến được mức nào Nhưng việc có đạt được mục đích hay không và đạt đến mức nào thì không phải lúc nào cũng có thể được nhận ra ngay tức thời Trong đại đa số các trường hợp, chúng ta có thể dễ dàng nhận diện ngay được hiệu quả của việc giao tiếp tuy nhiên, trong thực tế, cũng có những cuộc giao tiếp mà người ta chỉ có thể nhận ra hiệu quả của nó sau một thời gian dài, thậm chí năm, mười năm sau mới có thể thấy được
- Nhân vật giao tiếp: Người viết, người nói (người phát) và người đọc, người nghe (người nhận) - những nhân vật tham dự vào quá trình giao tiếp - được gọi chung là những nhân vật giao tiếp Trong quá trình giao tiếp sẽ luôn
có sự luân phiên thay đổi vai trò phát và nhận giữa các nhân vật giao tiếp
Trong hoạt động giao tiếp, nếu người phát luôn luôn là một thì người nhận không phải lúc nào cũng như vậy Có khi người nhận là một nhưng có khi người nhận là số đông Ví dụ như trường hợp giáo viên giảng dạy trong lớp học, hoặc trường hợp một báo cáo viên báo cáo trước công chúng
Trang 25Nhưng cũng có trường hợp, mặc dù người nhận là số đông song chỉ có một hoặc một số nhất định trong số đông đó là đối tượng giao tiếp đích thực mà người phát hướng tới ở những trường hợp ấy, người nhận đích thực sẽ nhận
ra trong văn bản những tín hiệu dành riêng cho bản thân mình
Hoạt động giao tiếp bao giờ cũng gồm người phát và người nhận, vì vậy, hiệu quả giao tiếp không phải chỉ phụ thuộc vào người phát mà còn phụ thuộc vào cả người nhận Nói những vấn đề mà người nghe (người nhận) không hiểu hoặc không muốn nhận hoặc nói những vấn đề không phù hợp với nếp nghĩ, thói quen trong đời sống của người nghe thì có thể nói rằng cuộc giao tiếp đó không có hiệu quả Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ có những đặc điểm về văn hóa, kinh nghiệm sống, hoàn cảnh giao tiếp thói quen đặc biệt là có chung với nhau những tri thức về đề tài sẽ được nói tới trong cuộc giao tiếp Và cuộc giao tiếp sẽ đạt hiệu quả khi các nhân vật giao tiếp đều có ý định (mục đích), có niềm tin giao tiếp - tin rằng cuộc giao tiếp sẽ đạt hiệu quả như nình mong muốn
Nhưng trong các cuộc giao tiếp ấy, không phải các nhân vật giao tiếp thích nói gì thì nói Để cuộc giao tiếp diễn ra có hiệu quả thì nhân vật giao tiếp phải tiến hành lựa chọn theo cách trả lời cho được những câu hỏi như: nói cái gì, nói như thế nào, sử dụng loại câu gì, từ ngữ gì, âm thanh gì, ngữ điệu thế nào Trong đó, nói gì và nói như thế nào là quan trọng như nhau
Cũng để cuộc giao tiếp diễn ra, duy trì và phát triển theo chiều hướng dự định, nhân vật giao tiếp (người nói) phải nhận thức được chính bản thân mình trong quan hệ với người nghe (là quan hệ vị thế hay thân hữu), đồng thời phảiđoán được hình ảnh của người đối thoại - người nghe với tất cả thuộc tính về động cơ, mục đích, nhân cách, địa vị xã hội, học vấn và hoàn cảnh trong đó giao tiếp diễn ra Bởi trong giao tiếp luôn luôn là người nói và người nghe cụ thể gắn với một tình huống, thời gian, không gian cụ thể Vì vậy, để có một phátngôn thỏa đáng, nhân vật giao tiếp không những phải xác
Trang 26định được vị thế của mình mà còn phải xác định được vị thế của người tham gia giao tiếp với mình Khi đã xác định được vị thế của mỗi bên tham gia giao tiếp, nhân vật giao tiếp có cách xưng hô phù hợp với nhau
Để cuộc giao tiếp diễn ra có hiệu quả thì người giao tiếp cũng rất cần phải nắm vững được các quy tắc ngôn ngữ của tiếng Việt Cụ thể hơn, người giao tiếp phải tính đến mình phải sử dụng những kiểu câu, cấu trúc câu như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và để biểu đạt nội dung mình muốn nói
Cũng như thế, khi dạy tiếng Việt cho đối tượng là sinh viên Lào, giáo viên căn cứ vào trình độ cụ thể, sở thích, thói quen, tâm lí của người học để tạo
ra những nội dung giao tiếp phù hợp với sinh viên Sinh viên có thể sử dụng vốn ngôn ngữ đã có và vốn kiến thức nền đã tích lũy được của mình để thực hiện cuộc giao tiếp của mình được hiệu quả nhất Và khi giao tiếp, sinh viên cũng phải xác định được đối tượng giao tiếp là ai, có quan hệ như thế nào với mình Là những người thuộc bề trên hay bạn bè để sử dụng những câu nói khác nhau cho phù hợp với đối tượng giao tiếp
Như vậy, việc hiểu biết về người tiếp nhận (nghe, đọc) là điều không thể thiếu đối với người nói, viết Hiểu biết này càng cụ thể, càng phong phú thì hiệu quả giao tiếp càng cao Đó là những hiểu biết về thói quen sử dụng ngôn ngữ, lợi ích, kinh nghiệm, hoàn cảnh sống, của người tham dự giao tiếp Đó lànhững hiểu biết về nhu cầu, hứng thú, tâm lí, của họ Hiểu biết về thói quen ngôn ngữ của người nghe, người đọc sẽ giúp cho người nói, người viết cách lựa chọn phương tiện ngôn ngữ phù hợp với "khẩu vị" của họ, từ cách dùng từ,đặt câu tới cách sử dụng hình ảnh, để lựa chọn được những nội dung giao tiếp, lựa chọn được cách thức giao tiếp trong suốt quá trình giao tiếp Có thể nói rằng, việc nắm được thuộc tính của đối tượng giao tiếp thì sẽ là một điều kiện cần thiết
để xác lập chiến lược giao tiếp, nội dung giao tiếp, từ đó giúp các nhân vật giao tiếp đạt hiệu quả cao Sự hiểu biết về đối tượng
Trang 27giao tiếp càng phong phú, càng sâu săc bao nhiêu thì hiệu quả của việc giao tiếp càng cao bấy nhiêu
- Nội dung giao tiếp: Nội dung giao tiếp chính là vấn đề được đề cập đến trong khi giao tiếp Đó cũng có thể là những vấn đề trong thực tế khách quan bên ngoài con người (những sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội được con người nhận thức) hoặc cũng có thể là những hiện thực thuộc về con người, thuộc nội tâm con người, kể cả nội tâm người phát và người nhận (những tư tưởng, tình cảm, những câu chuyện tưởng tượng,) Và đó cũng có thể là chính ngôn ngữ và hành động ngôn ngữ hay bản thân cuộc giao tiếp bằngngôn ngữ Tuy nhiên, giữa ý định của người phát (nội dung dự kiến) với sản phẩm của việc thực hiện ý định đó thường bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định Không phải lúc nào người phát cũng có thể thể hiện hết và hoàn toàn chính xác những ý định của mình bởi rất nhiều lí do như khả năng sử dụng ngôn từ, hoàn cảnh giao tiếp, tình trạng tâm sinh lí, Do đó, giữa những điều thể hiện và nội dung dự kiến ban đầu của người nói, người viết bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định
Mặt khác, chúng ta vẫn phải nhấn mạnh lại một lần nữa rằng, nếu chúng
ta lioon luôn tính đến hiệu quả giao tiếp thì nội dung định thể hiện không phải bao giờ cũng hoàn toàn do phía người phát quyết định Bởi lẽ, trong giao tiếp, người tiếp nhận luôn luôn được xác định một cách cụ thể về nhận thức, về nghề nghiệp,
về tâm lí, về quan hệ xã hội, về hứng thú, tùy thuộc vào nhu cầu, hứng thú, thói quen, sở thích của họ Chính điều này đã tạo nên một áp lực buộc người phát phải lực chọn nội dung khi tiến hành giao tiếp
Như thế, đối với sinh viên Lào học tiếng Việt tại Học viện An ninh nhân dân khi các em học tiếng Việt cơ sở thì nội dung giao tiếp sẽ xoay quanh các chủ đề như chào hỏi, thời gian, thời tiết, mua sắm, giao thông, sở thích thói quen, sức khỏe, Giáo viên trong khi dạy cần định hướng vào những
nội dung giao tiếp trên từ đó giúp sinh viên phát triển năng lực giao tiếp
Trang 28- Hoàn cảnh giao tiếp: Hoạt động giao tiếp cũng như mọi hoạt động khác của con người bao giờ cũng diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định Hoàn cảnh giao tiếp hiểu một cách chung nhất, bao gồm các yếu tố không gian, thời gian, xã hội, tâm lí, văn hóa, quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp,
mà ở đó hoạt động giao tiếp đang diễn ra Xét ở phạm vi hẹp hơn, cụ thể hơn hoàn cảnh giao tiếp bao gồm những hiểu biết và cách ứng xử về thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, tình trạng sức khỏe, tâm lí, những sự việc xảy ra xung quanh, tồn tại trong quá trình giao tiếp Tất cả các yếu tố trên dù trực tiếp hay gián tiếp đều tác động đến hoạt động giao tiếp, chi phối hoạt động giao tiếp
Như vậy, hiểu một cách hẹp hơn, hoàn cảnh giao tiếp còn được gọi là ngữ cảnh, tình huống giao tiếp hay thoại trường
Tình huống giao tiếp có thể hiểu là môi trường xã hội và tâm lí mà ở mộtthời điểm nhất định người ta tiến hành hoạt động giao tiếp Một cuộc giao tiếp sẽ
có các thành tố: ai - với ai - về cái gì - ở đâu - khi nào (- để làm gì) Tương ứng với: người phát/ người nói - người nhận/ người ghe - chủ đề giao tiếp/ nội dung
giao tiếp - địa điểm - thời gian ( - động cơ, mục đích)
Có một số tác giả còn có sự phân chia tỉ mỉ hơn về tình huống giao tiếp và
họ cho rằng trong tình huống giao tiếp còn có các thoại trường Đó là một bộ phận nhỏ, hiện hữu của hoàn cảnh giao tiếp, ảnh hưởng trực tiếp đến hoàn cảnh giao tiếp, đến cuộc giao tiếp Đó chính là không gian, thời gian cụ thể vớinhững con người, sự vật tạo thành không gian, thời gian đó
Trong một cuộc giao tiếp, cái động chính là ngôn ngữ - ngôn ngữ liên tục thay đổi do các vai giao tiếp luân phiên với nhau Còn cái ở trạng thái tĩnh hơn chính là hoàn cảnh giao tiếp Nếu chúng ta càng chia nhỏ hoàn cảnh ra thì chúng ta càng nhìn thấy rõ hơn sự thay đổi của hoàn cảnh giao tiếp Bởi nếu ở góc độ khái quát thì rất khó nhận ra sự biến động của hoàn cảnh giao tiếp vì mỗi cuộc giao tiếp diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, thậm chí là rất
Trang 29ngắn nếu đặt nó vào hoàn cảnh giao tiếp theo nghĩa rộng là điều kiện lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng những thay đổi của nó phải tính bằng năm, thậm chí cả chục năm
Tùy vào từng ngữ cảnh, tình huống khác nhau mà các nhân vật giao tiếp có thể sử dụng các nội dung giao tiếp khác nhau, các dạng câu khác nhau
Và có khi chỉ những người tham gia trực tiếp vào tình huống giao tiếp đó mới hiểu được nội dung giao tiếp Chẳng hạn trong tình huống chị giao tiếp giữa chị với
em, em có thể hỏi: Chị ăn cơm chưa? Chị có thể trả lời: Rồi Trong tình huống trên nếu tách câu trả lời "Rồi" ra khỏi tình huống thì người đọc không hiểu được nội dung trả lời "Rồi" có nghĩa là gì nhưng đặt trong tình huống giao tiếp, chúng ta hiểu "Rồi" có nghĩa là Chị đã ăn cơm rồi Hơn nữa, xét về cấu trúc câu, câu trả
lời chưa phải là câu có đầy đủ cụm chủ - vị nhưng đặt trong ngữ cảnh trên, trong quan hệ chị trả lời với em thì hoàn toàn có thể được
Những nhận thức vừa nêu về hoàn cảnh giao tiếp, tình huống giao tiếp cho thấy dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung và cho sinh viên Lào nói riêng tại Học viện An ninh nhân dân trong hoạt động giao tiếp chính
là dạy học thông qua tình huống giao tiếp, bằng các tình huống giao tiếp cụ thể với sự tác động và điều chỉnh của các nhân tố giao tiếp
Như vậy, câu trong giao tiếp bị chi phối sâu sắc bởi các nhân tố giao tiếp Các nhân tố đó không chỉ chi phối việc sử dụng câu trong quá trình tạo lậpngôn bản ở người phát mà còn là cơ sở cho sự lĩnh hội câu ở người nhận Chính
vì vậy, việc dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt rất cần chú ý đến mối quan hệ giữa câu tiếng Việt với các nhân tố giao tiếp hay nói cách khác khi dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt phải đặt trong mối quan hệ với các yếu tố giao tiếp Người học phải học ngôn ngữ tiếng Việt với tư cách là một yếu tố trong giao tiếp, biết xử lí tốt mối quan hệ giữa các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp với việc sử dụng ngôn ngữ Giáo viên dạy ngữ pháp câu tiếng Việt trong giao tiếp cũng có nghĩa là dạy ngôn ngữ khi nó thực hiện hoạt động giao
Trang 30tiếp và trong quan hệ của nó với hoạt động ngoài ngôn ngữ Qua đó, người học nắm được quy tắc ngôn ngữ, quy tắc cấu tạo câu chịu sự chi phối của các yếu tố ngoài ngôn ngữ để sử dụng các câu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, từ
đó nâng cao năng lực giao tiếp của mình
1.1.1.2 Ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai
Hầu hết các nhà ngôn ngữ học dạy tiếng đều cho rằng ngôn ngữ thứ nhất là tiếng mẹ đẻ, là tiếng nói được sử dụng từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành trong xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó
Ngôn ngữ thứ hai thường được hiểu ở hai góc độ:
- Thứ nhất, với người nước ngoài khi học một ngoại ngữ thì ngoại ngữ
đó được gọi là ngôn ngữ thứ hai
- Thứ hai, ở một số nước sử dụng đa ngôn ngữ thì ngôn ngữ phổ thông được gọi là ngôn ngữ thứ nhất, còn ngôn ngữ của một cộng đồng được gọi là ngôn ngữ thứ hai Chẳng hạn ở Mỹ, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, tiếng Tây Ban Nha của cộng đồng người Tây Ban Nha ở Mỹ là ngôn ngữ thứ hai Ở
Úc, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, các ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc khác nhau là ngôn ngữ thứ hai
Ngoài cách hiểu trên, còn có một số cách hiểu về ngôn ngữ thứ hai thể hiện qua bảng sau:
Trang 31thành qua quá trình thụ đắc ngôn ngữ sớm, trong khi học ngoại ngữ lại hình thành từ sự thụ đắc ngôn ngữ muộn Trình độ của các kiểu ngôn ngữ này được đánh giá ở những khía cạnh khác nhau Việc đánh giá tiếng mẹ đẻ quan tâm nhiều đến vấn đề chính xác trong phát âm, phản xạ ngôn ngữ, cảm quan giao tiếp, cơ tầng văn hóa trong ngôn ngữ, trong khi việc đánh giá ngoại ngữ chẳng hạn lại chú ý nhiều hơn đến lĩnh vực giao tiếp theo tình huống Trình độ mẹ
đẻ thường gắn liến với khả năng tư duy, trình độ học vấn và hiểu biết xã hội, trong khi trình độ ngoại ngữ thường thể hiện qua vốn từ vựng, sự hiểu biết về cấutrúc cú pháp, sự phân biệt phong cách và khả năng diễn đạt
Đối với sinh viên Lào khi học tập tại Học viện An ninh nhân dân, ngôn ngữ thứ nhất hầu hết là tiếng tiếng Lào và như thế tiếng Việt chính là ngoại ngữ Tuy nhiên, trong số đó cũng có một số sinh viên là dân tộc thiểu số của Lào Đối với những sinh viên này, ngôn ngữ thứ nhất là tiếng Lào còn ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc mình được gọi là ngôn ngữ thứ hai và tất nhiên tiếng Việt là ngoại ngữ Việc dạy tiếng Việt cho đối tượng này nhìn chung sẽ khó khăn hơn Bởi vì, kiến thức nền của những sinh viên này còn mỏng, khả năng tư duy cũng khá chậm, thậm chí có mộ số sinh viên tiếng Lào chưa tốt nên khả năng dịch từ tiếng Việt sang tiếng Lào, khả năng tư duy về ngôn ngữ có nhiều hạn chế hơn so với những sinh viên khác Do khác biệt về hệ chữ viết (Chữ viết của tiếng Lào thuộc về hệ chữ Sancrit - hệ chữ viết của tiếng Việt là thuộc về hệ chữ Latinh) vì vậy, việc đầu tiên khi học tiếng Việt là việc làm quen với một loại mẫu tự mới; học cách ráp vần và đọc đúng vần, tiếng của tiếng Việt Hệ chữ viết Sancrit không dùng các loại dấu chấm câu, và quy tắc chính
tả như hệ chữ Latinh Do sự khác biệt về hệ ngôn ngữ và văn hóa nên sinh viên Lào có những khó khăn nhất định trong khi học tiếng Việt
1.1.1.4 Quá trình thụ đắc ngôn ngữ
Thụ đắc ngôn ngữ là quá trình mà con người đạt được khả năng nhận thức, sản sinh và sử dụng từ ngữ để hiểu biết và giao tiếp Ngôn ngữ này có
Trang 32thể ở dạng nói hoặc dạng viết Năng lực này bao gồm khả năng đa dạng về cú pháp, ngữ âm và một số từ vựng
Việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là quá trình mọi người học một ngôn ngữ thứ hai ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ của họ Quá trình này diễn ra sau quá trình thụ đặc ngôn ngữ thứ nhất tức là khi ngôn ngữ thứ nhất đã ổn định
Thừa nhận rằng một ngôn ngữ có thể được dạy và học với tư cách là tiếng mẹ đẻ hoặc là một ngoại ngữ hay ngôn ngữ thứ hai Như phân tích ở trên, các kiểu ngôn ngữ này có quá trình thụ đắc ngôn ngữ khác với tiếng mẹ
đẻ Khi trẻ em đến tuổi đi học thì dù chưa có kiến thức về ngôn ngữ nhưng đã
có sẵn các khả năng sử dụng ngôn ngữ đó như khả năng nghe, nói và hiểu (Quá trình thụ đắc sớm) Những người học ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai thì đi theo quá trình ngược lại Họ đã hiểu biết một ngôn ngữ, đã nắm được các khái niệm chung như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và bắt đầu học các hệ thống đó để có khả năng sử dụng ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai này (Quá trình thụ đắc muộn hoặc Quá trình thụ đắc nối tiếp)
Trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai có sự tiếp xúc và tương tác giữa hai ngôn ngữ thứ nhất hay tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ Các SV trong giai đoạn đầu phải sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ để nhận biết những sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, đó là nguyên tắc đối chiếu tương phản Hai ngôn ngữ nguồn và đích có thể giống nhau, có thể hoàn toàn khác nhau hoặc chỉ một số điểm tương đồng Do đó, khi dạy, học một ngoại ngữ cần chú ý đối chiếu giữa ngôn ngữ mẹ đẻ của người học và ngôn ngữ đích để tìm ra những điểm giống và khác nhau nhằm tìm ra phương pháp dạy hiệu quả nhất Các nhà nghiên cứu cho rằng, quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai đã hình thành nên ngôn ngữ trung gian như là bước đệm, chuyển tiếp giữa hai ngôn ngữ Ngôn ngữ trung gian sẽ từng bước rời xa ngôn ngữ thứ nhất và ngày càng tiến gần ngôn ngữ thứ hai trong quá trình học
Có nhiều mục đích khác nhau dẫn tới việc học ngôn ngữ thứ hai, đặc biệt là trong xã hội hiện nay, khi sự giao lưu quốc tế ngày càng phát triển
Trang 33Người học có thể học ngoại ngữ vì mục đích nghiên cứu, học tập, làm việc hoặc vì mục đích kinh doanh hay sở thích cá nhân Nhưng nhìn chung, mục đích chính của việc thụ đắc ngôn ngữ thứ hai là để giao tiếp bằng ngôn ngữ đó
và tìm hiểu các kiến thức về văn hóa, xã hội, lịch sử, kinh tế của dân tộc ngôn ngữ
đó Dù học với mục đích gì thì bất cứ học viên nào cũng có những khó khăn và thuận lợi nhất định khi học một ngoại ngữ Hơn nữa, có rất nhiều nhân tố khácnhau ảnh hưởng, tác động đến quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của một người
Đó là vấn đề tuổi tác, quan niệm cá nhân, gia đình và xã hội đối với ngôn ngữ thứ hai này Đó còn là vấn đề sức khỏe, tâm lí, động cơ thúc đẩy học viên, các điềukiện về phương tiện kĩ thuật hỗ trợ Môi trường giao tiếp cũng là một yếu tố quan trọng quyết định tới quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Nếu việc học diễn ra trong môi trường giao tiếp bằng chính ngôn ngữ đích thì quá trình học sẽ gặp nhiều thuận lợi và rút ngắn được nhiều thời gian, công sức Ngược lại, nếu việc học được tiến hành trong môi trường mà giao tiếp xã hội không sử dụng ngôn ngữ đích thì người học sẽ gặp nhiều khó khăn hơn
1.1.2 Câu trong tiếng Việt và việc dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
1.1.2.1 Câu và các kiểu câu tiếng Việt dưới góc độ ngữ pháp
Trong ngôn ngữ học, nếu dựa vào tiêu chí có sẵn/không có sẵn để phân loại các đơn vị ngôn ngữ sẽ có:
- Các đơn vị ngôn ngữ có sẵn: Âm vị, hình vị, từ, ngữ cố định Đó là các đơn vị có sẵn trong hệ thống ngôn ngữ, người sử dụng không phải tạo ra chúng, số lượng của chúng là hữu hạn
- Các đơn vị ngôn ngữ không có sẵn: Cụm từ tự do, câu Các đơn vị ngôn ngữ này không có sẵn trong hệ thống ngôn ngữ Để có nó, người sử dụng phải tự tạo nên Số lượng của nó là vô hạn Trong hoạt động giao tiếp người ta không nói với nhau bằng âm vị, hình vị, từ, cụm từ Đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng để giao tiếp là câu (văn bản nhỏ nhất, có thể chỉ là một câu) Đó là điểm khác nhau cơ bản giữa câu và các đơn vị dưới câu, không có sẵn
Trang 34Câu có nhiều phương diện như hình thức, nội dung nghĩa, chức năng, phạm vị
sử dụng
Đối với người học ngoại ngữ, việc nhớ và hiểu từ vựng là rất quan trọng Nhưng cũng không thể dùng từ để giao tiếp mà phải là câu Người học phải ghép các từ có được thành một câu đúng về hình thức và nội dung, đúng về ngữ cảnh giao tiếp Dạy ngữ pháp câu cho người học theo quan điểm giao tiếptức là xem xét câu ở cấu trúc và chức năng như thế nào trong hoạt động giao tiếp Vì vậy, việc nắm được câu trong hệ thống ngôn ngữ (cấu tạo, chức năng)
là rất cần thiết
a Câu trong hệ thống
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về câu Ở luận văn này, chúng tôi một định nghĩa phù hợp về câu có thể phát biểu như sau: "Câu là đơn vị nghiên cứu ngôn ngữ có cấu trúc ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ,
sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tìnhcảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ"
Cấu tạo ngữ pháp của câu được xem xét trên cơ sở câu đơn hai thành phần Bên trong câu đơn, đối tượng xem xét trước hết là các thành phần câu - tức là các chức vụ cú pháp của các yếu tố ngôn ngữ làm thành cấu trúc cú pháp của câu Nằm ngoài cấu trúc cú pháp của câu còn có những thành phần khác nữa như thành phần phụ và thành phần biệt lập của câu Trong cuốn
"Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt" của tác giả Nguyễn Kim Thản viết:
"Trong tình trạng bình thường, câu gồm hai thành phần chính Chủ ngữ là đối tượng hay sự việc mà vị ngữ tường thuật về đặc trưng của (hoạt động, trạng thái, tính chất hay chủng loại) và vị ngữ là thành phần tường thuật về chủ ngữ Hai thành phần này thường gắn bó với nhau chặt chẽ và thường dựa vào nhau
mà tồn tại Chúng làm thành phần nòng cốt Chúng không phụ thuộc vào thành phần khác" [45; 67]
Trang 35Như vậy, thành phần chính của câu gồm chủ ngữ và vị ngữ là những thành phần tạo nên nòng cốt của câu trên cơ sở quan hệ cú pháp gọi là qua hệ chủ - vị Đó là những thành phần không thể thiếu được trong câu bình thường vì thiếu một trong hai thành phần này câu không thể tồn tại được
Thành phần phụ của câu là thành phần thứ yếu của câu, dùng để bổ sung ý nghĩa cho câu hoặc để nhấn mạnh vào ý nghĩa nào đó, không tham dự vào việc xây dựng nòng cốt câu, ngăn cách với nòng cốt câu bằng quãng ngắt hơi khi nói được đánh dấu bằng dấu phẩy khi viết Căn cứ vào mặt ý nghĩa, cấu tạo và mặt ngữ pháp có thể có các loại thành phần phụ của câu như: trạng ngữ, đề ngữ, phụ tình thái Khác với thành phần chính, thành phần biệt lập không cấu tạo nên nòng cốt câu Khác với thành phần phụ, thành phần biệt lập không được bổ sung ý nghĩa cho câu, không có quan hệ về ý nghĩa và về ngữ pháp của câu
Đây là loại thành phần đứng biệt lập, biệt lập về ý nghĩa và về ngữ pháp đối với câu Có thể căn cứ vào ý nghĩa, cấu tạo và ngữ pháp để chia chúng thành ba loại nhỏ sau: phần hô đáp, phần phụ chú, phần chuyển tiếp
Có thể dựa vào những tiêu chuẩn khác để phân loại câu:
* Nếu dựa vào cấu trúc có thể chia thành ba loại: Câu đơn, câu ghép và câu phức
- Câu đơn là câu chỉ có một nòng cốt (có một kết câu chủ - vị) thường diễn đạt một sự việc đơn giản
Căn cứ vào tính chất nòng cốt có thể chia câu đơn thành hai loại, đó là: + Câu đơn hai thành phần (hay câu đơn bình thường): Là câu đơn mà nòng cốt câu được cấu tạo bằng một kết cấu chủ - vị (có thể thêm các thành phần phụ của câu)
+ Câu đơn đặc biệt (câu đơn một thành phần): Là câu đơn mà nòng cốt câu được cấu tạo bằng một từ hay một ngữ Thành phần duy nhất làm nòng cốt câu còn có các thành phần phụ khác như đề ngữ, trạng ngữ
Trang 36- Câu phức: Là câu có từ hai kết cấu chủ - vị trở lên, trong đó có một kết cấu chủ - vị làm nòng cốt câu còn kết cấu chủ - vị khác thì làm thành phần bên trong nòng cốt câu hoặc bên trong thành phần phụ của câu
Câu phức có 5 loại: Câu phức thành phần chủ ngữ, câu phức thành phần vị ngữ, câu phức thành phần định ngữ, câu phức thành phần bổ ngữ, câu phức thành phần trạng ngữ cách thức
- Câu ghép: Là câu có từ hai kết cấu chủ - vị trở lên, có quan hệ trực tiếp với nhau, nghĩa là không làm thành phần bên trong nòng cốt câu hoặc bên trong thành phần phụ của câu
Câu ghép có bốn loại: Câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ, câu ghép chuỗi và câu ghép qua lại
* Nếu dựa vào mục đích nói có thể chia thành bốn loại: Câu tường thuật (câu kể), câu nghi vấn (câu hỏi), câu cầu khiến (câu mệnh lệnh), câu cảm thán (câu cảm)
Trên đây là những cơ sở lí luận về câu tiếng Việt dưới góc độ ngữ pháp giúp chúng tôi có thể làm căn cứ cho đề tài của mình cũng như trong thực tiễn giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Lào
b Câu trong giao tiếp
Câu là một trong những đơn vị của hệ thống ngôn ngữ Khác với những đơn vị khác như âm vị, hình vị, từ thì câu bắt đầu thực hiện chức năng thông báo của ngôn ngữ Trong hệ thống ngôn ngữ, câu tồn tại với tư cách là những mô hình khái quát trong đầu óc của người bản ngữ Tuy nhiên, muốn thực hiện được chức năng là công cụ của tư duy và là một trong những phương tiện giao tiếp chủ yếu, quan trọng nhất của con người thì các mô hình câu phải được thực hiện hóa một cách cụ thể trong lời nói Câu đi vào trong lời nói sẽ mang theomột số đặc trưng mới cần được quan tâm cả về ý lẫn lời
Về ý câu, mỗi lời nói đều nhằm hướng về việc hoàn thành một mục đích giao tiếp Muốn vậy, chúng ta cần phải chứa đựng nội dung nhất định về
Trang 37một chủ đề nào đấy Đơn vị bé nhất có thể biểu hiện được một ý đó là câu trong lời nói Mỗi câu phải truyền đạt một ý nhất định trong hệ thống chung của chỉnh thể lời nói Như vậy là muốn xác định ý của một câu cụ thể, ta cần xem xét
nó trong mối quan hệ với tất cả các câu khác
Trong khi nói và viết, người ta không chỉ dùng câu để truyền đạt và thông báo một hiện thực khách quan mà còn lồng vào đấy sự đánh giá,thái độ, tình cảm sự đánh giá nhận xét được nêu trong một câu cụ thể cũng phải thống nhất phản ánh khuynh hướng của toàn bộ văn bản Ý gắn liền với lời, muốn nêu được ý phải chọn lời thích hợp
Câu là đơn vị ngôn ngữ dùng để thực hiện chức năng tư duy và giao tiếp Trước đây, câu mới chỉ được nghiên cứu ở phương diện ngữ pháp (tức ở mặt cấu trúc của câu), còn mặt sử dụng của câu chưa được đề cập đến một cách thỏa đáng Do đó, chưa có được những hiểu biết cần thiết trong việc sử dụng hữu hiệu ngôn ngữ trong cuộc sống Những năm gần đây, câu được nghiên cứu ở cả phương diện sử dụng, phương diện hành chức Trong giao tiếp, câu là yếu tố cơ bản để tạo lập ngôn bản
Khi xem xét câu ở bình diện sử dụng tức là xem xét câu trong hiện thực giao tiếp, trong trạng thái sống động linh hoạt vốn có của nó Đây cũng là việc làm đang được các nhà nghiên cứu quan tâm
Xét ở bình diện sử dụng, tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa câu với người sử dụng, giữa câu với việc sử dụng câu trong một tình huống giao tiếp cụ thể nhằm phát hiện ra ý nghĩa của câu trong tình huống cụ thể mà nghĩa của chữ (nghĩa tường minh) không phản ánh được Ý nghĩa không bộc lộ trực tiếp qua câu chữ gọi là nghĩa ngữ dụng (nghĩa hàm ẩn) Như vậy, muốn tìm hiểu nghĩa ngữ dụng phải đặt nó vào tình huống giao tiếp cụ thể Bởi chỉ có ở đó, quan hệ, thái độ, dụng ý của người nói và người nghe mới được bộc lộ
Các nhân tố sẽ là cơ sở giúp người nghe hiểu đúng nghĩa ngữ dụng của câu
Điều này rất quan trong đối với việc dạy học ngoại ngữ nói chung cũng như việc dạy học tiếng Việt cho sinh viên Lào Câu được đặt trong tình huống giao tiếp là cách tốt nhất để nắm được nghĩa sử dụng
Trang 38D: - Hôm nay là chủ nhật
Trong câu trên, khi xem xét về mặt cấu tạo thì là một câu đơn Nhưng xét ở bình diện nghĩa thì đây là câu có hành vi khẳng định và nội dung khẳng
định ở đây là: Hôm nay là ngày chủ nhật Đây là thông tin mà câu chữ của
câu thể hiện Và nếu tách câu trên khỏi ngữ cảnh thì hiển nhiên nó chưa có nghĩa ngữ dụng Nhưng nếu đặt câu trên vào những ngữ cảnh khác nhau, nó
sẽ có những nghĩa ngữ dụng khác nhau Chẳng hạn:
Ngữ cảnh 1: Mẹ nói với con gái:
Mẹ: Con gái ơi, dậy đi thôi!
Con gái: Mẹ ơi! Hôm nay là chủ nhật mà
Trong ngữ cảnh trên, câu Hôm nay là chủ nhật biểu hiện hành vi yêu cầu Hành vi yêu cầu này không được thể hiện bằng câu chữ nhưng người mẹ cóthể hiểu được đó là: Mẹ đừng gọi con dậy, để con ngủ thêm vì hôm nay là chủ nhật
Ngữ cảnh 2: Trong một gia đình, ngày chủ nhật bố mẹ thường cho con
đi chơi
Con gái: Mẹ ơi, hôm nay là chủ nhật đấy!
Mẹ: Con thích đi đâu?
Trong ngữ cảnh này, câu đáp của người mẹ dường như không ăn nhập
gì với câu nói trên của người con Nhưng dựa vào ngữ cảnh chúng ta hiểu câu nói của người con là: Hôm nay là chủ nhật biểu thị hành vi nhắc nhở, gợi ý
mẹ đi chơi
Như vậy, trong những ngữ cảnh khác nhau thì nghĩa ngữ dụng cũng khác nhau Nghĩa ngữ dụng phụ thuộc vào ngữ cảnh nhất định Và vì phụ thuộc vào ngữ cảnh nên nghĩa ngữ dụng của câu mơ hồ, khó xác định hơn so với sự việc của câu Bởi thế, khi xác định nghĩa ngữ dụng của câu ta phải đặt câu vào ngữ cảnh nhất định Cùng một hình thức câu nhưng ở những ngữ cảnh khác nhau thì nghĩa ngữ dụng nó diễn đạt cũng khác nhau
Trang 391.1.2.2 Dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
Những năm gần đây, thuật ngữ, dạy tiếng Việt theo lí theo lí thuyết giao tiếp, quan điểm giao tiếp/ cách tiếp cận giao tiếp đã trở nên quen thuộc trong giới dạy tiếng cả trong và ngoài nước Nó theo một nguyên lí bao trùm: ngôn ngữ là để giao tiếp và mục đích của việc học ngôn ngữ là dùng để giao tiếp Theo quan điểm giao tiếp dạy học tiếng sẽ chú trọng đến nghĩa được truyền đạt hơn là cấu trúc cú pháp
Trước đây, cái đích của việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài theo cách dạy truyền thống là nắm vững các cấu trúc cú pháp, từ vựng với vai trò trung tâm là người dạy Thậm chí nếu phương pháp truyền thống có đề cập đến đích giao tiếp thì nó vẫn coi cấu trúc cú pháp và từ vựng là cái thang để
đo hiệu quả Theo đó, việc dạy ngữ pháp câu tiếng Việt sẽ được chú trọng ở việc cung cấp các cấu trúc câu và luyện thành thạo các cấu trúc câu Vẫn biết ngữ pháp chiếm một vị trí quan trọng để đánh giá hay tạo nên năng lực giao tiếp cho người học nhưng nó chỉ là một trong ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của ngôn ngữ Trong khi đó, dạy học theo lí thuyết giao tiếp lại rất chú trọng đến năng lực giao tiếp cho người học, giúp người học có thể sử dụng các quy tắc ngôn ngữ một cách linh hoạt, uyển chuyển để họ có thể diễn đạt và thể hiện khả năng giao tiếp của mình một cách chủ động hay phản xạ nhanh trong các tình huống giao tiếp thực tế, phù hợp với môi trường văn hóa xãhội người bản ngữ, người học trở thành trung tâm của lớp học Nhìn chung, cóthể nói rằng: nếu như phương pháp dạy học truyền thống chú trọng đến việc học và rèn luyện thành thạo cấu trúc cú pháp của câu thì dạy học tiếng theo lí thuyết giao tiếp lại nhấn mạnh đến năng lực giao tiếp, năng lực sử dụng ngôn ngữ thành thạo Dạy học theo lí thuyết giao tiếp cũng là dạy cho người học biết về đặc điểm cấu trúc của ngôn ngữ nhưng là để dùng trong giao tiếp chứ không phải biết nhiều mà không dùng được Như vậy theo lí thuyết giao tiếp vẫn dạy ngữ pháp, vẫn dạy về cấu trúc cú pháp của câu nhưng
Trang 40mục đích và cách dạy có khác nhau Và rõ ràng việc vận dụng lí thuyết giao tiếp vào dạy học ngữ pháp tiếng Việt hay dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt chắc chắn sẽ mang tính thực tiễn rất cao
Quan điểm giao tiếp/ cách tiếp cận giao tiếp trong dạy học tiếng ra đời vào cuối những năm 60 của thế kỉ trước ở Anh Từ thập niên chín mươi đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã và đang áp dụng quan điểm giao tiếp để giảng dạy ngôn ngữ Trước đó, theo thuyết hành vi "việc học ngôn ngữ xảy ra
do hình thành thói quen với mục tiêu là tạo ra ngôn ngữ hoàn toàn không có lỗi" [52; tr.51] Nói cách khác "theo thuyết hành vi, người học trước tiên nắm vững tất cả các dạng ngữ pháp, cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc ngôn ngữ và cuối cùng mới chuyển sang biểu đạt ngữ nghĩa" [52; tr.51] Cùng với thuyết này là sự
ra đời của phương pháp nghe nhìn chú trọng vào rèn luyện ngữ pháp
Khác với thuyết hành vi nói trên, "Corder cho rằng người học không thể tránh khỏi lỗi, và lỗi được xem là công cụ người học sử dụng để học" [52; tr 53] Thực tế cho thấy "lỗi ngữ pháp mắc phải cho thấy quá trình học đang xảy
ra và giao tiếp đang được thực hiện hơn là học vẹt các điểm ngôn ngữ đã nhớ trong đầu" [52; tr 54] Dạy học theo lí thuyết giao tiếp chủ trương tạo cơ hội
để người học dùng ngôn ngữ qua giao tiếp để quá trình thương lượng ngữ nghĩa xảy ra Qua giao tiếp, người tham gia đối thoại phải làm cho người khác hiểu những gì mình muốn nói Khi người cùng hội thoại ngụ ý cách dùng ngôn ngữ sai mà không cần phải chỉ ra lỗi một cách rõ ràng người học tự chú ý đến vấn đề giao tiếp và vì thế sẽ tư duy và xử lí thông tin về ngôn ngữ nhiều
hơn Chẳng hạn nếu sinh viên nói: "Hôm qua, em đi du lịch", giáo viên nên tiếp tục là: "Ồ, hôm qua em đi du lịch à" Như thế vừa giúp người học luyện
được cấu trúc ngữ pháp nhưng quan trọng nhất là không làm gián đoạn mạch giao tiếp "Bản chất của những điều chỉnh ngôn ngữ quan giao tiếp như là những công cụ lối kéo sự chú ý rất hữu ích để quá trình lĩnh hội ngôn ngữ xảy ra" [52; tr.54] Điều này giải thích tại sao việc dạy học theo quan điểm giao