ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC DƯƠNG THỊ THANH PHƯƠNG BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU- VẬT LÍ L
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG THỊ THANH PHƯƠNG
BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG DÒNG ĐIỆN
XOAY CHIỀU- VẬT LÍ 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ
HÀ NỘI - 2014
i
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
DƯƠNG THỊ THANH PHƯƠNG
BỒI DƯỠNG TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA VIỆC HƯỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG DÒNG ĐIỆN
XOAY CHIỀU- VẬT LÍ LỚP 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian qua, đề tài luận văn được hoàn thành không chỉ bởi nỗ lực của bản thân mà tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các thầy cô, đồng nghiệp, người thân và học sinh
Đầu tiên tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong trường Đạihọc Giáo dục - ĐHQG Hà Nội đã tận tình giảng dạy, trang bị kiến thức, quan tâm tới tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài này
Lời cảm ơn đặc biệt tôi xin gửi tới PGS.TS Đinh Văn Dũng thầy đã luôn theo sát, chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, tổ Lý - Hóa - Sinh trường THPT Hoàng Văn Thụ thành phố Hải Dương và các bạn học viên Thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Vật Lý K8, các em học sinh, người thân trong gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài
Dù đã cố gắng song bản luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót Kính mong được sự chỉ dẫn thêm của các thầy, cô và đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Dương Thị Thanh Phương
i
Trang 4Đại học Giáo dục Sách giáo khoa Thực nghiệm Thực nghiệm sư phạm Trung học phổ thông
ii
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Danh mục viết tắt
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, đồ thị
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN
1.1 Bài tập vật lí
1.1.1 Khái niệm về bài tập vật lí
Trang i ii iii v vi vii 1 5 5 5 1.1.2 Vai trò của bài tập vật lí 5
1.1.3 Phân loại bài tập vật lí 7
1.1.4 Phương pháp giải bài tập vật lí 11
1.2 Tư duy sáng tạo và việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh 15
1.2.1 Khái niệm tư duy 15
1.2.2 Tư duy sáng tạo 15
1.2.3 Đặc điểm của tư duy sáng tạo 16
1.2.4 Các biện pháp bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh 20
1.3 Thực trạng của việc dạy giải bài tập vật lí ở trường THPT Hoàng Văn Thụ - Thành phố Hải Dương 24
1.3.1 Thực trạng hoạt động dạy giải bài tập vật lí trường Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ 24
1.3.2 Nguyên nhân của những khó khăn, trở ngại khi bồi dưỡng tư duy sáng tạo của học sinh thông qua việc hướng dẫn giải bài tập chương Dòng điện xoay chiều và phương hướng khắc phục 27
Kết luận chương 1 28
Chương 2: XÂY DỰNG TÀI LIỆU VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 29
2.1 Cấu trúc nội dung chương "Dòng điện xoay chiều" Vật lí lớp 12 29
iii
Trang 62.1.1 Vị trí chương "Dòng điện xoay chiều" trong chương trình vật lý phổ thông 29
2.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương "Dòng điện xoay chiều" Vật lí lớp 12
2.1.3 Mục tiêu dạy học
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập
2.2.2 Những hoạt động chính giáo viên cần rèn cho học sinh khi hướng dẫn giải bài tập nhằm bồi dưỡng tư duy sáng tạo
2.2.3 Mô tả hệ thống bài tập
2.2.4 Hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập - bồi dưỡng tư duy sáng tạo theo các thành phần cơ bản của tư duy sáng tạo
Kết luận chương 2
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm
3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm
3.3 Tiến trình thực nghiệm sư phạm
3.4 Thời gian thực nghiệm 3.5 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 3.5.1 Tiêu chí để đánh giá
3.5.2 Sơ bộ đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập và sự hướng dẫn của 29 30 31 31 32 33 46 69 70 70 70 70 71 71 71 giáo viên theo hướng bồi dưỡng tư duy sáng tạo của học sinh 72
3.5.3 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm bằng phương pháp thống kê toán 74
Kết luận chương 3 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
iv
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1 Bảng thống kê điểm số 75 Bảng 3.2 Bảng xử lí kết quả 7.6 Bảng 3.3 Các tham số đặc trưng 77 Bảng 3.3 Bảng tần suất và tần suất lũy tích 7.7
v
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang Biểu đồ 3.1 Phân bố điểm theo 11 bậc lớp 12A1 8 7Biểu đồ 3.2 Phân bố điểm theo 11 bậc lớp 12A2 8 7
Đồ thị 1 Đường phân bố tần suất lũy tích (hội tụ lùii () %) 9 7
vi
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 1.1 Phân loại bài tập vật lí 8 Hình 1.2 Sơ đồ lập luận theo phương pháp phân tích 13 Hình 1.3 Sơ đồ lập luận theo phương pháp tổng hợp 14 Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương "Dòng điện xoay chiều" 3.0
vii
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ và
sự bùng nổ thông tin trên nhiều lĩnh vực, thế giới đang bước vào thời đại của toàn cầu hoá thì vai trò của giáo dục ngày càng được tăng cường trong việc "Đào tạo
ra những người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề thực tế" Định hướng cho phát triển giáo dục đó là "Phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên" (Luật giáo dục 1998, chương 1, điều 24)
Vật lý là một môn học tự nhiên không chỉ cung cấp cho người học sự hiểubiết các hiện tượng tự nhiên, kỹ thuật mà còn là môn học giúp người học phát triển năng lực tư duy thông qua những suy luận có tính logic hoặc qua những hệthống các bài tập mà chương trình môn học đưa ra Trong đó, chương "Dòng điện xoay chiều" thuộc chương trình Vật lí lớp 12 là một trong những nội dung hàm chứa tương đối nhiều kiến thức với một hệ thống phong phú các bài tập Điều
đó có thể gây trở ngại rất lớn cho người học khi phải tiếp cận với nội dung của chương Nếu không có một tư duy sáng tạo linh hoạt thì việc giải quyết mảng bài tập thuộc chương này, nhất là những bài tập nâng cao sẽ rất khó khăn Từ
những suy nghĩ đó, chúng tôi mong muốn được tìm hiểu đề tài "Bồi dưỡng tư duy
sáng tạo cho học sinh thông qua việc hướng dẫn giải
bài tập chương Dòng điện xoay chiều - Vật lí 12"
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Tới nay ngày càng nhiều những nghiên cứu khoa học quan tâm đến vấn đềxây dựng và định hướng hoạt động giải bài tập cho học sinh Điển hình về luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề này như "Xây dựng hệ thống và hướng dẫn giải bài tập chương Dao động cơ vật lí 12 trung học phổ thông, chương trình cơ bản theo hướng tính tích cực, tự chủ và bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh " - Luận văn thạc sĩ ĐHGD 2012 của tác giả Phạm Thị Thúy Hồng, "Xây
1
Trang 11dựng hệ thống và hướng dẫn giải bài tập chương Dòng điện xoay chiều vật lí
12 THPT chương trình nâng cao dành cho học sinh lớp chọn" - Luận văn thạc sĩ ĐHGD 2013 của tác giả Nguyễn Văn Nhiệm, "Xây dựng hệ thống và hướng
dẫn hoạt động giải bài tập chương Cảm ứng điện từ -Vật lí lớp 11 nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT chuyên" - Luận văn thạc sĩ ĐHGD 2013 của tác giả Phạm Thị Lan Anh, "Xây dụng và sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học chương Dòng điện xoay chiều vật lí lớp 12 nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi" - Luận văn thạc sĩ ĐHGD 2013 của Vũ Văn PhongNgoài ra có rất
nhiều sách, tài liệu về bài tập vật lí hay và chọn lọc để làm phong phú nguồn tài nguyên để học sinh và giáo viên tham khảo Tuy nhiên, nghiên cứu về dạy học vật lí nhằm bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo còn chưa nhiều, đặc biệt về mảng kiến thức khá lớn và quan trọng như Dòng điện xoay chiều trong chương trình vật
lí 12 chưa thực sự được nghiên cứu một cách đầy đủ
3 Mục đích nghiên cứu
Chọn lựa, xây dựng hệ thống bài tập chương Dòng điện xoay chiều trong chương trình Vật lí 12 và hướng dẫn hoạt động giải bài tập nhằm rèn thói quen chủ động, suy nghĩ sáng tạo cho học sinh khi giải quyết các bài tập
Trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể chủ yếu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu lý luận về bài tập trong dạy học vật lí, về tư duy
sáng tạo và mối quan hệ giữa hoạt động giải bài tập vật lí và sự phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
Thứ hai, xây dựng hệ thống bài tập chương Dòng điện xoay chiều và tổ
chức dạy học để hướng dẫn học sinh giải các bài tập đó theo hướng đi tìm lời giải tốt nhất cho bài toán, qua đó có tác dụng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Thứ ba, thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng của việc hướng dẫn
học sinh giải các tập đòi hỏi sự sáng tạo đã được xây dựng ở chương Dòng điện xoay chiều trong chương trình Vật lí lớp 12 cơ bản tại trường THPT
2
Trang 12Hoàng Văn Thụ tỉnh Hải Dương Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm,
những thành công cũng như những khó khăn mà việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh thường gặp phải và đề xuất hướng khắc phục
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động dạy và học giải bài tập vật lí lớp 12 Phạm vi nghiên cứu là hoạt động dạy học về bài tập vật lí chương Dòng
điện xoay chiều - Vật lí 12
Đối tượng thực nghiệm: hoạt động dạy học về bài tập vật lí chương
Dòng điện xoay chiều - Vật lí 12 tại trường THPT Hoàng Văn Thụ - thành phố Hải Dương
5 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc và nghiên cứu các
tài liệu về lí luận dạy học đại cương, lí luận dạy vật lí, tài liệu về các bài tập liên quan đến chương đang đề cập, các tài liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau như sách báo, đề thi, tạp chí chuyên ngành, các công trình, đề tài nghiên cứu khoa học có nội dung liên quan
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra - khảosát
bằng phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm
Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và
phân tích thống kê
6 Giả thuyết khoa học
Nếu có thể xây dựng được một hệ thống các bài tập và tổ chức hoạt động dạy giải bài tập để dẫn dắt học sinh xử lý các bài tập đó một cách linh hoạt nhằmtìm ra lời giải tối ưu thì có thể bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho các em
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận của đề tài:
3
Trang 13Đưa ra được tầm quan trọng của việc phát triển tư duy sáng tạo cho người học và cung cấp một cách rõ ràng cơ sở lý luận về sự thúc đẩy cho tư duy người học sáng tạo hơn thông qua hoạt động giải các bài tập vật lí
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài :
Hình thành và phát triển tư duy sáng tạo bằng cách tạo ra thói quen chủ động đi tìm lời giải tối ưu cho bài toán trên hệ thống bài tập chương Dòng điện xoay chiều - chương trình Vật lí 12 đã được xây dựng Tài liệu sẽ giúp ích cho học sinh hứng thú, say mê với môn học hơn nhờ được tăng cường khả năng tự học và tư duy sáng tạo Đồng thời đây sẽ là một tài liệu mới hữu ích cho các giáo viên tham khảo
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Xây dựng tài liệu và hướng dẫn tổ chức hoạt động dạy học Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
4
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Bài tập vật lí
1.1.1 Khái niệm về bài tập vật lí
Một vấn đề hay một câu hỏi cần giải đáp nhờ lập luận logic, suy luận toán học hay thực nghiệm vật lí trên cơ sở sử dụng các định luật và các
phương pháp của vật lí học gọi là bài toán vật lí [9]
Bài toán vật lí hay đơn giản gọi là các bài tập vật lí là một phần quan trọng của quá trình dạy học vật lí vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các khái niệm vật lí, phát triển tư duy và thói quen vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn
UNESCO đã từng nhấn mạnh rằng: "Trái với thông lệ cổ truyền, việc giảng dạy ngày nay phải thích nghi với người học, chứ không buộc người học tuân theo những quy định sẵn có trong việc dạy học" Định hướng đó đã phát triển mục đích của việc học tập từ chỗ học để biết đến học để hành rồi đến học
để thành người tự chủ, năng động và sáng tạo Chỉ có vậy mới đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn là đào tạo được những con người phải có cả kiến thức và phương pháp tư duy
1.1.2 Vai trò của bài tập vật lí
Hệ thống bài tập có vai trò rất đa dạng trong quá dạy học vật lí Nếu không được tiếp cận với hệ thống bài tập sau giai đoạn tìm hiểu các vấn đề lý thuyết trừu tượng thì không thể hiểu sâu sắc và vận dụng những lý thuyết đã học vào thực tế Vì trong lúc xây dựng kiến thức học sinh mới chỉ nắm các kiến thức một cách khái quát, mà trong thực tế thì các kiến thức đó lại được biểu hiện một cách muôn màu muôn vẻ và đôi khi rất phức tạp, vậy nên hệ thống bài tập cũng đóng vai trò là một kênh thông tin giúp mở rộng và đào sâu kiến thức Ví dụ khi thực hiện bài tập trắc nghiệm:
Để tăng dung kháng của một tụ điện phẳng có điện môi là không khí, ta cần
5
Trang 15A tăng tần số điện áp đặt vào hai bản tụ điện
B tăng điện dung của tụ điện
C giảm điện áp hiệu dụng giữa hai bản tụ điện D
tăng khoảng cách giữa các bản tụ điện
Thông thường học sinh chưa thể trả lời câu hỏi này ngay vì bài tập được tổng hợp từ nhiều kiến thức Khi đó, hầu hết các em đều phải sử dụng phương pháp loại trừ để làm bài tập Đáp án tìm ra là D sẽ giúp các em thêm thông tin
về đại lượng dung kháng
Hệ thống bài tập vật lí vừa là phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức mộtcách sinh động đôi khi cũng có vai trò là gợi ý để khởi đầu dẫn dắt đến một kiến thức mới Ví dụ trong bài 13 sách giáo khoa vật lí lớp 12 cơ bản "Mạch R,L,C nối tiếp", để xây dựng biểu thức điện áp tức thời hai đầu đoạn
mạch theo biểu thức cường độ dòng điện tức thời, giáo viên có thể xây dựng kiến thức dưới dạng một bài tập vật lí và giới thiệu phương tiện giản đồ véc tơ quay là học sinh hoàn toàn có thể tự xây dựng được kiến thức của bài mới
Giải bài tập nói chung và giải bài tập vật lí nói riêng là một trong những hình thức luyện tập được thực hiện nhiều nhất trong các nhà trường phổ thông vì tính hiệu quả mà nó đem lại Vì thông qua hoạt động giải bài tập học sinh sẽ rèn luyện được các kỹ năng cần thiết như vận dụng lí thuyết vào thực tế, kỹ năng tổng hợp và phân tích vấn đề, kỹ năng xử lí số liệu, kỹ năng tính toán, kỹ năng phản ứng nhanhNhư vậy, khi học sinh có thể hình thành các kỹ năng để giải quyết tốt các bài tập thì kiến thức cũng được các em nắm vững một cách thực sự sâu sắc
Mặt khác, qua kết quả của việc học sinh giải quyết các bài tập vật lí, giáoviên có thể kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng, đặc biệt phát hiện trình độ trí tuệ của học sinh Từ cơ sở đó, giáo viên sẽ điều khiển quá trình tổ chức dạy học để phù hợp hơn với học sinh của mình
6
Trang 16Một ưu điểm của hệ thống bài tập nữa là học sinh sau khi nắm vững lí thuyết thường hào hứng giải quyết các bài toán, tự thử sức mình để củng cố kiến thức Trong quá trình làm bài tập, các em có thể gặp khó khăn vì vậy đòi hỏi các em phải rèn tính chủ động, kiên trì để đạt được mục đích trong nhiệm vụhọc tập - đó cũng là những thói quen tốt mà các em cần hình thành Có thể nói, bài tập vật lí là một phương tiện tốt để phát huy sự tự lực trong công việc, khả năng độc lập trong suy nghĩ và hành động để giúp các em vượt qua các trở ngại khi đối mặt với các nhiệm vụ trong học tập cũng như trong đời sống của mình
Hệ thống bài tập vật lí còn tỏ ra có một vai trò rất hiệu quả trong việc tác động tới năng lực tư duy của học sinh Thực ra, mục đích của việc dạy học vật lý không phải là giúp học sinh biết làm bài tập mà phải làm sao cho học
sinh hiểu sâu sắc các quy luật vật lí, biết phân tích và ứng dụng chúng vào những vấn đề thực tiễn và cuối cùng phát triển được năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề Qua quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do bài tập vật lí đặt
ra, học sinh phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa để giải quyết vấn đề, theo đó tư duy của học sinh sẽ
có điều kiện để phát triển Có những bài tập không chỉ dừng lại ở phạm vi vận dụng những kiến thức đã học mà còn giúp học sinh bồi dưỡng tư duy sáng tạo
Vì vậy có thể coi bài tập vật lí với chức năng là một phương pháp dạy học ở một vị trí đặc biệt trong dạy học vật lí ở nhà trường phổ thông
1.1.3 Phân loại bài tập vật lí
Số lượng các bài tập Vật lí sử dụng trong thực tiễn dạy học hiện nay rất lớn, vì vậy cần có sự phân loại sao cho có tính tương đối thống nhất về mặt lí luận cũng như thực tiễn cho phép người dạy lựa chọn và sử dụng hợp lí các bàitập vật lí trong dạy học Các bài tập vật lí khác nhau về nội dung và mục đích dạy học, vì vậy trong dạy học vật lí có thể phân loại chúng như sau: [10]
7
Trang 17BÀI TẬP VẬT LÍ
Phân loại theo
nội dung
Phân loại theo yêu cầu phát triển tư duy
Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải
Bài tập
có nội dung lịch
Bài
tậ p vật lí vui
Bài tập luyệ n tập
Bài tập sáng
tạ o
Bài tập định tính
Bài tập định lượng
Bài tập thí nghiệm
Bài tập
đồ thị
Trắc nghiêm khách quan
Cơ Nhiệt Điện Quang
Hình 1.1 Phân loại bài tập vật lí Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, các phương án phân loại như trên không
hoàn toàn tách biệt, một bài tập cụ thể có thể đồng thời thuộc một vài nhóm khác nhau
1.1.3.1 Phân loại bài tập theo nội dung: Đây là cách chia các bài tập theo các
đề tài của tài liệu vật lí Theo đó, người ta phân thành các bài tập về Cơ học, Vật lí phân tử, Điện học sự phân chia này mang tính quy ước, bởi vì kiến
thức sử dụng trong giả thiết một bài tập thường không phải chỉ lấy trong một
chương mà có thể lấy từ nhiều chương, nhiều phần vật lí khác nhau trong
chương trình vật lí đã học
8
Trang 18Theo nội dung, bài tập vật lí cũng có thể phân chia thành các bài tập có nội dung trừu tượng và bài tập có nội dung cụ thể, bài tập có nội dung thực tế, bài tập có nội dung lịch sử, bài tập vui
Ở các bài tập có nội dung trừu tượng, các dữ kiện đều cho dưới dạng các kíhiệu, lời giải cũng sẽ biểu diễn dưới dạng một công thức chứa đựng ẩn số và dữ kiện đã cho, bản chất vật lí được nêu bật lên còn những chi tiết không không bản chất bị bỏ bớt
Ngược lại, với các bài tập có nội dung cụ thể, các dữ kiện đều cho dưới dạngcác con số cụ thể Ưu điểm của bài tập trừu tượng là nhấn mạnh bản chất vật lí của hiện tượng mô tả trong bài tập, còn ưu điểm của các bài tập cụ thể mang đặc trưng trực quan gắn liền với thực tiễn, với kinh nghiệm sống của học sinh Dạng bài tập này có có tác dụng tập dượt cho học sinh phân tích các
hiện tượng vật lí cụ thể để làm rõ bản chất vật lí
Các bài tập có nội dung thực tế là bài tập chứa đựng những kiến thức về
kĩ thuật, về sản xuất công nông nghiệp về giao thông liên lạc là những bài tập có tác dụng lớn về giáo dục kĩ thuật tổng hợp
Bài tập có nội dung lịch sử: đó là những bài tập chứa đựng những kiến thức có đặc điểm lịch sử - những dữ liệu về các thí nghiệm vật lí, về những phát minh sáng chế hoặc về những câu chuyện có tính chất lịch sử
N g o à i r a , đ ể p h á t t r i ể n v à d u y t r ì h ứ n g t h ú h ọ c v ậ t l í , n gư ờ i t a t h ư ờ n g sử dụng các bài tập vật lí vui làm cho bài học sinh động Trong các bài tập như vậy các điều kiện của bài tập thường chứa đựng các yếu tố nghịch lí hoặc gây hứng thú và trí tò mò ở học sinh Ví dụ: Khi nhắc về hiện tượng đoản mạch
GV có thể đưa ra câu hỏi: Tại sao những vụ hỏa hoạn do điện gây
ra thường xảy ra lúc buổi đêm hoặc những lúc ít dùng các thiết bị điện?
1.1.3.2.Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải: Theo
đó, người ta sẽ phân ra thành các dạng: bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị, bài tập trắc nghiệm khách quan
9
Trang 19Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải học sinh không cần thực hiện các phép tính phức tạp hay chỉ thực hiện những phép tính đơn giản hoặc tính nhẩm được Có hai loại bài tập định tính là giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng
Bài tập định lượng (bài tập tính toán) là loại bài tập mà khi giải học sinh phải thực hiện một loạt các phép tính để xác định mối liên hệ phụ thuộc về lượng giữa các đại lượng và kết quả thu được là một đáp án định lượng Đó là các bài tập khi giải phải sử dụng các phương pháp Toán học (dựa trên các định luật và quy tắc, thuyết vật lí) Dạng bài tập này sử dụng rộng rãi, thường được soạn thảo cho chương trình vật lí phổ thông Các bài tập này có thể giải trên lớp, trong giờ luyện tập, giao về nhà cho học sinh tập vận dụng kiến thức (sau đó
có sự kiểm tra của giáo viên) Dạng bài tập này có ưu điểm lớn là làm
sâu sắc các kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh vận dụng phương pháp nhận thức đặc thù của vật lí đặc biệt phương pháp suy luận toán học Bài tập thí nghiệm là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải bằng lí thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết cho bài tập Bài tập thí nghiệm có nhiều tác dụng về mặt giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn
Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong đồ thị đã cho trước hoặc ngược lại Bài tập đòi hỏi học sinh phảibiểu diễn quá trình diễn biến của hiện tượng đã nêu trong bài tập Bài tập đồ thị
có tác dụng rèn luyện kĩ năng đọc, vẽ đồ thị, mối quan hệ hàm số giữa các đại lượng mô tả trong đồ thị
1.1.3.3 Phân loại theo yêu cầu phát triển tư duy trong quá trình dạy học: Bài
tập luyện tập là loại bài tập dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng được những kiến thức xác định để giải từng bài tập theo mẫu xác định Ở đó chưa đòi hỏi học sinh phải tư duy sáng tạo mà chủ yếu để cho học sinh luyện tập, nắm vững cách giải đối với một loại bài tập đã được chỉ dẫn
10
Trang 20Bài tập sáng tạo là loại bài tập để phát triển tư duy sáng tạo của học sinh
Có thể chia bài tập sáng tạo thành bài tập nghiên cứu: khi cần giải thích một hiện tượng chưa biết trên cơ sở mô hình trừu tượng thích hợp từ lí thuyết vật lí; bài tập thiết kế: bài tập loại này là bài tập xây dựng mô hình thực nghiệm để kiểm tra kết quả rút ra từ lí thuyết Ngoài ra, bài tập sáng tạo còn được hiểu là bài tập có nhiều cách giải hoặc bài tập có cách giải hay Luận văn sẽ tập trung khai thác về bài tập sáng tạo kiểu này
1.1.4 Phương pháp giải bài tập vật lí
Đối với học sinh phổ thông, vấn đề giải bài tập, nhất là các bài tập nâng cao gặp không ít khó khăn Vì vậy các em giải một cách mò mẫm, không có định hướng rõ ràng, áp dụng công thức máy móc dẫn tới không thể đến được kết quả hoặc nếu tìm ra đáp số thì lời giải dài dòng và mất rất nhiều thời gian
Có nhiều nguyên nhân:
- Vì học sinh thường không có kiến thức lý thuyết chắc chắn và kĩ năng vận dụng kiến thức vật lí còn hạn chế
Học sinh chưa có phương pháp khoa học để giải bài tập vật lí
-Thiếu sự linh hoạt, sáng tạo
Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo đi đến kết quả một cách chính xác và nhanh chóng là một việc rất cần thiết Nó không những giúp học sinh có kiến thức lý thuyết chắc chắn, rèn luyện kĩ năng suy luận logic, làm việc một cách khoa học, có kế hoạch mà còn
là nền tảng để bồi dưỡng tư duy sáng tạo
Quá trình giải một bài tập Vật lí, đặc biệt là giải một bài tập phức tạp, có thể trải qua các bước chính sau: [10]
Bước 1 Tìm hiểu đề bài:
- Đọc, ghi ngắn gọn các dữ kiện đã cho và các đại lượng cần tìm
- Mô tả lại tình huống được nêu trong bài tập, vẽ hình minh họa Nếu
đề bài yêu cầu, thì phải làm thí nghiệm hoặc vẽ đồ thị để thu được dữ kiện
11
Trang 21(trong trường hợp bài tập thí nghiệm hoặc bài tập đồ thị) Trong nhiều trường hợp, cần đổi đơn vị của các đại lượng đã cho về đơn vị chuẩn (theo hệ SI) Bảnthân người giáo viên cần biết cách thể hiện các bài tập vật lí để học sinh dễ dàng trong việc tìm ra lời giải của bài toán Các cách thể hiện bài tập vật lí có thể là: dùng lời nói; dùng hình vẽ; dùng tranh ảnh; dùng phim video; sử
dụng các hiệu ứng trong các phần mềm trình chiếu
Bước 2 Xác lập mối liên hệ của các dữ kiện đã cho với đại lượng cần tìm:
- Đối chiếu các dữ kiện đã cho và cái phải tìm, xem xét bản chất vật lí của tình huống đã cho để nhận ra các định luật, công thức lí thuyết có liên quan
- Xác lập các mối liên hệ cụ thể của các dữ kiện đã cho và của cái cần tìm - Lựa chọn các mối liên hệ cơ bản, cho thấy sự liên hệ của yếu tố cần tìm với các dữ kiện đã có
Bước 3 Luận giải rút ra kết quả cần tìm:
- Từ các mối liên hệ cơ bản đã xác lập, tiếp tục luận giải, tính toán rút ra kết quả
Bước 4 Kiểm tra và biện luận kết quả: Để có thể xác nhận kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại việc giải theo một hoặc một số cách sau:
- Kiểm tra xem đã trả lời hết các câu hỏi chưa, đã xét hết các trường hợp chưa
- Kiểm tra tính toán có đúng không?
- Kiểm tra thứ nguyên của các đại lượng có phù hợp không?
- Xem xét kết quả về ý nghĩa thực tế có phù hợp không?
- Giải bài tập theo cách khác xem có cho cùng kết quả không?
Với những bài tập tính toán, tuỳ theo phương pháp toán học được vận dụng, bài tập được quy về các bài tập số học, đại số và hình học
Phương pháp số học: Phương pháp giải chủ yếu là phương pháp số học,
tác động lên các con số hoặc các biểu diễn chữ, không cần thành lập phương trình để tìm ra ẩn số
12
Trang 22Phương pháp đại số: Dựa trên các công thức vật lí, lập các phương trình
từ đó giải chúng để tìm ra ẩn số
Phương pháp hình học: Khi giải dựa vào hình dạng của đối tượng, các
dữ liệu cho theo hình vẽ để vận dụng quy tắc hình học hoặc lượng giác
Trong các phương pháp trên, phương pháp đại số là phương pháp phổ biến nhất, quan trọng hơn cả vì vậy cần thường xuyên quan tâm rèn luyện cho học sinh
Khi giải các bài tập tính toán người ta còn sử dụng thủ pháp logic khác nhau, cũng có thể coi là phương pháp giải: đó là phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp
SƠ ĐỒ LẬP LUẬN THEO PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
Định luật 1(Công thức 1) x= f(y,z)
Hình 1.2 Sơ đồ lập luận theo phương pháp phân tích
13
Trang 23Phương pháp tổng hợp
- Từ những đại lượng đã cho ở đề bài, dựa vào các định luật, qui tắc vật
lí, tìm những công thức có chứa đại lượng đã cho với các đại lượng trung gian
mà ta dự kiến có liên quan đến đại lượng cần tìm
- Suy luận toán học, đưa đến công thức chỉ chứa đại lượng phải tìm với các đại lượng đã cho [12]
SƠ ĐỒ LẬP LUẬN THEO PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP
Định luật 1(Công thức 1) Định luật 3(Công thức 3)
Định luật 2(Công thức 2)
Y = f(a,p) Định luật 4(Công thức 4)
X=f(y,z)= f(a,b,c)
Hình 1.3 Sơ đồ lập luận theo phương pháp tổng hợp
Hai phương pháp trên đều có giá trị như nhau, chúng bổ sung cho nhau Phương pháp phân tích nếu tìm được công thức đúng thì nhanh chóng hướng tới kết quả bài toán Tuy nhiên, học sinh không tập trung chú ý nhiều vào các giai đoạn trung gian, điều đó nói chung là không có lợi, đặc biệt đối với học sinh yếu, họ sẽ nắm bản chất vật lí kém sâu sắc hơn Phương pháp tổng hợp cho phép đi sâu vào các giai đoạn trung gian, học sinh chú ý hơn tới bản chất vật lí và mối liên hệ giữa các đại lượng và hiện tượng Trong khi phương phápphân tích đòi hỏi cao hơn về mức độ tư duy logic và phương tiện Toán học Vì vậy căn cứ vào đối tượng học sinh, mục đích dạy học, giáo viên nên sử dụng hợp lí các phương pháp này Trong những bài tập tính toán tổng hợp, hiện tượng xảy ra do nhiều nguyên nhân, trải qua nhiều giai đoạn, khi xây dựng lập luận có thể phối hợp hai phương pháp
14
Trang 241.2 Tư duy sáng tạo và việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh
1.2.1 Khái niệm tư duy
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: "Tư duy là giai đoạn cao của quá
trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình ảnh như biểu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lý "
Theo từ điển triết học: "Tư duy là sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực phản ánh thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận,Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất của con người và phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp với quy luật của thực tại"
Theo quan niệm của tâm lý học: "Tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác và tri
giác Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên
hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết"
1.2.2 Tư duy sáng tạo
Sáng tạo hiểu theo Từ điển tiếng Việt là tạo ra giá trị mới về vật chất và tinh thần Tìm ra cách giải quyết mới, không bị gò bó hoặc phụ thuộc vào cái đã
có Tư duy sáng tạo là quá trình tìm cách nhận thức, phát hiện ra quy luật của
sự vật, có ý thức luôn tìm ra cái mới để hiểu rõ hơn bản chất của con người để tồn tại và phát triển những gì tốt đẹp và loại bỏ, ngăn chặn những điều có hại đối với con người
Tư duy sáng tạo có tính khởi đầu, sản sinh ra những sản phẩm phức tạp
Tư duy sáng tạo có tính phát minh, trực giác tưởng tượng và phát triển liên tục.Kiến thức trước đó được tổng hợp và mở rộng để sản sinh ra những ý tưởng mới Và những ý tưởng mới chịu sự phân tích, phê phán và tính hiệu quả trong việc giải quyết bài toán
Có hai dạng sáng tạo là: Phát minh ra cái mới và vận dụng vào tình huống mới Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo là vốn hiểu biết của
15
Trang 25chủ thể Trong bất cứ lĩnh vực nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đưa được ra nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy, không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với học tập kiến thức về một lĩnh vực nào đó
1.2.3 Đặc điểm của tư duy sáng tạo
1.2.3.1 Các biểu hiện của tư duy sáng tạo:
Qua nghiên cứu, người ta đã khái quát 13 yếu tố tạo thành tư duy sáng tạo như: (1) Phương pháp giải quyết khác thường; (2) nhìn trước được các vấn đề; (3) nắm được mối liên hệ cơ bản; (4) cấu tạo các yếu tố từ đó tạo ra chức năng mới; (5) thay đổi hướng nghiên cứu; (6) nhìn thấy các con đường, các cách giải quyết khác nhau một cách tích cực; (7) chuyển từ mô hình này sang mô hình khác; (8) nhạy cảm với các vấn đề
mới nảy sinh từ các vấn đề cũ đã giải quyết xong; (9) biết trước kết quả; (10) nắm được các tư tưởng khác nhau trong một tình huống nào đó; (11) phân tích các sự kiện theo một trật tự tối ưu; (12) từ đó tìm ra tư tưởng
c h u n g ; ( 1 3 ) g i ải đ á p đư ợ c n hữ ng t ì n h h uố n g đ ặ c b i ệ t
1.2.3.2 Các đặc trưng của tư duy sáng tạo:
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học, về cấu trúc của
tư duy sáng tạo, có năm yếu tố cơ bản sau: Tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề
Tính mềm dẻo: là năng lực dễ dàng, nhanh chóng sắp xếp trật tự của hệ
thống tri thức, chuyển từ góc độ quan niệm này sang góc độ quan niệm khác; định nghĩa lại sự vật, hiện tượng, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong những mối quan hệ mới hoặc chuyển đổi quan hệ và nhận ra bản chất của sự vật và điều phán đoán Tính mềm dẻo của tư duy còn làm thay đổi một cách dễ dàng các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người
Có thể thấy rằng tính mềm dẻo của tư duy có các đặc trưng nổi bật
sau đây:
16
Trang 26- Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, vận dụng linh hoạt các hoạt động phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá, cụ thể hoá và các phương pháp suy luận như quy nạp, suy diễn tương
tự, dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác, điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ nếu gặp trở ngại
- Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng đã có vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới trong đó cónhững yếu tố đã thay đổi; có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của những kinh nghiệm, những phương pháp, những cách nghĩ đã có từ trước
- Nhận ra vấn đề mới trong điều kiện quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết
Tính nhuần nhuyễn: Tính nhuần nhuyễn của tư duy thể hiện ở năng lực
tạo ra một cách nhanh chóng sự tổ hợp giữa các yếu tố riêng lẻ của các hình huống, hoàn cảnh, đưa ra giả thuyết mới Các nhà tâm lý học rất coi trọng yếu tố chất lượng của ý tưởng sinh ra, lấy đó làm tiêu chí để đánh giá sáng tạo
Tính nhuần nhuyễn được đặc trưng bởi khả năng tạo ra một số lượng nhấtđịnh các ý tưởng Số ý tưởng nghĩ ra càng nhiều thì càng có nhiều khả năng xuất hiện ý tưởng độc đáo, trong trường hợp này số lượng làm nảy sinh ra chất lượng Tính nhuần nhuyễn còn thể hiện rõ nét ở sự đa dạng của các cách xử lý khi giải bài tập, khả năng tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau Đứng trước một vấn để phải giải quyết, người có tư duy nhuần nhuyễn nhanh chóng tìm và đề xuất được nhiều phương án khác nhau và từ đó tìm được phương án tối ưu
Tính độc đáo được đặc trưng bởi các khả năng sau:
- Khả năng tìm ra những liên tưởng và những kết hợp mới
- Khả năng nhìn ra những mối liên hệ trong những sự kiện bên ngoài tưởng như không có liên hệ với nhau
- Khả năng tìm ra giải pháp lạ tuy đã biết những giải pháp khác
17
Trang 27Tính hoàn thiện: Tính hoàn thiện là khả năng lập kế hoạch, phối hợp các
ý nghĩ và hành động, phát triển ý tưởng, kiểm tra và kiểm chứng ý tưởng
Tính nhạy cảm vấn đề có các đặc trưng sau: -
Khả năng nhanh chóng phát hiện vấn đề
- Khả năng phát hiện ra mâu thuẫn, sai lầm, thiếu logic, chưa tối ưu từ
đó có nhu cầu cấu trúc lại, tạo ra cái mới
Các yếu tố cơ bản trên không tách rời nhau mà trái lại chúng có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ bổ sung cho nhau Khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác (tính mềm dẻo) tạo điều kiện cho việc tìm được nhiều giải pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau (tính nhuần nhuyễn) và nhờ đó đề xuất được nhiều phương án khác nhau mà có thể tìm được giải pháp lạ, đặc sắc (tính độc đáo) Các yếu tố này có quan hệ khăng khít với các yếu tố khác như: tính hoàn thiện, tính nhạy cảm vấn đề Tất cả các
yếu tố đặc trưng nói trên cùng góp phần tạo nên tư duy sáng tạo, đỉnh cao nhất trong các hoạt động trí tuệ của con người
Trong học tập các yếu tố cơ bản của tư duy sáng tạo nêu trên đã biểu hiện
rõ nét ở các học sinh khá và giỏi Các em đã biết phối hợp nhịp nhàng các hoạt động trí tuệ, biết sử dụng xen kẽ phân tích và tổng hợp, dùng phân tích trong khi đi tìm lời giải và dùng tổng hợp để trình bày lời giải Các em có
thể chuyển dễ dàng từ tư duy thuận sang tư duy nghịch Khi làm các bài tập cùng loại, cùng dạng, các em đã biết phát hiện các khác biệt của các bài, các điều kiện khác nhau của chúng để tránh cách giải rập khuôn, máy móc Các emrất hào hứng tìm nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán, so sánh, đánh giá các cách giải và tìm ra cách giải hay nhất, đẹp nhất Do đó để có thể bồi dưỡng
và phát triển tốt hơn năng lực sáng tạo ở học sinh đòi hỏi người giáo viên phải
có phương pháp dạy học thích hợp
1.2.3.3 Các giai đoạn của quá trình sáng tạo
Giai đoạn chuẩn bị: Là giai đoạn đặt nhiệm vụ nghiên cứu, thu thập tài liệu liên quan
18
Trang 28Giai đoạn ấp ủ: Quá trình tư duy ít bị sự kiểm soát hơn của ý thức, tiềm thức lại chiếm ưu thế, các hoạt động bổ sung cho vấn đề được quan tâm
Giai đoạn bừng sáng: Đột nhiên tìm được lời giải đáp, đó là bước nhảy vọt về chất trong tri thức, xuất hiện đột ngột và kéo theo là sự sáng tạo
Giai đoạn kiểm chứng: Xem xét, khái quát kết quả Ý thức lại được tham gia tích cực Kiểm tra trực giác, triển khai các luận chứng lôgic để có thể chứng tỏ tínhchất đúng đắn của cách thức giải quyết vấn đề, khi đó sáng tạo mới được khẳng định
Trong bốn giai đoạn kể trên của quá trình sáng tạo thì hai giai đoạn ấp ủ
và bừng sáng là quan trọng nhất, vì chính giai đoạn bừng sáng mới phát hiện ra cái mới; mới giải quyết được vấn đề
Như vậy, từ các quan điểm nêu trên chỉ ra rằng có rất ít sự nhất trí về định nghĩa sáng tạo, trừ việc cho rằng nó là một phẩm chất của trí tuệ và có quan hệ với trí thông minh Cái mới là tiêu chí rõ nhất của tư duy sáng tạo Không những sản phẩm là mới, mà quá trình tư duy cũng mới, thể hiện ở chỗ quá trình tư duy đổi mới,chuyển đổi quan điểm, khắc phục những thói quen không phù hợp trong
phương thức tư duy
Do đó theo định nghĩa thông thường và phổ biến nhất thì tư duy sáng tạo
là tư duy tìm một cách giải quyết mới trong quá trình đi tới chân lý Nhận thức
là quá trình tiếp cận chân lý, là quá trình khắc phục những sai lầm Đó là quá trình tìm ra bản chất mới, hình thức mới, mô hình mới, quá trình mới, phương pháp mới Do đó quá trình nhận thức về bản chất là có tính sáng tạo Sáng tạo
là phẩm chất tối cao của năng lực tư duy có tính bẩm sinh Tư duy sáng tạo là tư duy tích cực và tư duy độc lập nhưng không phải trong tư duy tích cực đều là
tư duy độc lập và không phải trong tư duy độc lập đều là tư duy sáng tạo và có thể biểu hiện mối quan hệ giữa các khái niệm dưới dạng vòng trong đồng tâm
19
Trang 29Tư duy tích cực
Tư duy độc lập
Tư duy sáng tạo
Có thể nói đến tư duy sáng tạo khi học sinh tự khám phá những điều chưa biết đến Bắt đầu từ tình huống gợi vấn đề, tư duy sáng tạo giải quyết mâu thuẫn tồntại trong tình huống đó với hiệu quả cao, thể hiện ở tính hợp lý, tiết kiệm, tính khả thi và
cả ở vẻ đẹp của giải pháp Nói chung tư duy sáng tạo là một dạng tư duy độc lập, tạo ra ý tưởng mới độc đáo và có hiệu quả giải quyết vấn đề cao
1.2.4 Các biện pháp bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh
1.2.4.1 Tổ chức các hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
Kiến thức vật lí trong trường phổ thông đã được loài người khẳng định, tuy vậy, chúng luôn mới mẻ với học sinh Việc nghiên cứu kiến thức mới sẽ thường xuyên tạo ra những tình huống đòi hỏi học sinh phải đưa ra những ý kiến mới, giải pháp mới đối với chính bản thân họ
1.2.4.2.Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tò mò, ham hiểu biết của học sinh
Nhu cầu, hứng thú có thể nảy sinh trong quá trình học tập, nghiên cứu một môn học, một bài học, nghĩa là từ nội tại của quá trình nhận thức Có thể tạo
ra nhu cầu, hứng thú bằng cách kích thích bên ngoài, chẳng hạn khen thưởng,
sự ngưỡng mộ của bạn bè, gia đình, sự hứa hẹn một tương lai tốt đẹp, thực tế xây dựng quê hương đất nướcNhững kích thích này không được thường xuyên, bền vững và phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh mỗi học sinh Có những tình huốngđiển hình thường gặp trong dạy học vật lí sau đây
Tình huống có vấn đề: Tư duy là quá trình tâm lý diễn ra trong óc học
sinh Tư duy chỉ thực sự có hiệu quả khi học sinh tự giác mang hết sức mình
20
Trang 30để thực hiện Tư duy chỉ thực sự bắt đầu khi trong đầu học sinh xuất hiện một câu hỏi mà chưa có lời giải đáp ngay, khi họ gặp phải một mâu thuẫn mà giữa một bên là nhu cầu, nhiệm vụ nhận thức mới phải giải quyết và một bên là trình độ kiến thức hiện có không đủ để giải quyết nhiệm vụ đó, cần xây dựng kiến thức mới, tìm ra giải pháp mới Lúc đó học sinh vừa ở trạng thái tâm lí khá căng thẳng, vừa hưng phấn khao khát vượt qua khó khăn, giải quyết được mâu thuẫn, đạt được trình độ cao hơn trên con đường nhận thức Ta nói rằng, học sinh được đặt vào "tình huống có vấn đề"
Tình huống phát triển: Học sinh đứng trước một vấn đề chỉ mới giải
quyết được một phần, một bộ phận, trong một phạm vi hẹp, cần phải tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh, mở rộng sang những phạm vi mới, lĩnh vực mới Phát triểnhoàn thiện vốn kiến thức của mình luôn là niềm khao khát của tuổi trẻ
Nói như Risa Fâyman, đó chính là con đường phát triển của khoa học Quá trình phát triển, hoàn thiện vốn kiến thức sẽ đem lại những kết quả mới (kiến thức mới, kĩ năng mới, phương pháp mới) nhưng trong quá trình đó, vẫn có thể
sử dụng những kiến thức, kĩ năng và phương pháp đã biết cho đến lúc gặp mâu thuẫn không thể giải quyết được bằng vốn hiểu biết cũ
Tình huống lựa chọn: Học sinh đứng trước một vấn đề có mang một số dấu
hiệu quen thuộc có liên quan đến những kiến thức hay phương pháp giải quyết
đã biết, nhưng chưa biết chắc chắn có thể dùng kiến thức nào hay phương pháp nào sẽ mang lại kết quả chắc chắn Học sinh cần phải lựa chọn, thậm chí còn phải làm thử mới biết được cách nào mang lại hiệu quả như mong muốn
Ví dụ với một bài toán điện xoay chiều, dữ kiện có mặt trong đề bài cho các giá trị của điện áp hiệu dụng và các góc lệch pha Lúc đó, học sinh sẽ cân nhắc xem sử dụng phương pháp đại số hay phương pháp giản đồ vec tơ để giải bài toán
Tình huống bế tắc: Học sinh đứng trước một hiện tượng vẫn thường thấy
nhưng không hiểu vì sao, vẫn coi đó là một bí mật của tự nhiên Bây giờ,
21
Trang 31họ được giao một nhiệm vụ tìm hiểu nguyên nhân, lí giải rõ ràng những khó khăn gặp phải là chưa biết dựa vào đâu
Tình huống tự nhiên bất ngờ: Học sinh đứng trước một hiện tượng xảy ra
theo một chiều hướng trái với suy nghĩ thông thường (có tính chất nghịch lí, hầu như khó tin đó là sự thực), do đó kích thích sự tò mò, lôi cuốn sự chú ý của họ tìm cách lí giải, phải bổ sung, hoàn chỉnh hoặc thay đổi quan điểm cũ sai lầm củamình
Tình huống lạ: Học sinh đứng trước một hiện tượng lạ có những nét đặc biệt
lôi cuốn sự chú ý của họ mà họ chưa bao giờ thấy Ví dụ: Đài báo đưa tin ở một
số vùng quê, một số hộ chăn nuôi gà với số lượng lớn, do đấu sai động
cơ ba pha ở quạt thông gió mà làm chết cả đàn gà Vì sao?
Với cùng một hiện tượng vật lí, giáo viên có thể tạo ra tình huống này hay tình huống khác, tùy theo cách chuẩn bị cho học sinh, nghĩa là đưa cho họcsinh đến chỗ nhận ra mâu thuẫn bằng cách nào Như vậy, kiểu dạy học thông báo - minh họa về nguyên tắc không thể rèn luyện cho học sinh năng lực sáng tạo
1.2.4.3 Tổ chức quá trình nhận thức vật lí theo chu trình sáng tạo sẽ giúp học
sinh trên con đường hoạt động sáng tạo để nhận biết được: chỗ nào có thể suy nghĩ dựa trên những hiểu biết đã có, chỗ nào phải đưa ra kiến thức mới, giải pháp mới Việc đó sẽ giúp cho hoạt động sáng tạo có hiệu quả, rèn luyện cho tư duy trực giác nhạy bén, phong phú Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh kinh nghiệm sáng tạo của các nhà bác học
1.2.4.4 Xây dựng một logic phù hợp với đối tượng học sinh
Giáo trình vật lí được xây dựng đi từ dễ đến khó, phù hợp với trình độ của học sinh, tận dụng được những kinh nghiệm sống hàng ngày của họ, tạo điều kiện cho họ có cơ hội đề xuất ra được những ý kiến mới mẻ có ý nghĩa, làm cho họ cảm nhận được hoạt động sáng tạo là hoạt động thường xuyên có thể thực hiện được với sự cố gắng nhất định
22
Trang 321.2.4.5 Luyện tập, phỏng đoán, xây dựng giả thuyết: Dự đoán dựa chủ yếu
vào trực giác, kết hợp với kinh nghiệm phong phú và kiến thức sâu sắc về mỗi lĩnh vực Các nhà khoa học cho rằng: việc xây dựng giả thuyết dựa trên sự kháiquát hóa những sự kiện thực nghiệm, những kinh nghiệm cảm tính Tuy nhiên,
sự khái quát hóa đó không phải là một phép qui nạp đơn giản, hình thức mà chứa đựng một yếu tố mới Dự đoán khoa học không phải tùy tiện mà phải luôn có
cơ sở, tuy có thể chưa chắc chắn Có thể có các cách dự đoán sau
đây trong giai đoạn đầu của hoạt động nhận thức vật lí của học sinh:
+ Dựa vào sự liên tưởng với một kinh nghiệm đã có
+ Dựa trên sự tương tự: Dựa trên một dấu hiệu bên ngoài giống nhau mà
dự đoán giống nhau về bản chất hoặc dựa trên sự giống nhau về cấu tạo mà dự đoán giống nhau về tính chất Ví dụ cường độ dòng điện trong mạch dao động
LC lí tưởng cũng biến thiên điều hòa giống như li độ trong sự dao động tự do của con lắc lò xo Nên có thể đưa ra sự tương tự điện cơ để thấy được vai trò của các đại lượng trong dao động điện và dao động cơ có sự tương đồng
+Dựa trên sự xuất hiện đồng thời giữa hai hiện tượng mà dự đoán giữa chúng có mối quan hệ nhân quả Ví dụ, sau nhiều lần quan sát, khi cho một namchâm chuyển động tương đối so với một cuộn dây dẫn kín thì trong cuộn dây có dòng điện cảm ứng, ta có thể dự đoán: chuyển động tương đối giữa nam châm
và ống dây là nguyên nhân gây ra dòng điện cảm ứng
+ Dựa trên nhận xét: Hai hiện tượng luôn biến đổi đồng thời, cùng tăng hoặccùng giảm mà dự đoán về quan hệ nhân quả giữa chúng
+ Dựa trên tính thuận nghịch của nhiều quá trình
+ Dựa trên sự mở rộng phạm vi ứng dụng của một kiến thức đã biết sang một lĩnh vực khác
+ Dự đoán về mối quan hệ định lượng: Những hiện tượng vật lí xảy ra phức tạp nhưng có điều đáng ngạc nhiên là các định luật chi phối chúng lại rất đơn giản và có thể biểu diễn bằng công thức toán học ngắn gọn Muốn dự
23
Trang 33đoán được mối quan hệ định lượng, cần thực hiện các phép đo Số lần thực hiện càng nhiều và các giá trị càng cách xa nhau thì dự đoán càng chính xác Tuynhiên, sự dự đoán về mối quan hệ định lượng bao giờ cũng phải chú ý đến sai
số có thể phạm phải
1.2.4.6 Xây dựng hệ thống bài tập sáng tạo: Ta có thể quan niệm sự sáng tạo đối
với người học là nếu họ tự đương đầu với những vấn đề mới và họ tự mình tìmtòi những vấn đề đó, để thu nhận được cái mới mà họ chưa từng biết Như vậymột bài tập cũng được xem như là mang yếu tố sáng tạo nếu các thao tác giải
nó không bị những mệnh lệnh nào đó chi phối, tức là người giải chưa biết thuật toán để giải và phải tiến hành tìm kiếm với những bước đi chưa biết trước Do
đó, trong dạy học vật lý, để rèn năng lực sáng tạo cho học sinh người ta còn xây dựng những loại bài tập riêng với mục đích này gọi là
bài tập sáng tạo Trong loại bài tập sáng tạo này, ngoài việc vận dụng một số kiến thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ, không thể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học Khác với bài tập luyện tập, bài tập sáng tạo là bài tập mà các điều kiện trong đề bài không chỉ dẫntrực tiếp hoặc gián tiếp cách giải Các bài tập sáng tạo có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tính tự lực và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức chính xác, sâu sắc và linh hoạt
1.2.4.7 Tạo ra sự tự tin cho người học: sự tự tin trong hoạt động sáng tạo là
một yếu tố tâm lí rất quan trọng làm cho chủ thể nhận thức thoát khỏi những
sự ràng buộc, hạn chế của những hiểu biết cũ hay bởi ý kiến của người khác 1.3 Thực trạng của việc dạy giải bài tập vật lí ở trường THPT Hoàng
Văn Thụ - Thành phố Hải Dương
1.3.1 Thực trạng hoạt động dạy giải bài tập vật lí trường Trung học phổ thông Hoàng Văn Thụ
Đối tượng điều tra: Điều tra, khảo sát thực tế tại trường Trung học phổ
thông (THPT) Hoàng Văn Thụ, TP Hải Dương, để tìm hiểu một số thông tin
24
Trang 34- Tình hình dạy giải bài tập chương Điện xoay chiều
- Tình hình hoạt động giải bài tập chương Điện xoay chiều
- Tìm hiểu những khó khăn và sai lầm mà học sinh thường mắc phải khi giải bài tập chương Dòng điện xoay chiều, từ đó tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến những sai lầm đó của học sinh
- Tìm hiểu sự vận dụng tư duy sáng tạo vào nhiệm vụ giải quyết các bài tậpchương Dòng điện xoay chiều đã được thực hiện như thế nào, có tác dụng tốt chưa Từ đó, chúng tôi đề xuất phương hướng thực hiện hiệu quả hơn
Phương pháp điều tra:
- Điều tra giáo viên: sử dụng phiếu điều tra (số lượng giáo viên được điều tra là 7) trao đổi trực tiếp, dự giờ giảng, xem giáo án
- Điều tra học sinh: sử dụng phiếu điều tra (số lượng học sinh được điều tra là 130), quan sát hoạt động của học sinh trong giờ học, kiểm tra khảo sát, phân tích kết quả
Kết quả điều tra
- Tình hình dạy giải bài tập: Thông qua việc trao đổi cùng giáo viên giảng dạy bộ môn Vật lí tại trường THPT Hoàng Văn Thụ, TP Hải Dương và một số đồng nghiệp khác, sơ bộ chúng tôi rút ra được một số nhận định
+ Số tiết học dành cho việc chữa bài tập còn ít mà yêu cầu rèn kĩ năng lại nhiều, chính vì thế giáo viên rất khó bố trí thực hiện cho đầy đủ
+ Trình độ học sinh không đồng đều vì thế bài chọn chữa rất khó phù hợp: bài khó thì học sinh yếu không hiểu nổi, bài dễ lại làm cho các em khá giỏi không có hứng thú
+ Các bài tập trong chương Dòng điện xoay chiều là dạng bài tập có nhiều kiến thức mới, liên quan đến các hiện tượng xảy ra có tính trừu tượng không quan sát được, đồng thời có nhiều bài tập tổng hợp, khó
+ Khó đưa ra một hệ thống các bài tập vừa đảm bảo tính vừa sức đối với họcsinh lại vừa đảm bảo yêu cầu mục tiêu của chương trình
25
Trang 35+ Mỗi một giáo viên thường chọn riêng cho mình một phương pháp giải
và đưa ra cho học sinh luyện tập, nên rất khó khăn trong công tác kiểm tra đánh giá chất lượng học tập trong môn vật lí của học sinh trong cả khối
+ Giáo viên đã bước đầu quan tâm đến việc bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh nhưng vẫn chưa thực sự chú trọng công việc này: đưa ra một số bài tậpđòi hỏi tính sáng tạo nhưng chưa nhiều, chưa có hệ thống, chưa có định hướng
tư duy cho các bài tập nâng cao mà chỉ áp dụng sự sáng tạo trong các bài tập đơn
lẻ Hầu hết thời gian của tiết bài tập, giáo viên vẫn chủ yếu hướng dẫn cách sử dụng công thức, cung cấp các bước giải cho một số dạng toán cụ thể
- Tình hình hoạt động giải bài tập của học sinh:
+ Đa số học sinh nhớ máy móc, không hiểu bản chất hiện tượng vật lí
đề cập trong bài tập nên rất khó khăn trong việc giải các bài tập chương Dòng điện xoay chiều
+ Trong các giờ bài tập rất nhiều học sinh thụ động, ít chịu khó suy nghĩ, chỉ có một số ít học sinh tích cực tham gia hoạt động giải bài tập
+ Học sinh chưa có ý thức phân loại, xây dựng phương pháp giải cho mỗi loại bài tập
+ Học sinh rất ngại các bài tập phần này vì ngoài kiến thức mới rất nhiều, cũng như dạng bài tập rất phong phú Thậm chí, có nhiều bài bài tập không xếp được vào dạng nào vì tính tổng hợp hoặc nó đòi hỏi sự sáng tạo cao khi đi tìm lời giải
+ Học sinh còn thụ động, áp dụng công thức một cách máy móc để giải bài tập mà chưa thể linh hoạt sáng tạo để tìm ra lời giải hay và tối ưu cho bài toán + Gặp những bài tập quen thuộc hoặc dạng đã học rồi thì có thể làm được nhưng với những bài tập mới lạ, chưa từng gặp thì phản ứng của học sinh là quy đó là nhưng bài toán rất khó, thậm chí không bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ
26
Trang 361.3.2 Nguyên nhân của những khó khăn, trở ngại khi bồi dưỡng tư duy
sáng tạo của học sinh thông qua việc hướng dẫn giải bài tập chương Dòng điện xoay chiều và phương hướng khắc phục
1.3.2.1 Nguyên nhân
Kiến thức chương Dòng điện xoay chiều, Vật lí 12 là phần nhiều kiến thức mới trừu tượng, học sinh khó hình dung và tiếp nhận, đồng thời giáo viênkhi giảng dạy lại thiếu thí nghiệm hay mô hình để mô tả Lượng kiến thức nhiều và khó cũng tập trung ở chương này Nội dung kiến thức của
chương Dòng xoay chiều là kiến thức trừu tượng, có tính tổng hợp cao
Nhiệm vụ bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho học sinh cũng chưa được giáo viên quan tâm đúng mức, dẫn đến họ cũng chưa có sự nghiên cứu về lý luận một cách sâu sắc cho vấn đề này và khi thực hiện không có cách làm hiệu quả
Giáo viên vẫn chú trọng đến nhiệm vụ truyền đạt kiến thức, hướng dẫn cách làm bài cho học sinh mà chưa phát huy được sự tích cực, sáng tạo cho các
sử dụng công thức vì có quá nhiều công thức và quá nhiều trường hợp
Học sinh thường lo lắng, thiếu tự tin với những bài toán "lạ" và thường không làm được những bài này Các em không chủ động trong việc tìm được lờigiải hay cho bài toán mà vẫn thường rập khuôn, máy móc, giải theo hướng
truyền thống Điều đó thể hiện học sinh phần nhiều lệ thuộc vào phương pháp giải các thày cô đã hướng dẫn, không mạnh dạn để đề xuất những hướng đi mớinhanh gọn và hiệu quả hơn
Mặt khác, học sinh chưa thực sự kiên trì theo đuổi những bài tập hay và khó Việc tự học của các em còn chưa hiệu quả, chưa có thói quen đọc sách và tìm tòi những kiến thức nâng cao
27
Trang 37Đề xuất phương hướng khắc phục
Lựa chọn, xây dựng được hệ thống bài tập đòi hỏi tính sáng tạo, kèm theo hướng dẫn sử dụng để đạt được mục đích phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Thường xuyên ôn tập kiến thức cho học sinh qua hoạt động giải bài tập Rèn luyện cho học sinh một số kỹ năng vận dụng toán học vào hoạt động giải bài tập vật lí đồng thời hướng dẫn học sinh ôn lại kiến thức đã học liên quan đến chương này
Giao bài tập về nhà qua hệ thống bài tập tương tự hoặc phát phiếu bài tập
để học sinh tự ôn luyện các kiến thức cơ bản để giờ bài tập trên lớp có nhiều thời gian nâng cao và bồi dưỡng sự sáng tạo cho các em
Hình thành thói quen cho học sinh tìm nhiều lời giải cho một bài toán Tập luyện cho học sinh phản ứng nhanh và chọn lựa được lời giải tối
ưu cho bài toán bằng cách đó giúp bồi dưỡng tư duy sáng tạo cho các em học sinh
Khích lệ, tuyên dương học sinh mỗi khi tìm được lời giải hay cho bài toán
Kết luận Chương 1 Trong chương này luận văn đã làm rõ các khái niệm của bài tập vật lí, tư duy,
tư duy sáng tạo, nêu được các yếu tố đặc trưng của tư duy sáng tạo, mối quan hệ giữa tư duy sáng tạo và việc giải bài tập vật lí, đồng thời đưa ra được tiềm năng của chuyên đề trong việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
Việc bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua quá trình dạy học giải bài tập vật lí là rất cần thiết bởi qua đó chúng
ta giúp học sinh học tập tích cực hơn và kích thích được tính sáng tạo của các
em trong học tập và trong cuộc sống
Vậy mỗi giáo vên nên thường xuyên tích lũy kiến thức để trang bị cho mình những phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát triển và rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh
28
Trang 38CHƯƠNG 2XÂY DỰNG TÀI LIỆU VÀ HƯỚNG DẪN
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
2.1 Cấu trúc nội dung chương "Dòng điện xoay chiều" Vật lí lớp 12
2.1.1 Vị trí chương "Dòng điện xoay chiều" trong chương trình vật lý phổ thông
Chương "Dòng điện xoay chiều" là chương thứ 3 của sách Vật lí lớp
12 Trong sách giáo khoa vật lý lớp 12 chương này đề cập đến các vấn đề sau:
- Đại cương về dòng điện xoay chiều
- Các mạch điện xoay chiều
- Mạch có R, L, C mắc nối tiếp
- Công suất điện tiêu thụ của mạch điện xoay chiều Hệ số công suất
- Truyền tải điện năng Máy biến áp
- Máy phát điện xoay chiều
- Động cơ không đồng bộ ba pha
- Thực hành: Khảo sát đoạn mạch điện xoay chiều có R, L, C mắc nối tiếp Việc nắm vững các khái niệm, hiện tượng trong chương này giúp học sinh không những có cơ sở nắm được các ứng dụng cơ bản của dòng điện xoay chiều trong thực tiễn đời sống mà còn đủ phương tiện, nền tảng để phản ứng linh hoạt khi tìm hướng giải sáng tạo cho bài toán
2.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương "Dòng điện xoay chiều" Vật lí lớp 12
Dòng điện xoay chiều là một phần của Điện học, trong đó người ta đi nghiên cứu nguyên tắc tạo ra dòng điện xoay chiều, các đại lượng vật lý đặc trưng cho mạch điện xoay chiều, nghiên cứu phương thức sản xuất ra dòng điện xoay chiều, cách biến đổi dòng điện xoay chiều và phương thức truyền tải dòng điện xoay chiều đi xa Lôgíc nội dung kiến thức của chương có thể được mô tả bằng sơ đồ sau:
29
Trang 39Dòng điện xoay chiều
Các đại lượng vật lý đặc trưng Sản xuất ứng dụng và truyền cho dòng điện xoay chiều tải dòng điện xoay chiều
về E,
U, I
Khái niệm về
ZL ,
Z C
Độ lệch pha
Công suất của dòng điện xoay chiều
Sản xuất điện xoa
y chiều
Sử dụng dòng điện xoay chiều
Truyền tải dòng điện xoay chiều đi
xa
tụ điện C
Mạch chỉ
có cuộn cảm thuần L
Cấ u
tạ o Hoạtđộng Dòng
điện xoay
Hoạt động dụng Ứng
Mạch điện xoay chiều R, L, C
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương "Dòng điện xoay chiều"
2.1.3 Mục tiêu dạy học
2.1.3 1 Về kiến thức
- Viết được biểu thức của cường độ dòng điện và điện áp tức thời
- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính giá trị hiệu
dụng của cường độ dòng điện, của điện áp
- Viết được các công thức tính cảm kháng, dung kháng và tổng trở của đoạn mạch có R, L, C mắc nối tiếp và nêu được đơn vị đo các đại lượng này
- Viết được các hệ thức của định luật Ôm đối với đoạn mạch RLC nối tiếp (đối với giá trị hiệu dụng và độ lệch pha)
30
Trang 40- Viết được công thức tính công suất điện và công thức tính hệ số công suất của đoạn mạch RLC nối tiếp
- Nêu được lí do tại sao cần phải tăng hệ số công suất ở nơi tiêu thụ điện
- Nêu được những đặc điểm của đoạn mạch RLC nối tiếp khi xảy ra hiện tượng cộng hưởng điện
2.1.3 2 Về kỹ năng
- Vẽ được giản đồ Fre-nen cho đoạn mạch RLC nối tiếp
- Giải được các bài tập đối với đoạn mạch RLC nối tiếp
- Giải thích được nguyên tắc hoạt động của máy phát điện xoay chiều, động cơ điện xoay chiều ba pha và máy biến áp
- Tiến hành được thí nghiệm để khảo sát đoạn mạch RLC nối tiếp
- Kỹ năng về thực hành tính toán biến đổi, vẽ hình, trình bày lời giải - Kỹnăng khai thác bài toán, kỹ năng chung để tìm lời giải - Kỹ năng suy luận
2.1.3.3 Về năng lực
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực suy luận toán học
- Năng lực tiến hành các thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, so sánh, tương tự, đặc biệt hoá, khái quát hoá
- Năng lực tiến hành các hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học: Lật ngược vấn đề, xét tính giải được, phân chia trường hợp, xét tương ứng
- Năng lực tư duy sáng tạo
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập
- Hệ thống bài tập được được chọn phải đảm bảo mục đích đã đề ra, tính khả thi khi sử dụng, tính vừa sức đối với học sinh
- Rèn luyện được kỹ năng giải toán cho học sinh
- Bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
31