1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận: Tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam

29 588 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 486,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: Tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án...

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU - 1

1 Lý do chọn đề tài -1

2 Mục tiêu nghiên cứu - 2

3 Đối tượng nghiên cứu - 2

4 Phương pháp nghiên cứu - 2

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN -3

1.1 Khái niệm - 3

1.2 Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán - 3

1.3 Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán - 6

1.3 Các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán - 8

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - 13

2.1 Luật pháp Việt Nam quy định về hoạt động của CTCK hiện nay - 13

2.2 Giới thiệu một số CTCK ở Việt Nam hiện nay - 17

2.3 Tình hình hoạt động chung của các CTCK ở Việt Nam hiện nay - 20

2.4 Những kết quả đạt được và hạn chế trong hoạt động của CTCK -26

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN TRONG TƯƠNG LAI - 28

Trang 2

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

CHƯƠNG 2:

Biểu đồ 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh của CTCKBiểu đồ 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh của CTCKBiểu đồ 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh của CTCKBiểu đồ 2.1 Báo cáo kết quả kinh doanh của CTCK

Trang 3

Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),các công ty chứng khoán ở Việt Nam phải đứng trước áp lực cạnh tranh gay gắtkhông chỉ giữa các công ty chứng khoán trong nước mà cả các công ty nước ngoài.

Vì thế đòi hỏi các công ty chứng khoán Việt Nam phải nỗ lực phát triển hoạt động,nâng cao vị thế trên thị trường chứng khoán và cạnh tranh trực tiếp với các tổ chứctài chính nước ngoài

Những năm vừa qua TTCK trải qua nhiều biến động, hoạt động của các công tychứng khoán cũng gặp nhiều khó khăn, song vẫn được phục hồi và phát triển mạnh

mẽ Đồng thời cũng có những thay đổi trong luật pháp,cơ cấu hoạt động của cáccông ty chứng khoán góp phần ổn định thị trường tài chính, đảm bảo an toàn chonhà đầu tư và khách hàng

Từ những thực tế trên thu hút sự quan tâm của em để thực hiện bài tiểu luận với

đề tài “Tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam” Hy

vọng qua bài tiểu luận này sẽ thể hiện được những nội dung cơ bản và cái nhìn tổngquát về hoạt động của các công ty chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

Trang 4

2 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống lại những lý luận cơ bản về công ty chứng khoán

Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của các công ty chứng khoán hiện nay

Đề xuất những giải pháp thúc đẩy sự phát triển hoạt động của các công ty chứngkhoán ở Việt Nam

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan tới luật pháp Việt Nam về hoạt động của cáccông ty chứng khoán, hoạt động của các công ty chứng khoán hiện nay và một sốcông ty chứng khoán đang hoạt động tại TTCK Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Bài tiểu luận này chủ yếu dùng phương pháp thu thập thông tin từ báo chí,internet , sách… miêu tả và đưa ra số liệu cho tình hình hoạt động của các công

ty chứng khoán tại Việt Nam

Trang 5

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

1.1 Khái niệm

CTCK là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK,thực hiện trung gian tài chính thông qua một, một số hoặc toàn bộ các hoạt độngsau: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bão lãnh phát hành chứng khoán,

tư vấn đầu tư chứng khoán và một số nghiệp vụ phụ trợ

1.2 Chức năng và vai trò của công ty chứng khoán

CTCK là tổ chức trung gian tài chính quan trọng thúc đẩy sự phát triểncủa nền kinh tế, trong đó nổi bật là TTCK Nhờ các CTCK mà chứng khoán đượclưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư có tính thanh khoản, qua đó huy độngnguồn vốn trung và dài hạn từ những nơi nhàn rỗi đến nơi cần sử dụng vốn có hiệuquả

Chức năng cơ bản của CTCK:

 Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến ngườicần sử dụng vốn

 Cung cấp cơ chế giá cả cho giá trị của các khoản đầu tư

 Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán

 Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường

Vai trò của CTCK :

Với những chức năng cơ bản trên, CTCK có vai trò quan trọng đối với nhữngchủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán

Trang 6

Đối với các tổ chức phát hành.

Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy động vốnthông qua việc phát hành chứng khoán Vì vậy, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chếhuy động vốn phục vụ các nhà phát hành thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảolãnh phát hành,

Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCKlà nguyên tắc trung gian.Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không được muabán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán Các CTCK

sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành Và khi thựchiện công việc này, CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông quathị trường chứng khoán

Đối với các nhà đầu tư.

Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư,CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quảcác khoản đầu tư

Đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả chứngkhoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí,công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng thôngqua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp cácnhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả

Đối với thị trường chứng khoán.

Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường :

Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giácuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không đượctham gia trực tiếp vào quá trình mua bán Các CTCK là những thành viên của thị

Trang 7

thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên.Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia địnhgiá của các công ty chứng khoán.

Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường Để bảo

vệ những khoản đầu tưcủa khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiềuCTCK đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thịtrường

Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính.

Trên thị trường cấp 1: qua các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoánhoá, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinhdoanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chínhđược đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ dược mua bán giao dịch trênthị trường cấp 2 Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư

Trên thị trường cấp 2, qua các giao dịch mua và bán chứng khoán các CTCKgiúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại Những hoạtđộng đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính

Đối với các cơ quan quản lý thị trường.

Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải được công khaihoá dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường Việc cung cấp thông tinvừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của cácCTCK, vì vậy CTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động Cácthông tin CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trênthị trường, thông tin về các cổ phiếu trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin vềcác nhà đầu tư v.v Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thểkiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường

Trang 8

1.3 Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán

Mỗi quốc gia đều có một mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán riêng, phùhợp với đặc điểm của hệ thống tài chính Căn cứ vào đặc điểm, tính chất và hìnhthức pháp lý có thể phân ra mô hình của các công ty chứng khoán hiện nay như sau:

Căn cứ vào đặc điểm và tính chất: có hai mô hình phổ biến trên thế giới.

Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán

Hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các CTCK độc lập chuyên môn hóatrong lĩnh vực chứng khoán đảm nhiệm, các ngân hàng không được tham gia vàokinh doanh chứng khoán Áp dụng phổ biến ở các nước như Canada, Mỹ,

Ưu điểm: hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho TTCK pháttriển chuyên môn hóa cao hơn

Nhược điểm: san bằng rủi ro thấp, các nước áp dụng giảm dần đối với ngânhàng thương mại trong chứng khoán

Mô hình ngân hàng đa năng

Mô hình đa năng toàn phần: một ngân hàng có thể tham gia tất cả các hoạt độngkinh doanh tiền tệ, chứng khoán mà không phải thông qua pháp nhân riêng

Mô hình đa năng một phần: Một ngân hàng muốn tham gia vào hoạt động kinhdoanh chứng khoán phải thông qua công ty con là pháp nhân riêng biệt

Ưu điểm: Ngân hàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh,giảm bớt rủi ro kinh doanh Mặt khác, ngân hàng tận dụng được thế mạnh về vốn đểkinh doanh chứng khoán

Trang 9

Nhược điểm: thị trường cổ phiếu không phát triển do ngân hàng có xu hướngbảo thủ, chuyên về hoạt động tín dụng hơn là bảo lãnh phát hành trái phiếu, cổphiếu Ngoài ra, nếu có biến động trên TTCK sẽ ảnh hưởng mạnh đến hoạt độngkinh doanh tiền tệ của ngân hàng, dẫn đến khủng hoảng tài chính.

Hiện nay các nước chủ yếu áp dụng mô hình chuyên doanh chứng khoán, chỉ cóĐức vẫn duy trì đến ngày nay

Tại Việt Nam, do quy mô của các NHTM rất nhỏ bé, chủ yếu là lĩnh vực vốnngắn hạn, trong hoạt động của TTCK thuộc vốn dài hạn Do đó, để đảm bảo antoàn cho các ngân hàng, Nghị định 144/CP về chứng khoán và TTCK quy định cácNHTM muốn kinh doanh chứng khoán phải tách ra một phần vốn tự có của mình

để thành lập một CTCK chuyên doanh trực thuộc, hoạch toán độc lập với ngân hàng

Căn cứ vào hình thức pháp lý: có ba loại hình tổ chức cơ bản hiện nay: công

ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần

Công ty hợp danh

Khả năng huy động vốn của hình thức này yếu, chỉ giới hạn trong số vốn màhội viên có thể đóng góp

Công ty trách nhiệm hữu hạn

Về phương diện huy động vốn, nó đơn giản và linh hoạt hơn công ty hợp danh.Đồng thời cơ cấu đội ngủ quản lí cũng đa dạng, năng động hơn và không bị bó hẹptrong một số đối tác như công ty hợp danh

Các CTCK hiện nay hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn rấtnhiều

Công ty cổ phần

Trang 10

 Tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông.

 Rủi ro mà chủ sở hữu công ty phải chịu được giới hạn ở mức nhất định.Nếu công ty phá sản cổ đông chỉ chịu thiệt hại ở mức vốn đã góp

 Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua mua bán cổ phiếu

 Đối với CTCK, nếu tổ chức theo hình thức công ty cổ phần và được niêmyết tại sở giao dịch thì xem như đã được quảng cáo miễn phí,

 Hình thức tổ chức quản lí, chế độ báo cáo và thông tin tốt hơn hai loạihình trên

Do những ưu điểm này, ngày nay các CTCK tồn tại dưới hình thức công ty cổphần, thậm chí một số nước như Hàn Quốc, bắt buộc CTCK phải là công ty cổphần

1.3 Các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán

 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán:

Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua bán chứngkhoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Theo đó, CTCK đại diện cho kháchhàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoánhoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quảgiao dịch của mình

Kỹ năng của người giao dịch chứng khoán được thể hiện trên các khía cạnh:

 Kỹ năng truyền đạt thông tin

 Kỹ năng tìm kiếm khách hàng

 Kỹ năng khai thác thông tin

Trang 11

Nghiệp vụ tự doanh

Tự doanh là việc CTCK tiến hành các giao dịch mua, bán chứng khoán chochính mình Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua cơ chế giaodịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC

Yêu cầu đối với CTCK:

Các phương thức bảo lãnh phát hành chứng khoán: Việc bảo lãnh phát hànhthường thực hiện theo một trong các phương thức sau:

Bảo lãnh với cam kết chắc chắn (firm commitment underwriting): Là phương

thức bảo lãnh trong đó tổ chức bảo lãnh (TCBL) cam kết sẽ mua toàn bộ số chứngkhoán phát hành cho dù có phân phối được hết chứng khoán hay không Thôngthường, trong phương thức này một nhóm các TCBL hình thành một tổ hợp để muachứng khoán của tổ chức phát hành (TCPH) với giá chiết khấu và bán lại các chứngkhoán theo giá chào bán ra công chúng và hưởng phần chênh lệch giá

Bảo lãnh với cố gắng cao nhất (Best efforts underwriting): Là phương thức

bảo lãnh mà theo đó TCBL thoả thuận làm đại lý cho TCPH TCBL không cam kếtbán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra

Trang 12

thị trường, nhưng nếu không phân phối hết sẽ trả lại cho TCPH phần còn lại vàkhông phải chịu hình phạt nào.

Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không (All or Nothing): Trong phương

thức này, TCPH yêu cầu TCBL bán một số lượng chứng khoán nhất định, nếukhông phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành TCBL phải trả lại tiền chocác nhà đầu tư đã mua chứng khoán

Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa: Là phương thức trung gian giữa

phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh bán tất cả hoặckhông Theo phương thức này, TCPH yêu cầu TCBL được tự do chào bán chứngkhoán đến mức tối đa quy định (mức trần) Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỉ

lệ thấp hơn mức sàn thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị hủy bỏ

Bảo lãnh theo phương thức dự phòng (Standby underwriting): Đây là phương

thức thường được áp dụng khi một công ty đại chúng phát hành bổ sung thêm cổphiếu thường và chào bán cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bênngoài Tuy nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty

Vì vậy, công ty cần có một TCBL dự phòng sẵn sàng mua những quyền mua khôngđược thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân phối ra ngoài công chúng

Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng là việc TCBL cam kết sẽ là ngườimua cuối cùng hoặc chào bán hộ số cổ phiếu của các quyền mua không được thựchiện

Các hình thức phân phối chứng khoán chủ yếu:

 Bán riêng cho các tổ chức đầu tư chứng khoán tập thể, các quỹ đầu tư, quỹbảo hiểm, quỹ hưu trí

 Bán trực tiếp cho các cổ đông tạm thời hay những nhà đầu tư có quan hệ với

tổ chức phát hành

Trang 13

Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán thông qua hoạt độngphân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thực hiện một

số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính chokhách hàng

Hoạt động tư vấn chứng khoán được phân loại theo các chỉ tiêu sau:

 Theo hình thức của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn trực tiếp và tư vấn giántiếp để tư vấn cho khách hàng

 Theo mức độ ủy quyền của tư vấn: bao gồm tư vấn gợi ý và tư vấn ủy quyền

 Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: bao gồm tư vấn cho các nhà phát hành

và tư vấn đầu tư

Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn:

 Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán

 Luôn nhắc nhở khách hàng rắng những lời tư vấn của mình luôn dựa trên cơphân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, có thể là khônghoàn toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuối cùng trong việc sửdụng các thông tin từ nhà tư vấn để đầu tư, nhà tư vấn sẽ không chịu trách nhiệm vềnhững thiết hại kinh tế do nhà đầu tư đưa ra

 Không được dụ dỗ cháo mới khách hàng mua hay bán một loại chứng khoánnào đó, những lời tư vấn xuất phát từ những cơ sở khách quan là quá trình phân tích,tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn đề nghiên cứu

Trang 14

Nghiệp vụ tín dụng: đối với các thị trường chứng khoán phát triển, bên cạnhnghiệp vụ môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còntriển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bánkhống hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp vụ mua kýquỹ.

Nghiệp vụ quản lý quỹ: ở một số CTCK, pháp luật về TTCK còn cho phépCTCK được thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư Theo đó, CTCK cử đại diệncủa mình để quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vàochứng khoán CTCK được thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư

Ngày đăng: 22/06/2016, 17:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w