1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUẢN lý NHÀ nước về đào tạo LIÊN THÔNG GIÁO dục NGHỀ NGHIỆP GIÁO dục đại học đáp ỨNG yêu cầu xây DỰNG xã hội học tập

27 376 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 494,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH là tạo lập môi trường giáo dục liên tục và hành lang pháp lý cùng các điều kiện đảo bảo chất lượng đào tạo, tạo điều kiện tốt nhất để người học t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 62 14 01 14

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Hà Nội – 2016

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Ngô Quang Sơn

Có thể tìm hiểu luận án tại

- Thư viện Quốc gia Hà Nội,

- Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

- Phòng Tư liệu Trường Đại học Giáo dục

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Phát triển nguồn nhân lực là

cấp bách, mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Nghị quyết số 29-NQ/TW

ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT

đã khẳng định: “ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước

và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”

Sự phát triển của khoa học và công nghệ làm cho nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đã được đào tạo bị lạc hậu nhanh chóng Người lao động muốn giữ được việc làm thì phải học tập và học tập liên tục, học tập suốt đời, GD&ĐT phải được

tổ chức trong một xã hội học tập, tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người học tập suốt đời

Những thay đổi về kinh tế-xã hội, toàn cầu hóa và tiến bộ của khoa học, sự phát triển của kinh tế tri thức, quá trình chuyển dịch cơ cấu nhân lực trong nước, quốc tế, đòi hỏi nguồn nhân lực phải thường xuyên được đào tạo và cập nhật kỹ năng làm việc với một trình độ cao hơn Hiện nay, ở nước ta, đa số học sinh sau khi tốt nghiệp THPT đều mong muốn được vào học GDĐH mà không muốn đi vào con đường GDNN, do đó cần xây dựng một hệ thống đào tạo liền mạch, thông suốt giữa GDNN với GDĐH nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân

Bước sang thế kỷ 21, xu hướng GDĐH chuyển từ “tinh hoa” sang “đại chúng”, từ hướng

“học một lần cho suốt cả cuộc đời” sang hướng “học thường xuyên, suốt đời”, “mọi người được học tập, học thường xuyên, học suốt đời” Để đáp ứng cho “xã hội học tập” và “ con người học tập suốt đời” thì phải có một nền “giáo dục suốt đời”

ĐTLT là phương thức đào tạo đáp ứng cao nhất các yêu cầu nói trên do có sự chuyển tiếp kết quả học tập của người, rút ngắn thời gian học tập để có được trình độ mong muốn

Thực tế đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đang gặp nhiều vướng mắc, công tác quản lý nhà nước về ĐTLT còn nhiều bất cập, không hiệu quả Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án về liên thông và ĐTLT, quản lý hệ thống giáo dục , song cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học, luận án nào đi sâu nghiên cứu quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về ĐTLT, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:Công tác quản lý nhà nước hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam 3.2 Đối tượng nghiên cứu:Quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo GDNN-GDĐH đáp ứng yêu

cầu xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam

4 Giả thuyết khoa học

Đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở nước ta có ý nghĩa to lớn và cấp thiết, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và đáp ứng nhu cầu học suốt

Trang 4

đời của người dân Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam công tác quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đang gặp nhiều vướng mắc, bất cập, không hiệu quả Vì vậy, nếu nghiên cứu tìm

ra được những giải pháp quản lý nhà nước dựa trên tiếp cận quản lý chức năng-mục tiêu và phù hợp với thực tiễn giáo dục về chính sách và thể chế, về kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo, đổi mới công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra… thì sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam, góp phần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục&đào tạo, xây dựng xã hội học tập

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Hệ thống hóa và góp phần phát triển cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục &đào tạo, xây dựng xã hội học tập; (2) Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác đào tạo và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH hiện nay ở Việt Nam; (3) Đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập; (4) Lấy ý kiến khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đề xuất; thử nghiệm một số giải pháp

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài giới hạn nghiên cứu về đào tạo liên thông dọc GDNN-GDĐH; Quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH, trong đó chủ yếu là công tác quản lý nhà nước về GD của Bộ GD&ĐT và đi sâu vào các nội dung có tính đặc thù của quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH Việc khảo sát & đánh giá thực hiện ở một số cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề, một số vụ chức năng của Bộ GD&ĐT; ở một số trường TCCN, CĐN, CĐ và ĐH có triển khai đào tạo và quản lý đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

7 Phương pháp nghiên cứu

(1) Phương pháp nghiên cứu lý luận (nghiên cứu các tài liệu, phân tích, đánh giá, tổng hợp các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã công bố, các sách báo, thông báo khoa học, các văn bản pháp qui.v.v ); (2) Phương pháp nghiên cứu thực tiễn (phương pháp điều tra, khảo sát, trao đổi, đàm thoại, tổng kết kinh nghiệm, khảo nghiệm và thử nghiệm; (3) Phương pháp khác (phương pháp chuyên gia, thống kê toán học)

8 Đóng góp mới của luận án

(1) Hệ thống hóa và phát triển những cơ sở lý luận liên thông và đào tạo liên thông; quản

lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH Xây dựng khung lý luận quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH; (2) Xác định được thực trạng đào tạo và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH; (3) Đề xuất các giải pháp khả thi, đồng bộ và có hiệu quả trong quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH, góp phần xây dựng xã hội học tập

9 Luận điểm bảo vệ

(1) Liên thông các bậc trình độ đào tạo trong HTGD là một trong các thuộc tính của HTGD quốc dân thống nhất Đào tạo liên thông GDNN-GDĐH là quy luật tất yếu, đáp ứng nguồn nhân lực đa dạng, chất lượng theo yêu cầu phát triển KT-XH và xây dựng xã hội học tập; (2) Thực trạng đào tạo và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam còn nhiều khó khăn, bất cập, hạn chế, không hiệu quả Muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo liên thông GDNN-GDĐH trong HTGD quốc dân thì cần phải đổi mới và hoàn thiện các mặt quản lý nhà nước về đào tạo liên thông theo tiếp cận quản lý dựa trên chức năng-mục tiêu quản lý; (3) Quản lý

Trang 5

nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH là tạo lập môi trường giáo dục liên tục và hành lang pháp lý cùng các điều kiện đảo bảo chất lượng đào tạo, tạo điều kiện tốt nhất để người học thực hiện được nguyện vọng phù hợp với nhu cầu xã hội, hội nhập với GDNN và GDĐH các nước trong khu vực và trên thế giới; (4) Các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH có

cơ sở khoa học&thực tiễn và có tính cần thiết, khả thi cao Kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm một số giải pháp đã bước đầu kiểm chứng được tính đúng đắn của giả thuyết khoa học

10 Cấu trúc của luận án

Gồm phần mở đầu; nội dung; kết luận và kiến nghị; tài liệu tham khảo; phụ lục Nội dung luận án gồm 3 chương: Chương 1 - Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; Chương 2 - Thực trạng đào tạo liên thông và quản lý nhà nước

về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ở Việt Nam - Kinh nghiệm quốc tế; Chương 3 - Các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đáp ứng yêu

cầu xây dựng xã hội học tập

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG

GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề đào tạo và quản lý đào tạo liên thông

1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước

Trên thế giới, ĐTLT được thực hiện ở nhiều quốc gia, các chuyên gia về giáo dục quốc tế

đã có các nghiên cứu về ĐTLT Ở Mỹ, trong lịch sử ĐTLT thường gắn với tên tuổi Giáo sư

William R Harper (1856-1906), Viện trưởng Viện đại học Chicago đã chia chương trình đào tạo

4 năm của đại học Chicago thành hai cấp, 2 năm đầu (Lower Division) và 2 năm cuối (Upper Division) Nhờ liên thông và chuyển tiếp nên người học sau khi hoàn thành 2 năm ở Junior College, không những được ra trường làm việc phù hợp với khả năng và ngành nghề mà còn có

cơ hội học tiếp ở các đại học 4-năm (học tiếp Upper Division, còn gọi là Senior) Hiện nay ở Mỹ,

việc đào tại liên thông mỗi nơi có cách làm riêng theo luật định của từng tiểu bang Theo một nghiên cứu do Ủy ban Giáo dục của các Bang (Education Commission of the States – 2001) cho thấy hơn 50% sinh viên sau trung học phổ thông (post-secondary) nhập học trong các đại học ngắn hạn 2 năm và trong số đó nhiều sinh viên tiếp tục theo học các chương trình liên thông ở trong các viện đại học 4 năm

Ở Canada, ĐTLT cũng tiến hành từ giữa những năm 60 với các hình thức tương tự như Hoa

Kỳ Một công trình nghiên cứu có tiêu đề: “An Examination of the Barriers to Articulation Agreements Between Colleges and Universities in Ontario” (Daniell Renaud, 2000) đã xác định những “rào cản” đối với ĐTLT

Ở Australia, nghiên cứu về ĐTLT, với công trình “Smoother Pathways from TAFE to Higher Education”, Amanda Pearce và các đồng nghiệp sau khi phân tích những vấn đề về ĐTLT, những tồn tại đã đưa ra khuyến cáo một chiến lược ĐTLT

Tổ chức UNESCO trong tiêu chuẩn phân loại giáo dục đã chỉ ra 7 mức của trình độ đào tạo và cho thấy liên thông trong đào tạo cần đi theo một trật tự và theo luồng cần thiết, nhằm nâng cao tính kinh tế và chất lượng trong đào tạo nhân lực

Trang 6

Các công trình nghiên cứu về ĐTLT ở nước ngoài cho thấy ĐTLT đã mang lại hiệu quả to lớn, ở mỗi nước có cách làm với những đặc điểm riêng phù hợp với điều kiện của từng nước, mặt khác đa số các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu quan tâm nhiều hơn đến quản lý quá trình đào tạo và các yếu tố kỹ thuật trong ĐTLT mà ít quan tâm đến quản lý nhà nước do các cơ sở đào tạo được phân cấp rất cao Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về ĐTLT ở nước ngoài đã cho thấy những vấn đề quan trọng cần được quan tâm trong ĐTLT: Hệ thống tiêu chuẩn các trình

độ đào tạo, chuẩn chương trình ĐTLT; Sự phối hợp, thỏa thuận từ trước giữa các cơ sở ĐTLT; Vai trò của kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo trong ĐTLT; Giám sát và báo cáo trong ĐTLT

1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước

(1) Công trình nghiên cứu của Đỗ Công Vịnh, năm 1997, “Sự khác biệt và liên thông giữa hai cấp đại học và cao đẳng trong giáo dục đại học” Đề tài cấp Bộ đã phân tích một số điểm khác biệt, bất hợp lý về chương trình đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo giữa hai cấp học và đưa ra chương trình ĐTLT từ CĐ lên ĐH đối với ngành Sư phạm Tuy nhiên, chưa khái quát hệ thống về ĐTLT, chưa chỉ ra vai trò, trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng và trách nhiệm của các bên liên quan trong mối liên kết ĐTLT; (2) Năm 2001, Bộ GD&ĐT tổ chức hội thảo khoa học về ĐTLT, đã xây dựng kế hoạch tổng thể về liên thông dọc từ THCN- CĐ- ĐH ở một số ngành; (3) Năm 2006 luận án Tiến sĩ “Xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật”, do NCS Nguyễn Xuân Mai thực hiện tại ĐH Quốc gia Hà Nội; (4) Năm 2009 luận án Tiến sĩ “ Tổ chức quản lý đào tạo liên thông của trường cao đẳng cộng đồng trong điều kiện Việt Nam” do NCS Ngô Tấn Lực thực hiện tại ĐH Quốc gia Hà Nội, đã phân tích lịch sử đào tạo liên thông, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý quá trình ĐTLT ở trường cao đẳng cộng đồng, đề xuất các giải pháp tổ chức quản lý ĐTLT tại trường cao đẳng cộng đồng trong điều kiện Việt Nam; (5) Tác giả Trần Khánh Đức trong các công trình nghiên cứu của mình (giai đoạn 2000-2010) cũng đã thể hiện các quan điểm, xu hướng, đặc trưng, các loại hình, liên thông giữa GDPT và GDNN, giữa GDNN với GDĐH; (6) Năm 2013 một đề tài khoa học cấp

bộ về “Giải pháp phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam”, do TS

Đỗ Thị Bích Loan làm chủ nhiệm đề tài Công trình nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận liên quan đến liên thông trong giáo dục; (7) Trong giai đoạn 2012-2014 đã triển khai đề tài cấp Bộ về

“Liên thông và liên kết trong đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học Sư phạm” do

TS Nguyễn Thị Lam Hồng làm chủ nhiệm Đề tài đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận&thực tiễn và các giải pháp tăng cường liên thông và liên kết trong đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học Sư phạm.

Các công trình nghiên cứu về ĐTLT ở trong nước nghiên cứu công phu nhưng chủ yếu quan tâm đến các mô hình, loại hình ĐTLT mà chưa đề cập sâu đến công tác quản lý nhà nước về ĐTLT ở cấp quản lý vĩ mô Đặc biệt, chưa chỉ ra được trách nhiệm, nội dung quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng và các bên liên quan trong quản lý nhà nước về ĐTLT ở cấp hệ thống

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Đào tạo: là quá trình chuyển giao có hệ thống tri thức, kỹ năng và thái độ thông qua mục tiêu,

nội dung, phương pháp đào tạo và kinh nghiệm sống của người dạy nhằm hình thành ở người học những phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn-nghề nghiệp, khả năng tự lập trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp, hòa nhập trong cộng đồng xã hội

Trang 7

1.2.2 Đào tạo liên thông: là quá trình đào tạo cho phép công nhận, miễn trừ và chuyển đổi kết quả

học tập và rèn luyện của người học từ một trình độ này tới một hay một số trình độ khác hoặc trong các ngành khác nhau của cùng một trình độ thuộc hệ thống giáo dục và đào tạo

1.2.3 Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục đại học

(1) Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; (2) Giáo dục đại học là một phân hệ của hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm các trình độ đào tạo đại học, thạc sĩ và tiến sĩ với mục tiêu đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-

xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế

1.2.4 Quản lý và quản lý nhà nước về giáo dục

(1) Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan; (2) Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; (3) Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động có tổ chức

và có sự điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo đục do các cơ quan quản

lý giáo dục của nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước trao quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục, duy trì kỷ cương, thoả mãn nhu cầu giáo dục của nhân dân, thực hiện mục đích và các mục tiêu giáo dục quốc gia

1.3 Xã hội học tập và đào tạo liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân

1.3.1 Đặc điểm của xã hội học tập và triết lý học tập suốt đời

Triết lý của giáo dục thể kỷ XXI có những thay đổi lớn, đó là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là “học để biết, học để làm, học

để làm người và học để cùng chung sống với nhau”, nhằm hướng tới xây dựng một “xã hội học tập” Mô hình tổng quát của xã hội học tập bao gồm: (1) Hệ thống giáo dục ban đầu với các ngành học từ nhà trẻ, mẫu giáo đến GDPT, GDNN và GDĐH, gọi là hệ thống giáo dục chính quy trong nhà trường Các mối quan hệ liên thông giữa các bậc học, cấp học, loại hình đào tạo, loại hình trường được bảo đảm; (2) Hệ thống giáo dục tiếp tục, giáo dục ngoài xã hội gồm những trường lớp, những tổ chức học tập theo phương thức giáo dục không chính quy hoặc phi chính quy

1.3.2 Đào tạo liên thông và xây dựng xã hội học tập

Cách mạng khoa học và công nghệ làm cho nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất

đi, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đã được đào tạo bị lạc hậu nhanh chóng, người lao động phải học tập và học tập suốt đời, hệ thống giáo dục phải tổ chức một xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội học tập suốt đời

Ngày nay, giáo dục đại học từ “tinh hoa” chuyển sang “đại chúng”, từ hướng “học một lần cho suốt cả cuộc đời” sang hướng “học thường xuyên suốt đời” Vì vậy, giáo dục đào tạo phải tổ chức một xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội học tập suốt đời Hệ thống giáo dục phải tạo điều kiện liên thông dễ dàng giữa các trình độ đào tạo, giữa các chương trình học sao cho mỗi người có thể dễ dàng tham gia chương trình phù hợp nhất với khả năng của mình

Trang 8

1.3.3 Các loại hình đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Đào tạo liên thông GDNN-GDĐH có các loại hình chủ yếu: (1) Đào tạo liên thông dọc: liên thông giữa các chương trình đào tạo ở các bậc trình độ, đào tạo tiếp tục để cấp cho người học văn bằng có trình độ cao hơn cùng ngành nghề; (2) Đào taọ liên thông ngang: liên thông giữa các chương trình đào tạo, các ngành, chuyên ngành ở cùng một bậc trình độ, là đào tạo tiếp tục để cấp cho người học văn bằng thứ hai; (3) Đào tạo liên thông chéo: liên thông giữa các chương trình đào tạo khác bậc trình độ, khác ngành đào tạo, là đào tạo tiếp tục để cấp cho người học văn bằng có trình độ cao hơn hoặc thấp hơn khác ngành với văn bằng đã có; (4) Đào tạo liên thông ngược: liên thông để nhận bằng cấp thấp hơn khác ngành nhằm đáp ứng nhu cầu kịp thời của người học

1.4 Đào tạo liên thông với phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế

1.4.1 Đào tạo liên thông góp phần chuyển đổi cơ cấu nhân lực quốc gia

Liên thông dọc và liên thông ngang là yêu cầu khách quan CNH, HĐH, là yêu cầu chính đáng của người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có thể tiếp tục học tập nâng cao trình độ, chuyển đổi nghề Nhiệm vụ của hệ thống đào tạo là phải có một hệ thống mở, thiết kế mền dẻo để người học có thể chuyển đổi từ luồng này sang luồng khác, từ ngành này sang ngành khác mà không phải học lại từ đầu Thực hiện ĐTLT có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng to lớn đến hệ thống giáo dục quốc dân, chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

1.4.2 Đào tạo liên thông trước yêu cầu phát triển của khoa học và công nghệ

Sự thay đổi của khoa học diễn ra nhanh chóng và có tác động rất lớn đến GD&ĐT, đòi hỏi

hệ thống GD&ĐT không chỉ nhằm đạt mục tiêu hiện tại mà còn phải hướng đến những mục tiêu tương lai, đòi hỏi người lao động phải được nâng cao trình độ đáp ứng với yêu cầu việc Những thay đổi này diễn ra thường xuyên nên người lao động phải có động cơ học tập (learning motivation) thường trực và hệ thống GD&ĐT phải có những thay đổi để đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân Sự thay đổi của khoa học là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến thị trường lao động làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu trình độ đào tạo trong hầu hết các lĩnh vực Hệ thống GD&ĐT phải có những điều chỉnh về cơ cấu trình độ, loại hình, phương thức giáo dục và chương trình giáo dục phù hợp với những thay đổi trên

1.4.3.Đào tạo liên thông trước yêu cầu của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Toàn cầu hoá sẽ thúc đẩy việc tạo ra một lực lượng lao động toàn cầu (global workforce)

Để tăng cường năng lực cạnh tranh trong lực lượng lao động toàn cầu, Việt Nam rất cần lao động

có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Giáo dục với việc học suốt đời là vấn đề cấp bách trước làn sóng của toàn cầu hoá Một trong những biểu hiện đặc trưng của lực lượng lao động toàn cầu là tính chuẩn hoá về năng lực Điều này có nghĩa là bằng cấp phải phản ánh đúng năng lực của người học tương đương với trình độ quốc tế và khu vực được thừa nhận trong văn bằng Muốn vậy, mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy-học, đo lường đánh giá kết quả cần hướng đến sự chuẩn hoá để người lao động được đào tạo có thể làm việc trong môi trường có tính toàn cầu cao

1.5 Cơ sở khoa học về đào tạo và quản lý đào tạo liên thông trong giáo dục

1.5.1 Cơ sở Tâm lý học nghề nghiệp

Tâm lý học hướng nghiệp, tuyển chọn, đào tạo nghề nghiệp, đó là: Các nghề và yêu cầu của mỗi

Trang 9

nghề; Thị trường lao động; Đặc điểm cá nhân, đó là cơ sở tiến hành các quá trình: Giáo dục-tuyền truyền hướng nghiệp; Tư vấn nghề; Tuyển chọn vào đào tạo/vào làm nghề Tâm lý học nghề nghiệp là cơ sở quan trọng cho hướng nghiệp, tuyển chọn phù hợp nghề vào đào tạo có hiệu quả,

là cơ sở giúp di chuyển nghề/chuyên môn trong quá trình đào tạo cho phù hợp hơn với năng lực và đáp ứng yêu cầu/ nhu cầu thị trường lao động, tức là cơ sở cho liên thông trong đào tạo

1.5.2 Cơ sở Tâm lý học xã hội

Tâm lý học xã hội nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của các nhóm người trong xã hội và sự tác động tâm lý ảnh hưởng lẫn nhau trong các nhóm; các trào lưu tâm lý của xã hội ở trong nước

và thế giới cũng như những tác động qua lại của những trào lưu đó Liên thông trong đào tạo cần chú ý những quy luật của tâm lý học xã hội: Sự lây lan, bắt chước, đua theo nhóm, chạy theo

“mốt” của học sinh trong chọn ngành nghề; Định kiến và dư luận xã hội có tác động lớn đế tâm lý học sinh trong quá trình lựa chọn hướng học và hành nghề tức là ảnh hưởng mạnh đến liên thông trong đào tạo; Hội nhập quốc tế trong môi trường “thế giới phẳng” nên các xu hướng, kinh nghiệm của các nước trên thế giới về liên thông đào tạo là những bài học kinh nghiệm quý cho chúng ta

1.5.3 Cơ sở Giáo dục học

ĐTLT là một quá trình giáo dục, chịu sự chi phối của các nguyên tắc, quy luật giáo dục học Các loại hình ĐTLT phổ biến trong hệ thống giáo dục là: Liên thông dọc; Liên thông ngang; Liên thông chéo; Liên thông ngược Để tạo điều kiện cho người lao động có thể học suốt đời, phải có một hệ thống đào tạo mềm dẻo, linh hoạt Chương trình ĐTLT cần được thể hiện ở đa mục tiêu, nhiều đầu vào, nhiều đầu ra, nhiều trình độ kế tiếp nhau, mỗi trình độ là một đầu ra để vào đời lao động, đồng thời cũng là đầu vào của trình độ cao hơn ĐTLT mở ra nhiều con đường và tạo ra nhiều cơ hội cho người học có thể học suốt đời để nâng cao trình và chuyển đổi nghề

1.5.4.Cơ sở kinh tế học giáo dục

ĐTLT trở nên cấp thiết ngoài việc đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, nó còn là một cách để sử dụng các nguồn lực xã hội hiệu quả hơn phục vụ cho giáo dục và đào tạo, chi phí của người học giảm, hiệu quả đào tạo tăng lên Nhờ sự liên thông giữa các bậc học mà các trường có điều kiện phát triển mạnh hơn Các trường bậc học dưới sẽ có nhiều cơ hội tuyển sinh mở rộng quy mô, nâng cao chất lương, hiệu quả đào tạo, tương tự các trường bậc cao lại có được nguồn tuyển sinh lớn hơn từ những người tốt nghiệp ở bậc học dưới và có điều kiện hơn để cải thiện chất lượng đào tạo Để đảm bảo hiệu quả kinh tế trong GD&ĐT đòi hỏi phải xây dựng chính sách, xây dựng chương trình, tổ chức và quản lý ĐTLT để tiết kiệm nguồn lực, sử dụng các nguồn lực hợp

lý, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống

1.6 Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp- giáo dục đại học

Theo quy định của Luật giáo dục nội dung quản lý nhà nước về giáo dục nói chung gồm có

12 nội dung công việc quản lý, trong đó các nội dung có tính đặc thù của quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH bao gồm các nội dung sau: (1) Hoạch định chính sách, ban hành và

tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH; (2) Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo liên thông GDNN-GDĐH; (3) Tổ chức quản lý việc đảm bảo chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH; (4) Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý đào tạo liên thông GDNN-GDĐH; (5) Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển đào tạo liên thông

Trang 10

GDNN-GDĐH; (6) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục, giải quyết khiếu nại, kiến nghị, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật giáo dục về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 đã phản ánh kết quả nghiên cứu về cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ĐTLT là loại hình đào tạo có nhiều ưu điểm và được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam ĐTLT là chủ trương của nhà nước trong công cuộc đổi mới hệ thống giáo dục hiện nay Đào tạo liên thông GDNN-GDĐH là yêu cầu tất yếu khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho CNH, HĐH đất nước và nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân, đông thời phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục của thế giới Việc nghiên cứu quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập là yêu cầu cấp thiết khi nước ta đang trong giai đoạn CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng cao mới có thể đáp ứng được những yêu cầu mới Đặc biệt, qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận ở chương 1 đã làm sáng tỏ đặc trưng, xu hướng bản chất của ĐTLT và những đặc điểm, nội dung của quản lý giáo dục, quản lý nhà nước về ĐTLT làm cơ

sở cho việc khảo sát-đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập ở các chương tiếp theo

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG

GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

- KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 2.1 Đặc điểm cơ cấu giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

2.1.1 Cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp bao gồm Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề Dạy nghề gồm có

Sơ cấp nghề; Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề Giáo dục nghề nghiệp có các hình thức: Chính quy; Vừa làm vừa học và Tự học có hướng dẫn Hệ thống trường có trường thuộc Bộ, ngành và trường thuộc tỉnh Loại hình trường có trường công lập và trường tư thục Hiện tại đang có hai cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp là Bộ GD&ĐT và Bộ LĐ-TB&XH; Năm học 2014-2015 cả nước có 295 trường TCCN (175 trường công lập và 120 trường tư thục) với qui mô đào tạo là 349.651 học sinh; Có 301 trường TCN với qui mô đào tạo là 132.651 học sinh và có

171 trường CĐN với qui mô đào tạo là 87.988 sinh viên

2.1.2 Cơ cấu hệ thống giáo dục đại học

Giáo dục đại học bao gồm đào tạo các trình độ đào tạo: Cao đẳng, Đại học, Thạc sỹ và

Tiến sỹ Giáo dục đại học có các hình thức: Giáo dục chính quy; Vừa làm vừa học; Học từ xa Hệ thống trường có trường thuộc Bộ, ngành và trường thuộc tỉnh Loại hình trường có trường công lập và trường tư thục Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm quản lý nhà nước giáo dục đại học; Năm học 2014-2015 cả nước có 219 trường đại học (158 trường công lập và 60 trường tư thục), qui mô đào tạo là 1.824.328 sinh viên; Có 217 trường cao đẳng (189 trường công lập và 28 trương tư thục), qui mô đào tạo 539.614 sinh viên Có 159 cơ sở đào tạo sau đại học, trong đó có 121 cơ sở đào tạo tiến sĩ và 100 cơ sở đào tạo trinh độ thạc sĩ

Trang 11

2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng

2.2.1 Mục đích khảo sát: Để có số liệu đánh giá thực trạng một cách khách quan về ĐTLT, quản

lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN và GDĐH đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập

2.2.2 Đối tượng kháo sát: Cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục; Cán bộ quản lý các

cấp, giảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên các cơ sở GDNN và GDĐH có tham gia ĐTLT

2.2.3 Nội dung khảo sát: Nội dung liên quan đến đào tạo liên thông và quản lý nhà nước về đào

tạo liên thông GDNN-GDĐH

2.2.4 Phương pháp khảo sát: Sử dụng các mẫu phiếu điều tra để khảo sát, với 10 mẫu phiếu khác

nhau cho 6 loại đối tượng

2.2.5 Địa điểm khảo sát: Một số cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo, một số cơ sở đào

tạo của GDNN và GDĐH có tham gia đào tạo liên thông

2.3 Thực trạng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam

2.3.1 Quá trình triển khai các loại hình đào tạo liên thông

Trước năm 1975, Miền Bắc theo mô hình đại học chuyên ngành, việc liên thông diễn ra dưới hình thức tổ chức các lớp chuyên tu; Trong khi đó giáo dục đại học ở Miền Nam áp dụng theo

mô hình các viện đại học đa ngành của Viện đại học Đông Dương do Pháp để lại từ ngày thành lập,

năm 1906 ở Hà Nội và chuyển một số bộ phận vào Nam sau Hiệp định Genève, năm 1954 Áp dụng

theo mô hình giáo dục đại học của Pháp và sau này là theo mô hình đại học đa lĩnh vực của Mỹ, đào tạo theo học chế chứng chỉ Một số chứng chỉ được chấp nhận chuyển tiếp để vào học một số trường đại học khác

Sau giải phóng, việc ĐTLT tiếp tục được thực hiện dưới hình thức đào tạo chuyên tu, hoàn chỉnh Từ khi Luật Giáo dục năm 1998 được ban hành đã không còn tồn tại loại hình chuyên tu, tuy nhiên, một số trường đại học vẫn cho phép sinh viên vào học và miễn trừ một số môn đã học

ở một ngành khác và thời gian học được rút ngắn Một số trường ĐTLT dưới sự chấp thuận của

Bộ GD & ĐT, tuyển học sinh không đủ điểm vào đại học, tuyển vào hệ CĐ ngay tại trường Những học sinh này phải học xong bằng CĐ mới được chuyển lên học ĐH Từ năm 1986, vấn

đề liên thông đã được đặt ra, nhất là khi thực thi chương trình giáo dục hai giai đoạn Tuy vậy,

từ năm học 1998-1999 không còn đào tạo hai giai đoạn, việc liên thông giữa giáo dục đại cương và chuyên nghiệp đã trở thành bình thường Một số trường thực hiện liên thông dưới hình thức cấp bằng thứ hai, hoặc tiếp tục được đào tạo cấp bằng đại học chuyên tu, tại chức

Năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế và triển khai thí điểm ĐTLT Đến năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế và triển khai đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đại trà trên cả nước Năm học 2013-2014 đã có 42 trường đại học và trên 100 trường cao đẳng tổ chức tuyển sinh đào tạo liên thông

2.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam

Để có số liệu về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH, luận án đã sử dụng 4 mẫu phiếu hỏi cho các đối tương là cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên, học sinh các cơ sở ĐTLT về các nội dung: Nhu cầu học liên thông; Sự lựa chọn loại hình học liên thông; Đánh giá về vai trò, ý nghĩa của ĐTLT; Những khó khăn khi học liên thông; Những khó khăn của nhà trường khi triển khai ĐTLT; Mức độ đáp ứng nguyện vọng của các loại hình ĐTLT Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu học liên thông của người học rất lớn nhưng ĐTLT đang gặp nhiều khó khăn do các quy định về

Trang 12

ĐTLT có nhiều nội dung chưa phù hợp, chương trình đào tạo và chương trình ĐTLT được thiết kế rất khác nhau, sự phối hợp của các cơ sở ĐTLT còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng yêu cầu thực tế

2.4 Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ở Việt Nam

2.4.1 Về hoạch định chính sách, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

Năm 2001, Bộ GD&ĐT đã triển khai việc xây dựng chính sách đào tạo liên thông GDĐH, đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng chương trình đào tạo liên thông Năm 2002, Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết định số 49/2002/QĐ-BGD&ĐT, "Quy định tạm thời về đào tạo liên thông Dạy nghề, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học” và thí điểm triển khai ĐTLT, trong đó có quy hoạch mạng lưới, cơ cấu các ngành ĐTLT, trình độ ĐTLT và quy mô ĐTLT Năm 2008, Bộ GD&ĐT ban hành quyết định số 06/2008/QĐ-BGDĐT “Ban hành quy định đào tạo liên thông trình độ Cao đẳng, Đại học”, triển khai đại trà đào tạo liên thông GDNN-GDĐH Năm 2010, Bộ GD&ĐT phối hợp với Bộ LĐTB&XH ban hành thông tư liên tịch số 27/2010/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH, “Hướng dẫn đào tạo liên thông từ trình độ Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề lên trình độ Cao đẳng và Đại học” Năm 2012, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư

GDNN-số 55/2012/TT-BGDĐT Quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học Năm 2015, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 08/2015/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư

số 55/2012/TT-BGDĐT nói trên Ngoài ra, Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy

và công văn khác để chỉ đạo, hướng dẫn về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

Thống kê trên cho thấy chính sách ĐTLT đã được ban hành thông qua hệ thống các văn bản pháp quy Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định về chuẩn trình độ đào tạo, chưa có các quy định về sự thảo thuận và thống nhất các nội dung của các cơ sở ĐTLT trước khi triển khai ĐTLT, v.v

2.4.2 Về quy định mục tiêu và nội dung, chương trình đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

Giai đoạn 2001-2010 Bộ GD&ĐT đã tổ chức xây dựng khung chương trình đào tạo liên thông GDNN-GDĐH của một số ngành đào tạo và triển khai áp dụng, về cơ bản đã tạo sự thống nhất về mục tiêu, nội dung chương trình trong ĐTLT, làm cơ sở để các trường xây dựng chương trình ĐTLT cho các ngành đào tạo của từng trường, đồng thời làm cơ sở cho công tác kiểm tra, quản lý và giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước Tuy nhiên, số lượng các chương trình ĐTLT ở các trình độ được xây dựng còn thiếu nhiều so với nhu cầu thực tế, hơn nữa trong quá trình xây dựng cũng không huy động được nhiều các cơ sở đào tạo trong nhóm ngành tham gia, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục là Bộ GD&ĐT với Bộ LĐTB&XH cùng các Bộ, ngành chuyên môn dẫn đến việc xây dựng không theo những nguyên tắc

và chuẩn mực chung, không căn cứ vào chuẩn đầu ra dựa trên năng lực cần đạt được của người học sau khi kết thúc khóa học, không phù hợp với đối tượng đầu vào đa dạng, do đó chất lượng các chương trình được xây dựng còn hạn chế, hiệu quả sử dụng chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn

2.4.3 Về quản lý đảm bảo chất lượng đào tạo và kiểm định chất lượng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

Để quản lý chất lượng ĐTLT trong giai đoạn thí điểm, Bộ GD&ĐT đã phê duyệt cụ thể đối với từng trường về số lượng chỉ tiêu ĐTLT, ngành ĐTLT, trình độ ĐTLT, chương trình ĐTLT

Trang 13

Từ năm 2008, ĐTLT được triển khai đại trà trên cả nước, để quản lý chất lượng ĐTLT, Bộ GD&ĐT đã có các quy định và yêu cầu các trường tổ chức ĐTLT phải thực hiện như nguyên tắc xác định chỉ tiêu, báo cáo tự đánh giá, tổ chức đào tạo theo tín chỉ, phê duyệt ĐTLT vượt cấp Tuy nhiên, chất luợng đào tạo giữa các bậc trình độ trong hệ thống GDNN và GDĐH là cơ sở cho quá trình đào tạo liên thông GDNN-GDĐH lại rất nhau, trong khi chương trình đào tạo và chương trình ĐTLT lại thiếu tính thống nhất và không được kiểm định cả về chương trình đào tạo và cơ sơ đào tạo, các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, quản lý đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng rất khác nhau, do đó việc quản lý đảm bảo chất lượng ĐTLT còn nhiều bất cập

2.4.4 Về công tác tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo, cán bộ quản lý đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

Để triển khai ĐTLT, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều hội thảo về ĐTLT để tuyên truyền và bồi dưỡng cho cán bộ quản lý và giảng viên về cơ sở khoa học của ĐTLT, khả năng triển khai ĐTLT ở Việt Nam, nhu cầu ĐTLT ơ Việt Nam, những yêu cầu trong ĐTLT Tuy nhiên, số lượng cán bộ, giảng viên được tham gia bồi dưỡng rất khiêm tốn và chưa có kế hoạch tổng thể về công tác đào tạo, bồi dưỡng theo mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể

2.4.5 Về công tác huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phát triển đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

Các nguồn lực phát triển ĐTLT, cơ sở vật chất của các trường cũng được tăng cường từ nguồn ngân sách nhà nước, kinh phí của các nhà trường và kinh phí đóng góp từ phía người học, trong đó chủ yếu đầu tư về phòng học, trang thiết bị phục vụ thực hành, thực tập, phục vụ đổi mới quản lý và đổi mới phương pháp giảng dạy Tuy nhiên, việc huy động các nguồn lực để phát triển ĐTLT còn rất hạn chế, chưa huy động được các doanh nghiệp tham gia quá trình ĐTLT

2.4.6 Về công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong đào tạo liên thông GDNN-GDĐH

Trong những năm qua công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về giáo dục đào tạo ngày càng được quan tâm hơn Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch

và triển khai việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động giáo dục đào tạo Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã phối hợp với các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh kiểm tra việc thực hiện các quy định hiện hành về giáo dục đào tạo nói chung Tuy nhiên, ĐTLT được triển khai đại trà, rộng khắp ở các cơ

sở đào tạo trên cả nước và quyền tự chủ của các trường ngày cang cao, trong khi ĐTLT có những đặc thù riêng, các quy định hiện hành về ĐTLT lại chưa đầy đủ, nguồn lực con người và tài chính cho công tác thanh tra còn hạn chế, chưa có kế hoạch thanh tra kiểm tra riêng với hình thức ĐTLT…v.v, vì vậy hiệu quả công tác thanh tra, xử lý vi phạm còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp

2.4.7 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại học ở Việt Nam

Để có số liệu về quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH tác giả đã sử dụng mẫu phiếu hỏi với các đối tương là cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục ở Trung ương về các nội dung mang tính đặc thù của quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH, bao gồm: Đánh giá hiệu quả chung về công tác quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH; Các tiêu chí của chính sách và thể chế đào tạo liên thông GDNN-GDĐH; Sự tham gia xây dựng chính sách của đối tượng bị điều chỉnh bởi chính sách; Hiệu quả công tác quản lý nhà nước về: mục tiêu, nội dung chương trình, kiểm định đảm bảo chất lượng, chỉ đạo đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý, huy động các nguồn lực phát triển ĐTLT, thanh tra, kiểm tra và

Ngày đăng: 22/06/2016, 13:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w