1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam

91 698 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

38 CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT PHÂN TÍCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM..... PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG PHÂN TÍCH THÔN

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: 5

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 5

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 5

1 Định nghĩa thị trường chứng khoán 5

2 Vai trò của thị trường chứng khoán 6

3 Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam 7

3.1 Sự ra đời của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội 7

3.2 Sự phát triển về số loại cổ phiếu niêm yết, số loại trái phiếu, số công ty chứng khoán và số lượng tài khoản nhà đầu tư 9

3.2.1 Số loại cổ phiếu niêm yết 9

3.2.2 Số lượng công ty chứng khoán 12

3.2.3 Số loại trái phiếu 12

3.2.4 Số lượng tài khoản nhà đầu tư chứng khoán 12

3.3 Diễn biến chỉ số VN-Index và HNX- Index giai đoạn 2001-2010 13

3.4 Giá trị vốn hóa thị trường 17

3.4.1 Giá trị vốn hóa thị trường của công ty 17

3.4.2 Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường 17

3.5 Quy mô giao dịch 21

3.5.1 Khối lượng giao dịch 21

3.5.2 Giá trị giao dịch 22

3.6 Những thử thách đối với thị trường chứng khoán Việt Nam 26

3.6.1 Thiếu tính minh bạch 26

Trang 2

3.6.2 Rủi ro chính sách 26

3.6.3.Tình trạng “làm giá” 26

3.6.4 Rủi ro hệ thống 27

3.6.5 Sản phẩm tài chính nghèo nàn 27

3.6.6 Trình độ chuyên môn và nhận thức của các bên liên quan chưa cao 27

II TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 28

1 Định nghĩa 28

2 So sánh quan điểm của các trường phái phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và lý thuyết thị trường hiệu quả 28

2.1 Quan điểm xunh quanh đối tượng phản ánh của giá chứng khoán 29

2.2 Quan điểm xung quanh tốc độ phản ánh thông tin của giá chứng khoán 29

2.3 Quan điểm xung quanh phương pháp đầu tư 30

2.4 Quan điểm xung quanh khả năng dự đoán giá tương lai của chứng khoán 32 3 Học thuyết Dow 33

4 Tình hình ứng dụng phân tích kỹ thuật trên thế giới 35

4.1 PTKT là phương pháp phân tích quan trọng nhất nếu khung thời gian phân tích ngắn 35

4.2 Những nhà phân tích kỹ thuật là những người có kinh nghiệm, có kiến thức 38

4.3 Công ty nhỏ có xu hướng sử dụng PTKT nhiều hơn công ty lớn 38

4.4 Đa số các nhà quản lý quỹ cho rằng giá bị ảnh hưởng bởi tâm lý 38

CHƯƠNG II: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT PHÂN TÍCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 39

I NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI VIỆC SỬ DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 39

1 Những bất lợi khi sử dụng phương pháp phân tích cơ bản và lý thuyết thị trường hiệu quả 39

2 Những điểm thuận lợi cho việc ứng dụng phương pháp phân tích kỹ thuật 41

Trang 3

3 Những vấn đề nan giải khi ứng dụng phương pháp phân tích kỹ thuật 42

II PHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG PHÂN TÍCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM.45 1 Mục đích phân tích 45

2 Đối tượng phân tích 46

3 Mốc thời gian phân tích 47

4 Phương pháp phân tích 47

4.1 Phương pháp mua và nắm giữ 47

4.2 Phương pháp phân tích kỹ thuật 48

5 Giả thiết phân tích 51

6 Dữ liệu, phần mềm và loại đồ thị sử dụng 54

7 Phương pháp đánh giá 55

7.1 Đánh giá tính hiệu quả của phương pháp phân tích kỹ thuật 55

7.2 Đánh giá tính chính xác của tín hiệu mua bán do phương pháp phân tích kỹ thuật đưa ra 56

7.3 Đánh giá tính mạnh, yếu của xu hướng thị trường chứng khoán 56

III KẾT QUẢ PHÂN TÍCH 57

CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 60

I KẾT LUẬN VỀ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 60

1 Phương pháp phân tích kỹ thuật không phải luôn hiệu quả trong mọi tình huống 60

2 Từng chỉ báo phân tích kỹ thuật hiệu quả trong tình huống này nhưng lại kém hiệu quả trong tình huống khác 61

3 Đồ thị phân tích kỹ thuật đưa ra cả tín hiệu đúng và cả những tín hiệu sai 62

II NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TÍN HIỆU SAI 62

1 Đối với MA 62

Trang 4

2 Đối với RSI 66

3 Đối với Stochastic 68

III BIỆN PHÁP NÂNG CAO TÍNH HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 70

1 Stochastic là phương pháp hiệu quả được ưu tiên sử dụng khi tín hiệu mà nó đưa ra không ngược với xu hướng thị trường 70

2 Không nên mua cổ phiếu khi thị trường đang giảm mạnh dù cho chỉ báo có đưa ra tín hiệu 74

3 Gắn việc sử dụng chỉ báo và các phương pháp khác của phương pháp phân tích kỹ thuật 75

4 Kết hợp với PTCB 75

5 Có hành động sửa chữa kịp thời khi có chiến lược đầu tư sai 76

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 80

Trang 5

2 Năm thành lập và hình thức sở hữu của một số sàn chứng

khoán trên thế giới và khu vực Đông Nam Á

8

3 Số loại cổ phiếu niêm yết của HOSE và một số sàn chứng

khoán trong khu vực năm 2009

10

4 So sánh số tài khoản đầu tư trong năm 2009 giữa HOSE và

SET

13

5 Toàn cảnh các thị trường chứng khoán thế giới 2008 15

6 Tổng giá trị vốn hóa thị trường của một số TTCK trên thế

giới năm 2009

21

7 So sánh tổng giá trị vốn hóa thị trường của HOSE và một

số sàn chứng khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2009

21

8 Tổng giá trị giao dịch của HOSE so với một số sàn chứng

khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2009

23

9 Tổng khối lượng giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn

2000-2010

24

10 Tổng giá trị giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010 25

11 So sánh phương pháp phân tích cơ bản và phương pháp

phân tích kỹ thuật

31

12 Định nghĩa, công thức và đặc điểm của MA, RSI và 49

Trang 6

17 Lợi nhuận do phương pháp Stochastic mang lại khi loại bỏ

tín hiệu ngược với xu hướng thị trường

73

Trang 7

2 Danh mục các biểu đồ

Biểu

1

Số lượng cổ phiếu, trái phiếu, số công ty chứng khoán và số

lượng tài khoản nhà đầu tư sàn HOSE (hình ở trên) và

HNX (hình ở dưới)

11

2 Diễn biến chỉ số VN-Index giai đoạn 1/2001 đến 4/2011 14

4 Tổng giá trị vốn hóa thị trường của HOSE giai đoạn

5 Phân phối lũy kế mức độ sử dụng của phương pháp PTKT 36

6 Mức độ sử dụng phương pháp PTKT, PTCB và phân tích

dòng tiền qua trong các khung thời gian dự đoán khác nhau 37

8 Mô hình thị trường tăng mạnh, tăng yếu và đi ngang 57

12 Tín hiệu mua bán Stochastic đưa ra ngược với xu hướng

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CAPM (Capital Asset Pricing Model): Mô hình định giá tài sản vốn

CTCK: Công ty chứng khoán

IMF (International Monetary Fund): Quỹ tiền tệ quốc tế

GDP (Gross Dosmestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội

HOSE: Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

HNX: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

MA (Moving Average): Trung bình động

NYSE (New York Stock Exchange): Sàn Giao dịch chứng khoán New York

OTC (Over the counter): Thị trường giao dịch qua quầy

PTKT: Phân tích kỹ thuật

PTCB: Phân tích cơ bản

RSI (Relative Strength Index): Chỉ số sức mạnh tương đối

SET (Stock Exchange of Thailand): Sàn Giao dịch chứng khoán Thái Lan

TTCK: Thị trường chứng khoán

TTGDCK: Trung tâm Giao dịch Chứng Khoán

UBCKNN: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

UPCOM (Unlisted Public Company Market) Thị trường giao dịch cổ phiếu của

công ty đại chúng chưa niêm yết

VCCI (The Vietnam Chamber of Commerce &Industry): Phòng Thương mại và

Công nghiệp Việt Nam

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua chặng đường hơn 10 năm phát triển, thị trường chứng khoán ViệtNam đã bước đầu có những thành công đáng khích lệ và thu hút ngày càng nhiềunhững nhà đầu tư trong và ngoài nước Trong đó, số lượng nhà đầu tư, nhân viên,chuyên viên sử dụng các phương pháp phân tích đầu tư cổ phiếu để tiến hànhgiao dịch cũng ngày một tăng lên

Phương pháp phân tích kỹ thuật cùng với phương pháp phân tích cơ bản lànhững phương pháp phân tích đầu tư chứng khoán phổ biến trên các thị trườngchứng khoán từ hàng thế kỷ nay Cả hai trường phái phân tích này đều đangđược các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam sử dụng Bên cạnh

đó, phương pháp phân tích kỹ thuật ngày càng được ứng dụng một cách rộng rãi

Tuy nhiên, tính hiệu quả và tính đúng đắn khi ứng dụng phương phápphân tích kỹ thuật trong phân tích đầu tư chứng khoán hiện còn là vấn đề đượcgiới học giả, các chuyên gia và nhà đầu tư bàn luận Vì thế, phương pháp phântích kỹ thuật cần phải được ứng dụng và nghiên cứu một cách cụ thể nhằm xácđịnh tính hiệu quả của nó khi sử dụng trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tìm

ra những ưu điểm và nhược điểm của nó Qua đó, nhà đầu tư, doanh nghiệp vàcác cơ quan quản lý có thể nhìn nhận đúng hơn về phương pháp này, về thịtrường chứng khoán Việt Nam và đưa ra những quyết định chính xác hơn

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Với lý do đó, bài khóa luận tập hướng đến đánh giá tính hiệu quả của phântích kỹ thuật khi ứng dụng nó với dữ liệu thông tin tài chính trên thị trườngchứng khoán Việt Nam, tìm ra những nhược điểm của phân tích kỹ thuật sau khiứng dụng, từ đó đề ra biện pháp khắc phục các nhược điểm và bổ sung về mặt lýluận cho phương pháp này

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu tính hiệu quả của việc ứng dụng phương phápphân tích kỹ thuật trên thị trường chứng khoán Việt Nam Có 5 nhiệm vụ nghiêncứu cụ thể được đưa ra Thứ nhất, khái quát đặc điểm của thị trường chứngkhoán Việt Nam qua chặng đường 10 năm phát triển Thứ hai, khái quát cácquan điểm ủng hộ và phản đối phân tích kỹ thuật Thứ ba, xây dựng cách thứcứng dụng phân tích kỹ thuật để phân tích trong bài khóa luận Thứ tư, ứng dụngphân tích kỹ thuật phân tích thông tin tài chính trên thị trường một cách kháchquan Thứ năm, đánh giá tính hiệu quả, ưu điểm, nhược điểm của phân tích kỹthuật Và cuối cùng, đề xuất biện pháp khắc phục những nhược điểm của phântích kỹ thuật

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu vì thế là đặc điểm của thị trường chứng khoán ViệtNam và chỉ số VN-Index thông qua các dữ liệu, số liệu và thông tin thu thậpđược

5 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng, ứng

dụng phân tích trên số liệu thực tế, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiệnphương pháp phân tích kỹ thuật

Trang 11

Về thời gian: Bài khóa luận đã sử dụng dữ liệu về thị trường chứng khoán

Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2010 để phân tích thực trạng thị trường; dữ liệu

về thị trường chứng khoán thế giới và trong khu vực từ 2008-2010 để so sánhtương quan với thị trường chứng khoán Việt Nam, dữ liệu quá khứ của chỉ sốVn-Index từ năm 2006 đến năm 2010 để làm dữ liệu phân tích của phân tích kỹthuật

5 Phương pháp nghiên cứu

Bài khóa luận chủ yếu sử dụng 3 phương pháp sau:

Phương pháp thống kê: thu thập số liệu từ các Sở Giao dịch chứng khoántrong và ngoài nước, Quỹ tiền tệ quốc tế, Phòng Thương Mại và Công NghiệpViệt Nam, Tổng Cục Thống Kê và trình bày số liệu

Phương pháp so sánh: so sánh giữa thị trường chứng khoán Việt Nam vớicác thị trường chứng khoán trong khu vực và trên thế giới, so sánh các quanđiểm của trường phái phân tích kỹ thuật, trường phái phân tích cơ bản và trườngphái thị trường hiệu quả, so sánh các công cụ khác nhau của phân tích kỹ thuật

và so sánh phương pháp sử dụng phân tích kỹ thuật với phương pháp mua vànắm giữ

Phương pháp phân tích: phân tích các số liệu về thị trường chứng khoánViệt Nam, về tình hình ứng dụng phân tích kỹ thuật trên thế giới, sử dụng phântích kỹ thuật để phân tích dữ liệu quá khứ của chỉ số VN-Index

6 Bố cục bài khóa luận

Ngoài phần mở đầu, danh mục bảng biểu, danh mục các chữ viết tắt, kếtluận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận có kết cấu gồm 3chương:

Trang 12

Chương I: Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam và phươngpháp phân tích kỹ thuật

Chương II: Ứng dụng phân tích kỹ thuật phân tích thông tin tài chính trênthị trường chứng khoán Việt Nam

Chương III: Biện pháp nâng cao tính hiệu quả của phương pháp phân tích

Trang 13

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM VÀ

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

1 Định nghĩa thị trường chứng khoán

Trên thế giới, TTCK đã hình thành từ thế kỷ 15 và đã trải qua một chặngđường dài phát triển Hầu hết các quốc gia phát triển và đang phát triển đều cócác TTCK TTCK là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính Hiện nay cónhiều định nghĩa về thị trường tài chính, nhưng các quan điểm về thị trường tài

chính đều thống nhất rằng “Thị trường tài chính là thị trường mà ở đó diễn ra sự

di chuyển vốn từ người có thừa vốn đến người thiếu vốn” [16, tr.3] Nếu dựa vào

đối tượng được giao dịch, thị trường tài chính lại chia thành các thị trường nhỏhơn như thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường hợp đồng tương lai,thị trường hợp đồng quyền chọn

Trên thế giới tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về TTCK Tuy nhiên,quan điểm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung của thị trườngchứng khoán hiện nay được viết trong Giáo trình Thị trường chứng khoán của

trường Đại học Kinh tế Quốc dân là: “thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các

giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán” Chứng khoán được hiểu là

các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêucầu về thu nhập hoặc tài sản của tổ chức phát hành hay quyền sở hữu

Ngoài giao dịch cổ phiếu và trái phiếu, đa số các TTCK trên thế giới vàtrong khu vực Đông Nam Á đều cung cấp các dịch vụ chứng khoán phái sinh vàthực hiện trao đổi các loại giấy tờ có giá khác TTCK Việt Nam là một trongnhững TTCK ra đời muộn nhất Hiện nay, TTCK Việt Nam đã thực hiện các

Trang 14

giao dịch cổ phiếu và trái phiếu, nhưng các giao dịch chứng khoán phái sinhchưa phát triển Trong đó, Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minhthực hiện các giao dịch cổ phiếu đã niêm yết và trái phiếu doanh nghiệp Sở giaodịch chứng khoán Hà Nội và sàn UPCOM thực hiện giao dịch các cổ phiếu đãniêm yết, cổ phiếu đăng ký và trái phiếu Chính Phủ Bên cạnh đó, TTCK phi tậptrung bao gồm cả thị trường OTC thực hiện giao dịch cổ phiếu niêm yết, chưaniêm yết, trái phiếu và các chứng khoán khác Tuy nhiên, các công cụ phái sinhchưa phát triển như ở trên thế giới Hiện nay, cả nước chỉ có một số sàn giaodịch kỳ hạn như sàn giao dịch cà phê kỳ hạn, sàn vàng, sàn giao dịch gạo.

2 Vai trò của thị trường chứng khoán

TTCK đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển và thịnh vượng củabất kì một quốc gia nào Theo Eugene Fama – người có công đầu trong việc xây

dựng lý thuyết thị trường hiệu quả thì “vai trò quan trọng nhất của thị trường

vốn là sự phân bổ sự sở hữu những cổ phiếu trong nền kinh tế Nói một cách chung nhất là, thị trường lý tưởng là nơi mà giá cả cung cấp những tín hiệu chính xác để phân bổ nguồn lực: doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định đầu tư sản xuất và nhà đầu tư có thể lựa chọn giữa những cổ phiếu phản ánh sự

sở hữu đối với một doanh nghiệp”.[11]

Đối với từng đối tượng tham gia thị trường, TTCK lại có các vai trò khácnhau Nhìn chung, TTCK đóng vai trò là kênh huy động vốn trực tiếp của cácdoanh nghiệp, là môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư, là nơi mà chính phủ căn

cứ để đưa ra các chính sách, và là phong vũ biểu của nền kinh tế

Do đó, TTCK có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế Những hoạt động trên TTCK có ảnh hưởng trực tiếp đến tài sản của nhà đầu

tư, hành vi của người tiêu dùng, hành vi của các doanh nghiệp và các hoạt độngmang tính chu kỳ của nền kinh tế.[16, tr.4]

Trang 15

3 Lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

3.1 Sự ra đời của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

Quá trình phát triển của TTCK Việt Nam được đánh dấu bởi sự thành lậpUBCKNN vào ngày 28/11/1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính Phủ.UBCKNN là đơn vị có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của một cơquan quản lý nhà nước về chứng khoán.Việc thành lập UBCKNN là điều cầnthiết đối với hoạt động của các TTCK Trên thế giới, các Ủy ban Chứng khoánđều đóng vai trò quản lý và điều hành TTCK mặc dù cơ cấu tổ chức và cáchquản lý ở các quốc gia có thể khác nhau Đó là Ủy ban Chứng khoán và Sàn giaodịch Mỹ, Cơ quan dịch vụ Tài chính Anh, Ủy ban Chứng khoán Malaysia, Ủyban Chứng khoán và Sàn chứng khoán Philipines và trên góc độ quốc tế có Ủyban của tổ chức quốc tế về Chứng khoán (IOSCO)

Trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh được thànhlập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 và chính thức thựchiện phiên giao dịch đầu tiên và ngày 28/07/2000 Sau đó, trung tâm được đổitên là Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) theo Quyếtđịnh 599/QĐ-TTg ngày 11/05/2007 của Thủ tướng Chính phủ Sở Giao dịchchứng khoán Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 01/2009/QĐ-Ttg ngày2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở chuyển đổi, tổ chức lại Trung tâmGiao dịch Chứng khoán Hà Nội sau 4 năm hoạt động Cả hai Sở đều là phápnhân thuộc sở hữu Nhà nước, được tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệmhữu hạn một thành viên, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng; được mở tàikhoản bằng Việt Nam đồng và ngoại tệ tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàngthương mại trong và ngoài nước; là đơn vị hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính,thực hiện chế độ tài chính, chế độ báo cáo thống kê, kế toán, kiểm toán và có

Trang 16

nghĩa vụ tài chính theo quy định pháp luật; hoạt động theo Luật Chứng khoán,Luật Doanh nghiệp, Điều lệ của Sở Giao dịch chứng khoán và các quy định kháccủa pháp luật có liên quan [7], [8]

Bảng 1: Năm thành lập, tên quốc tế và tên viết tắt của HOSE VÀ HNX

Sở/Đặc điểm Sở Giao dịch Tp.Hồ Chí

Tên quốc tế Hochiminh stock exchange Hanoi stock exchange

Bảng 2: Năm thành lập và hình thức sở hữu của một số sàn chứng khoán

trên thế giới và khu vực Đông Nam Á

Sàn Tên viết tắt Quốc Gia Năm thành

lập

Hình thức

sở hữu

Trang 17

SGDCK Hàn Quốc KLX Hàn Quốc 1956 Tư nhân

Nguồn: Website của các sàn chứng khoán Chú thích: Các SGDCK được chọn là các sàn ra đời sớm nhất tại các nước

3.2 Sự phát triển về số loại cổ phiếu niêm yết, số loại trái phiếu, số công ty chứng khoán và số lượng tài khoản nhà đầu tư

3.2.1 Số loại cổ phiếu niêm yết

Qua quá trình phát triển hơn 10 năm, số loại cổ phiếu niêm yết ngày càng

tăng lên Theo Báo cáo thường niên năm 2009 của HOSE, tính đến thời điểm

cuối các năm 2007, 2008 và 2009, sàn HOSE có lần lượt 138, 170 và 196 loại cổphiếu niêm yết [3, tr 23] Nhưng chỉ sau đó một năm, tức là năm 2010, con sốtrên đã tăng lên đến 284 loại cổ phiếu [7] Từ đó có thể thấy, số loại cổ phiếu đã

tăng đột biến trong năm 2010 (Biểu đồ 1) Nếu tính tỉ lệ giữa tổng số loại cổ

phiếu niêm yết trên TTCK Việt Nam năm 2009 (gồm 196 cổ phiếu tại sànHOSE và 300 cổ phiếu tại sàn HNX) so với tổng số 205620 doanh nghiệp ViệtNam (số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động) tại thời điểm cuối năm 2009 thì

có thể thấy, tỉ lệ trên chỉ vào khoảng 0,24% Do đó, tiềm năng phát triển về mặt

số loại cổ phiếu niêm yết là khá lớn.[4, tr.9]

So với thế giới, số loại cổ phiếu niêm yết trên HOSE và HNX còn ở mức khákhiêm tốn so với các sàn khác trong khu vực trên thế giới Số liệu về số loại cổ

phiếu niêm yết của HOSE, SET và Burse Malaysia (Bảng 3) cho thấy số loại cổ

Trang 18

phiếu niêm yết ở sàn HOSE vẫn ít hơn nhiều so với các nước trong khu vực Mặtkhác, HOSE và HNX mới chỉ có cổ phiếu của các công ty Việt Nam niêm yết,trong khi đó, các sàn mạnh thường niêm yết cả cổ phiếu của các công ty nướcngoài và thường có các chi nhánh của sàn trên nhiều quốc gia khác nhau.

Bảng 3: Số loại cổ phiếu niêm yết của HOSE và một số sàn trong khu vực năm 2009

Sàn Số cổ phiếu niêm yết (2009)

Nguồn: [3, tr.23], [20, tr.27], [9, tr.8]

Trang 19

Biểu đồ 1: Số lượng cổ phiếu, trái phiếu, số CTCK và số lượng tài khoản nhà đầu tư sàn HOSE

(Nguồn: [3], [5], [7], [8]) Chú thích: Số liệu năm 2000 là số liệu lúc HOSE mới thành lập, các năm còn lại là số liệu tại thời điểm đầu năm

Trang 20

3.2.2 Số lượng công ty chứng khoán

Số lượng công ty chứng khoán cũng tăng khá nhanh (Biểu đồ 1) Thậm chí

trong giai đoạn gần đây (2007- 2010) còn tăng nhanh hơn quy mô tăng của thịtrường Nếu như cuối năm 2007 số công ty chứng khoán ở sàn HOSE là 62 công

ty thì cuối năm 2009 là 99 Tốc độ tăng giữa năm 2009 và 2007 là 160% Trongkhi đó, tốc độ tăng của tổng mức vốn hóa thị trường cũng trong giai đoạn đó là135%, từ 364425 triệu VND đến 494072 triệu VND [3, tr.57] Thêm vào đó,mức vốn hóa toàn thị trường năm 2010 lại giảm trong khi số lượng công tychứng khoán lại tăng lên thành 102 công ty

3.2.3 Số loại trái phiếu

Từ năm 2000 đến năm 2008, số lượng trái phiếu cũng tăng lên Trong đóthành phần trái phiếu chính phủ chiếm tỉ trọng lớn Chính vì vậy khi tháng 5 năm

2008 theo Quyết định 352/QĐ- UBCKNN về việc chuyển trái phiếu chính phủniêm yết tại HOSE giao dịch trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội thì

lượng trái phiếu giao dịch trên sàn HOSE giảm mạnh (Biểu đồ 1) Cho đến thời

điểm đầu năm 2011, trên sàn HOSE chỉ còn 49 trái phiếu doanh nghiệp Giốngnhư các thị trường khác trên thế giới, quy mô thị trường trái phiếu trên thị trườngchứng khoán Việt Nam lớn hơn rất nhiều so với quy mô của thị trường cổ phiếu.[8]

3.2.4 Số lượng tài khoản nhà đầu tư chứng khoán

Tăng đáng kể nhất vẫn là số lượng tài khoản của nhà đầu tư (Biểu đồ 1).

Nếu như vào năm 2000 cả nước chỉ có khoảng 3000 tài khoản nhà đầu tư thì con

số này năm 2009 vào khoảng 760000 tài khoản Trong khi năm 2009, Sàn SET

của Thái Lan (thành lập từ năm 1962) mới chỉ có 570548 tài khoản (Bảng 4).

Trang 21

Bảng 4: So sánh số tài khoản đầu tư trong năm 2009 giữa HOSE và SET

Số Tài khoản đầu tư 760000 570548

Số Tài khoản thực giao dịch 20%-35% 21,5%

(Nguồn: [20, tr 24], [6])Cuối năm 2010, số tài khoản nhà đầu tư chứng khoán tại Việt Nam đã vàokhoảng hơn 1 triệu tài khoản (tăng 333 lần so với năm 2000) Tuy nhiên, điềucần phải bàn đến là chỉ có khoảng 20-35% số tài khoản này là tài khoản thựcgiao dịch Như số liệu ở Bảng 4, sàn SET của Thái Lan cũng chỉ có 21,5% tổng

số tài khoản là tài khoản thực giao dịch Một điều đặc biệt là, tại TTCK ViệtNam, mỗi nhà đầu tư chỉ được phép lập 1 tài khoản duy nhất nên nhiều người đãlách luật bằng cách mượn chứng minh thư của người thân, bạn bè để lập tàikhoản [2] Vì vậy, số lượng nhà đầu tư trên thực tế thậm chí còn ít hơn số lượngtài khoản thực giao dịch như đã thống kê

3.3 Diễn biến chỉ số VN-Index và HNX- Index giai đoạn 2001-2010

VN-Index có những biến động tăng giảm trong hơn 10 năm qua, đặc biệt

là Vn-Index có biên độ dao động mạnh trong những năm 2006, 2007 và 2008

(Biểu đồ 2) Biểu đồ thể hiện diễn biến của VN- Index có thể chia làm 4 giai

đoạn chính Giai đoạn 1 từ đầu năm 2001 đến cuối năm 2001 Đây là giai đoạnthị trường biến động theo xu hướng giảm tương đối mạnh từ 600 điểm xuốngcòn 250 điểm (gần 60%) chỉ trong vòng 1 năm Tuy nhiên khối lượng giao dịchtrong giai đoạn này không đáng kể

Trang 22

Biểu đồ 2: Diễn biến chỉ số VN-Index giai đoạn 1/2001 đến 4/2011

Nguồn: Tác giả tự tính toán và tổng hợp Chú thích:

- đường màu đen: đường biểu diễn HNX-Index

-đường màu xanh: lượng giao dịch các ngày tương ứng

Giai đoạn 2 từ đầu năm 2002 đến cuối năm 2005, thị trường có xu hướngtăng nhẹ Sau 4 năm thị trường đã đạt mức 300 điểm, tăng 50% so với 4 nămtrước đó Mặc dù vậy, VN-Index chưa cho thấy sự tiến triển rõ rệt về lượng giaodịch trong thời điểm này Đây là giai đoạn mà thị trường vừa mới được thành lập,

số lượng cổ phiếu niêm yết còn chưa nhiều, chưa chất lượng và chưa đang dạng,các chuyên gia, nhân viên môi giới và cả nhà đầu tư còn chưa đủ về kiến thức vàkinh nghiệm

Tiếp theo là giai đoạn 3 bao gồm 3 năm tiếp theo (2006,2007 và 2008),giai đoạn này chứng kiến một sự dao động tăng và giảm rất mạnh của VN-Index

Từ đầu năm 2006 đến hết quý I năm 2007 thị trường gần như tăng với tốc độ

Trang 23

chóng mặt từ 300 điểm lên đến và đạt đỉnh tại 1170,6 điểm (gấp gần 4 lần) Năm

2006, là năm mà hầu hết các TTCK thế giới chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ

về nhiều mặt bao gồm cả tăng chỉ số chứng khoán Ngưỡng 1170,6 cũng là mứcđỉnh của VN-Index trong hơn 10 năm Hai quý II và III của năm 2007 VN-Index

đi ngang với biên độ khá lớn Từ quý 4 năm 2007, thị trường tụt giảm mạnh Chỉtrong hơn một năm, đến cuối năm 2008, thị trường lại trở về thậm chí thấp hơnmức ban đầu năm 2006, vào khoảng dưới 300 điểm Tuy nhiên, lượng giao dịchtrong giai đoạn này đã tăng lên

Việc so sánh mức biến động giảm của VN-Index so với các chỉ số kháctrên thế giới sẽ làm rõ hơn tình trạng thị trường chứng khoán Việt Nam trong

năm khủng hoảng 2008 (Bảng 5) Theo đó, mức giảm của VN-Index là lớn nhất

giảm 65,9%) so với tất cả các nước được so sánh thậm chí là giảm gấp khoảng1,5 lần Mỹ- là nước khởi đầu cho cuộc đại khủng hoảng

Bảng 5: Toàn cảnh các thị trường chứng khoán thế giới 2008

cửa 30/12

Tăng, giảm so với 2007 (%)

Trang 24

Hồng Kong Hang Seng 14235,50 -48,8%

Trung Quốc Shanghai Composite 1832,91 -65,2%

2007 Cuối cùng, năm 2010 lại chứng kiến giai đoạn thị trường khá ổn định

Chỉ số HNX-Index có xu hướng biến động khá giống với chỉ số VN-Index

từ năm 2005 đến hết năm 2009 (Biểu đồ 3) Năm 2005, HNX-Index có xu hướng

đi ngang và hai năm tiếp theo HNX-Index biến động tăng mạnh, rồi giảm mạnh

kể từ tháng 11 năm 2007 đến cuối năm 2008 Giai đoạn này, HNX-Index đạtđỉnh vào khoảng 455 điểm vào tháng 3 năm 2007 Năm 2009, tương tự như Vn-Index, HNX-Index đi lên nhẹ Tuy nhiên, khác với diễn biến của VN-Index,HNX-Index có xu hướng giảm nhẹ trong năm 2010

Biểu đồ 3: Diễn biến chỉ số HNX-Index (2005-2010)

Trang 25

Nguồn: Tác giả tự tính toán và tổng hợp Chú thích:

- đường màu đen: đường biểu diễn HNX-Index

-đường màu xanh: lượng giao dịch các ngày tương ứng

3.4 Giá trị vốn hóa thị trường

3.4.1 Giá trị vốn hóa thị trường của công ty

Giá trị vốn hoá thị trường là thước đo qui mô của một công ty, là tổng giátrị thị trường của một công ty, được xác định bằng số tiền bỏ ra để mua lại toàn

bộ công ty này trong điều kiện hiện tại (Nguồn)

Đa số các công ty niêm yết trên thị trường Việt Nam chưa có giá trị vốnhóa cao Trong năm 2009, sàn HOSE có 91 công ty trên tổng số 196 công tyniêm yết có mức vốn hóa dưới 500 tỷ đồng, trong khi chỉ có 16 công ty có mứcvốn hóa trên 10000 tỷ đồng [3, tr 24-43]

3.4.2 Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường

Tổng giá trị vốn hóa toàn thị trường là tổng các mức giá trị vốn hóa của tất

cả các công ty niêm yết trên thị trường đó Để đánh giá một thị trường chứng

Trang 26

khoán, giá trị vốn hóa thị trường là một yếu tố không thể bỏ qua bởi nó cho biếttình hình hoạt động của thị trường thông qua hai yếu tố giá cổ phiếu và lượng cổphiếu đang lưu hành.

Đặc điểm nối bật của tổng mức vốn hóa thị trường tại thị trường chứngkhoán Việt Nam là đi theo xu hướng tăng qua hầu hết các năm nhưng độ lớn của

nó chưa đạt mức trung bình của thế giới (Biểu đồ 4) Có thể nói, năm chứng kiến

sự nhảy vọt về vốn hóa thị trường là năm 2006 Mức giá trị năm 2006 đạt

147967 tỷ VND gấp 20 lần giá trị ấy của năm 2005, trong khi đó, giá trị niêm yếtnăm 2006 chỉ bằng khoảng 7 lần so với năm 2005 Góp phần vào sự tăng thần kì

đó là sự tăng mạnh của chỉ số VN-Index (tăng 140%) và sự gia tăng số lượng cổphiếu niêm yết Năm 2007, do biến động của chỉ số chứng khoán, giá trị vốn hóathị trường của tổng cổ phiếu trên sàn HOSE lại chứng kiến một sự tăng mạnhbằng 247% giá trị của năm trước (từ 147967 tỷ VND (2006) đến 364425 tỷ VND(2007)) Năm 2008 kết thúc với một sự giảm mạnh về mức tổng vốn hóa và năm

2009 giá trị này lại tăng lên Nhìn chung, tổng mức vốn hóa thị trường trên sànHNX cũng có xu hướng giống như sàn HOSE

Tổng giá trị vốn hóa của toàn bộ TTCK Việt Nam ở mức nhỏ so với mức

trung bình của thế giới và trong khu vực (Bảng 6) Nhưng nếu so sánh tỷ lệ tổng

mức vốn hóa thị trường trên GDP thì, khoảng cách trên đã được thu hẹp lại.Tổng giá trị vốn hóa thị trường của toàn bộ TTCK Việt Nam (gồm HOSE vàHNX) năm 2009 đạt 28000 tỷ đồng tương đương 34,58 tỷ USD chỉ bằng 0,22%của Mỹ Trong khi đó, nếu tính tỷ lệ tổng giá vốn hóa thị trường trên GDP thì tỷ

lệ đó của TTCK Việt Nam vào khoảng 38% (2009) và TTCK Hoa Kỳ vàokhoảng 106,8% (2009) So với các sàn của các nước trong khu vực, tổng giá trịvốn hóa của sàn HOSE vẫn ở mức thấp

Trang 27

Biểu đồ 4: Tổng giá trị vốn hóa thị trường của HOSE giai đoạn 2000-2009

Đơn vị: tỷ VND

Nguồn: [3, tr 57]

Trang 28

Bảng 6: Tổng giá trị vốn hóa thị trường của một số TTCK trên thế giới năm 2009

Tỷ Đô la

thị trường

% so với GDP

Nguồn:[12, statistical appendix, tr.11]

Bảng 7: So sánh tổng giá trị vốn hóa thị trường của HOSE và một số sàn chứng khoán trong khu vực Đông Nam Á năm 2009

3.5 Quy mô giao dịch

3.5.1 Khối lượng giao dịch

Từ năm 2000 đến năm 2010, khối lượng giao dịch tăng qua các năm (trừnăm 2003), khối lượng giao dịch bắt đầu tăng mạnh từ năm 2006 trở đi, trong đó

Trang 29

phương thức giao dịch khớp lệnh chiếm tỉ trọng chủ yếu từ 83% đến 95% (Bảng

9) Nếu như trong giai đoạn 2000 - 2005, khối lượng giao dịch chỉ trung bình vào

khoảng 3,6 triệu đơn vị và dao động trong khoảng 3,6 triệu đơn vị đến 84,5 triệuđơn vị thì giai đoạn 2006-2010 chứng kiến sự tăng mạnh và tăng liên tục củakhối lượng giao dịch của cả phương thức giao dịch khớp lệnh và thỏa thuận.Trong đó, phương thức khớp lệnh vẫn giữ vai trò chủ đạo Kết thúc năm 2010,khối lượng giao dịch vào khoảng 11642,5 triệu đơn vị với khối lượng giao dịchcủa phương thức khớp lệnh khoảng 10486 triệu đơn vị

Nếu xét về tốc độ tăng khối lượng giao dịch của năm sau so với năm liềntrước thì năm 2001, 2006, 2007 và 2009 chứng kiến sự tăng mạnh nhất về tốc độtăng khối lượng giao dịch, tăng gấp 350% đến 637% năm liền trước nó

3.5.2 Giá trị giao dịch

Giá trị giao dịch tăng nhẹ từ năm 2000 đến năm 2005, tăng rất mạnh vào

năm 2006 và biến động tăng và giảm mạnh trong giai đoạn 2007 đến 2010.(Bảng

10) Trong 5 năm đầu tiên, giống như hầu hết các yếu tố khác, giá trị giao dịch

cũng tăng nhưng đạt giá trị nhỏ Năm 2006 diễn ra sự tăng đột biến của giá trịgiao dịch, tăng từ 35,3 nghìn tỷ năm 2005 lên 200,5 nghìn tỷ năm 2006 gấp13,07 (1307%) lần so với năm 2005, do cả giá năm 2006 và lượng 2006 đều tăngđáng kể

Mặc dù khối lượng giao dịch tăng mạnh và tăng liên tục trong giai đoạn

2006 cho đến năm 2010 nhưng do giá giảm mạnh vào năm 2008 và giảm vàonăm 2010 nên khiến cho giá trị giao dịch cũng giảm tương ứng bất chấp sự tăngđáng kể của lượng giao dịch Đồng thời giá trị giao dịch năm 2007 và 2009 đềutăng là do tác động của cả việc chỉ số VN-Index tăng Năm 2009, giá trị giaodịch đạt mức cao nhất ở 422,5 nghìn tỷ VND (tương đương 19 tỷ USD) Tuy

Trang 30

nhiên, giá trị này vẫn là thấp so với các sàn chứng khoán khác trong khu vực và

Trang 31

Bảng 9: Tổng khối lượng giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010

Đơn vị: triệu đơn vị

Trang 32

Bảng 10: Tổng giá trị giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010

Trang 33

3.6 Những thử thách đối với thị trường chứng khoán Việt Nam

Ngoài những yếu tố trên, một thị trường chứng khoán non trẻ như TTCKViệt Nam còn có nhiều bất cập phải kể đến

3.6.2 Rủi ro chính sách

Các chính sách ở Việt Nam thường xuyên thay đổi và rất khó dự đoán.Điều này gây không ít khó khăn cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp Mặc dùluật chứng khoán ra đời góp phần thúc đẩy thị trường phát triển một cách lànhmạnh hơn Nhưng khung pháp lý điều chỉnh thị trường chứng khoán nói riêng vàthị trường tài chính nói chung còn chưa hoàn thiện

3.6.3.Tình trạng “làm giá”

Thị trường chứng khoán Việt Nam có nhiều lỗ hổng để cho một số ngườilợi dụng “làm giá” Một trong số những nguyên nhân là phương thức khớp lệnhđịnh kỳ và việc thông tin phải chuyển qua sở giao dịch trước khi công bố rộngrãi ra công chúng Hơn nữa, một số cổ phiếu có vốn hóa lớn chiếm một tỉ lệ quantrọng trong tổng vốn hóa thị trường khiến cho việc giá những cổ phiếu này thayđổi sẽ tác động lớn đến chỉ số chung Đã xảy ra nhiều trường hợp, một loại cổphiếu tăng giá đột ngột rồi lại bất chợt giảm mạnh khiến cho nhiều nhà đầu tưchót mua cổ phiếu này bị thua lỗ nặng

Trang 34

3.6.4 Rủi ro hệ thống

Khi thị trường phát triển nóng, nhiều người thậm chí không hề có kiếnthức kinh tế và tài chính cũng tham gia đầu tư Ở thị trường chứng khoán ViệtNam, tâm lý đám đông thể hiện khá rõ Đây cũng là một trong những nguyênnhân tại sao thị trường chứng khoán Việt Nam tăng nhanh hơn các TTCK kháckhi thị trường toàn cầu đi lên và giảm nhanh hơn các TTCK khác khi thị trườngtoàn cầu đi xuống Mặt khác, lãi suất ở Việt Nam khá cao so với mức trung bìnhcủa thế giới và rủi ro lãi suất khá cao, lãi suất thường xuyên thay đổi trong năm,đặc biệt trong những năm gần đây đã tác động tiêu cực đến TTCK Bên cạnh đó,rủi ro lạm phát cũng đặt áp lực lên thị trường này, khi mà lạm phát ở Việt Namgần đây liên tục ở mức cao

3.6.5 Sản phẩm tài chính nghèo nàn

Tính riêng thị trường cổ phiếu, Việt Nam mới chỉ có 2 chỉ số duy nhất làchỉ số VN-Index và HNX- Index trong khi các quốc gia khác có rất nhiều chỉ số.Như Mỹ có Chỉ số công nghiệp Dow Jones, chỉ số đường sắt Dow Jones, chỉ sốS&P 500, chỉ số S&P 100, chỉ số NasDaq-100 Index

3.6.6 Trình độ chuyên môn và nhận thức của các bên liên quan chưa cao

TTCK Việt Nam mới ra đời và cần có thời gian để đào tạo kiến thức chonhân viên sở giao dịch, môi giới và cả nhà đầu tư Tuy nhiên, vấn đề cần đặt ra ởđây là nhận thức của các đối tượng tham gia thị trường chưa cao Nhiều nhânviên vi phạm đạo đức nghề nghiệp đơn cử như ưu tiên nhập lệnh cho người quencủa mình trước, nhiều nhà đầu tư chưa ý thức được rủi ro khi tham gia TTCK,nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức được nghĩa vụ phải công bố thông tin củamình

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng thu hút nhiềunhà đầu tư nước ngoài, các dịch vụ chứng khoán được thực hiện một cách

Trang 35

chuyên môn hơn Một điểm cần lưu ý nữa về TTCK Việt Nam là việc hạn chế vềbiên độ và hạn chế thời gian giao dịch.

II TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT

Phân tích kỹ thuật cùng với phân tích cơ bản là những phương pháp phântích chứng khoán được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới từ hàng thế kỷ nay.Tìm hiểu những lý luận xung quanh trường phái PTKT sẽ tạo tiền đề cho việcứng dụng phương pháp PTKT một cách chính xác hơn

1 Định nghĩa

“PTKT là việc nghiên cứu các hoạt động thị trường (market action), chủ yếu thông qua việc sử dụng đồ thị, nhằm mục đích dự đoán xu hướng giá trong tương lai.” Các hoạt động thị trường bao gồm giá chứng khoán, lượng chứng

khoán và số lượng hợp đồng tương lai đang lưu hành (open interest) Theo đó,phân tích kỹ thuật là sự kết hợp của kinh tế hành vi (bao gồm cả tài chính hànhvi) và phân tích định lượng [17, tr.1]

2 So sánh quan điểm của các trường phái phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và lý thuyết thị trường hiệu quả

Có 3 trường phái lý thuyết phổ biến xung quanh vấn đề “dự đoán giátương lai của chứng khoán” là trường phái lý thuyết thị trường hiệu quả, trườngphái phân tích cơ bản và trường phái phân tích kỹ thuật Mặc dù 3 học thuyếttrên thể hiện các quan điểm đối lập nhau nhưng lại cùng song song tồn tại Hiệnnay, vấn đề học thuyết nào đúng, học thuyết nào sai vẫn là đang được các họcgiả bàn luận và phân tích Cả ba thuyết trên đều có giai đoạn phát triển khá dài

và là sự kế thừa của nhiều cuộc thí nghiệm và học thuyết của hàng thế kỷ trước.Ngoài 3 trường phái trên, phương pháp phân tích dòng tiền (Order Flow) cũngđược các nhà đầu tư sử dụng Đây là phương pháp phân tích sử dụng dòng tiền

Trang 36

do các lệnh mua và bán để dự đoán biến động giá trong tương lai Tuy nhiên,phương pháp này chưa được sử dụng rộng rãi như PTCB và PTKT nên khôngđược phân tích ở đây Các trường phái có một số quan điểm khác nhau.

2.1 Quan điểm xunh quanh đối tượng phản ánh của giá chứng khoán

Trong khi lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng “mọi thông tin” đều đượcphản ánh trong giá thì PTCB đề cập đến việc cổ phiếu luôn có một “giá trị cơbản”, còn PTKT thì cho rằng giá phản ánh “mọi tác nhân” ảnh hưởng đến nó.Người có công đầu trong việc xây dựng lý thuyết thị trường hiệu quả là Eugene

F Fama Vào năm 1970, Fama đã lần đầu tiên định nghĩa về “thị trường hiệu

quả” trên tạp chí Journal of Finance: “Một thị trường mà ở đó giá luôn luôn

“phản ánh đầy đủ” mọi thông tin hiện có là thị trường hiệu quả” [11] Trong

khi đó, trường phái PTCB lại cho rằng bản thân mỗi cổ phiếu có một “giá trị cơbản” Nhà đầu tư cố gắng tìm hiểu những “thông tin cơ bản”- những thông tin vềkinh tế vĩ mô, thông tin ngành, thông tin về công ty và thông tin về cổ phiếu đểxác định giá trị cơ bản này nhằm tìm ra những cổ phiếu đang bị định giá thấp.PTKT khẳng định rằng nhà đầu tư có xu hướng xử xự giống nhau trong nhữngtình huống giống nhau và mọi thứ ảnh hưởng đến giá đã được phản ánh trongchính giá, vì vậy phân tích dữ liệu về giá trong quá khứ có thể dự đoán được giá

cả trong tương lai [17, tr 5, 24, 25]

2.2 Quan điểm xung quanh tốc độ phản ánh thông tin của giá chứng khoán

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng những thông tin mới sẽ ngay lậptức được phản ánh trong giá, trong khi PTKT cho rằng những thông tin này sẽđược phản ánh một cách từ từ trong giá Theo quan điểm của lý thuyết thị trườnghiệu quả, sự thay đổi giá chứng khoán là do có sự xuất hiện của những thông tinmới Tất cả những thông tin mới này được phản ánh ngay vào trong giá, khiếngiá tăng hoặc giảm Do đó, nhà đầu tư không thể dự đoán được giá trị tương lai

Trang 37

của giá Theo quan điểm của lý thuyết này thì dù trong bất cứ thị trường nàoPTKT cũng không thể sử dụng được Ngược lại, những nhà PTKT lại cho rằngnhững thông tin mới trên sẽ được phản ánh một cách từ từ và tạo nên cái gọi là

xu thế Sự xuất hiện của xu thế trên thị trường chứng khoán chính là một bằngchứng sắc bén chống lại thuyết thị trường hiệu quả

2.3 Quan điểm xung quanh phương pháp đầu tư

Mỗi trường phái ủng hộ một phương pháp đầu tư khác nhau Trường pháitheo lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nhà đầu tư không thể dự đoán được xuhướng tiếp theo của thị trường và họ cho rằng danh mục cổ phiếu với dự đa dạnghóa tối đa là phương pháp tối ưu Nhiệm vụ của nhà đầu tư theo trường phái nàyđơn giản chỉ là chọn danh mục cổ phiếu, mua và nắm giữ Đây là phương phápđơn giản và được coi là phương pháp đầu tư bị động vì không có sự lựa chọn cổphiếu một cách kỹ lưỡng

Trong khi đó, trường phái PTCB trở nên chủ động hơn khi những nhà đầu

tư theo trường phái này lựa chọn những cổ phiếu mà họ cho là đang được địnhgiá thấp Họ thường xuyên rà soát lại danh mục của mình và loại bỏ những cổphiếu mà họ xác định là đang được định giá cao ra khỏi danh mục, đồng thời họ

sẽ mua vào những cố phiếu đang được định giá thấp Mặc dù vậy, phương thứcmua và nắm giữ bị động theo trường phái lý thuyết thị trường hiệu quả khôngphải là phương pháp sai hoàn toàn Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, dường như danhmục hình thành theo cách này sẽ chắc chắn thu được lợi nhuận trong khi danhmục chủ động của trường phái PTCB chỉ thu được lãi khi nào họ xác định đúng

cổ phiếu đó là cổ phiếu được định giá thấp mà thôi Nếu nhà đầu tư PTCB địnhgiá sai, họ sẽ phải gánh chịu những khoản lỗ

Còn lại, những nhà PTKT sẽ dựa vào các phân tích và tín hiệu mua và tínhiệu bán từ đồ thị đưa ra để tiến hành giao dịch Phương pháp này có thể giúp dự

Trang 38

đoán giá trong tương lai cũng như xác định thời điểm vào và ra khỏi thị trường.Phân tích kỹ thuật dựa vào phân tích dữ liệu quá khứ (giá, lượng và open interest)của đối tượng sử dụng các ứng dụng kỹ thuật như chỉ báo kỹ thuật, xu hướng, hỗtrợ và kháng cự, các mô hình đảo chiều và tiếp diễn, Fibonacci và các ứng dụngkhác nhằm đưa ra các dấu hiệu mua và bán.

Bảng 11: So sánh phương pháp phân tích cơ bản và phương pháp phân tích

kỹ thuật

Phân tích cơ bản Phân tích kỹ thuật

Đối tượng Nguyên nhân- Các

ra và vào thị trường

Khả năng ứng dụng

Từng chuyên giachuyên môn trong từnglĩnh vực cổ phiếu, vàng,bất động sản, tài sảnphái sinh nên khó dùngchung một kiến thứcứng dụng cho nhiều loạithị trường

Có thể ứng dụng linh hoạtcho nhiều loại thị trường

Khó thay đổi thị trường Linh động trong việc chọn

thị trường đang có xuhướng mạnh nhất để kiếm

Trang 39

lợi nhuận cao nhấtKhả năng liên kết thông

tin giữa các thị trườnghạn chế

Tận dụng được lợi thế liênkết thông tin giữa các thịtrường

Cần một lượng lớn dữliệu và cần nhiều thờigian để phân tích

Phù hợp mọi khoảng thờigian: ngắn, dài và lượng

nó, phân tích thực nghiệm giá cổ phiếu và đưa ra kết luận là giá chứng khoántuân theo “bước đi ngẫu nhiên” Tuy nhiên, chính Fama cũng đưa ra kết luậnrằng lợi tức của cổ phiếu có một sự phụ thuộc nhỏ nào đó chứ không hoàn toànđộc lập Chính vì thế, có thể khẳng định rằng ngay từ lúc xây dựng lý thuyết này,những người sáng lập cũng thừa nhận bản thân lý thuyết tỏ ra không chính xác ởmột số điểm [11]

Ngược lại, cũng có nhiều nghiên cứu của học giả theo trường phái tàichính hành vi đã phản đối thuyết thị trường hiệu quả Điển hình là John MaynardKeynes, ông đã khẳng định rằng hầu hết những quyết định của nhà đầu tư là kết

Trang 40

quả của “những tinh thần động vật –animal spirits” (yếu tố tâm lý) Sau đó nhiềucuộc nghiên cứu của các học giả như Alfred Cowles, Edward Jones, BenoitMandelbrot, Samuelson, Robert J Shiller, Stephen F LeRoy đã chứng minhrằng giá không hoàn toàn ngẫu nhiên và có thể dự đoán được [13], [18]

3 Học thuyết Dow

Hầu hết các chuyên gia phân tích kỹ thuật đều đồng ý rằng “phân tích kỹthuật” xuất phát trước tiên từ ý tưởng của Charles Dow, được đăng lần đầu tiêntrên tạp chí Wall Street Journal vào những năm 90 của thế kỷ 19 Sau đó, ýtưởng đã được nhiều người phát triển và đặt tên là Lý thuyết Dow (Dow Theory)

Lý thuyết này có một số quan điểm chính như sau:

+) Chỉ số phản ánh mọi thứ (The averages discount everything)

Charles Dow cho rằng giá chứng khoán đã thể hiện mọi yếu tố có thể ảnhhưởng đến nó Vì vậy, với việc nghiên cứu biểu đồ giá qua một chuỗi thời gian

cụ thể, nhà đầu tư có thể dự đoán được xu hướng giá trong giai đoạn sau, chứkhông nhất thiết phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của giá Thựcchất, nguyên nhân đó đã được thể hiện trong giá

+) Thị trường có 3 xu thế chính

- Xu thế tăng: những đỉnh và đáy sau cao hơn đỉnh và đáy trước

- Xu thế giảm: các đỉnh và đáy sau thấp hơn đỉnh và đáy trước

- Xu thế ngang: các đỉnh sau tương đương với đỉnh trước và các đáy cũng vậy

Tiếp theo, một xu thế lại chia ra làm ba loại: dài hạn (thường khoảng 1 đếnvài năm), trung hạn (khoảng 3 tuần đến 3 tháng), ngắn hạn (dưới 3 tuần) Trong

đó, các xu thế ngắn hạn kết hợp tạo thành xu thế trung hạn và xu thế dài hạncũng được tạo thành bởi các xu thế trung hạn

Theo Charles Dow, xu thế dài hạn có 3 giai đoạn Đầu tiên là giai đoạntích lũy, đây là giai đoạn mà những nhà đầu tư thông minh nhất thực hiện mua cổ

Ngày đăng: 22/06/2016, 17:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Công ty Chứng Khoán Sài Gòn (2011), Báo cáo tài chính 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính 2010
Tác giả: Công ty Chứng Khoán Sài Gòn
Năm: 2011
[3] Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (2010), Báo cáo Thường niên 2009, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Thường niên2009
Tác giả: Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2010
[4] Tổng cục Thống Kê (2010), Doanh nghiệp Việt nam 9 năm đầu thế kỷ 21, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp Việt nam 9 năm đầu thế kỷ 21
Tác giả: Tổng cục Thống Kê
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2010
[5] Trung tâm Giao dịch Chứng Khoán Hà Nội (2007), Báo cáo thường niên 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên2006
Tác giả: Trung tâm Giao dịch Chứng Khoán Hà Nội
Năm: 2007
[6] Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (2011), “Năm 2010, các tổ chức trung gian mở rộng cơ cấu hoạt động”, 21-01-2011(URL:http://www.ssc.gov.vn/portal/page/portal/ubck/tintuc/1107861?p_page_id=1107861&pers_id=1108311&folder_id=&item_id=26711774&p_details=1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2010, các tổ chức trung gianmở rộng cơ cấu hoạt động
Tác giả: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Năm: 2011
[10] Thomas S. Coe and Kittipong Laosethakul (2010), “Should Individual Investors Use Technical Trading Rules to Attempt to Beat the Market?”, American Journal of Economics and Business Administration, (3), pages. 201- 209 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Should IndividualInvestors Use Technical Trading Rules to Attempt to Beat the Market
Tác giả: Thomas S. Coe and Kittipong Laosethakul
Năm: 2010
[11] Eugene F. Fama (1970), “Efficient capital markets: A review of theory and empirical work”, Journal of Finance, (25), pages. 383-417 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Efficient capital markets: A review of theory andempirical work
Tác giả: Eugene F. Fama
Năm: 1970
[17] John J. Murphy (1999), Technical Analysis of the Financial Markets, New York Institute of Finance, United States of America Sách, tạp chí
Tiêu đề: Technical Analysis of the Financial Markets
Tác giả: John J. Murphy
Năm: 1999
[20] The Stock Exchange of Thailand (2010), Annual Report 2009, Bangkok [21]VCCI (2009), Vietnam Business Annual Report 2008, National Political Publishing House, Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Annual Report 2009", Bangkok[21]VCCI (2009), "Vietnam Business Annual Report 2008
Tác giả: The Stock Exchange of Thailand (2010), Annual Report 2009, Bangkok [21]VCCI
Năm: 2009
[2] Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (2007), Quyết định số 124/QĐ-SGDHCM Khác
[7]. Website của Sở Giao dịch chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh [8]. Website của Sở Giao dịch chứng khoán Hà NộiII. Tài liệu tham khảo bằng Tiếng Anh Khác
[12] International Monetary Fund (2011), GLOBAL FINANCIAL STABILITY REPORT: Durable Financial Stability: Getting There from Here (April 2011), Washington, DC Khác
[13] Stephen F. LeRoy and William R. Parke (1992), Stock price volatility: Tests based on the geometric random walk, American Economic Review, (82), 981—992, 1992 Khác
[14] Stephen F. LeRoy (1976), Efficient capital markets: Comment, Journal of Finance, (31), pages. 139—141 Khác
[15] Lukas Menkhoff (2010), The Use of Technical Analysis by Fund Managers Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Tên bảng Trang - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
ng Tên bảng Trang (Trang 5)
Hình thức - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hình th ức (Trang 16)
Bảng 5: Toàn cảnh các thị trường chứng khoán thế giới 2008 - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 5 Toàn cảnh các thị trường chứng khoán thế giới 2008 (Trang 23)
Bảng 6: Tổng giá trị vốn hóa thị trường của một số TTCK trên thế giới năm 2009 - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 6 Tổng giá trị vốn hóa thị trường của một số TTCK trên thế giới năm 2009 (Trang 28)
Bảng 9: Tổng khối lượng giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010 - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 9 Tổng khối lượng giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010 (Trang 31)
Bảng 10: Tổng giá trị giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010 - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 10 Tổng giá trị giao dịch trên sàn HOSE giai đoạn 2000-2010 (Trang 32)
Bảng 12: Định nghĩa, công thức và đặc điểm của MA, RSI và Stochastic - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 12 Định nghĩa, công thức và đặc điểm của MA, RSI và Stochastic (Trang 56)
Bảng 13: Thời điểm các chỉ báo MA, RSI và Stochastic đưa ra tín hiệu mua và bán - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 13 Thời điểm các chỉ báo MA, RSI và Stochastic đưa ra tín hiệu mua và bán (Trang 60)
Bảng 14: Kết quả phân tích thực nghiệm - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 14 Kết quả phân tích thực nghiệm (Trang 66)
Bảng 16: Những tín hiệu mua-bán Stochastic (20,3,3) không được giao dịch - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 16 Những tín hiệu mua-bán Stochastic (20,3,3) không được giao dịch (Trang 79)
Bảng 15: Những tín hiệu mua-bán Stochastic (9,3,3) đưa ra không được giao dịch - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 15 Những tín hiệu mua-bán Stochastic (9,3,3) đưa ra không được giao dịch (Trang 79)
Bảng 2: Kết quả sử dụng MA 50 - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 2 Kết quả sử dụng MA 50 (Trang 87)
Bảng 5: Kết quả sử dụng RSI 14 - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 5 Kết quả sử dụng RSI 14 (Trang 88)
Bảng 4: Kết quả sử dụng RSI 9 - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 4 Kết quả sử dụng RSI 9 (Trang 88)
Bảng 8: Kết quả sử dụng Stochastic 20 - Luận văn: Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong phân tích thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Bảng 8 Kết quả sử dụng Stochastic 20 (Trang 90)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w