ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP HÓA HỌC CỦA "CHƯƠNG 5 - ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI" CHƯƠNG TRÌN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP HÓA HỌC CỦA "CHƯƠNG 5 - ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI"
CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC 12 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ LAN PHƯƠNG
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP HÓA HỌC
CỦA "CHƯƠNG 5 - ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI"
CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC 12 NÂNG CAO
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hùng Huy
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiệu trường Đại Học Giáo Dục - Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình
Cùng với các học viên lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học, chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, mở rộng và chuyển tải kiến thức chuyên môn sâu sắc và cập nhật thông tin hiện đại về khoa học Giáo dục nói chung và Hóa học nói riêng
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn
PGS.TS Lê Kim Long, PGS.TS Nguyễn Hùng Huy, các thầy đã không quản ngại thời gian và công sức, hướng dẫn tận tình và vạch ra những định hướng sáng suốt giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô ở trường THPT Tiên Lữ, THPT Phù Cừ - Hưng Yên cũng như quý thầy cô của nhiều trường THPT trong địa bàn Hưng Yên đã có nhiều giúp đỡ tác giả trong quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm cho đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp tác giả thực hiện tốt luận văn này
Hà nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Lan Phương
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Đối chứng Giáo viên
Hệ thống bài tập Học sinh Năng lực tự học Nhà xuất bản Phương pháp Phương pháp dạy họcQuá trình dạy học Sách giáo khoa Trung học phổ thông Thực nghiệm
Thực nghiệm sư phạm
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Những chữ viết tắt trong luận văn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vẽ, sơ đồ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC 5
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Quan niệm về tự học trên thế giới 5
1.1.2 Quan niệm về tự học trong giáo dục Việt Nam 5
1.2.Cơ sở lý luận về bồi dưỡng năng lực tự học 6
1.2.1 Tự học 6
1.2.2 Năng lực tự học 10
1.2.3 Bài tập hoá học 13
1.3 Cơ sở thực tiễn về bồi dưỡng năng lực tự học 16
1.3.1.Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của HS ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên 16
Tiểu kết chương 1 25
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP HÓA HỌC CỦA CHƯƠNG 5 - ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI HOÁ HỌC 12 NÂNG CAO 26
2.1 Giới thiệu về chương trình sách giáo khoa hoá học lớp 12 26
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình Hoá học nâng cao 26
2.1.2 Cấu trúc của chương 5 Đại cương kim loại hóa học 12 nâng cao 26
2.2 Mục tiêu và nội dung cấu trúc chương 5 Đại cương kim loại lớp 12 27
2.3 Hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học 28
2.3.1 Khái niệm, đặc điểm bài tập bồi dưỡng năng lực tự học 28
2.3.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học 29
Trang 62.3.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học 31 2.3.4 Hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học chương 5 Đại cương kim loại 32 2.4 Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học 66 2.4.1 Bồi dưõng năng lực tự học sách giáo khoa (SGK), sách tham khảo 66 2.4.2 Rèn trí thông minh cho HS 70 2.4.3 Bồi dưỡng năng lực tự học theo chủ đề 76 2.5
Sử dụng HTBT bồi dưỡng năng lực tự học chương 5 Đại cương kim loại 84 2.5.1 Hướng dẫn sử dụng HTBT bồi dưỡng năng lực tự học 84 2.5.2 Những lưu ý đối với học sinh khi sử dụng HTBT tự học 84 2.5.3 Những lưu ý đối với giáo viên khi sử dụng HTBT 85 2.6 Một
số giáo án có sự lựa chọn, phối hợp các hình thức tổ chức dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 85 2.6.1.Bài 21 Luyện tập: Tính chất của kim loại 86 2.6.2 Bài 25 Luyện tập Sự điện phân- Sự ăn mòn kim loại- điều chế kim loại 90 Tóm tắt chương
2 95 CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 96 3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 96 3.1.1 Mục
đích 96 3.1.2 Nhiệm
vụ 96 3.2 Đối tượng
và nội dung thực nghiệm sư phạm 96 3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 96 3.2.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 97 3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 97 3.4 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 97 3.4.1 Phân tích kết quả thực nghiệm 97 3.4.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm 98 Tiểu kết chương
3 104 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105 TÀI LIỆU THAM KHẢO 106 PHỤ
LỤC 109
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1.Cấu trúc của HTBT 34 Bảng 3.1.Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài KT số1- THPT Phù Cừ 99 Bảng 3.2 Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài KT số 1- THPT Tiên Lữ 100 Bảng 3.3.Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài KT số 2- THPT Phù Cừ 101 Bảng 3.4.Bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất luỹ tích bài KT số 2- THPT Tiên Lữ 101 Bảng 3.5.Tổng hợp phân loại học sinh theo kết quả điểm 2 bài kiểm tra 102 Bảng 3.6.Tổng hợp các tham số đặc trưng của 2 bài kiểm tra 103
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Trang
Hình 1.1 Chu trình tự học 9
Hình 1.2 Cấu trúc của hệ bài tập 14
Hình 2.1 Mô hình giải thích tính dẻo của kim loại 35
Hình 2.2 Thí nghiệm về điều chế kim loại 36
Hình 2.3 Pin điện hóa 37
Hình 2.4.Thí nghiệm điện phân 39
Hình 2.5 Thí nghiệm ăn mòn điện hóa 41
Hình 2.6 Thí nghiệm Na tác dụng với dung dịch muối 42
Hình 2.7 Một số pin điện hoá 43
Hình 2.8 Thí nghiệm Zn tác dụng với dung dịch muối 67
Hình 2.9 Sơ đồ tách chất 80
Hình 2.10 Mạng tinh thể của kim loại 88
Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài KT số 1 - THPT Phù Cừ 100 Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài KT số 1 - THPT Tiên Lữ 100 Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài KT số 2 - THPT Phù Cừ 102 Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài KT số 2 - THPT Tiên Lữ 102 Hình 3.5 Biểu đồ phân loại học sinh theo kết quả điểm số của 2 bài kiểm tra 103
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang ở trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền kinh tế nước ta đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Sự thay đổi này đòi hỏi ngành giáo dục cần có những đổi mới nhất định để đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung Ương 4 Khoá VII; Nghị quyết Trung Ương 2 Khoá VIII, được thể chế hoá trong Luật giáo dục (2005), được cụ thể hoá trong chỉ thị Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu: "Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng của môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh''
Trong nhiều năm qua, việc nâng cao chất lượng dạy và học môn hóa học ở trường phổ thông đã được chú trọng Nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho người GV nói chung và GV hóa học nói riêng là phải đổi mới PPDH, chú trọng bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực tự học, giải quyết vấn đề học tập thông qua mọi nội dung, mọi hoạt động dạy và học hóa học, trong đó HTBT hóa học dạy học liên hệvới thực tiễn giữ vị trí hết sức quan trọng
Một trong những thành tố quan trọng trong QTDH của người Thầy là mục tiêu dạy học Để đạt được mục tiêu này, người Thầy phải hướng đến mục tiêu: HS phải đạt được 3 mức độ của kiến thức là biết, hiểu và vận dụng được các kiến thức đó, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển tư duy và góp phần hình thành nhân cách của các em Trong Hóa học, giải đáp các câu hỏi lý thuyết và giải BTHH là phương tiện cơ bản để giúp HS gợi nhớ kiến thức và bồi dưỡng NLTH cho HS BTHH đóng vai trò vừa
là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất BTHH không chỉ củng cố nâng cao
Trang 10kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới
Tuy nhiên, xu hướng hiện nay của HS và sự quan tâm của phụ huynh là chú trọng đến việc học để các em có thể vượt qua các kỳ thi Cao đẳng và Đại học nhằm tìmkiếm môi trường tốt để sau này có một nghề nghiệp, một công việc theo đúng sở thích
và nguyện vọng Do đó đòi hỏi HS phải làm việc tích cực, tự lực Cần phải nghiên cứu BTHH trên cơ sở hoạt động tư duy để có một cách giải nhanh nhất, hiệu quả nhất Từ đó
đề ra cách hướng dẫn HS khả năng tự lực để giải bài tập, thông qua đó mà tư duy trong
HS
Ngoài ra phần Hóa Vô cơ được đánh giá là phần trọng tâm của chương trình hóa học lớp 12 và chương 5 Đại cương kim loại là quan trọng nhất Xuất phát từ các nhu cầu và thực trạng đó, chúng tôi chọn đề tài :
"Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học bài tập hóa học của
"Chương 5 - Đại cương kim loại" thuộc chương trình Hóa học 12 nâng cao" với mong muốn góp phần đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và để giúp rèn luyện, phát triển năng lực tư duy và bồi dưỡng năng lực tự học cho HS lớp 12, với hy vọng góp phần giúp các em hoàn thiện năng lực nhận thức, tư duy, năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong cuộc sống đồng thời cung cấp cho các em một HTBT để ôn luyện, phục vụ cho các kỳ thi cuối cấp
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận, thực tiễn và xây dựng HTBT bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong chương 5 Đại cương kim loại lớp 12 THPT
Trang 11- Nghiên cứu phương pháp sử dụng HTBT chương 5 Đại cương kim loại lớp 12 THPT, giúp giáo viên sử dụng bài tập có hiệu quả cho từng đối tượng HS góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn hoá học ở trường phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng năng lực tự học
- Khảo sát thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH bồi dưỡng năng lực tự học cho HS trong QTDH
- Xây dựng mới hệ thống bài tập hóa học phù hợp với các mức độ của quá trình nhận thức và tư duy Hệ thống câu hỏi và bài tập này khi sử dụng sẽ giúp cho
HS lĩnh hội kiến thức vững chắc và vận dụng các kiến thức đó một cách chủ động, logic và linh hoạt
- Hướng dẫn HS sử dụng HTBT đã xây dựng một cách hợp lý và hiệu quả
-Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng, hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện pháp đã đề xuất trong thực tế dạy học ở một số trường phổ thông như THPT Phù Cừ, THPT Tiên Lữ
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn Hóa học ở trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng HTBT bồi dưỡng năng lực tự học có hướng dẫn và nghiên cứu cách
sử dụng HTBT để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS thông qua dạy học bài tập chương 5 Đại cương kim loại hoá học 12 nâng cao
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về việc HS tự học
- Nghiên cứu tác dụng và cách sử dụng bài tập trong dạy học hoá học
- Nghiên cứu cấu trúc, nội dung chương trình SGK hoá học 12, phần Vô cơ
- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi
Trang 12-Thực nghiệm sư phạm đánh giá hiệu quả và tính khả thi của HTBT và các biện pháp bồi dưỡng HS tự học đã đề xuất trong đề tài
- Xử lý kết quả TNSP bằng các phương pháp thống kê toán học
6 Phạm vi nghiên cứu
Quá trình dạy học Hoá học ở trường THPT, giới hạn đề tài: Chương 5 Đại cương kim loại hoá học 12 nâng cao
7 Giả thuyết khoa học
Nếu tuyển chọn, xây dựng được HTBT bồi dưỡng năng lực tự học chương 5 Đại cương kim loại đa dạng, phong phú đảm bảo tính khoa học của nội dung thì sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo và gây hứng thú học tập cho HS Đồng thời biết cách sử dụng hợp lý có hiệu quả HTBT bồi dưỡng năng lực tự học cho
HS chương 5 Đại cương kim loại hoá học 12 nâng cao thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học hoá học hiện nay ở trường THPT
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng năng lực tự học
Chương 2: Một số biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy học bài tập chương 5 Đại cương kim loại hoá học 12 nâng cao
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Quan niệm về tự học trên thế giới
Từ những năm trước công nguyên, Khổng Tử, Mạnh Tử đã cho rằng dạy học
là phải quan tâm đến việc kích thích, suy nghĩ của người học, người học phải suy nghĩ chứ không nên nhắm mắt làm theo sách
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, việc tổ chức cho HS học tập theo hướng tích cựchoá đã hình thành và phát triển những quan điểm, công trình nghiên cứu có quy mô lớn ở các nước châu Âu và Mỹ Nhiều nhà giáo dục ở các nước trên thế giới đã thấy rằng việc DH phải kích thích được hứng thú, sự độc lập tìm tòi, phát huy sáng tạo của
HS, thầy giáo chỉ là người thiết kế, người cố vấn
Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học như:
- "Tự học như thế nào " của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản
1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình [28]
- Cuốn "Phương pháp dạy và học hiệu quả" - Cark Rogers - một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái
gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp [13]
- "Hiểu biết là sức mạnh của thành công" do Klas Mellander chủ biên, các tác giả đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học, hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi [25]
- Năm 2008, cuốn "Tôi tài giỏi, bạn cũng thế !" của Adam Khoo do Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy dịch đã được Nhà xuất bản Phụ nữ xuất bản Với cuốn sách này, tác giả đã chứng tỏ được khả năng trí tuệ tiềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của conngười vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới [1]
1.1.2 Quan niệm về tự học trong giáo dục Việt Nam
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, đã tiếp nhận, thể hiện và làm phong phú tư tưởng, sự nghiệp giáo dục củaNgười trong lý luận và thực tiễn Thủ tướng chỉ rõ: "phương pháp giáo dục
Trang 14không phải chỉ là những kinh nghiệm, thủthuật trong truyền thụ và tiếp thu kiến
thức mà còn là con đường để người học có thể tự học, tự nghiên cứu chứ không phải là bắt buộc trí nhớ làm việc một cách máy móc, chỉ biết ghi rồi nói lại" [10]
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn trong tác phẩm: "Học và dạy cách học" đã đề cập đến vai trò của người học, người dạy, mô hình tự học [36]
Ngoài ra có rất nhiều tài liệu, luận văn thạc sỹ của nhiều tác giả gần đây cũng nghiên cứu về xây dựng HTBT nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS THPT ở những môn học khác nhau
Trong tất cả các nghiên cứu của mình, các tác giả đều khẳng định: cần phải đưa
ra biện pháp tích cực để tổ chức HS tự học, trong đó bài tập là phương tiện quan trọng để người dạy tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho HS Đồng thời đã đưa
ra nguyên tắc, qui trình xây dựng và biện pháp sử dụng bài tập nói chung và bài tập bồi dưỡng NLTH nói riêng Các thành công này của các tác giả sẽ được chúng tôi nghiên cứu, kế thừa trong luận văn này
Tuy nhiên, trong biện pháp hướng dẫn, cách thức sử dụng các dạng bài tập chương 5 Đại cương kim loại lớp 12 nâng cao để bồi dưỡng NLTH cho HS chưa có đề tài nào nghiên cứu Do đó, để đi sâu vào nghiên cứu lí thuyết để đưa ra các biện pháp
sử dụng bài tập nhằm bồi dưỡng NLTH cho HS môn Hoá học là hết sức cần thiết, đặcbiệt là phần dạy học bài tập chương 5 Đại cương kim loại
1.2.Cơ sở lý luận về bồi dưỡng năng lực tự học
1.2.1 Tự học
1.2.1.1 Khái niệm về tự học
Trong quá trình dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang là vấn đề đặc biệt được quan tâm Để học được suốt đời thì phải có khả năng tự học Khả năng này cần được rèn luyện ngay trong khi còn ngồi trên ghế nhà trường
+ "Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát,
so sánh, phân tích tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trìu tượng, khách quan, có trí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của
nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình" [35]
Trang 15+ "Tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn mình, học bạn, học thầy và học mọi người Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn
đề, thu thập xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử
nghiệm các giải pháp" [26]
Như vậy, tự học có vai trò và ý nghĩa rất lớn trong giáo dục ở nhà trường và trong cả cuộc sống của người học Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho
họ học tập suốt đời
1.2.1.2 Vai trò của tự học
-Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi
người."Mỗi người đều nhận được hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn nhiều, do mình tự tìm lấy"- Gibbon
Chính vì vậy, ông thầy hay nhất là ông thầy không lo nhồi nhét kiến thức mà lo truyền dạy phương pháp tự học cho HS
-Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người
-Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người
-Tự học khắc phục nghịch lí: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn -Tự học góp phần dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục một cách hiệu quả nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong cộng đồng [9]
* Có thể nêu vai trò của tự học theo cách khác [8, tr.125-126]:
-Tự học là phương thức tạo ra chất lượng thực sự lâu bền, là điều kiện quyết định trực tiếp đến chất lượng học tập của người học
-Chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốn tri thức
và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập và công tác sau này
-Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học Tự học sẽ rèn luyện cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ động trongcông việc
- Tự học còn giúp người học khắc phục được những nét tính cách không phù
Trang 16hợp, giúp họ tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn cao hơn
1.2.1.3.Các hình thức tự học
[9, tr.38], tự học có 3 hình thức:
-Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận
dụng các kiến thức trong đó Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao
-Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc
bằng các phương tiện thông tin khác
-Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết
trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
Khi đã có hệ thống SGK thì việc tự học có thể diễn ra theo 3 cách sau [45, tr.61]: -Có
SGK rồi người học tự đọc lấy mà hiểu, mà thấm các kiến thức trong sách,
qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách Đó là tự học
Việc tự học có thể diễn ra theo 2 cách sau [33]:
* Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV
-Tự học hoàn toàn (không có GV) thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập, thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông
-Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giảiminh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn
-Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung
Trang 17-Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp
* Tự học có hướng dẫn
HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ
GV Đối với tự học có hướng dẫn từ tài liệu, HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho HS tự học Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháp học nội dung kiến thức đó
Từ những quan điểm về các hình thức tự học nêu trên, chúng tôi đi đến phân loại các hình thức tự học như sau: Tự học hoàn toàn (không có thầy hướng dẫn), tự học có hướng dẫn thì chia thành 2 dạng:
- Có hướng dẫn nhưng không giáp mặt: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
- Có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày,trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
1.2.1.4 Chu trình tự học của học sinh
Chu trình tự học của HS là một chu trình 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu
- Giai đoạn 2: Tự thể hiện
- Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Hình 1.1 Chu trình tự học Giai đoạn 1: Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
Giai đoạn 2: Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình,
Trang 18tự thể hiện qua sự hợp tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản
phẩm có tính xã hội của cộng đồng lớp học
Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai,
tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
Chu trình tự nghiên cứu-tự thể hiện-tự kiểm tra, tự điều chỉnh "thực chất cũng là con đường phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học
1.2.2 Năng lực tự học
1.2.2.1 Khái niệm năng lực tự học
" Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao" [32]
Hay "Năng lực tự học khả năng tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao" [39]
Kết quả tự học là cao hay là thấp là phụ thuộc vào NLTH của mỗi cá nhân Mỗingười đều có một cách học khác nhau Cách học ở đây là tác động của người
học đến đối tượng học Có 2 cách học cơ bản:
+ Dựa theo mô hình của Pavlop: Cách học do người học áp đặt, có phần thụ động + Dựa theo mô hình Skinner: Người học tự mò mẫm, tự lựa chọn cách học, tự mình tìm kiếm ra kiến thức, là cách học chủ động theo cách thử đúng, sai
1.2.2.2 Vai trò của năng lực tự học
Năng lực tự học có 4 vai trò chính sau:
+ Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kĩ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận thức trong tình huống học
+ Làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu nhận thức qua các tình huống học
+ Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lí thôngtin từ môi trường xung quanh mình
+ Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, cá nhân hoá việc học, đồng thời hợp tác với bạn trong cộng đồng lớp học dưới
sự hướng dẫn của giáo viên - xã hội hoá lớp học
Trang 191.2.2.3 Một số năng lực tự học cần bồi dưỡng cho HS THPT
Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Phương (2007): năng lực của HS được thể hiện ở khả năng thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, hoặc năng lực tiến hành hoạt động học tập của cá nhân người học.Điều này có nghĩa
là năng lực của HS sẽ là kết quả cuối cùng cần đạt được của QTDH hay giáo dục
Tác giả đã đề xuất 4 nhóm năng lực cần đạt cho HSPT VN
-Năng lực nhận thức
-Năng lực xã hội
-Năng lực thực hành
-Năng lực cá nhân
1.2.2.4 Những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Thực chất của việc bồi dưỡng năng lực tự học là hình thành và phát triển năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, giải pháp, biện pháp, ) từ quá trình giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoặc vào nhận thức kiến thứcmới, năng lực đánh giá và tự đánh giá Để có thể bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học cho học sinh thì bản thân các em phải có ý chí quyết tâm cao độ, luôn tìm tòi phương pháp học tập tốt cho mình, phải học bằng chính sức mình, nghĩ bằng cái đầu mình, nói bằng lời nói của mình, viết theo ý mình, không rập khuôn theo câu chữ của thầy, rèn luyện khả năng độc lập suy nghĩ, suy luận đúng đắn và linh hoạt sáng tạo thông qua những câu hỏi và bài toán
Muốn rèn được NLTH thì trước hết và quan trọng nhất là phải rèn luyện cho các
em năng lực tư duy độc lập Bởi lẽ, việc rèn cho HS có thói quen tư duy (suy nghĩ và hành động) độc lập, sẽ dẫn đến tư duy phê phán, khả năng phát hiện, giải
quyết vấn đề rồi đến tư duy sáng tạo Rõ ràng, độc lập là tiền đề cho sự tự học
Biểu hiện của "độc lập":
- Không có sự viện trợ trực tiếp từ bên ngoài
- Tự mình nhìn thấy vấn đề, phát hiện vấn đề, đặt vấn đề để giải quyết
- Tự mình tìm ra cách giải quyết bài toán, tự mình kiểm tra được, đánh giá được cách giải của bản thân
- Có đầu óc tự phê phán và phê phán được cách giải của người khác
Trang 20- Bằng sự hiểu biết tự mình trình bày suy nghĩ, lập luận cách giải bài toán một cách chặt chẽ
Như vậy, để rèn được tư duy độc lập cho HS thì phải tạo điều kiện để HS suy nghĩ độc lập GV nêu câu hỏi, nêu vấn đề để HS nghiên cứu đề xuất cách giải quyết, ra kết luận Giáo viên quan tâm chỉ đạo công tác độc lập của HS, nhất là bài tập ở nhà; khuyến khích nhận xét cách giải của bạn giúp HS biết phương pháp suy nghĩ độc lập
và thực hiện hành động độc lập; tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập vận dụng; yêu cầu HS tự ra đề của bài tập; cho giải bài tập nâng cao dần nội dung của bài tập tính toán; ra bài tập nhỏ áp dụng vào tình huống mới, gây cho HS hứng thú suy nghĩ độc lập; hướng dẫn HS sử dụng SGK và tự học; khuyến khích HS sưu tầm các hiện tượng trong thực tế và bài tập mới GV phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá đúng mức suy nghĩ
và hành động độc lập của HS
Ngoài ra, để bồi dưỡng NLTH cho HS một cách toàn diện hơn, chúng ta cần phối hợp một số biện pháp cụ thể sau:
* Đối với giáo viên
-Tự bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực nhận thức của bản thân để có kinh nghiệm thực tiễn trong việc hướng dẫn HS cách tự học
-Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của GV, dành thời gian thích đáng cho HS tự học, tự nghiên cứu, làm thí nghiệm, thảo luận, giải đáp thắc mắc
-Tăng cường biên soạn giáo án theo hướng phát triển năng lực tự lực nhận thức cho HS, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy đủ các phương tiện dạyhọc cần thiết
-Tăng cường tìm kiếm và xây dựng các dạng bài tập, các hình thức ôn tập và tự
ôn tập kiến thức qua nhiều kênh thông tin
- Đổi mới PP dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
- Tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nhằm tăng hiệu quả giờ học
* Đối với học sinh
- Cần xác định thái độ học tập đúng đắn
- Bồi dưỡng cho HS phương pháp, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu
Trang 21- Xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học và nghiêm túc thực hiện kế hoạch, thời gian biểu
- Bồi dưỡng phương pháp đọc sách, phương pháp nghe bài giảng hoặc ghi chép - Rèn luyện cho HS khả năng tự kiểm tra, tự đánh giá trong học tập
- Hướng dẫn HS tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, tìm kiếm các trang web phục vụ cho quá trình học tập
1.2.3 Bài tập hoá học
1.2.3.1 Khái niệm về bài tập hoá học
- Theo từ điển tiếng Việt: Bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vận dụng những vấn đề đã học và cần giải quyết vấn đề bằng PP khoa học
- Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi lý thuyết và bài toán mà trong khi hoàn thành chúng HS vừa nắm được vừa hoàn thiện tri thức hay kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hay kèm theo thực nghiệm
Ở nước ta, SGK hoặc sách tham khảo, thuật ngữ "bài tập" được dùng theo quan điểm này
- Về mặt lý luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong QTDH, người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lý thuyết hoạt động Một
HS lớp 1 không thể xem bài toán thuộc chương trình lớp 12 là "bài tập" và ngược lại, đối với học sinh lớp 12, bài tập thuộc chương trình lớp 1 không còn là "bài tập" nữa! Bài tập chỉ có thể là "bài tập" khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi
có một người nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một "người giải" Vì vậy, bài tập và người học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau: Bài tập - đối tượng; Người giải - chủ thể
Bài tập là một hệ thông tin chính xác bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, đó là những điều kiện và những yêu cầu Người giải bao gồm hai thành tố là cách giải và phương tiện giải (cách biến đổi, thao tác trí tuệ)
Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu bài tập
là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Trang 22BÀI TẬP NGƯỜI GIẢI
Hình 1.2 Cấu trúc của hệ bài tập Theo chúng tôi, thuật ngữ "Bài tập hoá học" chung hơn khái niệm "bài toán hoá học" và bao hàm cả khái niệm bài toán hoá học và có thể coi BTHH là những vấn đề học tập được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm hoá học trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hoá học
1.2.3.2 Tác dụng của bài tập hoá học
- Bài tập hoá học là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định:" Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành"
- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú, chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất - Rèn luyện kĩ năng hóa học cho HS như: Kĩ năng viết và cân bằng phương trình hoá học, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hoá học, kĩ năng thực hành như cân, đo, nung sấy, đun nóng, lọc, nhận biết hoá chất,
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS
- Bài tập hoá học còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật, ) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực,
tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệm định lượng
Trang 23- Bài tập hoá học phát huy tính tính cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lý
- Bài tập hoá học còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS một cách hiệu quả
- Bài tập hoá học có tác dụng giáo dục đạo đức tác phong, rèn luyện tính kiên trì, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kế hoạch,), nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm
Bản thân một bài tập hoá học chưa có tác dụng gì cả: Không phải một bài tập hoá học "hay" thì luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là "người sử dụng nó" Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó bài tập hoá học thật sự có ý nghĩa
1.2.3.3 Phân loại bài tập hoá học
Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên các cơ sở khác nhau: +
Dựa vào mức độ kiến thức (cơ bản, nâng cao)
+ Dựa vào tính chất bài tập (định tính, định lượng)
+ Dựa vào hình thái hoạt động của HS (lý thuyết, thực nghiệm)
+ Dựa vào mục đích dạy học (ôn tập, luyện tập, kiểm tra)
+ Dựa vào cách tiến hành trả lời (trắc nghiệm khách quan, tự luận)
+ Dưạ vào kĩ năng, phương pháp giải bài tập (lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất, xác định cấu trúc, )
+ Dựa vào loại kiến thức trong chương trình (dung dịch, điện hoá, động học, nhiệt hoá học, phản ứng ôxi hoá - khử,)
+ Dựa vào năng lực của HS (năng lực phát hiện - giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng vào thực tiễn, năng lực sáng tạo)
1.2.3.4 Tiến trình giải một bài tập hoá học
Tiến trình khái quát giải một BTHH gồm các giai đoạn và yêu cầu khi giải bất
kì bài tập nào, còn gọi là các bước chung hay là dàn ý gồm có 4 bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu đề bài
- Đọc kĩ đề bài, tìm hiểu điều kiện đầu bài và yêu cầu của bài ra
Trang 24- Tóm tắt đầu bài theo quy ước của bản thân theo kí hiệu quen dùng
- Quy đổi, thống nhất đơn vị theo cùng hệ thống
Bước 2: Xác lập mối quan hệ
- Mô tả hiện tượng, quá trình hoá học có thể xảy ra trong bài toán
- Xác lập mối quan hệ giữa các yếu tố đã cho và cần tìm
- Xác lập các quy tắc và định luật cần áp dụng cần thiết cho bài toán
Bước 3: Thực hiện tiến trình giải
- Phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để rút ra kết luận cụ thể
- Từ các mối quan hệ trên xác lập bảng các phương trình tiếp tục luận giải, tính toán biểu diễn các đại lượng cần tìm qua các đại lượng đã cho
- Xác định kết quả với độ chính xác cho phép
Bước 4: Kiểm tra xác nhận kết quả
Để xác nhận được kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại một số phương án sau:
- Kiểm tra lại đã xét hết các trường hợp chưa, trả lời hết câu hỏi chưa -
Kiểm tra lại các phép tính đã chính xác chưa, thứ nguyên đúng chưa -
Kiểm tra lại kết quả vừa giải có phù hợp với thực nghiệm không - Thử
giải bằng phương án khác có đúng không
Trong quá trình giảng dạy cần tạo cho HS có thói quen giải các bài tập theo quá trình khái quát này sẽ giúp HS những phương hướng chung để giải bài tập, nó giúp HS định hướng giải bài tập tốt hơn, tuy nhiên với mỗi loại bài tập cần có hành động và thao tác cụ thể, chúng chỉ giống nhau ở bốn bước cơ bản mà thôi
1.2.3.5 Vai trò của bài tập hoá học trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
Trong việc bồi dưỡng NLTH cho HS, bài tập nói chung và bài tập hoá học nói riêng là phương tiện không thể thiếu để rèn luyện, bồi dưỡng cho các em kĩ năng tự học cơ bản như: kĩ năng thu thập, xử lí thông tin; kĩ năng vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn
và đặc biệt là kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh quá trình tự học
1.3 Cơ sở thực tiễn về bồi dưỡng năng lực tự học
1.3.1.Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của HS ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
1.3.1.1 Mục đích điều tra
* Về phía HS:
Trang 25- Tìm hiểu thái độ, tình cảm, nhận thức của HS về BTHH
- Việc chuẩn bị cho tiết luyện tập và giải bài tập của HS
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi giải bài tập và các yếu tố giúp HS giải thành thạo một dạng bài tập
- Tìm hiểu nhận thức của HS về tự học và vai trò của tự học
- Tìm hiểu vấn đề sử dụng thời gian và cách thức tự học
- Tìm hiểu những khó khăn mà các em gặp phải khi tự học và các yếu tố tác động đến hiệu quả của việc tự học
* Về phía GV:
- Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV
- Tìm hiểu cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy học hoá học
- Tìm hiểu tình hình dạy BTHH ở trường THPT: mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH
- Tìm hiểu về biện pháp xây dựng và sử dụng HTBT bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
1.3.1.2 Đối tượng điều tra
- Chúng tôi tiến hành điều tra trên hai đối tượng là HS và GV hoá học
- Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 30 GV hoá học ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Số phiếu thu được là 30 phiếu
- Chúng tôi cũng đã gửi phiếu điều tra đến 11 lớp 12 (460 HS) ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Hưng Yên Số phiếu thu được 460 phiếu
1.3.1.3 Kết quả điều tra
* Phiếu điều tra của HS gồm 13 câu hỏi
Câu 1 Em có yêu thích bộ môn Hoá học hay không?
Số lượng Tỷ lệ %
Chỉ coi môn học là nhiệm vụ 48 10,43
Không hứng thú với môn học 17 3,70
Trang 26Câu 2 Để chuẩn bị cho một bài học Hoá học, em thường:
Nghiên cứu trước bài học theo nội dung hướng dẫn của
thầy cô
Tự đọc trước nội dung bài học ngay cả khi không có nội
dung hướng dẫn
Tìm đọc thêm tài liệu có liên quan ngoài SGK
Học thuộc lòng bài cũ để chuẩn bị cho kiểm tra
7,61 8,04 3,91 2,83 Câu 3.Em có suy nghĩ gì về việc học tập của học sinh ở trường THPT
Số ý kiến Tỉ lệ %
Cần tự học dưới sự hướng dẫn của GV 281 61,09 Câu 4 Thái độ của HS đối với các giờ BTHH
tập khó
Mày mò tự tìm lời giải
Xem kỹ bài mẫu GV đã hướng dẫn
Tham khảo lời giải trong sách bài tập
Trang 27Câu 6: Thời gian tự học của em trong một ngày thường là
Số ý Tỉ lệ % kiến
h ọc đ ể
Số ý kiến Tỉ lệ %
Chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn 241 52,39
Tìm hiểu các vấn đề liên quan đến bài học 187 40,65
Câu 9 Lý do HS cần phải tự học
Giúp HS hiểu bài trên lớp sâu sắc hơn
Giúp HS nhớ bài lâu hơn
Phát huy tính tích cực của HS
Kích thích hứng thú tìm tòi nâng cao mở rộng kiến thức
Tập thói quen tự học và tự nghiên cứu suốt đời
Rèn luyện thêm khả năng suy luận logic
Nội dung đang học thường đề cập trong các kì thi
Trang 28Câu 10 Khó khăn mà em gặp phải khi tự học
Chưa biết cách lựa chọn tài liệu học tập
Chưa có phương pháp học tập hợp lý
Chưa có biện pháp để kiểm tra kiến thức mình đã học
Thiếu sự hướng dẫn cụ thể cho việc tự học
Câu 11 Cách thức tự học của HS
Chỉ học bài, làm bài khi cần thiết
Học theo hướng dẫn, có nội dung câu hỏi, bài tập của GV
Chỉ học phần nào quan trọng, cảm thấy thích thú
Tỉ lệ % 17,17 59,35 23,48 Câu 12 Theo em để tự học môn hoá học có hiệu quả và chất lượng cần phải
Có nhiều thời gian để tự học
Có tài liệu tham khảo
Làm nhiều bài tập
Có tài liệu hướng dẫn tự học
Câu 13 Các ý kiến khác của em về tự học
-
* Phiếu điều tra cho giáo viên
Chúng tôi nêu lên 10 câu hỏi
Câu 1 Sự cần thiết phải sử dụng thêm HTBT để nâng cao kết quả học tập của HS
Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết
Số ý kiến
24 411
Tỉ l ệ % 80,00 13,34 3,33 3,33
Trang 29Câu 2 Mức độ sử dụng thêm HTBT
Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Chưa bao giờ Câu 3 Hình thức thiết kế HTBT
Số ý kiến 3
25 20
Tỉ lệ % 10,00 83,33 6,67 0,00
GV giải bài mẫu, HS về nhà làm bài tập tương tự 19 63,33
GV giải bài mẫu, HS về nhà làm bài tập tương tự có
Liên hệ giữa lý thuyết và thực tế 4 13,33
Câu 6 Những khó khăn mà GV gặp phải trong khi sử dụng BTHH
Số ý kiến Tỉ lệ %
Không có HTBT chất lượng hỗ trợ HS tự học 22 73,33
Trang 30Câu 7 Mức độ cần thiết của việc xây dựng hệ thống BTHH bồi dưỡng HS tự học
Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết
Số ý kiến
26 400
Tỉ lệ % 86,67 13,33 0,00 0,00 Câu 8 Mức độ cần thiết của các định hướng xây dựng hệ thống BTHH bồi dưỡng HS tự học
Soạn theo từng bài học
Phân dạng , xếp từ dễ đến khó, Có
hướng dẫn cách giải cho từng dạng
Có đáp số cho các bài tập tương tự
Có bài tập tổng hợp để HS hệ thống và
củng cố kiến thức
Số ý kiến 3
19
26
Tỉ lệ % 10,00 63,33
6,67 20,00
Câu 9 Theo thầy cô hoạt động hướng dẫn tự học có vai trò như thế nào đối với việc tiếp thu kiến thức của HS
Rất quan trọng
Không quan trọng bằng các hoạt động khác
Tuỳ thuộc vào nội dung chương trình
Không cần tổ chức, hướng dẫn HS tự biết cách
học phù hợp
Câu 10 Các ý kiến khác của GV về tự học
Số ý kiến
28 011
Tỉ lệ % 93,34 0,00 3,33 3,33
-
1.3.2.Nhận xét về kết quả điều tra
Từ những số liệu thu được, kết hợp với điều tra GV và HS, chúng tôi rút ra được một số nhận xét sau:
a Nhận thức của GV và HS về tự học và thực trạng của việc bồi dưỡng năng lực
tự học cho HS ở các trường THPT hiện nay
Trang 31- Hầu hết HS và GV đều hiểu đúng khái niệm về tự học và nhận thức đúng vai trò của tự học đối với quá trình học tập nhằm chiếm lĩnh các kiến thức một cách chủ động Tuy nhiên, rất ít GV và HS nắm được các khái niệm năng lực tự học
- Đa số trong quá trình dạy học GV chưa chú ý đến việc bồi dưỡng NLTH cho
HS, trong khi đó hầu hết HS lại cho rằng việc tự học của họ thường gặp khó khăn, mất nhiều thời gian và không hiệu quả
- Phần lớn GV chưa tổ chức hoặc tổ chức chưa tốt các PPDH tích cực Trong các tiết học, HS rất ít có điều kiện tự suy nghĩ, trao đổi, thảo luận về những vấn đề kiến thức của bài học mà hầu hết câu hỏi GV được đưa ra rồi tự GV giải quyết
-Trong quá trình dạy học, GV ít chú ý bồi dưỡng NLTH cho HS, hầu hết GV cốgắng truyền đạt hết nội dung SGK Điều này dẫn đến NLTH của các em không được bồi dưỡng trong quá trình học tập, biểu hiện là các em lúng túng khi phải tự đọc sách,
tự tìm tài liệu và đặc biệt là chưa biết thu thập, xử lý, vận dụng thông tin vào đời sốngthực tế cũng như kỹ năng tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh quá
trình học tập của bản thân
b Thực trạng về sử dụng BTHH để bồi dưỡng NLTH cho HS ở các trường THPT hiện nay
BTHH là phương tiện tốt để bồi dưỡng NLTH mà cụ thể là bồi dưỡng NLTH cho
HS Tuy nhiên, qua thăm dò, điều tra thì thực trạng của vấn đề sử dụng BTHH để bồi dưỡng NLTH cho HS ở các trường THPT hiện nay còn hạn chế
- Đa số GV đều nhận thức được tầm quan trọng của BTHH trong quá trình dạy học Tuy nhiên việc khai thác BTHH để bồi dưỡng NLTH cho HS hầu như chưa đượcchú ý
- Hầu hết GV chưa quan tâm đến việc sử dụng BTHH để bồi dưỡng NLTH cho
HS Đa số GV tự giải mà không hướng dẫn HS độc lập suy nghĩ tìm kiếm các phương
án giải để từ đó bồi dưỡng cho HS năng lực tự học
- Hầu hết GV ít sử dụng BTHH bồi dưỡng NLTH trong việc kiểm tra, đánh giá HS
- Phần lớn GV chưa có sự đầu tư khai thác những BTHH
* Một số nguyên nhân cơ bản
- Về phía GV
Trang 32+ Mặc dù GV nhận thức được tầm quan trọng của BTHH trong quá trình dạy học nhưng GV chưa có sự đầu tư đúng đắn
+ Nhiều GV vẫn quen dạy theo lối cũ, ngại đổi mới PPDH do đó việc sử dụng BTHH theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS đòi hỏi GV phải tốn thời gian và công sức để sưu tầm và tuyển chọn HTBT phù hợp với các hình thức dạy học
+ Các giáo án của GV chỉ mang tính hình thức và chỉ tóm tắt nội dung chính trong SGK mà chưa thiết kế giáo án theo một tiến trình cụ thể bằng hệ thống các BTHH để hình thành kiến thức cho HS
+ Chế độ kiểm tra, thi cử, đánh giá kết quả học tập chưa kích thích được khả năng tư duy và ý thức tự học của các em vì một bộ phận không nhỏ các GV vẫn dạy theo quan niệm "thi gì, dạy nấy" Vẫn còn nạn chạy đua theo thành tích, tuy không nhiều nhưng cũng tác động rất lớn đến việc tự học của các em
- Về phía HS
+Phần đông HS nhận thức được tầm quan trọng của việc tự học trong quá trình học tập của các em, tuy nhiên các em không biết và không có điều kiện để rèn luyện được những NLTH vì áp lực học tập và thi cử ( học thêm tràn lan)
+ Mặt khác, HS còn hạn chế về khả năng hiểu biết tư duy logic trong quá trình giải thích các hiện tượng và giải BTHH, vận dụng kiến thức vào các vấn đề thực tế
c Thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng BTHH để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS
* Những thuận lợi
- Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi Giáo dục phải tạo ra những con người năng động, sáng tạo, có khả năng chiếm lĩnh tri thức và làm chủ tri thức Chính vì vậy
mà vấn đề tự học, bồi dưỡng NLTH cho HS được các cấp chính quyền và xã
hội quan tâm đúng mức
- Cùng với sự đổi mới chương trình, nội dung là sự đổi mới về PPDH nên hiện nay nhiều trường phổ thông đã được đầu tư, trang bị khá đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo cho GV có thể tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng tích cực
- Môn Hoá học là một môn khoa học tự nhiên, có nhiều BTHH phong phú gắn liền thực tiễn với đời sống nên GV dễ dàng khai thác BTHH theo hướng bồi dưỡng NLTH cho HS
Trang 33học với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và các điều kiện học tập
Việc tuyển chọn, xây dựng và sử hệ thống BTHH ở trường THPT giữ một vai trò quan trọng trong quá trình DH hoá học Tính tích cực của BTHH được nâng cao hơn khi BTHH được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi chứ không phải là tái hiện kiến thức
GV phải biết cách tổ chức tình huống học tập phù hợp, giao bài tập cho HS trong quá trình tự học, hướng dẫn cho HS khi các em gặp khó khăn trong việc giải quyết các bài tập, đồng thời HS phải tự giác hoạt động, chủ động trong việc tìm tòi giải quyết các vấn đề
- Đánh giá được thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH bồi dưỡng năng lực tự học cho HS trong quá trình dạy học ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên
Trang 34CHƯƠNG 2MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC BÀI TẬP HÓA HỌC CỦA CHƯƠNG 5 - ĐẠI CƯƠNG KIM LOẠI
HOÁ HỌC 12 NÂNG CAO
2.1 Giới thiệu về chương trình sách giáo khoa hoá học lớp 12
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình Hoá học nâng cao
Chương trình THPT nâng cao môn Hoá học được xây dựng trên những quan điểm sau:
1 Đảm bảo thực hiện mục tiêu môn Hoá học trường THPT
2 Đảm bảo tính phổ thông, nâng cao, tính khoa học, tính thực tiễn, tính hiện đại, tính khả thi
3 Đảm bảo tính đặc thù của môn Hoá học:
4 Đảm bảo tính định hướng đổi mới PPDH hoá học theo hướng tích cực hoá:
5 Đảm bảo việc thực hiện đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS:
6 Đảm bảo được tính kế thừa những thành tựu dạy học Hoá học trong nước
và thế giới
7 Đảm bảo tính phân hoá của chương trình hoá học phổ thông
2.1.2 Cấu trúc của chương 5 Đại cương kim loại hóa học 12 nâng cao
5.1 Kim loại và hợp kim
5.2 Dãy điện hoá của kim loại
5.3 Luyện tập tính chất của kim loại
5.4 Sự điện phân
5.5 Sự ăn mòn kim loại
5.6 Điều chế kim loại
5.7 Luyện tập sự điện phân - sự ăn mòn kim loại- điều chế kim loại
5.8 Thực hành dãy điện hoá của kim loại- điều chế kim loại
5.9 Thực hành ăn mòn kim loại- chống ăn mòn kim loại
Trang 355.10 Kiểm tra : 2 bài
2.2 Mục tiêu và nội dung cấu trúc chương 5 Đại cương kim loại lớp 12
2.2.1 Mục tiêu của chương
* Hiểu:
- Giải thích được những tính chất vật lý, tính chất hoá học chung của kim loại Dẫn ra được những thí dụ minh hoạ và viết các phương trình hoá học
- Ý nghĩa của dãy điện hoá chuẩn của kim loại:
+ Xác định chiều của phản ứng giữa chất oxi hoá và chất khử trong hai cặp oxi hoá - khử
+ Xác định suất điện động chuẩn của pin điện hoá
- Các phản ứng hoá học xảy ra trên các điện cực của pin điện hóa khi hoạt động và của quá trình điện phân chất điện li
- Điều kiện, bản chất của sự ăn mòn điện hoá và các biện pháp phòng, chống ăn mòn kim loại
- Hiểu được các phương pháp điều chế những kim loại cụ thể (kim loại có tính khử mạnh, trung bình và yếu)
2.2.1.2 Kĩ năng
- Viết các phương trình phản ứng về tính chất hóa học của kim loại
- Vận dụng các công thức, định luật, quy luật để giải các bài tập liên quan
- Biết vận dụng dãy điện hoá chuẩn của kim loại để:
+ Xét chiều của phản ứng hoá học giữa chất oxi hoá và chất khử trong hai cặp oxi hoá - khử của kim loại
+ So sánh tính khử, tính oxi hoá của các cặp oxi hoá - khử +
Tính suất điện động chuẩn của pin điện hoá
Trang 36- Biết tính toán khối lượng, lượng chất liên quan đến quá trình điện phân (tính toán theo phương trình điện phân và tính toán theo sự vận dụng định luật Farađây)
- Thực hiện được những thí nghiệm chứng minh tính chất của kim loại, thí nghiệm về pin điện hoá và sự điện phân, những thí nghiệm về ăn mòn kim loại và chống ăn mòn kim loại
2.2.1.3 Thái độ
Có ý thức vận dụng các biện pháp bảo vệ kim loại trong đời sống và trong lao động của cá nhân và cộng đồng xã hội
2.2.2 Nội dung
Chương 5: Đại cương về kim loại
(13 tiết: 9 tiết lý thuyết + 2 tiết luyện tập + 2 tiết thực hành)
2.3 Hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học
2.3.1 Khái niệm, đặc điểm bài tập bồi dưỡng năng lực tự học
2.3.1.1 Khái niệm bài tập bồi dưỡng năng lực tự học, hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học
Chưa có tài liệu nào nêu khái niệm về bài tập bồi dưỡng năng lực tự học và hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học tự học Theo quan điểm của chúng tôi:
- Bài tập bồi dưỡng năng lực tự học là bài tập củng cố lý thuyết cơ bản của bài học, góp phần hệ thống hóa và khắc sâu lý thuyết đó, giúp cho quá trình tự học của
HS đạt kết quả tốt
- HTBT bồi dưỡng năng lực tự học là tập hợp bài tập bồi dưỡng năng lực tự học được sắp xếp từ dễ đến khó, đa dạng, đầy đủ và có mối liên hệ logic chặt chẽ với nhau
2.3.1.2 Đặc điểm của bài tập bồi dưỡng năng lực tự học
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, theo chúng tôi HTBT bồi dưỡng năng lực tự học cần phải:
a Có đầy đủ các loại bài tập:
+ Bài tập điển hình: là bài tập tiêu biểu cho một dạng nào đó, bắt buộc HS phải giải
+ Bài tập tương tự: là bài tập gần giống bài tập điển hình, HS giải để rèn luyện kỹ năng giải bài tập dạng đó
Trang 37+ Bài tập khó: là bài tập dành cho HS khá, giỏi với mức độ tư duy cao hơn
b Có phân dạng bài tập và hướng dẫn cách giải từng dạng
c Có bài giải mẫu (đa số là bài tập điển hình và bài tập khó)
d Sắp xếp các bài tập từ dễ đến khó và chỉ ra bài tập điển hình, bài tập tương
tự, bài tập khó
e Có câu hỏi kiểm tra kiến thức cơ bản kèm theo đáp số cùng với các câu hỏi tổng hợp để kiểm tra kiến thức sau khi HS học xong một số bài học, chương nào đó
2.3.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học
Để định hướng cho việc tuyển chọn, xây dựng BTHH, chúng tôi đã nghiên cứu và đề xuất các nguyên tắc sau :
2.3.2.1 Đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại
Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yếu của việc lựa chọn nội dung Theo
nguyên tắc này thì nội dung BTHH phải thể hiện một cách đúng đắn những quan điểmcủa kiến thức hóa học hiện đại (ngôn ngữ hóa học, các định luật, các lí thuyết, quá
trình hóa học, ) và phải phù hợp với nội dung sách giáo khoa Bảo đảm tính cơ bản
là phải đưa vào hệ thống BTHH những kiến thức cơ bản, trọng tâm về hoá học Bảo
đảm tính hiện đại tức là phải đưa vào các nội dung hiện đại, phù hợp với thực tiễn
Điều kiện quan trọng để thực hiện nguyên tắc này là tính hệ thống của kiến thức, thiết lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng; tập trung vào kiến thức trọng tâm
2.3.2.2 Đảm bảo tính logic, hệ thống
Tính logic được hiểu một cách đơn giản chính là sự hợp lí Hợp lí trong cả việc chọn nội dung kiến thức phù hợp với đối tượng sử dụng HTBT (ở đây là những HS họcchương trình nâng cao) và hợp lí trong việc trình bày các kiến thức đó HTBT phải được trình bày tinh gọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng
Tính hệ thống là sắp xếp các dạng bài tập một cách có sự liên tục để người sử dụng thấy được chúng là những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau
2.3.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng, phù hợp với các đối tượng học sinh
- Thông qua HTBT, HS nắm được các kiến thức cơ bản, trọng tâm -
Đầy đủ các dạng bài tập thường gặp
- Mỗi HS có trình độ khác nhau, mỗi lớp đều có học sinh giỏi, khá, trung bình,
Trang 38thậm chí mỗi vùng miền khác nhau thì trình độ HS cũng khác nhau HTBT cần phù hợp với các đối tượng HS
2.3.2.4 Đảm bảo tính vừa sức
Tính vừa sức cần hiểu theo 2 nội dung :
- Vừa sức về độ khó : Bài tập cao hơn khả năng của HS một chút là rất tốt
Nếu dễ thì HS dễ ỷ lại, còn nếu khó quá thì HS lại bỏ giữa chừng GV cần chú ý đưa những bài tập có hệ thống và củng cố lý thuyết kèm theo phương hướng giải quyết để
HS không nản chí (hướng dẫn cách giải cho từng dạng bài tập, sau đó cho bài tập tương tự có kèm theo đáp số)
- Vừa sức về số lượng : Nếu nhiều bài tập quá thì HS không giải hết, chán nản và
ảnh hưởng đến các môn học khác Nếu ít quá thì không phủ kín chương trình và không đủ để bồi dưỡng HS tự học
2.3.2.5 Bám sát nội dung dạy học, chú trọng kiến thức trọng tâm
HTBT cần bám sát nội dung của từng bài, từng chương và cần xoáy vào kiến thức trọng tâm giúp cho mọi đối tượng HS (khá, giỏi, trung bình và yếu) mức tối thiểu nắm được những kiến thức cơ bản, làm nền tảng cho HS có thể nâng cao kiến thứcchắc chắn rằng kết quả học tập sẽ tốt hơn
2.3.2.6 Gây hứng thú cho người học
Để gây hứng thú cho người học thì :
- BTHH gắn liền với các kiến thức khoa học về hoá học hoặc các môn học khác, gắn với thực tiễn sản xuất hoặc đời sống,
- HTBT cần chứa đựng các bài tập có thể giải theo nhiều cách, trong đó cách giải ngắn gọn nhưng đòi hỏi HS phải thông minh hoặc có sự suy luận cần thiết thì mới giải được
2.3.2.7 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học
Để HS tự học tốt cần được hướng dẫn HS học tập cụ thể và có thông tin phản hồi Việc tự học thuận lợi sẽ giúp HS tiếp thu kiến thức cần nắm và say mê học tập hơn, kết quả học tập nâng cao Vì vậy HTBT cần có lí thuyết tóm tắt nêu bật được trọng tâm của nội dung; có các phương pháp giải nhanh; có hướng dẫn giải và đưa ra một số cách giải phù hợp với nhiều đối tượng HS; có đáp án cho câu hỏi trắc nghiệm;
có bài tập tổng hợp để HS kiểm tra lại kiến thức
Trang 392.3.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học
2.3.3.1 Nghiên cứu mục tiêu, xác định nội dung dạy học cần đạt được
- Dựa vào SGK, nghiên cứu nội dung từng chương, từng bài học cụ thể
- Dựa vào chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tìm hiểu nội dung về kiến thức và kỹ năng mà HS cần đạt được khi học chương đó, bài học đó
- Sau khi tìm hiểu nội dung, các chuẩn kiến thức kỹ năng cần phải xác định mục tiêu dạy học cần đạt được
2.3.3.2.Xác định kiến thức trọng tâm của bài và của chương
Sau khi tìm hiểu nội dung về kiến thức và kỹ năng mà HS cần đạt được trong
"chuẩn kiến thức" của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhất thiết phải tiến hành xác định kiến thức trọng tâm mà HS bắt buộc phải nắm vững khi học phần này để lựa chọn bàitập cho phù hợp
2.3.3.3 Lập bảng ma trận hai chiều giữa nội dung kiến thức và số lượng bài tập
Sau khi phân chia nội dung chương trình thành nội dung dạy học cụ thể, cần tiến hành lập bảng ma trận hai chiều, trong đó một chiều là nội dung hay mạch kiến thứcchính, một chiều là các cấp độ nhận thức của HS (nhận biết, thông hiểu và vận dụng) Trong mỗi ô là số lượng câu hỏi, số lượng câu hỏi tuỳ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi loại mục tiêu và mỗi loại nội dung (dựa vào chuẩn kĩ năng và kiến thức của
Bộ Giáo dục và Đào tạo) Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận giúp HTBT đảm bảo nguyên tắc : mỗi câu hỏi chỉ kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm; số lượng câu hỏi và tổng số câu hỏi do ma trận đề quy định
2.3.3.4.Tìm kiếm tư liệu, sưu tầm các dạng bài tập cần thiết
Bài tập hiện nay rất nhiều (SGK, sách bài tập, sách tham khảo, tạp chí,
internet), những bài tập đó rất hay, rất đáng sử dụng nhưng một số bài chưa phù hợp với trình độ HS Mỗi vùng, mỗi miền, mỗi trường cần có HTBT riêng phù hợp với HS ởtrường đó, miền đó, vùng đó Vì vậy khi sưu tầm cần xác định rõ nội dung kiến thức cần tìm và trình độ của các đối tượng HS để có sự chọn lọc tốt
2.3.3.5.Biên soạn hệ thống bài tập
Khi biên soạn cần lược giải tất cả các bài tập để đảm bảo độ tin cậy cao, đồng thời cũng cần lưu ý một số tiêu chí sau :
Trang 40(1) Nội dung kiến thức phải phủ kín chương trình
(2) Khắc sâu trọng tâm, nghĩa là phần kiến thức trọng tâm hơn thì hỏi nhiều hơn và ngược lại
(3) Số lượng bài tập phù hợp
2.3.3.6.Thử nghiệm
Thử nghiệm HTBT với số lượng nhỏ HS và GV, lấy ý kiến, sau đó chỉnh sửa rồibiên soạn lại và thử nghiệm với số lượng lớn hơn Việc thử nghiệm với số đông HS và
GV sẽ chọn được bài tập có độ tin cậy cao
2.3.3.7.Tham khảo ý kiến đồng nghiệp, chỉnh sửa, hoàn thiện
Trong việc tuyển chọn và biên soạn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, việc tham khảo ý kiến của đồng nghiệp để chỉnh sửa và hoàn thiện là rất cần thiết
2.3.4 Hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học chương 5 Đại cương kim loại 2.3.4.1 Tổng quan về HTBT bồi dưỡng năng lực tự học chương 5 Đại cương kim loại
HTBT được xây dựng dựa trên 7 nguyên tắc đã đặt ra ở phần 2.3.2 và 7 bước của quy trình xây dựng ở phần 2.3.3 Để tạo điều kiện thuận lợi cho HS tự học, chúng tôi đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu đặt ra ở phần 2.3.1.2
Không chỉ xây dựng HTBT cho từng bài học cụ thể, còn có thêm HTBT tổng hợp HTBT được chia thành bài tập tự luận (98 bài) và câu hỏi trắc nghiệm (146 câu) Để thuận lợi cho HS tự học, chúng tôi chia HTBT thành thành 2 phần:
+ Phần bài tập tự luận
+ Phần câu hỏi trắc nghiệm
Trong mỗi phần trên gồm 3 loại bài tập: Bài tập điển hình, bài tập tương tự , bài tập khó
Bài tập tự luận giúp cho HS nắm được kiến thức trọng tâm cơ bản của bài học, hiểu và bước đầu vận dụng những kiến thức này cho đến khi trở nên nhuần nhuyễn, tăng cường hoạt động ghi nhớ Để HS dễ dàng nhận dạng bài tập, chúng tôi chia phần bài tập tự luận thành 6 dạng như sau:
Dạng 1: Khái niệm, lí tính, cấu tạo, vị trí kim loại trong bảng hệ thống tuần hoàn Bài tập điển hình (từ 1 đến 9), bài tập tương tự (10, 11, 12) , bài tập khó (13,
14, 15)