1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn 11 trung học phổ thông

129 670 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHẠM THỊ BÍCH PHƯỢNG VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN VÀO DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ BÍCH PHƯỢNG

VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LIÊN VĂN BẢN VÀO DẠY HỌC

CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỜI TÂN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Lê Thời Tân người trực tiếp

hướng dẫn khoa học đã nhiệt tình chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh của trường THPT Quang Trung - Ninh Giang - Hải Dương đã ủng hộ, giúp đỡ tôi, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình

Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đãdành cho tôi sự quan tâm, khích lệ, chia sẻ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ phía thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả

Phạm Thị Bích Phượng

2

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các bảng, biểu iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8

1.1 Lí thuyết liên văn bản 8

1.1.1 Nguồn gốc liên văn bản 8

1.1.2 Liên văn bản và những thay đổi trong văn học 11

1.1.3 Khái niệm lý thuyết liên văn bản 13

1.1.4 Đặc trưng của liên văn bản 15

1.1.5 Các hình thức và nhiệm vụ liên văn bản 16

1.2 Quá trình hiện đại hóa của văn học hiện đại Việt Nam 17

1.2.1 Cơ sở xã hội 17

1.2.2 Các giai đoạn phát triển của quá trình hiện đại hóa 18

1.3 Tìm hiểu chung về thơ trữ tình 20

1.3.1 Khái niệm chung về Thơ 20

1.3.2 Đặc điểm của thơ trữ tình 21

1.4 Khái quát về phong trào Thơ mới 1932 - 1945 24

1.4.1 Hoàn cảnh ra đời 24

1.4.2 Thơ mới - cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam 25

1.4.3 Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào Thơ mới 27

Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ VIỆC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN 31

2.1 Thực trạng dạy học Văn nói chung và Thơ mới nói riêng trong trường THPT hiện nay 31

2.1.1 Thực trạng dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay 31

2.1.2 Thực trạng giảng dạy thơ trữ tình trong nhà trường THPT 34

2.1.3 Tiêu chuẩn để đánh giá một giờ dạy Ngữ văn thành công 35

2.2 Các tác phẩm Thơ mới trong chương trình THPT 38

Trang 4

2.3 Một số giải pháp tiếp cận các tác phẩm Thơ mới trong chương

trình Ngữ văn 11 theo hướng liên văn bản 41

2.3.1 Dạy học Thơ mới trong thể liên văn bản với "thơ cũ" 41

2.3.2 Dạy học Thơ mới trong thể liên văn bản với thơ ca cách mạng 47

2.3.3 Dạy học Thơ mới trong thể liên văn bản với thơ ca thế giới 49

2.4 Các hoạt động cụ thể của việc dạy học tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11 theo hướng liên văn bản 51

2.4.1 Xác định các hoạt động khi dạy các tác phẩm Thơ mới trong chương trình ngữ văn 11 theo hướng liên văn bản 51

2.4.2 Các phương pháp dạy học Thơ mới theo hướng liên văn bản 52

Chương 3: THỰC NGHIỆM DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN 86

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 86

3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm 86

3.3 Tiến trình thực nghiệm 86

3.3.1 Điều tra trình độ học sinh trước khi thực nghiệm 86

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 88

3.3.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 88

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 90

3.4.1 Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm 90

3.4.2 Kết quả thực nghiệm cụ thể 90

3.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm 92

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1.02 1 Kết luận 1.02

2 Khuyến nghị 1.03

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.05 PHỤ LỤC 107

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Trang

Bảng 3.1 So sánh trình độ HS các lớp đối chứng 86

Bảng 3.2 Kết quả học tập các lớp dạy thực nghiệm 87

Bảng 3.3 So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm 91

Biểu đồ 3.1 Kết quả học tập các lớp đối chứng 87

Biểu đồ 3.2 Kết quả học tập các lớp dạy thực nghiệm 87

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục đào tạo đang là mục tiêu hàng

đầu của Đảng và Nhà Nước ta Vì vậy, trong nghị quyết hội nghị TW 8 khóa XI

về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ "Tiếp tục đổi mới

mạnh mẽ phương pháp dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học" Mục đích

của việc đổi mới là chuyển mạnh nền giáo dục truyền thụ kiến thức một chiều sang giáo dục tương tác giữa người dạy và người học, giữa nhà trường và xã hội Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để ngườihọc tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Đổi mới các hoạt động này nhằm tạo sự chuyển biến cơ bản về tổ chức hoạt động

dạy học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, phát triển năng lực, khả năng lập nghiệp cho học sinh

Từ xưa đến nay giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu, giáo dục thực hiện sứ mệnh lịch sử là chuyển giao nền văn hóa của thế hệ này cho thế hệ kia Giáo dục là phương thức đặc trưng cơ bản để bảo tồn và phát triển văn hóa nhân loại, là chiếc chìa khóa vạn năng mở ra những cánh cửa mới cho tương lai Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của người thầy trong quá trình dạy học

1.2 Bộ môn Ngữ văn có vai trò quan trọng hàng đầu trong chương trình đào

tạo xưa nay Ngữ Văn được coi là môn nghệ thuật mang tính khoa học, phản ánh chân thực cuộc sống bằng hình tượng ngôn ngữ Văn học tác động nhiều nhấtđến nhân cách và tâm hồn con người Ngữ văn giúp học sinh tiếp xúc với vẻ đẹp

kỳ diệu và phong phú của tiếng mẹ đẻ, tiếp xúc với vốn văn hóa dân tộc và văn hoá nhân loại góp phần hình thành tư duy ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp, kiến thức

xã hội và phát triển toàn diện nhân cách Nói như nhà văn M Goorki "Văn học lànhân học"

Trang 7

Dạy học văn là một quá trình phức tạp đan kết nhiều quá trình tâm lí, ngôn ngữ, văn học, sư phạm đòi hỏi nhiều tìm tòi, sáng tạo của người thầy Tuynhiên, mục tiêu dạy học bộ môn này không giống nhau ở các quốc gia và mỗi thời đại Xác định đúng đắn mục tiêu dạy học Ngữ văn của Việt Nam trong thế

kỷ XXI là rất quan trọng, giúp cho các nhà giáo dục tháo gỡ được những khó khăn trước mắt, nhất là vấn đề học sinh không hứng thú học Văn Văn học luôn vận động phát triển không ngừng theo dòng chảy của lịch sử Tác phẩm văn học

là sản phẩm tinh thần, đúc kết tài năng và tâm huyết của người nghệ sĩ, là đứa con tinh thần mà các tác giả gửi gắm những lí tưởng, quan điểm của mình, của thời đại Việc ra đời của mỗi tác phẩm là "khởi đầu của mọi khởi đầu" Ở mỗi thời đại, người đọc, người học lại có những con đường riêng để khám phá giá trị của tác phẩm văn học Vì vậy việc tìm ra

phương pháp dạy học hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy học và năng lực cảm thụ văn chương cho học trò luôn là sự trăn trở của người giáo viên

Phong trào Thơ mới là một trào lưu thi ca lớn của thời kì văn học Việt

Nam đầu thế kỉ XX Đây là kết quả tất yếu của "một cuộc biến thiên vĩ đại" Chỉ

trong khoảng 13 năm từ 1932 - 1945, Thơ mới đã làn nên cả "một thời đại trong thi ca" (Hoài Thanh) Thơ mới là một hiện tượng lớn, có tầm quan trọng và có sức hútđặc biệt đối với giới nghiên cứu phê bình Phong trào Thơ mới chính là trào lưu thi ca giàu sức sáng tạo, mở ra một hướng mới đưa thi ca từ thời cận đại đến vớithời kì hiện tại Việc giảng dạy phong trào Thơ mới ở trường THPT hiện nay chưa làm rõ mối quan hệ gắn kết của các tác phẩm cùng nằm trong phong trào Thơ mới cũng như với dòng chảy vận động của lịch sử văn học Học sinh chưa cảm thụ sâu sắc giá trị của các tác phẩm Thơ mới, chỉ nắm được nội dung từng tác phẩm mà chưa vận dụng tối đa khả năng tư duy, tích hợp liên văn bản, liên môn để chủ động chiếm lĩnh tác phẩm Các em chưa có cái nhìn sâu sắc, toàn diện đầy đủ

về giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của các tác phẩm Thơ mới trong sự vận động của tiến trình văn học Việt Nam

Trang 8

Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu lý thuyết văn học phương Tây ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong đó có lí thuyết liên văn bản Các vấn đề lý luận mà trước thời kì đổi mới bị lãng quên nay được các nhà nghiên cứu xem xét lại một cách khách quan và khoa học Tuy nhiên, những thành tựu đó lại chưa thật sự được vận dụng phổ biến vào dạy học ngữ văn trong nhà trường đặc biệt là thơ trữ tình trong đó có phong trào Thơ mới Từ

những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Vận

dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm Thơ mới trong

chương trình Ngữ Văn 11- Trung học phổ thông làm đề tài nghiên cứu cho

luận văn của mình Chúng tôi mong muốn tiếp cận một thời kì phát triển của thơ

ca dân theo hướng tiếp cận liên văn bản để nâng cao năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh cũng như góp phần đổi mới phương pháp dạy học và

nâng cao chất lượng giáo dục

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Các công trình nghiên cứu về lí thuyết liên văn bản

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thuấn với đề tài Liên văn bản trong sáng

tác của nguyễn Huy Thiệp (2003) Luận án đã nghiên cứu nguồn gốc của lý

thuyết liên văn bản và định hướng những cách tiếp cận mới về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp TS Nguyễn Nam (Viện Harvard - Yenching) có bài thuyết

trình về "Lý thuyết liên văn bản trong nghiên cứu văn học và Hán Nôm" tại

khoa Văn học, Đại học KHXH &NV (2010) Tạp chí khoa học (6), Đại học Huế

có bài "Yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết lịch sử giàn thiêu" của Võ Thị Hảo

Nguyễn Nhật Huy có bài: Ứng dụng lí thuyết liên văn bản trong việc Dạy học

văn Phùng Phương Nga có bài viết: "Liên văn bản và vấn đề đối thoại của tư tưởng trong văn xuôi đương đại", Văn nghệ trẻ số 3 (741) và số 13 (754) Luận

văn thạc sĩ của Đỗ Thị Vui với đề tài "Dạy học văn học trung đại - Ngữ văn 10

theo hướng liên văn bản" (Trường ĐH Giáo

dục- khóa 2011 - 2013)

Trang 9

2.2 Các công trình nghiên cứu về Thơ mới

- Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân (1941) đã lựa chọn và

tôn vinh 44 tác giả với những tác phẩm có giá trị của phong trào Thơ mới HoàiThanh - Hoài Chân có những bài phê bình sâu sắc và tổng quan về tình hình thi

ca năm 1930 - 1945 Một thời đại trong thơ ca có giá trị văn học sử tổng kết phong trào Thơ mới và nêu lên những đóng góp nghệ thuật của Thơ mới giúp độc giả có cái nhìn khái quát về một luồng Thơ mới mẻ và độc đáo Hoài Thanh

nhận định xác đáng về dòng thơ lãng mạn 1930-1945: "Tôi quyết rằng trong

lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa

như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và tha thiết rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu"

- Việt Nam Văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (1943) đã đưa ra định

nghĩa về Thơ mới "Thơ mới là lối thơ không theo quy củ của thơ cũ nghĩa là không hạn chế số câu, số chữ, không theo niêm luật, chỉ cần có vần và điệu

Trong công trình Phong trào Thơ mới lãng mạn 1932 - 1945, in năm

1981, giáo sư Phan Cự Đệ đã viết: Chúng tôi cho rằng bản chất của Thơ mới lãng mạn là tiêu cực, thoát li và đã có những màu sắc suy đồi Khách quan mà nói thơ ca lãng mạn ít nhiều đã làm cho thanh niên trở nên bi lụy và do đó làm quẩn bước chân của họ trên con đường đi đến cách mạng Tuy nhiên ở nước ta thời

kì trước cách mạng tháng Tám, từ những người phát ngôn cho quan niệm nghệ thuật vị nghệ thuật bằng những lời lẽ thành thực và ngây thơ, những thi sĩ đắm mình trong cái tháp ngà của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tượng trưng cho đến những kẻ đề xướng ra một cái tôi to tướng, kênh kiệu, đi lù lù giữa cuộc đời

và ném đá vào những người xung quanh"

- Tinh hoa Thơ mới - Thẩm bình và suy nghĩ do Lê Bá Hán (Chủ biên) đã

có cánh nhìn nhận đánh giá sâu sắc về phong trào Thơ mới

Trang 10

- Nhà Văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan cũng biểu dương một số thi sĩ

của phong trào Thơ mới lãng mạn

- Tác phẩm "Con mắt thơ" của Đỗ Lai Thúy đã cố gắng tìm tòi, phân tích

phong cách nghệ thuật độc đáo của một số gương mặt tiêu biểu như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử Đỗ Lai Thúy cũng nhận định "Xuân thu nhã tập không phải là cuốn sách tổng kết phong trào Thơ mới như thi nhân Việt Nam

mà là những suy nghĩ, thể nghiệm về Thơ mới khi nó chuyển sang giai đoạn

tượng trưng" Đỗ Lai Thúy cho rằng "Xuân thu nhã tập là khúc hát thiên nga

của phong trào Thơ mới" Trong Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, phong trào

Thơ mới được khẳng định là "sự tìm tòi tiếp tục và liên tục" Thơ mới đề cao cái tôi, đòi hỏi giải phóng cá nhân, tìm thoát li trong mộng ảo, những miền xa

lạ, cái đẹp thiên nhiên và quá khứ

- Dõi theo mỗi bước thăng trầm của Thơ mới, với mong muốn phác thảo một

"Bản lược đồ văn học Việt Nam", tác giả Thanh Lãng đã có cái nhìn khái quát về

phong trào Thơ mới với những cách tân và cả những mặt hạn chế Tác giả phân tích, bình luận các tác phân tích các thành tựu của Thơ mới giai đoạn đầu 1932 -

1939 và nhận định rằng "Khác hẳn thơ cổ điển, thơ cách mạng trong vòng 13 năm đã bột phát như một khu rừng cấm khi mùa xuân đến (Từ 'thơ cách mạng' dùng để chỉ bộ phận thơ theo khuynh hướng cách tân, hiện

đại hóa của phong trào Thơ mới)

- Mã Giang Lân đã tổng kết di sản văn học trước cách mạng tháng Tám

trong giáo trình Văn học Việt Nam 1945 - 1954 cũng nêu bật tầm quan trọng

của phong trào Thơ mới trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam

- Trong Văn chương tài năng và phong cách, tác giả Hà Minh Đức cũng đánh giá Thơ mới như " Một nguồn mạch phong phú của thơ ca dân tộc trong

thời kì hiện đại" với các tác giả như Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn mặc

Tử, Chế lan Viên

- Phan Cự Đệ trong "Phong trào Thơ mới lãng mạn" là cuốn sách đầu tiên

phân tích khá toàn diện trào lưu thơ ca lãng mạn từ khi ra đời, phát triển

Trang 11

đến quan điểm mĩ học Giáo sư Phan Cự

Đệ có cái nhìn thấu đáo khi đánh giá

phong trào Thơ mới qua các cuốn sách như Phong trào Thơ mới, Văn học lãng

mạn Việt Nam 1932 - 1945, Đổi mới và giao lưu văn hóa

Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là những gợi ý quan trọng cho đề tài của chúng tôi Tuy nhiên chưa có cuốn sách hay công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về các tác phẩm Thơ mới được giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 11 theo hướng tiếp cận liên văn bản

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn dạy học Thơ mới trong nhà trường THPT hiện nay, luận văn đề xuất giải pháp dạy học các tác phẩm Thơ mới ở chương trình Ngữ Văn 11 theo hướng tiếp cận liên văn bản Từ đó, giúp học sinh yêu thích phong trào Thơ mới, từng bước nâng cao chất lượng dạy họcThơ mới nói riêng và góp phần nâng cao năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh cũng như đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và khảo sát việc dạy học Thơ mới ở trường THPT hiện nay để nắm bắt thực trạng cho việc đề xuất giải pháp giảng dạy Thơmới theo hướng liên văn bản

- Đề xuất một số phương pháp dạy học các tác phẩm Thơ mới ở chương trình Ngữ Văn 11 (Chương trình chuẩn) theo hướng liên văn bản

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của việc ứng dụng phương pháp dạy học liên văn bản vào việc tìm hiểu các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu và đề xuất phương pháp dạy học Thơ mới trong chương trình ngữ văn 11 (chương trình cơ bản) theo hướng tiếp cận liên văn bản

Trang 12

Mẫu khảo sát:

-Các tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 11 (chương trình cơ bản): Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng Giang của Huy Cận, Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Tương Tư của Nguyễn Bính, Chiều Xuân của Anh Thơ

- Mẫu thực nghiệm: Học sinh lớp khối 11, trường THPT Quang Trung - Hải Dương

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, phỏng vấn, điều tra

- Phương pháp phân tích, so sánh -

Phương pháp thống kê, tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Thực trạng dạy học Thơ mới trong trường Trung học phổ thông và việc dạy học các tác phẩm Thơ mới theo hướng tiếp cận liên văn bản Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lí thuyết liên văn bản

1.1.1 Nguồn gốc liên văn bản

Liên văn bản (intertextuality) là thuật ngữ được nhà lý luận của chủ

nghĩa hậu hiện đại J.Kristéva đưa ra vào năm 1967, trong tiểu luận "Bakhtin, từ,

đối thoại và tiểu thuyết" "Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng

những trích dẫn cũ" [16, 35] Liên văn bản là một trong những thuật ngữ được

sử dụng nhiều nhất nhưng đồng thời cũng là một trong những thuật ngữ khó xác định nhất trong lý thuyết văn học nửa sau thế kỷ XX Liên văn bản từng được sử dụng với những tên gọi khác nhau: Đối thoại, liên ý thức, tiếp xúc văn bản, ngữ cảnh Những thuật ngữ này được M Bakhtin và N

Voloshilov sử dụng trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và văn học, thi pháp học và phương pháp luận xã hội, chống hình thức chủ nghĩa và ngữ nghĩa học mĩ học Thuật ngữ liên văn bản lần đầu tiên được J.Kristeva sử dụng (1967) trên cơ sở phân tích quan niệm "tiểu thuyết đa thanh" của M Bakhtin

Liên văn bản theo nghĩa nguyên khởi của thuật ngữ là cơ chế vận hành hiện thực được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của tác giả văn bản lại do tâm thức của thế kỉ XX sinh ra Chính trong thế kỉ này Liên văn bản đã trở thành quan niện trung tâm về một bức tranh thế giới xác định, cụ thể là quan niệm thế giới như một văn bản, điều này được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện đại Chính khái niệm liên văn bản đã làm thay đổi cả cách nhìn về tính điển phạm, dẫn đến việc lật đổ các hệ thống giá trị cũ, mở ngỏ cho sự lên ngôi của nhiều luồng văn học vốn, trước đó bị xem là ngoài lề, thậm chí, hoàn toàn bị quên lãng

Tiếp cận liên văn bản xem mỗi sự sinh thành của văn bản là một hiện tượng quan hệ, một quá trình kết nối, tương tác, đối thoại của văn bản trong mạnglưới diễn ngôn xã hội Văn bản có những mối quan hệ liên văn bản trong mạng lưới

từ cấp độ vi mô đến vĩ mô: kí ức ngôn ngữ, sự biến tấu và tái sinh

Trang 14

các thủ pháp, mô-típ, hình tượng, sự mô phỏng, nhại, vay mượn, trích dẫn,

chuyển thể, chuyển dịch, biến đổi, ảnh hưởng, đọc sai, ám chỉ, đạo văn, pha trộn thể loạiTrong cách tiếp cận này, bất cứ một văn bản nào cũng có tiềm năng trở thành chất liệu của một văn bản khác ra đời sau nó, bất cứ một văn bản nào cũng được giả thiết là sự đối thoại, chồng xếp, đồng quy vô số văn bản khác nhau Tiếp cận liên văn bản đòi hỏi người nghiên cứu tiến dẫn văn bản vào mạng lưới văn bản xã hội, diễn ngôn ý thức hệ và diễn ngôn tập thể, trong đó bất kì văn bản nghệ thuật nào cũng là kết quả của thực tiễn thương thỏa nghệ thuật, nơi mà những gì biệt lập, cô lập đều bất khả và không có tương lai

Mặc dù đóng một vai trò quan trọng như vậy nhưng Richard Schoek có lần than thở, lịch sử của liên văn bản chưa được viết ra hoặc như Graham Allen đánh giá; nội hàm khái niệm liên văn bản được mở rộng một cách tuỳ tiện đến độ nó có nguy cơ trở thành vô nghĩa Tuy nhiên, trên thực tế những công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh về liên văn bản tương đối ít có sự khác biệt Hầu như mọi người đều thống nhất với nhau về nguồn gốc của khái niệm: nó xuất hiện lần đầu tiên trong một bài viết của Julia Kristeva vào năm 1966, "Bakkhtin, từ, đối thoại và tiểu thuyết" Kết quả của nỗ lực khai triển ấy là một sự ra đời của một thuật ngữ mới: tính liên văn bản (intertextuality)

Theo Kristeva, văn bản không được hình thành từ những ý đồ sáng tác riêng của người cầm bút mà chủ yếu là từ những văn bản khác đã hiện hữu trước đó: mỗi văn bản là một sự hoán vị của các văn bản, nơi lời nói từ các văn bản khác gặp gỡ nhau, tan loãng vào nhau và trung hoà sắc độ của nhau Nói cách khác, không có văn bản nào thực sự cô lập, một mình một cõi, như một sự sáng tạo tuyệt đối: văn bản nào cũng chịu sự tác động của văn bản văn hoá (cultural text), cũng chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ và quyền lực thể hiện qua các hình thức diễn ngôn khác nhau trong xã hội Hậu quả là từ hay văn bản nào cũng là một giao điểm nơi ít nhất là một từ hay một văn bản khác được đọc Trong

ý nghĩa này, Kristeva xem văn bản có tính sản xuất

Trang 15

(productivity) lúc nào nó cũng là một quátrình vận động và tương tác liên tục

Ý nghĩa của các từ ngữ được sử dụng trong văn bản thay đổi màu sắc theo những thay đổi trong xã hội Kristeva cho ý nghĩa của mỗi từ trong văn bản được quy định bởi hai trục khác nhau: một, trục ngang, giữa tác giả và độc giả;

và hai, trục dọc, giữa nó với các văn bản khác cũng như với chu cảnh (context) văn hoá và xã hội trước đó cũng như cùng thời Từ đó, Kristeva cho rằng mỗi văn bản là một liên văn bản, ở đó các văn bản khác cùng hiện hữu để góp phần chi phối và làm thay đổi diện mạo của văn bản ấy Mỗi văn bản là một sự hấp thụ và chuyển thể của văn bản khác, là một tấm vải mới dệt từ những trích dẫn cũ, ở đó

có vô số những mảnh vụn của các mã ngôn ngữ, các quy ước văn học, các khuôn mẫu nhịp điệu, các hình thức diễn ngôn vốn từng phổ biến trong xã hội

Quan niệm về tính liên văn bản của Kristeva nhanh chóng nhận được sự đồng tình của nhiều lý thuyết gia lớn, những người sẽ khai triển khái niệm tính liên văn bản theo nhiều chiều hướng khác nhau, mở rộng nội hàm của nó, biến nó thành một trong những thuật ngữ vừa được phổ biến rộng rãi, ít nhiều có tính thời thượng, lại vừa phức tạp, thậm chí chứa đầy nghịch lý, nhất là khi chuyển từ lý thuyết gia này sang lý thuyết gia khác Trong số các tên tuổi ấy có thể kể đến Michel Foucault, người chủ trương "biên giới của một cuốn sách không bao giờ thực rõ ràng" vượt ra ngoài nhan đề, dòng chữ đầu tiên và dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức mang tính tự trị của nó, nó bị bắt gặp quả tang là đang hoà lẫn vào một hệ thống quy chiếu đến các cuốn sách khác, các văn bản khác, các câu văn khác Gérard Genette biến khái niệm tính liên văn bản thành tính xuyên văn bản (transtextuality), một khái niệm khá rộng, thâu tóm cả năm khái niệm khác, nhỏ hơn: liên văn bản, bàng văn bản (paratextuality), siêu văn bản (metatextuality), cực đại văn bản

(hypertextuality) và cổ văn bản (architextuality) Michael Riffaterre vận dụng

khái niệm tính liên văn bản vào việc đọc thơ: với ông, "một bài thơ được đọc

ngược chiều về thi tính" (A poem is read poetically backwards) với ý nghĩa là:

Trang 16

người đọc bao giờ cũng đọc và cảm nhận bài thơ với tất cả những kiến thức về

thơ có sẵn, với những mạng liên văn bản được hình thành trong quá trình giáo dục cũng như quá trình đọc với tư cách một độc giả Harold Bloom tiếp cận khái niệm tính liên văn bản từ cả góc độ tu từ học lẫn phân tâm học Theo ông, tất

cả mọi văn bản đều là liên văn bản và liên văn bản lại là sản phẩm của "sự lo lắng

về ảnh hưởng" (anxiety of influence) Ý nghĩa của một văn bản không hoàn toàn nằm bên trong bản thân nó mà tồn tại trong mối tương tác với các văn bản khác, nghĩa là giữa các văn bản khác nhau

1.1.2 Liên văn bản và những thay đổi trong văn học

Việc khám phá ra tính liên văn bản và từ đó, người đọc, làm thay đổi hẳn diện mạo của lịch sử văn học Trước, nói đến lịch sử văn học, người ta liên tưởng ngay đến các diễn tiến xung quanh trục tác giả / tác phẩm / truyền thống Sau, người ta tập trung vào trục văn bản / diễn ngôn / văn hoá Việc chuyển hướng này, một mặt, thay thế quan niệm lịch sử văn học như một quá trình tiến hoábằng một quan niệm chú trọng vào khía cạnh cấu trúc và đồng đại của sinh hoạt văn học như một hệ thống ký hiệu, mặt khác giải thoát văn

bản văn học ra khỏi cách nhìn tất định luận về tâm lý, xã hội học hay lịch sử

Việc khám phá ra tính liên văn bản cũng làm thay đổi bảng giá trị

truyền thống của văn học Với tính liên văn bản, mọi văn bản đều trở thành bất quyết

và bất định; cái gọi là bản sắc văn bản cũng như những thẩm quyền vốn gắn liền với văn bản từ xưa đến nay đều bị đặt thành nghi vấn Ví dụ, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, người ta xem tính độc sáng như tiêu chí cao nhất của văn học, nhưng nếu văn bản chỉ là một mạng lưới của các trích dẫn không rõ xuất xứ,cái gọi là tính độc sáng ấy tự nhiên biến thành một điều vô nghĩa Sự sụp đổ của tính độc sáng làm cho ranh giới giữa văn học và cái phi văn học trở thành mập

mờ Cái gì cũng là một văn bản cả, một bài thơ hay một thiên tiểu thuyết là một văn bản, một lá truyền đơn, một mẩu nhắn tin hay một tờ quảng cáo v.v cũng đều là văn bản Hơn nữa, cả những công trình phi ngôn

Trang 17

ngữ như một bức tranh, một màn trình diễn thời trang cũng có thể được xem là

những văn bản

Bất cứ cái gì có thể được nhìn như một ký hiệu và có khả năng biểu đạt một ý nghĩa đều được xem là văn bản Văn bản nào cũng ở trong quá trình vận động liên tục Trong quá trình vận động ấy, hình dạng của nó không ngừng thay đổi Sự thay đổi về không gian sẽ kéo theo sự thay đổi trong bản thân khái niệm "văn bản" Nếu văn bản theo nghĩa cổ điển trên sách in, chủ yếu là một công trình ngônngữ với sự kết hợp giữa các yếu tố từ vựng và một ít các yếu tố phi từ vựng, từ các dấu câu đến cách trình bày trên trang giấy như cách ngắt dòng hay cách sắp dòng thì văn bản dưới hình thức điện tử vừa là một công trình ngôn ngữ vừa là một công trình phi ngôn ngữ Trong đó, có âm thanh, hình ảnh, hay các sự chuyển động mà internet có thể làm được Nếu

văn bản cổ điển có một trung tâm quy chiếu rõ ràng với một cấu trúc vững chãi dựa trên cách phân bậc chặt chẽ giữa các điểm chính và các điểm phụ, điểm trước và điểm sau thì văn bản trong môi trường điện tử lại là một cái gì phi tâm, không có điểm khởi đầu cũng như điểm kết thúc, gắn liền với một

liên mạng đa phương và đa tầng, ở đó, mọi mối quan hệ đều hết sức dân chủ

Nếu văn bản cổ điển được thiết kế theo một trật tự tuyến tính (linearity), từ câu thứ nhất đến câu thứ nhì, từ đầu trang đến cuối trang, từ trang trước đến trang sau thì văn bản điện tử, ngược lại, có tính chất phi tuyến tính (nonlinearity) ở

đó, người đọc được tự do chọn các điểm nối (link) để có thể chuyển mạch văn hay mạch truyện theo một chiều hướng khác, không nhất thiết phải theo một kết cấu nào cố định Cuối cùng, nếu văn bản theo nghĩa cổ điển là cái gì tĩnh tại, cố định, hay nói như Jay David Bolter, "đông lạnh" thì văn bản điện tử có thể biến hoá liên tục tuỳ theo cách tiếp cận của mỗi người đọc, thậm chí của mỗi lần đọc Nói một cách tóm tắt, văn bản điện tử là loại văn bản phi tuyến tính, đa tâm, bất định, bất liên tục, nặng tính chất tương tác cũng như tính chất trình diễn, và nhất làliên văn bản

Trang 18

1.1.3 Khái niệm lý thuyết liên văn bản

Liên văn bản là một khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất trong giới phê bình văn học thế giới nửa cuối thể kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI Có thể nói việc phát hiện ra liên văn bản đã tạo nên một cuộc "cách mạng" trong tư duy văn học, thay đổi một cách mạnh mẽ các quan niệm về văn chương Định nghĩa một cách khái quát và tương đối, người ta chia ra hai loại liên văn bản: Kinh Điển Và Hậu hiện đại

Liên văn bản theo quan niệm kinh điển, biểu hiện bởi sự liên hệ trực tiếp giữa văn bản này và những văn bản khác Khái niệm liên văn bản gắn liền với ba tên tuổi Jacques Derrida, Roland Barthes và Julia Kristeva - những lý thuyết giatiên phong trong trào lưu giải cấu trúc và phê bình hậu hiện đại Nếu Jacques Derrida là người đầu tiên khơi động ý tưởng "không có gì ngoài

văn bản" để manh nha những ý thức phôi thai về vai trò của Liên văn bản (intertextuality) thì Roland Barthes mới là kẻ đi đầu trong sự cổ xuý và quảng bá

tư tưởng này như một bước đột phá lớn - đưa văn học từ điểm nhìn gò bó và tù hãm dựa trên hệ lý thuyết cấu trúc luận (structualism) sang một cách nhìn rộng hơn, sâu hơn và nhiều tự do hơn của lý thuyết giải cấu trúc (deconstruction) Chính văn bản mới là động lực hướng dẫn sự hành ngôn chứ không phải chủ thể của hành động hành ngôn - một khi đã bắt đầu, tính chất liên văn bản sẽ khởi động một động hướng có tính cách dây chuyền để làm bộc lộ càng lúc càng nhiềuthêm những văn bản khác Kết quả, người đọc (và cả người viết) sẽ có một cuộc

du hành kỳ thú qua nhiều chặng đường lịch sử,

xã hội, tâm lý hay trải nghiệm sự tương tác giữa các nền văn hoá khác nhau

Khái niệm liên văn bản nảy sinh từ tư tưởng cơ bản chủ nghĩa hậu hiện đại

về vai trò tích cực của môi trường văn hóa - xã hội trong quá trình khám phá và tri nhận thế giới Khái niệm liên văn bản nhắc nhở cho người đọc nhận biết một cách có ý thức rằng mỗi văn bản tồn tại trong sự liên hệ với văn bản khác, có thể xuất hiện trước hoặc cùng thời Thực tế văn bản lệ thuộc vào những văn bản khác còn nhiều hơn vào chính người tạo ra nó Tính chất này

Trang 19

đã được Michel Foucault, cha đẻ của mộttrong những trường phái Tân Lịch

Sử (New Historicism) thuộc trào lưu hậu hiện đại nhấn mạnh: "Những biên

thuỳ của một cuốn sách không bao giờ rõ ràng, bên kia trang bìa ghi ra tựa đề cuốn sách bắt đầu từ những dòng đầu tiên cho đến khi cuốn sách ngưng lại ở dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức tự thân của cuốn sách ấy" [15]

Khái niệm liên văn bản trong trào lưu hậu hiện đại đã tạo nên một lối đọc mới, lạ và mang tính chất cách mạng khi tiếp cận một văn bản, để thưởng thức đối với người thuần tuý biết đọc hay để thẩm định, phân tích dưới quan điểm của một nhà phê bình Sẽ không còn biên giới của văn bản, của thể loại, sẽ không còn

có bất cứ nghi vấn nào về trong hay ngoài văn bản, ngay cả sự phân biệt giữa văn bản và ngữ cảnh (context) cũng dần dần biến mất khi ứng

dụng lý thuyết liên văn bản Một kịch bản chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim ảnh là một ví dụ minh hoạ điển hình cho sự xoá đi các biên cương của văn bản, hay ngược lại một cuốn sách được viết sau khi một bộ phim đã trình chiếu Những lý thuyết gia hậu hiện đại còn cho rằng, văn bản trong bất cứ môi trường nào, không nhất thiết phải là văn bản điện tử (hypertextualtext), đều chứa đựng mộtđặc tính tương tự; một kịch bản có thể liên hệ đến nhiều văn bản văn học, lịch sử, văn hoá, xã hội hoặc ngược lại

Khái niệm liên văn bản về cơ bản có thể hiểu: Chiều ngang (chủ thể - người nhận) và chiều dọc (văn bản - văn cảnh) cùng hiện diện làm sáng tỏ một thực tế quan trọng Mỗi từ (văn bản) là một giao tuyến của từ (các văn bản) nơi mà ít nhất một từ khác (văn bản khác) có thể đọc được Kristeva quy cho văn bản trong giới hạn của hai trục: trục ngang kết nối giữa tác giả và người đọc văn bản, trục dọc kết nối giữa văn bản với các văn bản khác

Mọi văn bản đều là liên văn bản ở những cấp độ khác nhau, trong hình thức được nhận biết ít hay nhiều, bao giờ cũng hiện diện những văn bản khác những văn bản của văn hoá trước đó và những văn bản của văn hoá bao bọc

xung quanh Theo nghĩa rộng nhất khái niệm này có thể được xác định là "sự

Trang 20

tương tác của các văn bản", nhưng tùy

thuộc vào các lập trường triết học và

nghiên cứu của nhà khoa học mà nội dung cụ thể của nó có thể biến đổi

Chúng tôi đưa ra quan niệm "Liên văn bản là liên kết các văn bản trong một văn

bản qua sự sáng tạo và tiếp nhận của người đọc với tính đối thoại một cách ý thức hay vô thức"

1.1.4 Đặc trưng của liên văn bản

Đứng ở một đầu là các tác giả hiểu liên văn bản như một thủ pháp văn học xác định (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn) cách hiểunhư thế đòi hỏi sự hiện diện của văn bản gốc đã có trước và xu hướng của tác giả sử dụng văn bản gốc đó Trong cách tiếp cận này không có gì mới ngoài thuật ngữ được dùng để biểu thị các hiện tượng văn học vốn cũng cổ xưa như chính văn học

Ở đầu bên kia liên văn bản được hiểu như là thuộc tính bản thể của mọi văn bản ("bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản", R Barthes) tức là được nhận định như sự xóa nhòa ranh giới giữa các văn bản của các tác giả riêng rẽ, giữa văn bản văn học cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại và loại hình khác nhau (không nhất thiết là mang tính nghệ thuật), giữa văn bản và độc giả, giữa các văn bản và hiện thực Như vậy liên văn bản mô tả không phải hiện tượng văn học, mà một quy luật khách quan nào đấy của sự tồn tại của loài người nói chung

Như R Barthes viết, "mọi văn bản đều là liên văn bản đối với một văn bản khác" nhưng không nên hiểu tính liên văn bản này theo kiểu là văn bản có một nguồn gốc nào đó Nếu liên văn bản như một thủ pháp văn học, như sự tương táccủa các văn bản có tác giả bao giờ cũng tồn tại chỉ kiểu loại và những quy luật tương tác là thay đổi tùy thuộc vào các mã văn học của các thời đại, thì liên văn bản theo nghĩa nguyên khởi của thuật ngữ - như là cơ chế vận hành của hiện thực được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của các tác giả văn bản - lại do tâm thức của thế kỷ XX sinh ra Chính trong thế kỷ này liên văn bản đã trở thành quan niệm trung tâm về một bức tranh thế giới xác định,

Trang 21

cụ thể là quan niệm thế giới như một văn bản, điều này được thể hiện trong

nhiều tác phẩm văn học hiện đại Quan niệm về liên văn bản nhắc chúng ta mỗi văn bản luôn tồn tại trong mối quan hệ với những văn bản khác, với người đọc và tác giả

1.1.5 Các hình thức và nhiệm vụ liên văn bản

1.1.5.1 Các hình thức liên văn bản

Với tham vọng thay thế khái niệm tính liên văn bản do Kristeva đưa ra,

Genette đã đưa ra năm hình thức liên văn bản theo hệ thống phân loại những

kiểu tác động qua lại giữa các văn bản như sau; liên văn bản (intertextuality) là

"mối quan hệ cùng hiện diện giữa hai văn bản hay một vài văn bản trong một văn

bản cụ thể" Cận văn bản (paratextuality) là quan hệ của văn bản với bộ phận của

nó (đầu đề, tiêu đề các chương, tựa, các ghi chú, đề từ) Cận

văn bản biểu thị những yếu tố nằm trên ngưỡng cửa của sự diễn giải văn bản,

chúng trực tiếp trợ lực và điều khiển sự tiếp nhận của độc giả đối với phần

chính của văn bản Ngoa dụ văn bản là thuật ngữ Genette dùng để chỉ hiện

tượng một văn bản B nào đó (được ông gọi là hypertext) được biến đổi từ một văn bản A nào đó đã tồn tại trước đó (được gọi là hypotext) mà nó không hẳn là chỉ

bình luận Thuật ngữ kiến trúc văn bản của Genette có thể hiểu là mối quan hệ

về mặt thể loại của các văn bản Kiến trúc văn bản không chỉ liên quan đến

"tầm đón đợi" về mặt thể loại của độc giả khi tiếp xúc với văn bản mà còn liên quan đến hành vi sáng tạo văn bản của nhà văn Tất nhiên, chính Genette cũng

lưu ý chúng ta là bản thân kiến trúc văn bản không phải là những "phạm trù

riêng biệt và thuần túy" mà là "sự va chạm, tương tác và chồng lấn lên nhau"

giữa các thể loại Loại cuối cùng là siêu văn bản Khái niệm này đề cập đến việc

một văn bản bình luận rõ ràng hoặc không rõ ràng về một văn bản khác Nhìn chung, Genette tuy trung thành với những tư tưởng cấu trúc luận nhưng đã có những cách nhìn mới

1.1.5.2 Các nhiệm vụ liên văn bản

Có ba nhiệm vụ đang được đặt ra khi nghiên cứu lí thuyết liên văn bản

Trang 22

- Thứ nhất, giới hạn chính đối tượng của lí thuyết liên văn bản, lí thuyết không cần phát hiện sự gọi tên theo kiểu liên tưởng, chủ quan các ý nghĩa mà cầnphát hiện các mối liên hệ trực tiếp, hiển nhiên và có thể chứng minh giữa các văn bản, tức là giữa các trường hợp có sự dịch chuyển ít hay nhiều một văn bản này sang văn bản khác

- Thứ hai, nghiên cứu bình diện quan hệ của lí thuyết liên văn bản đó là

"tổng thể các quan hệ với những văn bản khác được tìm thấy bên trong văn bản" (vấn đề văn bản trong văn bản)

- Thứ ba, đưa chiều kích sáng tạo "chuyển đổi" liên văn bản lên bình diện thứ nhất: mệnh đề "tổng hoà các quan hệ với những văn bản khác" trong trường hợp này sẽ không có nghĩa là sự cộng gộp hay đặt cạnh nhau một cách cơ học, mà là sự xử lí, tinh chế tích cực Tác phẩm liên văn bản sẽ kéo toàn

bộ tập hợp các văn bản được nó hấp thụ vào một đầu mối ý nghĩa thống nhất Một mặt, chúng không triệt tiêu lẫn nhau, mặt khác tác phẩm sẽ trở thành một chỉnh thể cấu trúc không bị rã ra: "Liên văn bản không phải là sự tích tụ những tác động khác nhau một cách hỗn loạn và vô nghĩa lí, mà là hoạt động biến đổi và

đồng hoá vô số văn bản do văn bản - hạt nhân trung tâm - loại

văn bản luôn dành về phía mình vai trò ngữ nghĩa "

1.2 Một số vấn đề đổi mới dạy học Ngữ văn ở nhà trường phổ thông hiện nay

Quan điểm hiện đại về dạy học hiện nay cho rằng: "Dạy học bằng hoạt

động thông qua hoạt động của học sinh để học sinh tự lực, tích cực chiếm lĩnh kiến thức" Điều đó có nghĩa là trong quá trình dạy học, thầy cô không chỉ

truyền thụ hệ thống kiến thức cơ bản mà quan trọng là xây dựng cho học sinh một tiềm lực, một bản lĩnh thể hiện ở phương pháp suy nghĩ và làm việc, trong cách tiếp cận, giải quyết các vấn đề thực tiễn đồng thời giúp học sinh có khả năng phát triển vốn hiểu biết đã có, biết được năng lực sở trường của mình để lựa chọn nghề nghiệp, thích ứng với sự phát triển xã hội Học sinh chủ động xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức, vận dụng vào thực hành và cuộc sống

Trang 23

1.2.1 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm là quan điểm dạy học nhấn mạnh vai trò chủ đạo của học sinh trong học tập Ở đây, kiến thức

thường được học sinh xây dựng với sự chỉ đạo của giáo viên Sự tò mò của học sinh được khích lệ và khuấy động Quan điểm dạy học lấy học sinh làm

trung tâm có những đặc trưng cơ bản là:

Học sinh là chủ thể của hoạt động dạy học: Học sinh không thụ động nghe

giáo viên giảng và truyền đạt kiến thức mà học tích cực bằng hành động của chính mình, nghĩa là học sinh tự tìm ra "cái chưa biết", "cái cần khám phá", tự mình tìm ra kiến thức Học sinh không phải được đặt trước những kiến thức có sẵn của sách giáo khoa hay bài giảng áp đặt của thầy giáo mà là những tình huống cụ thể, thực tế trong cuộc sống Từ việc xuất hiện những mâu thuẫn trongnhận thức, học sinh có nhu cầu, hứng thú giải quyết những vấn đề trong các tình huống Tự đặt mình vào tình huống của cuộc sống, người học quan sát, suy nghĩ, đặt giả thuyết, phân tích, phán đoán, giải quyết vấn đề Tuy nhiên, những kiến thức mà học sinh khám phá, tìm hiểu được có thể mắc những sai sót, không hoàn thiện, lúc này lớp học sẽ là nơi để người học được hoàn thiện về những kiến thức đó

Lớp học là thực tiễn xã hội của học sinh: Lớp học là cộng đồng của chủ thể, là

thực tiễn xã hội ngày nay và ngày mai của người học trong nhà trường Lớp học được tổ chức nhằm mục đích giáo dục, làm môi trường xã hội trung gian cho sự tác động tích cực của thầy và trò Lớp học là nơi giao tiếp thường xuyên, mặt đối mặt, giữa trò và trò, trò và thầy được bố trí linh hoạt để biểu tượng cho chủ thể trung tâm học sinh và mối quan hệ thầy - trò mới Lớp học chính là nơi để họcsinh có thể trình bày, trao đổi, tranh luận với các bạn cùng lớp, từ đó làm cho kiến thức chủ quan của người học bớt phần phiến diện, tăng thêm tính khách quan,khoa học Học bạn chính là bước đầu cần thiết cho học

Trang 24

sinh Tuy nhiên, các chủ thể có khi cũng gặp phải những tình huống không xử

lý được, những cuộc tranh luận không kết luận được thì lại phải cần đến vai trò của giáo viên

Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và là "trọng tài" cho hoạt động học tập của học sinh: Giáo viên sẽ là người định hướng, đạo diễn cho học sinh tích

cực, chủ động khám phá kiến thức Ở đây, quan hệ thầy - trò tồn tại trên cơ sở sự tin cậy, tôn trọng, hợp tác Khi cá nhân và tập thể lớp đứng trước những tranh luận chưa ngã ngũ, người thầy sẽ là một người "trọng tài khoa học", là người kết luận có tính chất khẳng định về mặt khoa học, giúp học sinh xử lý đúng đắn các tình huống phức tạp trong quá trình hoạt động học tập

Học sinh tự đánh giá hoạt động học tập của mình: Sau khi trao đổi, hợp tác

với các bạn và dựa vào kết luận của thầy, học sinh tự đánh giá lại sản phẩm của mình, tự chỉnh sửa những lỗi lầm mắc phải trong sản phẩm đó, tự rút kinh nghiệm

về cách học, cách giải quyết vấn đề, tự hoàn thiện kiến thức của mình

1.2.2 Mục tiêu của việc dạy văn

1.2.2.1.Hình thành và phát triển năng lực giao tiếp chuẩn tiếng Việt

Trong dạy Văn, giáo viên phải đi từ dạy đọc hiểu những văn bản dễ đến khó, từ viết đúng đến viết hay, chuẩn chính tả, chuẩn phát âm, học sinh phải đảm bảo không viết câu sai ngữ pháp, diễn đạt thiếu mạch lạc, thông qua kết hợp với học tác phẩm văn chương, học sinh thấy được "cái hay, cái đẹp" của tiếng Việt, biết diễn tả những điều phức tạp hơn trong tình cảm và suy nghĩ của mình, có khả năng giao tiếp, hòa nhập với thế giới xung quanh Vì vậy, năng lực giao tiếp chuẩn tiếng Việt là năng lực cần thiết phải hình thành và phát triển cho học sinh

1.2.2.2 Bồi dưỡng và phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh

Trang 25

Phát triển năng lực thẩm mĩ nhằm hình thành ở các em một kiểu cảm nhận đặc thù về thế giới, một cách nhìn về sự vật và con người thấm nhuần cảmxúc, đầy chất tưởng tượng, bay bổng Đó không hẳn là cách tư duy hay là một tình cảm mà là một kiểu nghĩ, kiểu nhìn, một kiểu rung động thẩm mĩ Với mục tiêu đó, dạy văn chủ yếu không phải là dạy lịch sử văn học, ghi nhớ về tác giả, tác

phẩm, dạy về cấu tạo và phân tích tác phẩm mà là khơi dậy những rung động

thẩm mĩ, hình thành thói quen về cách tiếp cận với thế giới nghệ thuật không có

thực do nhà văn tạo ra, từ đó phát triển ở học sinh khả năng tưởng tượng, nhập vai, khả năng sống trong một thế giới khác, một cuộc đời khác, một sự sống khác -

dù đó là con người hay con vật, cây cỏ Hình thành năng lực thẩm mĩ là sứ mệnh

đặc thù của môn Văn

1.2.2.3.Dạy văn trong nhà trường phổ thông chủ yếu là dạy tác phẩm, văn bản Tuy cũng là những loại hình nghệ thuật, nhưng sở dĩ văn học được đưa

vào giảng dạy ở nhà trường như một môn học chính chứ không phải hội họa hay âm nhạc một phần vì gắn với ngôn ngữ, một phần vì đây là loại hình nghệ thuật vừa tiêu biểu vừa phổ biến, gần gũi, có thể đại diện cho kiểu sáng tạo đặc biệt của con người - sáng tạo nghệ thuật Bởi vậy, dạy văn chủ yếu không phải làtrang bị những tri thức về văn mà việc dạy văn - trước hết là dạy tác phẩm văn chương - như một phương tiện, một cách thức để đạt đến một mục đích lớn hơn làphát triển năng lực thẩm mĩ của học sinh, hình thành ở các em một cách cảm, cách nghĩ mang đậm tính sáng tạo, tính cá nhân và thiên về hướng nội

1.2.2.4 Bồi dưỡng tâm hồn và phát triển nhân cách học sinh

Thông qua việc giảng dạy tác phẩm, giáo viên có thể khơi dậy ở học sinh tình yêu đối với cái đẹp, lòng nhân ái, khát khao lí tưởng cũng như những hiểu biết về thế giới, về xã hội và nhất là về con người Không phải tác phẩm nào cũng có đầy

đủ những giá trị ấy và cũng không phải giờ dạy văn nào cũng phải đáp

Trang 26

ứng tất cả những yêu cầu ấy, nhưng mụctiêu chung mà việc dạy văn cần

hướng tới là kích thích tình cảm hướng thiện và tư duy phê phán, giúp các em có

khả năng tự định hướng và lựa chọn một lối sống tích cực Chúng ta thường nói văn học là nhân học, dạy văn là dạy các em cách "làm người" vì vậy giá trị nhận thức, giá trị thẩm mĩ, giá trị giáo dục là một yêu cầu quan trọng và không thể thiếu của dạy học văn khi hướng các em tới cái chân - thiện - mĩ

1.3 Quá trình hiện đại hóa của văn học hiện đại Việt Nam

1.3.1 Cơ sở xã hội

Hiện đại hoá là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học Trung đại và đổi mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thểhội nhập với nền văn học trên thế giới Đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp xâm lược và đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa, làm cho xã hội nước ta có

nhiều thay đổi như xuất hiện nhiều đô thị và nhiều tầng lớp mới, nhu cầu thẩm mĩ cũngthay đổi Nền văn học dần thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn học Trung Hoa và dần hội nhập với nền văn học phương tây mà cụ thể là nền văn học nước Pháp Chữ quốc ngữ ra đời thay cho chữ Hán và chữ Nôm Nghề báo in

xuất bản ra đời và phát triển khiến cho đời sống văn hóa trở nên sôi nổi

Điểm chung của văn học hiện đại là ý thức về sự bất cập, sự không hợp thời nữa của thi pháp văn học trung đại, văn học cổ điển, văn học truyền thống,

do đó phải đi tìm những con đường sáng tạo mới mà trên một phương diện nào

đó cũng có nghĩa là đối lập, vượt qua thi pháp văn học trung đại, văn học cổ điển, văn học truyền thống nói chung Nếu văn học cổ điển, văn học truyền thống hướng về quá khứ, coi quá khứ là xuất phát điểm, là mẫu mực cho cái hiện tại, thì văn học hiện đại lại hướng vào hiện tại, lấy cảm hứng và chất liệu chủ yếu ở hiện tại, từ hiện tại mà nhìn lại quá khứ

Nếu văn học Trung đại hết sức coi trọng đạo đức, đạo lý "Văn dĩ tải đạo,

thi dĩ ngôn chí", thì văn học hiện đại lại thiên về trình bày cái đẹp, cái thẩm mỹ,

cuộc sống muôn màu, muôn vẻ Văn học trung đại nhìn sự việc qua lăng kính của cái vĩnh cửu, cái ổn định, với những đường ranh giới dứt khoát,

Trang 27

thì văn học hiện đại nhìn đâu cũng thấy cái nhất thời, cái biến đổi Văn học

dân gian và văn học trung đại là văn học của "cái ta" thì văn học hiện đại là văn học của "cái tôi" Văn học hiện đại tiếp thu, kế thừa văn học truyền thống và có

cách biến đổi hòa hợp các yếu tố này vào hệ thống thi pháp mới Văn học hiện đại có phương thức riêng trong việc đồng hóa mọi hiện tượng của cuộc sống Văn học hiện đại chủ trương tự do sáng tạo, đề cao vai trò của chủ thể sáng tạo, của cá tính sáng tạo, coi nguyên tắc sáng tạo cao nhất là phát hiện cái mới, khẳng định cái mới, cái độc đáo phù hợp với sự phong phú, phức tạp và tính chất không ngừng biến đổi của cuộc sống và tinh thần con người Do đó, văn học hiện đại không ngần ngại phá vỡ các qui phạm, qui tắc đã có trong văn học trung đại

1.3.2 Các giai đoạn phát triển của quá trình hiện đại hóa

Giai đoạn 1: Văn học Việt Nam từ 1900 - 1930

- Đây là giai đoạn văn học giao thời, dấu tích của nền văn học trung đại nhưquan niệm thẩm mĩ, một số thể loại văn học trung đại (thơ Đường luật, văn biền ngẫu ) vẫn được lớp nhà nho cuối mùa sử dụng Chữ quốc ngữ được truyền bá rộng rãi, tác động đến việc ra đời của văn xuôi Báo chí và phong trào dịch thuật phát triển giúp cho câu văn xuôi và nghệ thuật tiếng Việt trưởng thành và phát triển Cái mới của văn học thời kì này là đã bước vào quỹ đạo hiện đại hóa, có sự tiếp xúc, học tập văn hóa châu Âu Các thành tựu chính của văn học trong giai đoạn này vẫn thuộc về bộ phận văn học yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn Nhìn chung văn học thời kì này chưa thoát khỏi hệ thống văn học trung đại

Giai đoạn 2: Văn học Việt Nam từ 1930-1945

Văn học phát triển với nhịp độ mau lẹ, có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại Quá trình hiện đại hóa đạt được nhiều thành tích với sự xuất hiện của các thể loại văn học hiện đại và hiện đại hóa của các thể loại truyền thống, công cuộc hiện đại hóa nền văn học đã hoàn thành Về thơ có phong trào thơ

27

Trang 28

mới, tiểu thuyết có nhóm Tự Lực văn đoàn, truyện ngắn có: Nguyễn Công

Hoan, Nam Cao, phóng sự có Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, bút kí, tùy bút: Xuân Diệu, Nguyễn Tuân

Giai đoạn 3: Văn học Việt Nam từ 1945 - 1975

- Là giai đoạn văn học cách mạng, văn học được sự chỉ đạo về tư tưởng, đường lối của Đảng Văn học phục vụ các nhiệm vụ chính trị, nội dung phản ánh chính là sự nghiệp đấu tranh cách mạng, công cuộc xây dựng cuộc sống mới của nhân dân Văn học thời kì này mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn cách mạng Các tác giả tiêu biểu: Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Minh Châu, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh,

Giai đoạn 4: Văn học Việt Nam từ 1975- hết thế kỉ XX

Văn học thời kì này bước vào giai đoạn phát triển mới Hai mảng đề tài lớn làđược quan tâm là lịch sử chiến tranh cách mạng và con người Việt Nam đương đại.Các tác giả tiêu biểu: Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ

1.4 Tìm hiểu chung về thể loại thơ trữ tình

1.4.1 Khái niệm chung về Thơ

Thơ là loại hình văn học ra đời sớm nhất của nhân loại, gắn liền với hình thức diễn xướng Thơ là thể loại văn học hết sức quen thuộc và gần gũi vớicon người ở mọi thời đại, trải qua thời kì dân gian truyền miệng rất lâu rồi mới đến thời kì có tác giả viết dưới hình thức văn tự Khác với truyện, kí, kịch, thơ trực tiếp gắn bó với thế giới tâm hồn tinh vi, phức tạp con người nên rất khó đúc kết, khái quát thành một định nghĩa hoàn chỉnh

Nhà phê bình văn học Lưu Hiệp quan niệm "Thơ là để nói chí, lời ca để

làm cho lời nói được lâu dài Ở trong lòng thì gọi là chí, nói ra lời thì gọi là thơ" Trong bài Tựa lớn, sách Kinh thi nói: "Thơ là nơi chí đi tới, ở trong lòng là chí, thốt ra lời là thơ, tình cảm xúc động ở trong mà hiện hình thành lời"

Trang 29

Bạch Cư Dị nhà thơ lớn đời Đường Trung Quốc quan niệm rằng "Cảm

hóa nhân tâm thì không gì bằng tình cảm Và không thể bắt đầu cái gì khác ngôn ngữ Không gì thân thiết bằng âm thanh Không gì sâu sắc bằng tư tưởng Gốc của thơ là tình cảm Lá của thơ là ngôn ngữ, hoa của thơ là thanh

âm, quả của thơ là tư tưởng"[10, tr91] Tố Hữu cũng quan niệm: "thơ là tiếng lòng hồn nhiên nhất của tâm hồn con người trước cuộc đời, trước đất trời Thơ

là tiếng hát của tình cảm tha thiết, mãnh liệt"(10,tr48)

Thơ tác động đến con người bằng nhận thức cuộc sống, bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc vừa gián tiếp thông qua liên tưởng, tưởng tượng bằng sự rung động của hình tượng ngôn từ giàu nhạc điệu và

nhịp điệu M Gorki nói "Thơ đích thực mãi mãi là thơ của tâm hồn, mãi mãi là

bài ca của tâm hồn" Chúng tôi có thể phát biểu ngắn gọn về thơ: Thơ là loại hình văn học tồn tại bên cạnh truyện, kịch, là hình thức sáng tác văn học

nghiêng về thể hiện cảm xúc thông qua tổ chức ngôn từ đặc biệt thành những câu văn giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm

Thơ có thể phân thành nhiều loại như; Thơ tự sự, thơ trữ tình, thơ cổ động tuyên truyềntrong khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi chỉ tìm hiểu về đặc trưng của thơ trữ tình

1.4.2 Đặc điểm của thơ trữ tình

1.4.2.1 Nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình)

Thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức, là tiếng nói tha thiết của tâm hồn, tiếng gọi nồng nhiệt của trái tim của nhân vật trữ tình (Chủ thể trữ tình) Tâm hồn của thơ như cần ăng ten thu nhận tất cả những tính hiệu vui, buồn,

hạnh phúc, khổ đau của con người, là chiếc bình "thu hợp trí muôn phương" Nhà thơ Anh Wordsworth có nói "Thơ là sự biểu lộ tình cảm mãnh liệt nhất"

Tình cảm mãnh liệt ở đây là sự lắng nghe các rung cảm, xao động trong tâm hồn mình Tình cảm trong thơ phải là tình cảm lớn, tình cảm đẹp, thấm nhuần tư tưởng nhân văn, chính nghĩa Tình cảm ấy phải gắn liền với tình cảm của nhân dân, nhân loại thì mới có sức vang động trong tâm hồn con người

Trang 30

Cần phân biệt được nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình:

Nhân vật trữ tình thường là hiện thân của tác giả còn nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm kí thác tâm tư tình cảm Thơ trữ tình luôn mang lại sự thật về đời sống tâm hồn của cá nhân trong các tình huống đời sống

và xung đột xã hội cụ thể

Nhân vật trữ tình gắn liền với cái tôi trữ tình của tác giả, là một cách biểuhiện nghệ thuật cái tôi của tác giả nhưng nhân vật trữ tình chỉ thống nhất chứ

không đồng nhất với tác giả Hêghen quan niệm "Trong thơ có sự tự biểu hiện của

chủ thể", thơ bao giờ cũng biểu hiện cái tôi của tác giả, thơ là gương mặt riêng

của mỗi thi nhân

Qua mỗi trang thơ, dòng thơ người đọc sẽ cảm nhận được thậm chí tiếp xúc được với một cá tính, một cuộc đời, một tâm hồn Thơ thể hiện sự thật của

tâm hồn con người, trước hết là tâm hồn của người làm thơ Mỗi bài thơ đều biểu hiện một sự thật của tâm hồn Sự thật tâm hồn là điều thầm kín của mỗi người, nhờ thơ trữ tình mà được bộc lộ, truyền đến với người khác Sự thật tâm

hồn chỉ có thể được bộc lộ nhờ ý thức về cái "tôi" của tác giả Cái "tôi" là một sự ý thức về mình với mọi vật, với người khác Mỗi cái "tôi" có một điều đam mê Một niềm xúc cảm không giống ai Cái "tôi" thể hiện trong ý thức về các hành động, cử chỉ, suy nghĩ, cảm xúc của chính mình Nếu không có cái "tôi" tức là không có sự ý thức về tâm hồn mình thì không có thơ Cái "tôi" có những biểu hiện khác nhau Cái "tôi" nhỏ "tiểu ngã" là cái "tôi" cá nhân, cá thể có cái "tôi" lớn "đại ngã" là cái "tôi" của đoàn thể, quốc gia, dân tộc, Từ đó nhận biêt được

tâm hồn cá nhân và tâm hồn dân tộc- Tính cá thể hóa của tình cảm trong thơ

Đối với các nhà thơ lãng mạn thì cái tôi luôn là nhiệm vụ mà nhà thơ nào

cũng kiếm tìm "Tôi như con nai bị chiều giăng lưới - chẳng biết đi đâu đứng

sầu bóng tối" hay "Tôi là khách bộ hành phiêu lãng" "Tôi là kẻ lạc loài" "Tôi vẫn còn đây hay ở đâu - Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu" Cái tôi trong thơ là một

vũ trụ riêng, khác hẳn cái tôi thực tại của nhà thơ

30

Trang 31

1 4.2.2 Đặc trưng của thơ trữ tình

Thơ trữ tình phản ánh thế giới khách quan nhằm biểu hiện thế giới chủ quan Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó

cũng được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc Mặc dù thể hiện thế giới chủ quan của con người nhưng tác phẩm trữ tình vẫncoi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan bằng các chi tiết chân thật, sinh động Như vậy, tác phẩm trữ tình cũng phản ánh thế giới khách quan nhưng chức năng chủ yếu của nó là nhằm biểu

hiện những tâm tư, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người

Ngôn ngữ thơ giàu tính nhịp điệu Ngôn từ thơ (tức lời thơ) khác hẳn lời

nói hàng ngày, khác lời văn xuôi, khác lời văn khoa học Ngôn ngữ thơ được cấu tạo đặc biệt, đó là ngôn từ có nhịp điệu, vần điệu mỗi câu thơ là một đơn vị nhịp điệu Các thể thơ khác nhau như lục bát, song thất lục bát, thất ngôn tứ tuyệt,thất ngôn bát cú có những cấu tạo nhịp điệu khác nhau; có vần lưng, vần chân, lối ngắt nhịp riêng rất độc đáo Trong thơ, sự phân dòng của lời thơ nhằm mục đíchtạo ra nhịp điệu thơ

Ngôn từ thơ không có tính liên tục và tính phân tích như văn xuôi mà nó

có tính nhảy vọt, gián đoạn tạo thành những khoảng lặng giàu ý nghĩa Chất

thơ thường nằm ở ngoài lời "ý tại ngôn ngoại" Thơ không nói ở những điều viết ra mà nói ở khoảng trống, chỗ trắng, chỗ im lặng giữa các chữ và lời Cái ýnghĩa có tính thơ là ý nghĩa ngoài lời, ngoài hình ảnh do chính lời và hình ảnh gợi lên Thơ trữ tình dùng nhiều phép tu từ ẩn dụ, so sánh, tỉnh lược, định ngữ, những kết hợp lạ hóa gợi nhiều cảm xúc lạ lẫm c h ỉ c ó t r on g t h ơ

Ngôn ngữ thơ giàu tính nhạc, tính hoạ: Bằng những âm thanh luyến láy,

những từ ngữ trùng điệp, sự phối hợp bằng - trắc và cách ngắt nhịp, nhà thơ đã xây dựng nên những câu thơ, những hình tưọng thơ có sức truyền cảm lớn, tạo nên những cung bậc tình cảm tinh tế giàu giá trị gợi hình, gợi cảm

Trang 32

"Thi trung hữu hoạ, thi trung hữu nhạc" trong thơ thể hiện những bức tranh

hoàn mĩ mà người đọc có thể hình dung khi cảm nhận những vần thơ, bài thơ Tính nhạc trong thơ là nhạc của cảm xúc của tâm hồn

Ngôn ngữ thơ trữ tình hàm súc, cô đọng Để có một vần thơ lắng đọng,

các nhà thơ phải lao động hết mình để lựa chọn ra những ngôn từ thơ tốt nhất diễn tả được cảm xúc tình cảm của mình Đó là sự gọt giũa về mặt ngôn từ để tạo

ra những từ ngữ thơ mà đọc lên người đọc ấn tượng và hiểu thấu nội dung tư tưởng nhà thơ gửi gắm

Ngôn ngữ thơ có tính biểu hiện Văn học nói chung, thơ ca nói riêng phản

ánh hiện thực cuộc sống qua hình tượng nghệ thuật Nghĩa là điều mà nhà nghệ sĩ nhận thức, suy tư về cuộc sống luôn được thể hiện một cách gián tiếp Để làm được điều này người nghệ sĩ đi vào khai thác khả năng biểu hiện của ngôn ngữ

Đó là cách tổ chức sắp xếp ngôn ngữ sao cho từ một hình thức biểu đạt có thể có nhiều nội dung biểu đạt tạo nên lượng ngữ nghĩa kép trong thơ

Về cơ bản Thơ thuộc loại hình trữ tình mặc dù cũng có thể chứa đựng

những yếu tố tự sự, kịch hay nghị luận: Nếu tự sự thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác

giả bằng con đường tái hiện một cách khách quan các hiện tượng đời sống thì thơ trữ tình lại phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩa, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới nhân sinh [25, tr.54] Như vậy đọc thơ phải đi qua con đường

tìm hiểu ngôn ngữ thơ, đi sâu vào thế giới tưởng tượng của thơ để hiểu được tâm hồn, chí hướng, chân lí của lòng người trong thơ

1.5 Khái quát về phong trào Thơ mới 1932 - 1945

1.5.1 Hoàn cảnh ra đời

Từ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, cùng với cuộc xâm lược của thực dân Pháp, những nhân tố mới của chủ nghĩa tư bản phương Tây, của nền văn minh phương Tây nói chung, đã dần dần xâm nhập và ảnh hưởng đến xã hộiViệt Nam Nền khoa cử phong kiến dần dần bị bãi bỏ, chữ quốc ngữ được thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm Văn xuôi hiện đại, báo chí, ngành xuất bản

Trang 33

xuất hiện Tiếng Pháp chiếm địa vị quan trọng hơn tiếng Việt trong các nhà

trường và trở thành tiếng nói khá phổ biến trong các xã hội thành thị, nhất là giới trí thức và giới công chức

Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX đã tiến một bước rất xa và mau lẹ với cuộc chuyển mình quan trọng từ hệ hình văn học trung đại sang hệ hình văn họchiện đại, từ quỹ đạo văn học Đông Á sang văn học toàn thế giới Trước ngưỡngcửa của một thời đại mới, nền văn minh và văn hoá truyền thống của Việt Nam

đã gặp gỡ, giao thoa với nền văn minh và văn hoá phương Tây, tạo nên một nền

văn minh, văn hoá mới chưa từng có Một cuộc cách mạng văn hoá đã diễn ra

trong nửa đầu thế kỉ XX trên mọi lĩnh vực: thi

ca, văn xuôi, âm nhạc, kịch nghệ, hội hoạ, kiến trúc, báo chí

Trong thời đại "Âu hoá" ấy, xã hội và con người Việt Nam, nhất là ở các đô thị, đã trải qua một sự biến cải sâu sắc phản ánh tính tất yếu lịch sử (từ phong kiến tiến lên tư bản, cho dù bị hạn chế rất nhiều tại thuộc địa) Từ nhữnghoạt động kinh tế, những sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, những

giá trị tinh thần hết sức mới mẻ như "tự do luyến ái", vai trò của cái tôi nhân

bản (sản phẩm đặc trưng của chủ nghĩa tư bản), tất cả đều khác xa với thời đại

phong kiến trước đó Một thế hệ thanh niên trí thức học trường Pháp - Việt được trang bị vốn Pháp ngữ khá dồi dào, họ am hiểu văn hóa phương Tây đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp Văn học lãng mạn Pháp giúp họ phát hiện cái tôi chủ nghĩa với ý nghĩa tuyệt đối, thì trong hoàn cảnh lịch sử ấy họ bừng tỉnh ý thức cá nhân, yêu cầu giải phóng cá nhân và phát triển vượt ra khuôn khổ ý thức lễ giáo hệ phong kiến Điều ấy đã tạo ra sự thất vọng, hoang mang, lạc hướng trong tầng lớp thanh niên lức bấy giờ Họ muốn thoát khỏi thực trạng xã hội đen tối, xa lánh

đời sống chính trị và ao ước một điều "Một điều mà tha thiết hơm trăm nghìn điều

khác là được một thi nhân hiểu mình và an ủi mình, đi vào tâm hồn của mình đến những chỗ cùng sâu mà vạch ra cái uất ức rồi đưa vào những âm điệu du dương cho mình được nhẹ nhàng thư thả Thơ mới ra đời khi xã hội Việt Nam

có những bước chuyển mình quan trọng

Trang 34

như vậy nên phong trào Thơ mới trở thànhmột hiện tượng lớn nhất trong văn

học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX

1.5.2 Thơ mới - cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam

Thơ mới ra đời là hệ quả tất yếu của sự thay đổi trong đời sống văn hóa

xã hội và cũng là kết quả tất yếu của sự xung đột giữa hai luồn tư tưởng cũ - mới Thơ mới xuất hiện trong cuộc cách mạng văn hoá ấy, từ năm 1930 đến 1945 người ta đã chứng kín sự chiến thắng rực rỡ của Thơ mới trước thơ cũ làn nên

cả "một thời đại trong thi ca" (Hoài Thanh) [26.tr102] Trước đây Thơ mới thườngđược gọi là thơ Lãng mạn bởi muốn đối lập nó với thơ ca cách mạng, hoặc chỉ nhìn thấy nó lãng mạn chứ không thấy sự vận động từ lãng mạn sang tượng trưng, siêu thực Có người muốn bảo vệ Thơ mới bằng cách nêu ra tính toàn dâncủa nó nên đã mở rộng khái niệm thâu nạp cả thơ hiện

thực của Tú Mỡ và thơ cách mạng của Tố Hữu

Nếu trên thi đàn thơ ca xưa chủ yếu là thơ cũ với thể "thất ngôn bát cú" Đường luật thịnh hành Thể thơ thất ngôn bát cú với sự quy định quá chặt chẽ của niêm luật rất khó để có thể diễn tả ý tưởng và những tình cảm mới nên trở thành một thể thơ gò bó không thích hợp với lớp công chúng mới Lúc này trong đời sống xã hội đã xuất hiện một lớp công chúng mới gồm chủ yếu là học sinh, sinh viên, viên chức họ được rèn luyện trong nề nếp của nhà trường mới nên thị hiếu

và tâm lí cũng có nhiều điểm khác với thế hệ cũ kể cả trong vấn đề tiếp nhận văn học Phong trào Thơ mới chính là trào lưu thi ca giàu sức sang tạo, mở ra một hướng mới đưa thi ca từ thời cận đại trở về với thời kì hiện tại Mở đầu là sự tranh luận giữa giữa Thơ mới và thơ cũ Đại biểu của phái cũ cho rằng Thơ mớikhông phải là thơ ca chân chính, thiếu những quy tắc ổn định Nhưng rồi cái mới đã thắng cái cũ nhất là trên thi đàn xuất hiện những tài năng mới: Thế Lữ với "Nhớ rừng", "Tiếng sáo thiên thai" hay " Cây đàn muộn điệu" đã chinh phục được người đọc Và tiếp theo là những sáng tác của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tửđã tạo nên sự thắng thế hoàn toàn cho Thơ mới

34

Trang 35

Đối với danh từ Thơ mới: Nếu hiểu theo nghĩa rộng - không chỉ là tên

gọi của một trào lưu thơ Việt Nam ở nửa đầu thế kỉ XX, mà là một phương

pháp sáng tác mới về căn bản cho đến nay hoàn toàn chưa xuất hiện một

phương pháp sáng tác mới nào khả dĩ thay thế được Thơ mới Trong một thời

gian ngắn (khoảng trên mười năm), thời đại Thơ mới đã sản sinh ra hàng loạt nhà thơ nổi tiếng, vĩnh viễn để lại tên tuổi trong lịch sử văn học nước nhà: Thế Lữ, Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Huy Cận, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Tú Mỡ, Đoàn Văn Cừ,

Bàng Bá Lân, Anh Thơ

Thơ mới là gì? Chính Phan Khôi người đề xướng ra nó cũng chưa biết gọi tên là gì, chỉ giới thiệu sơ lược trên Phụ nữ Tân văn số 122 (1932) như sau: Tôi sắp toan bày ra một lối Thơ mới Vì nó chưa thành thục nên chưa có

thể đặt tên là lối gì được nhưng như thể cứ cái đại ý của lối thơ này ra là đem ý có thật trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu có vận, mà không bắt buộc bởi niêm luật gì hết" Theo ý của Phan Khôi thì Thơ mới là thơ tự do Mười năm sau khi Thơ mới tương đối ổn định, Hoài Thanh, Hoài Chân tổng kết phong trào Thơ mới lại cho rằng "Phong trào Thơ mới trước hết là cuộc thí

nghiệm táo bạo để định lại giá trị những khuôn phép xưa"

Sự lý giải về cội nguồn Thơ mới có thể khác nhau song quan sát dòng chảy Thơ mới sẽ thấy rõ xu thế tiếp nhận, ảnh hưởng và khả năng hòa nhập với nền thơ hiện đại trong khu vực và thế giới Diện mạo và đặc điểm quá trình tiếpnhận ảnh hưởng các nền thơ truyền thống và hiện đại Pháp, Anh, Mỹ, Nga, Ấn

Độ, Hy Lạp, Nhật Bản, Trung Quốc thể hiện sâu sắc qua cả nội dung và hình thức biểu hiện, phản ánh trực tiếp qua thực tiễn sáng tác và ý kiến của chính nhà thơ cũng như các nhà phê bình đương thời Trong bước đi ban đầu, nhiều nhà Thơ mớiđược tiếp xúc với văn hóa Pháp và phương Tây đã đủ khả năng viết nên một lối Thơ mới mẻ bằng tiếng Việt và cả bằng tiếng Pháp

1.5.3 Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào Thơ mới

1.5.3.1 Thơ mới mang tâm sự yêu nước thiết tha

Trang 36

Thơ mới luôn ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do Ở thời

kì đầu, tinh thần dân tộc ấy là tiếng vọng lại xa xôi của các phong trào cách mạng như Duy Tân của Phan Bội Châu và cuộc khởi nghĩa Yên Bái Có thể nói, tinh thần dân tộc là một động lực tinh thần để giúp các nhà Thơ mới ấp ủ lòng yêu nước Quê hương đất nước đã trở thành cảm hứng trong nhiều bài thơ;

Đó là hình ảnh Chùa Hương trong thơ Nguyễn Nhược Pháp (Em đi Chùa

Hương) hình ảnh làng quê vùng Hương Sơn Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận "Tới

ngã ba sông nước bốn bề - Nửa chiều gà lạ gáy trên đê (Đẹp xưa), hình ảnh

làng chài nơi cửa biển quê hương trong thơ Tế Hanh (Quê hương) v.v Các thi

sĩ đã mang đến cho thơ cái hương vị đậm đà của làng quê, cái không khí mộc mạc quen thuộc của ca dao như Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ Hình ảnh thôn Đoài, thôn Đông, mái đình, gốc đa, bến nước,

giậu mồng tươi, cổng làng, mái nhà tranh đã gợi lên sắc màu quê hương bình dị, đáng yêu trong tâm hồn mỗi người Việt Nam yêu nước

Cùng với các loại hình văn hoá khác, mặc dù căn bản là thơ lãng mạn song Thơ mới vẫn phản ánh được thiên nhiên và đất nước Việt Nam, đặc biệt phản

ánh "không khí của thời đại mới", phản ánh số phận, đời sống vật chất và tinh

thần của nhiều hạng người, cũng như bộ mặt xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỉ

XX Thơ mới xuất hiện với một khí thế hào hứng, sôi nổi chưa từng có, tựa như một dàn hợp xướng của trí tuệ và tâm hồn con người thời đại nhất tề vang lên trong vẻ đẹp của một nghệ thuật hoàn toàn mới mẻ và tuyệt vời

Chính vì vậy, ngay khi mới ra đời, Thơ mới đã mau chóng chiếm được thiện cảm của đông đảo người Việt Nam từ thành thị đến nông thôn (riêng ở nôngthôn, thơ Nguyễn Bính được quần chúng ưa thích như một thứ ca dao mới) Phái "thơ cũ" của "các thầy đồ cổ" sau một thời gian tỏ thái độ chống đối kịch liệt hoặc dè bỉu, hoài nghi Thơ mới nhưng cuối cùng đã phải chấp nhận cái

chung Con hổ trong "Nhớ Rừng" của Thế Lữ mang một khối căm hờn trong cũi sắt luôn mơ ước trở lại quãng đời tự do của mình trong rừng thẳm Cái "sa cơ,

nhục nhằn, tù hãm" của con hổ cũng là tình trạng chung của

Trang 37

cả một dân tộc nô lệ bị áp bức "Ta sống

mãi trong tình thương nỗi nhớ/ Thuở

tung hoành hống hách những ngày xưa " Đến Huy Cận ta thấy sự xót xa khi

"Đồn xa quằn quại bóng cờ" và Thế Lữ thở than " Than ôi! Thời oanh liệt nay

còn đâu" đó là nỗi lòng đã trở nên quen thuộc của cả một thế hệ bấy giờ Nói tới

Thơ mới, ấn tượng chung của ta thường là lãng mạn, nó góp thêm một "mùa xuânchín" trẻ trung, một nền gió mới lành mạnh thổi vào nền văn học, thể hiện ở lòng yêu nước kín đáo, thiết tha da diết gây được rung động lớn qua những nỗi buồn,

nỗi "sầu vạn cổ" vì "thiếu quê hương", hoặc qua những bức tranh đất nước tươi

đẹp đến huyền diệu, qua lòng yêu tiếng Việt tràn đầy một vẻ đẹp nhân bản

Thơ mới thể hiện lòng yêu đời, yêu tình yêu tuổi trẻ Ý thức về "cái tôi" cá

thể đã đem đến sự đổi mới to lớn trong văn học "nó mang theo một quan

niệm chưa từng thấy ở xứ này" (Hoài Thanh) [26] Từ việc khẳng định cái cái

tôi cá thể, các nhà thơ nhìn con người, nhìn thiên nhiên đều khác xa với các nhàthơ cổ trung đại Thơ mới, từ ý thức được bản ngã, các nhà thơ đã góp phần đấutranh giải phóng cá nhân, cá tính - một sự nghiệp thiêng liêng và đầy ý nghĩa (có lúc cực đoan đến mức tách khỏi cái ta) Tinh thần của các nhà Thơ mới gửi gắm vào tình yêu tiếng Việt Nhờ có sự đóng góp của phong trào Thơ mới mà trong những năm dài nô lệ ấy tiếng Việt không hề nghèo nàn, lai căng, pha tạp mà lại trở nên trong sáng giàu có hơn Nghe tiếng ru của mẹ, nhà thơ

Huy Cận cảm nhận được "hồn thiêng đất nước" trong từng câu ca:

"Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời"

Bên cạnh những mặt tích cực và tiến bộ nói trên, Phong trào Thơ mới còn bộc lộmột vài hạn chế Một số khuynh hướng ở thời kỳ cuối rơi vào bế tắc, không tìm được lối ra, thậm chí thoát ly một cách tiêu cực Điều đó đã tác động không tốt đến một bộ phận các nhà Thơ mới trong quá trình "nhận đường" những năm đầu sau cách mạng tháng Tám Tiếng nói trong Thơ mới là tiếng

Trang 38

mẹ đẻ, thiên nhiên trong Thơ mới là đất nước Việt Nam mỹ lệ, quen thuộc, thân thương, con người Việt Nam hiện lên hiền hòa và duyên dáng

1.5.3.2 Tình yêu cuộc sống trong Thơ mới

Thơ mới tuy sai lầm là thoát ly hiện thực do Đảng lãng đạo, chán nản đau thương muốn trốn tránh thực tại tù túng, tẻ nhạt nhưng tất cả các nhà Thơ

mới đều muốn vươn ra khỏi cuộc đời tù hãm ấy Huy Cận thường nói "Quanh

quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu - tới hay lui cũng chừng ấy mặt người", ông

thường dùng chữ "đau đời" để nói lên thái độ trước kia của mình với cuộc sống

Đó cũng là thái độ của lòng yêu cuộc sống nhưng gặp nhiều chuyện đau buồn Lòng yêu cuộc sống ít khi được các nhà Thơ mới bộc lộ trực tiếp nhưng trong cái

cô đơn, bơ vơ, xót xa của họ ta nhận thấy tình yêu cuộc đời, lòng ham sống đến mãnh liệt nhất Xuân Diệu sợ sự trôi chảy của thời gian, sợ cô

đơn, ông luôn khát khao tìm sự đồng điệu giữa thi nhân với cuộc đời, muốn tâm

sự với đời bày tỏ tâm tình của mình trước cuộc sống Tập "Thơ thơ, Gửi hương

cho gió" đã minh chứng cho từng tâm sự của ông "Lòng tôi bốn phía mở cho

trăng - khách lại mười phương cũng đãi đằng" hay "Ta, kẻ đưa răng bấu víu mặt trời - kẻ uống tình yêu dập cả môi" để rồi vồ vập "Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"

Thơ mới yêu thương những con người bị cuộc đời chà đạp vùi dập như người phụ nữ, những em bé mồ côi đói rét không xin cơm áo gạo tiền mà chỉ xin chút thương tình, xin nụ cười ấm áp, an ủi và chở che Trong bài thơ Giang

hồ của Lưu trọng Lư có nói "Nàng xưa vốn một loài trăng gió/ Cũng vì vương

víu nợ cầm ca" Không hẹn mà gặp, Nguyễn Bính cũng thương cảm cho người

thiếu phụ đầy oan trái trong tình duyên lận đận Chị lấy chồng mà lại là Lỡ bước

sang ngang "Em về thương lấy mẹ già/ Đừng mong ngóng chị nữa mà uổng công/ Chị giờ sống cũng như không/ Coi như chị đã ngang sông đắm đò"

Có thể nói phong trào Thơ mới đánh dấu bước sự hoà nhập thơ trữ tình Việt Nam với thế giới, là một bộ phận của thơ thế giới Nó là chiếc cầu nối

38

Trang 39

giữa thơ Đông thơ Tây, kết tinh tinh hoa của nhiều trào lưu thơ cổ điển và hiện

đại của thế giới, mở ra hướng đi mới phù hợp với thời đại ngày nay và mai sau Thơ mới tạo thành một truyền thống thơ tiếng Việt mới, làm nền tảng cho thơ Việt phát triển trong suốt thế kỉ XX và từ nay về sau

Trang 40

CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ VIỆC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI

THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN 2.1 Thực trạng dạy học Văn nói chung và Thơ mới nói riêng trong

trường THPT hiện nay

2.1.1 Thực trạng dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay

Ngữ Văn là một trong những môn học chính ở nhà trường và được coi

là môn nghệ thuật mang tính khoa học, phản ánh chân thực cuộc sống bằng

hình tượng ngôn ngữ Môn học tích hợp giữa ngôn ngữ với văn tự (chữ viết),

ngôn ngữ với văn bản, ngôn ngữ với văn hóa, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết

Ngữ văn cũng chính là môn học xây dựng và gìn giữ đạo đức xã hội, tác động nhiều nhất đến nhân cách và tâm hồn con người Văn chương có đặc thù riêng, là lĩnh vực thẩm mĩ của sáng tạo cá nhân, tác phẩm văn chương không chỉ đem lại thông tin

mà còn là một hệ thống tín hiệu thẩm mĩ đòi hỏi sự khám phá, liên tưởng của người đọc Dạy văn là một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi nhiều tìm tòi sáng tạo của giáo viên và học sinh Tuy nhiên nhìn vào thực trạng dạy và học văn hiện nay chúng ta không thể không thừa nhận một bước thụt hậu khá dài về nhận thức cũng như thực hành sư phạm so với bước đi của một số nước tiên tiến Điều đó do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan

Xét về xã hội, thời đại chúng ta đang sống hiện nay là thời đại khoa học công nghệ, hội nhập toàn cầu, đại đa số học sinh chỉ muốn học các ngành khoa học tự nhiên, kĩ thuật, kinh tế Văn chương không có tính năng ứng dụng, vì vậy, học sinh ngày càng xa rời, chưa có niềm đam mê, thích thú khi học Ngữ văn và cácmôn học xã hội Học sinh không tự nghiên cứu, thậm chí không đọc tác phẩm

để tìm hiểu, khám phá tác phẩm mà chủ yếu chép lại và dựa vào gợi ý hướng dẫncủa các sách tham khảo, văn mẫu Những tài liệu này, vô hình dung, đã làm chohọc sinh bỏ rơi sách giáo khoa, thủ tiêu óc sáng tạo, suy nghĩ của người học, biến học sinh thành những người quen suy nghĩ

Ngày đăng: 22/06/2016, 21:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết. Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới, những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2003
4. Phan Cự Đệ (1996), Phong trào thơ mới. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào thơ mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
5. Hà Minh Đức (2003), Khảo luận văn chương. Nxb Khoa học xã hội. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận văn chương
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội. 6
Năm: 2003
10. Trần Đình Hượu (1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
11. Nguyễn Hoành Khung (1993), Lịch sử văn học Việt Nam. Nxb Giáo dục. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoành Khung
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
17. M.BaKhtin (1993), Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đoxtôiepxki. Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp tiểu thuyết Đoxtôiepxki
Tác giả: M.BaKhtin
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1993
18. Lê Oanh (1994), "Cái tôi trữ tình trong thơ", Luận án tiến sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái tôi trữ tình trong thơ
Tác giả: Lê Oanh
Năm: 1994
19. Đoàn Đức Phương, Nguyễn Bính, Hành trình sáng tạo của thi ca. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình sáng tạo của thi ca
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng (1998), Tinh hoa Thơ mới thẩm bình và suy ngẫm. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa Thơ mới thẩm bình và suy ngẫm
Tác giả: Chu Văn Sơn, Lê Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
21.Chu Văn Sơn (2003), Ba đỉnh cao thơ mới. Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đỉnh cao thơ mới
Tác giả: Chu Văn Sơn
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 2003
22.Trần Đình Sử (1998), Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông (tập 1). Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
23. Trần Đình Sử (2000), Lí luận và phê bình văn học. Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và phê bình văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
24. Trần Đình Sử (1995), Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Những thế giới nghệ thuật thơ
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1995
25.Trần Đình Sử (1993), "Từ Thơ mới và sự đổi mới thi pháp trữ tình tiếng Việt". Tạp chí văn học (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Thơ mới và sự đổi mới thi pháp trữ tình tiếng Việt
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 1993
26. Hoài Thanh , Hoài Chân (1988), Thi nhân Việt Nam. NxbVăn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh , Hoài Chân
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 1988
27. Trần Khánh Thành (1998), "Nhìn lại một thời đại trong thi ca". Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một thời đại trong thi ca
Tác giả: Trần Khánh Thành
Năm: 1998
28.Trần Khánh Thành (2002), Thi pháp thơ Huy Cận (Chuyên luận). Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Huy Cận (Chuyên luận)
Tác giả: Trần Khánh Thành
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
29. Trần Khánh Thành (1999), "Quan niệm nghệ thuật của Huy Cận trong tập thơ Lửa thiêng", Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm nghệ thuật của Huy Cận trong tập thơ Lửa thiêng
Tác giả: Trần Khánh Thành
Năm: 1999
30.Nguyễn Văn Thắng (2000), "Dòng thơ viết về làng quê trong phong trào Thơ mới 1932- 1945". Luận văn tiến sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội. 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng thơ viết về làng quê trong phong trào Thơ mới 1932- 1945
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng
Năm: 2000
32.Vũ Thanh Việt (2000), Thơ mới lãng mạn- những lời bình. Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ mới lãng mạn- những lời bình
Tác giả: Vũ Thanh Việt
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Kết quả HS các lớp đối chứng  Kết quả Lớp  Điểm 9- 10  Điểm 7- 8  Điểm 5- 6  Điể m 0 - 4 - Vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn 11   trung học phổ thông
Bảng 3.1. Kết quả HS các lớp đối chứng Kết quả Lớp Điểm 9- 10 Điểm 7- 8 Điểm 5- 6 Điể m 0 - 4 (Trang 99)
Bảng 3.3: So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm  Lớ p - Vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn 11   trung học phổ thông
Bảng 3.3 So sánh kết quả học tập sau khi dạy thực nghiệm Lớ p (Trang 106)
Hình ảnh con thuyền gác mái trôi xuôi theo - Vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn 11   trung học phổ thông
nh ảnh con thuyền gác mái trôi xuôi theo (Trang 112)
Hình ảnh cành của khô gợi + Mấy dòng: gợi ra cái bát ngát rợn ngợp của  cho em suy nghĩ gì? - Vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn 11   trung học phổ thông
nh ảnh cành của khô gợi + Mấy dòng: gợi ra cái bát ngát rợn ngợp của cho em suy nghĩ gì? (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w