1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây

67 209 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 507 KB
File đính kèm 2008-NN-QLDD-01.rar (69 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đan Phượng là một huyện của tỉnh Hà Tây, nằm trong vùng đồng bằng Châu thổ sông Hồng, là một trong những địa bàn đất chật người đông của tỉnh Hà Tây. Đan Phượng có hai con sông chảy qua là sông Hồng và sông Đáy, có Quốc lộ 32 chạy qua trung tâm huyện. Từ những đặc điểm về quy mô đất đai, dân cư, vị trí địa lý, kinh tế của huyện đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với việc quản lý đất đai, sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trên địa bàn huyện, đặc biệt là đất nông nghiệp, điều đó không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn đảm bảo sử dụng đất bền vững phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2008 – 2013 của huyện Đan Phượng. Xuất phát từ những yêu cầu bức thiết trên, tôi đã tiến hành xây dựng đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây”.

Trang 1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề.

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không

gì thay thế được của các ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là địa bànphân bổ dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng văn hóa, an ninh, quốc phòng…

Đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của conngười, là môi trường sản xuất ra lương thực thực phẩm cung cấp cho nhu cầucủa con người

Hiện nay, tất cả các nước trên thế giới dù ở trình độ phát triển khác nhaunhưng đều hướng tới một mục tiêu chung, đó là: “xây dựng một nền nôngnghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, mà nhiệm vụ quantrọng là bảo vệ được tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tàinguyên di truyền… Chiến lược sử dụng đất hợp lý, tất yếu phải là yếu tố cấuthành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển lâu bền của các nướctrên thế giới cũng như của nước ta hiện nay

Tỉnh Hà Tây đã chỉ đạo, triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấttrên phạm vi toàn tỉnh, trong đó Đan Phượng là một trong những huyện đãthực hiện

Đan Phượng là một huyện của tỉnh Hà Tây, nằm trong vùng đồng bằngChâu thổ sông Hồng, có tổng diện tích đất tự nhiên là 76,57 km2, với số dân là139,462 người, mật độ dân số bình quân là 1,821 người /km2, là một trongnhững địa bàn đất chật người đông của tỉnh Hà Tây Đan Phượng có hai consông chảy qua là sông Hồng và sông Đáy, có Quốc lộ 32 chạy qua trung tâmhuyện Từ những đặc điểm về quy mô đất đai, dân cư, vị trí địa lý, kinh tế củahuyện đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với việc quản lý đất đai, sửdụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trên địa bàn huyện, đặc biệt

là đất nông nghiệp, điều đó không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn

Trang 2

đảm bảo sử dụng đất bền vững (phát triển nông nghiệp sinh thái, thâm canh

để có sản phẩm sạch, năng suất cao, giá thành thấp… không ảnh hưởng tớimôi trường đất, môi trường tự nhiên) phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế -

xã hội giai đoạn 2008 – 2013 của huyện Đan Phượng

Xuất phát từ những yêu cầu bức thiết trên, tôi đã tiến hành xây dựng đề

tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất

hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây”.

2 Mục đích – yêu cầu của đề tài.

2.1 Mục đích.

- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đan Phượng năm

2007, từ đó đối chiếu với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện nhằmtìm ra những thuận lợi, khó khăn trong sử dụng đất nông nghiệp Trên cơ sở

đó xây dựng định hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2013, nhằm sửdụng đất hợp lý và hiệu quả cao, bảo vệ môi trường đất , môi trường tự nhiên

- Đánh giá hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp, khả năngkhai thác tài nguyên đất Từ đó đề xuất các loại hình sử dụng đất mang lạihiệu quả cao và bền vững trong tương lai

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính

- Làm cơ sở khoa học cho việc định hướng sử dụng đất nông nghiệp củahuyện giai đoạn 2008 - 2013

- Những đề xuất phương hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện phải

có tinh khả thi, phù hợp với địa phương

Trang 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Đất nông nghiệp và các vấn đề sử dụng đất nông nghiệp.

2.1.1 Sơ lược về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam.

Nông nghiệp là một ngành sản xuất chính chiếm tỷ trọng không nhỏtrong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới Tại các nước đang pháttriển, nông nghiệp không những đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩmtrong nước mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu thu ngoại tệ cho Quốc gia.Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, hiện tại dân số thế giới trên 6 tỷngười thì lượng lương thực có thể đáp ứng được, tuy nhiên có sự không đồngđều giữa các vùng Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép của nhu cầu lươngthực, thực phẩm ngày càng tăng của con người

Dẫn theo Nguyễn Đình Bồng [5], hiện nay trên thế giới có khoảng 3.3 tỷ

ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần làđất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Quy mô đất nông nghiệpđược phân bố như sau: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu phichiếm 20%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đấtnông nghiệp trên đầu người toàn thế giới là 12000m2, Mỹ 2000m2, Bungari7000m2, Nhật 650m2

Việt Nam là nước có diện tích không lớn đứng thứ 4 ở Đông Nam Á,nhưng dân số đứng thứ 2, dẫn tới bình quân diện tích đất trên đầu người đứngthứ 9 trong khu vực

2.1.2 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp.

Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất vàmôi trường Để đáp ứng được lương thực thực phẩm cho con người trong hiện

Trang 4

tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồngtrong điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòihỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sửdụng phân bón Báo cáo của Viện tài nguyên thế giới (dẫn theo ESCAP/FAO/UNIDO) [38], cho thấy gần 20% diện tích đất đai Châu Á bị suy thoái donhững hoạt động của con người Hoạt động sản xuất nông nghiệp là mộtnguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất nông nghiệp thông qua quá trìnhthâm canh tăng vụ.

Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hóa đất ở một số nước vùng nhiệtđới Châu Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môitrường của trung tâm Đông Tây và khối các trường Đại học Đông Nam Châu

Á [38] đã tập trung nghiên cứu những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh tháinông nghiệp Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố dinh dưỡng N, P,

K của hầu hết các hệ sinh thái đều bị giảm Nghiên cứu cũng chỉ ra nguyênnhân của sự thất thoát dinh dưỡng trong đất là do thâm canh thiếu phân bón

và đưa các sản phẩm của cây trồng và vật nuôi ra khỏi hệ thống

Đối với Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất đai ở vùngtrung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng P, K, Ca và Mg Đất phù sasông Hồng có hàm lượng dinh dưỡng khá, song quá trình thâm canh với hệ số

sử dụng đất cao 2 đến 3 vụ trong năm, nên lượng dinh dưỡng mà cây lấy đilớn hơn nhiều so với lượng dinh dưỡng bón vào đất Để đảm bảo đủ dinhdưỡng, đất không thì suy thoái thì N, P là hai yếu tố cần phải được thườngxuyên bổ sung (ESCAP/FAO/UNIDO) [38] Trong quá trình sử dụng đất, dochưa tìm được các loại hình thức sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thứcluân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hóa đất như vùng đất dốc màtrồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họđậu Bên cạnh đó sự suy thoái đất còn liên quan tới điều kiện kinh tế xã hội

Trang 5

của vùng Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trungchủ yếu vào trồng cây lương thực như vậy gây ra hiện tượng xói mòn, suythoái đất Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tớiviệc sử dụng phân bón hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiềuảnh hưởng tới môi trường Tadon H.L.S [44] chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất vàcác chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hóa về môi trường,do vậyviệc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiênnhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”.

2.1.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững.

- Nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinhthái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của conngười mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường, bảo vệ môitrường và tạo dựng một môi trường trong lành

- Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản xuấtlương thực thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn là ởcác hệ thống tự nhiên Nông nghiệp bền vững là một hệ thống trong đó conngười tồn tại, con người sử dụng những nguồn năng lượng không độc hại, tiếtkiệm và tái sinh năng lượng, con người sử dụng nguồn tài nguyên phong phúcủa thiên nhiên mà không phá hoại nguồn tài nguyên đó Ngoài ra nôngnghiệp bền cũng không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có mà còn tìm cáchkhôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái

Từ những nhận thức về phát triển nông nghiệp bền vững, chúng ta điđến thảo luận các vấn đề cơ bản cho sự phát triển nông nghiệp bền vững Hiệnnay có nhiều quan điểm khác nhau về nông nghiệp bền vững Tổ chức Lươngthực và Nông nghiệp của liên hợp quốc (FAO) năm 1992 đã đưa ra khái niệm

về phát triển nông nghiệp bền vững như sau: “Phát triển nông nghiệp bền vững

Trang 6

là sự quản lý và bảo tồn thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thỏamãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau Sự pháttriển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản) sẽđảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp

về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả kinh tế và được xã hội chập nhận”

Theo ủy ban kỹ thuật của FAO nền nông nghiệp bền vững bao gồm:Quản lý có hiệu quả các nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng củacon người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường vàbảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Các nguyên tắc sử dụng đất bền vững

Năm 1991 ở Nairobe đã tổ chức một hội thảo về “khung đánh giá việcquản trị đất đai bền vững” (Franme – Work for Evaluating suitainable lanmanagement – FESLM), từ việc nghiên cứu tổng hợp các yếu tố để cấu thànhnên mọt loại hình sử dụng đất bền vững, cuối cùng hội thảo cũng đã nêu ra 5nguyên tắc cho việc quản lý đất bền vững, sử dụng đất phải thỏa mãn 5 yêucầu sau:

1) Duy trì nâng cao sản lượng (khả năng sản xuất Productivity)

2) Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất (an toàn Security)

3) Bảo vệ tiềm năng tài nguyên đất và ngăn chặn sự thoái hóa đất đai(bảo vệ protection)

4) Có thể tồn tại về mặt kinh tế (khả năng thực hiện – Viability)

5) Có thể chấp nhận được về mặt xã hội (khả năng chấp nhận –Acceptability)

Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất đaibền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được Mục tiêu của nông nghiệpbền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh

tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất,

Trang 7

không gây ô nhiễm môi trường Đạo đức của nông nghiêp bền vững bao gồm

3 phạm trù: Chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và dành thời gian, tài lực,vật lực vào các mục tiêu đó Nông nghiệp bền vững là một hệ thống nôngnghiệp thường trực tự xây dựng bền vững, thích hợp cho mọi tình trạng ở đôthị và nông thôn với mục tiêu đạt được sản lượng cao, giá thành hạ, kết hợptối ưu giữa sản xuất cây trồng, cây rừng, vật nuôi, các cấu trúc và hoạt độngcủa con người

Gần đây xuất hiện khuynh hướng “Nông học hữu cơ”, chủ trương dùngmáy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh,phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng cácloại hóa chất để phòng trừ sâu bệnh

Anbert K và Voisin A đã hình thành trường phái nông nghiệp sinh học,bác bỏ việc sản xuất và sử dụng nhiều loại phân hóa học vì như thế sẽ ảnhhưởng đến chất lượng nông sản và sức khỏe người tiêu dùng [1]

Theo Đỗ Ánh [1] Phần Lan đã đưa ra thị trường những sản phẩm nôngnghiệp được sản xuất theo con đường “Green way”, hoàn toàn không dùngphân hóa học

Ở Việt Nam đã hình thành nền văn minh lúa nước từ hàng ngàn nămnay, có thể coi là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thíchhợp trong điều kiên thiên nhiên nước ta Gần đây mô hình VAC, mô hìnhnông – lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm truyền thốngđược đúc rút ra trong quá trình đấu tranh lâu dài, bền vững với thiên nhiênkhắc nghiệt của con người để tồn tại và phát triển

Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơbản là giữ độ phì nhiêu của đất được lâu bền Độ phì nhiêu của đất là tổng hòacủa nhiều yếu tố vật lý, hóa học, sinh học để tạo ra môi trường sống thuận lợinhất cho cây trồng tồn tại và phát triển

Trang 8

2.2 Nghiên cứu đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững ở Việt Nam.

Từ những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng một số cán bộ khoa học củaViện thổ nhưỡng nông hóa như: Vũ Cao Thái, Đinh Văn Tĩnh, Nguyễn VănThân…[31] đã thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở

23 huyện, 286 HTX và 9 vùng chuyên canh Các kết quả bước đầu đã phục vụthiết yếu cho công tác tổ chức lại sản xuất Từ các kết quả nghiên cứu đó, BùiQuang Toản [31] đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho cácHTX và các vùng chuyên canh gồm 4 bước, các yếu tố chất lượng đất đượcchia ra thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch, đất đai được chia thành 4 hạng:rất tốt, tốt, trung bình và kém

Năm 1983, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành: “Dự thảo phươngpháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện” Theo phương pháp này, đất đượcchia thành 8 hạng, chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng, ngoài ra còn sử dụngcác chỉ tiêu khác như: Độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới, độnhiễm mặn, nhiễm phèn

Vũ Cao Thái và một số tác giả (1989) [31] đã nghiên cứu, xác dịnh mức

độ thích hợp của đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè, dâu tằm, trên cơ

sở vận dụng phương pháp phân hạng đất thích hợp của FAO để đánh giá địnhtính và khái quát tiềm năng của đất Với kết quả nghiên cứu trên đề tài đã đưa

ra những tiêu chuẩn đánh giá, phân hạng đất cho tất cả các loại cây trồng Tuynhiên, các chỉ tiêu nghiên cứu thiên về các yếu tố thổ nhưỡng mà chưa đề cậpđến các yếu tố sinh thái, xã hội

Phương pháp đánh giá đất của FAO đã được nhiều nhà khoa học đấtViệt Nam bước đầu vận dụng thử nghiệm và đã có những kết quả đóng góp đểhoàn thiện từng bước Từ những năm 1990 đến nay, Viện quy hoạch và thiết

kế nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trênphạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và ở nhiều vùng chuyên canh theo các

dự án đầu tư

Trang 9

Nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá đất đai của các tác giả như:

- Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng: Kết quả bước đầu đánh giá tàinguyên đất đai Việt Nam (1994)

- Nguyễn Công Pho: Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng (1995)

- Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân: Đánh giá đất vùng dự án đa mụctiêu IA SOUP (1995)

- Phạm Quang Khánh: Kết quả nghiên cứu hệ thống sử dụng đất trongnông nghiệp (1994)

Ngoài ra còn phải kể đến kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học khácnhư: Bùi Quang Toản (1985), Vũ Cao Thái (1989), Võ Văn Anh (1990), Trần

An Phong (1991, 1993, 1994, 1995), Nguyễn Văn Nhân (1991 – 1994),Nguyễn Xuân Nhiệm (1992) và nhiều tác giả khác

Trong nghiên cứu hệ thống sử dụng đất và các yếu tố sinh thái nôngnghiệp phục vụ quy hoạch sử đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bềnvững đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các vùng sinh thái của cả nước.Những công trình nghiên cứu về sử dụng đất chung trên phạm vi cả nước trênquan điểm này gồm: “Khả năng phát triển nông nghiệp nước ta trong giaiđoạn tới” (Tôn Thất Chiểu 1992), “Hệ sinh thái nông nghiệp” (Đào Thế Tuấn1984), “Chiến lược sử dụng, bảo vệ, bồi dưỡng đất đai và môi trường”(Nguyễn Vy 1992), “Ứng dụng nội dung phương pháp đánh giá đất đai vàphân tích hệ thống canh tác của FAO vào điều kiện thực tế của Việt Nam” (LêDuy Thước 1992)

Tháng 1 năm 1995, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tổ chứcHội thảo quốc gia về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quanđiểm sinh thái và phát triển bền vững với sự tham gia của nhiều nhà khoa học.Hội nghị đã tổng kết đánh giá việc ứng dụng quy trình đánh giá đất của FAOvào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để sử

Trang 10

dụng kết quả cần đánh giá đất vào công tác quy hoạch sử dụng đất nôngnghiệp có hiệu quả Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất đai

để thấy tiềm năng đa dạng hóa của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn

hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng đấthợp lý và có hiệu quả cao hơn

Tiến trình đánh giá đất của FAO đề xướng gồm 9 bước được vận dụngtrong đánh giá đất đai từ địa phương đến các vùng, miền của toàn quốc.Những công trình nghiên cứu sâu ở một số vùng sinh thái lớn có sự đóng gópcủa rất nhiều nhà nghiên cứu:

- Vùng đồi núi Tây Bắc và Trung du phía Bắc co Lê Duy Thước (1992),

Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Đạt

- Vùng đồng bằng sông Hồng với những công trình nghiên cứu có kếtquả đã công bố của các tác giả Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995), CaoLiêm, Vũ Thị Bình, Nguyễn Đình Hà (1992, 1993), Phạm Văn Lăng (1992),

Đỗ Nguyên Hải (1999) Trong chương trình nghiên cứu vận dụng phươngpháp đánh giá đất của FAO thực hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 cho phépđánh giá ở mức độ tổng hợp cho quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sôngHồng

- Vùng Tây Nguyên có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang,Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên(1995)

- Vùng Đông Nam Bộ có các công trình của Trần An Phong, PhạmQuang Khánh, Vũ Cao Thái, Trương Công Tín (1990) nghiên cứu về môitrường tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm các đơn vị đất đai, hiện trạng sảnxuất, loại hình sử dụng đất, phân tích tài chính, đánh giá hiệu quả kinh tế vàtác động môi trường, đánh giá đất thích hợp và lựa chọn các loại hình sử dụngđất bền vững trong nông nghiệp của vùng Trên bản đồ đơn vị đất đai và hiện

Trang 11

trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 đã thể hiện 54 đơn vị đất đai với 602khoanh, có 7 loại hình sử dụng đất chính , 49 loại hình sử dụng đất chi tiết với

94 hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp, trong đó có 50 hệ thống sử dụngđất được chọn

- Vùng đồng bằng sông Cửu Long có các công trình nghiên cứu của Trần

An Phong, Nguyễn Văn Nhân (1991, 1995) Kết quả nghiên cứu đã khẳngđịnh: Trong việc sử dụng đất ở đồng bằng sông Cửu Long, tài nguyên đất vànước là hai yếu tố chủ yếu khống chế khả năng sử dụng đất Kết quả có 123đơn vị đất đai được phân chia trên toan vùng bao gồm 63 đơn vị đất đai ởvùng đất phèn, 20 đơn vị đất đai ở vùng đất mặn, 22 đơn vị đất đai ở vùng đấtphù sa không có hạn chế và 18 đơn vị đất đai ở vùng đất khác Dựa vào các

dự án hiện có, toàn vùng được chia thành 8 tiểu vùng phát triển Tại mỗi tiểuvùng, vấn đề tài nguyên nước và những khả năng về cải thiện điều kiện thủyvăn cũng được chỉ ra làm cơ sở cho các phương án sử dụng đất được đề nghị.Các nghiên cứu tập trung đánh giá tiềm năng đất đai, phân tích hệ thốngcây trồng hiện tại, xác định khả năng thích nghi đất đai cho các loại hình sửdụng đất, đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất đai phù hợp với đặc điểmđất đai, các yếu tố kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm đápứng yêu cầu sử dụng đất lâu bền

Công trình đánh giá đất toàn quốc của Viện quy hoạch và thiết kế nôngnghiệp (1993 – 1994) được tiến hành trên 9 vùng sinh thái thích hợp từ1/250.000 đến 1/500.000

Năm 1995 Tổng cục địa chính đã xây dựng “Dự án đánh giá đất cấphuyện”, chọn một số huyện đại diện cho các vùng kinh tế tự nhiên (miền núi

và trung du phía Bắc, đồng bằng sông Hồng, khu IV cũ, ven biển miền trung

và đồng bằng sông Cửu Long

Những nghiên cứu đánh giá đất ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả đã có

Trang 12

những đóng góp lớn trong việc hoàn thiện dần quy trình đánh giá đất ở ViệtNam làm cơ sở cho những định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đấttoàn quốc và các vùng sinh thái lớn.

2.3 Tổng quan về hệ thống nông nghiệp và hệ thống canh tác.

Theo Phạm Chí Thành [35] hệ thống là một tổng thể có trật tự của cácyếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xácđịnh như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằngnhiều mối tương tác

Quan điểm hệ thống không phải đơn thuần là phép cộng mà là xem xétcác phần tử trong hệ thống, mối tương tác của từng thành phần, các cấu trúcthứ bậc trong hệ thống, tính toàn cục và tính trồi của nó

Để hệ thống phát triển bền vững cần nghiên cứu bản chất và đặc điểmcủa các mối tương tác giữa các yếu tố trong hệ thống đó, điều tiết các mốitương tác chính là điều khiển hệ thống một cách có quy luật

Hệ thống nông nghiệp

Dẫn theo Shaner [37] hệ thống nông nghiệp là một phức hợp của đất đai,nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động và các nguồn lợi và đặc trưng kháctrong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tùy theo sở thích, khả năng và kỹthuật có thể

Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn trong đó conngười đóng vai trò trung tâm, con ngươi quản lý và điều khiển các hệ thốngtheo những quy định nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao cho hệ thốngnông nghiệp

Hệ thống nông nghiệp có 3 đặc điểm đáng quan tâm:

- Tiếp cận “dưới lên” và xem xét hệ thống mắc ở điểm nào tìm cách canthiệp để giải quyết cản trở

- Coi trọng mối quan hệ xã hội như những nhân tố của hệ thống

Trang 13

- Coi trọng sự phân tích động thái của sự phát triển.

Hệ thống canh tác

Theo Sectisan 1987 [27] hệ thống canh tác (HTCT) là sản phẩm của 4nhóm biến số: Môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, chi phối của nguồn tàinguyên và điều kiện kinh tế xã hội Trong HTCT vai trò của con người đặt vịtrí trung tâm của hệ thống và quan trọng hơn bất kỳ nguồn tài nguyên nào kể

cả đất canh tác Theo Zandstra H.G [46] muốn phát triển một vùng nôngnghiệp, kỹ năng của nông dân có tác dụng hơn độ phì của đất Hệ thống canhtác được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh

tế xã hội phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của nông hộ.Trong nghiên cứu và xây dựng hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam,Phạm Chí Thành [27] chủ trương xây dựng chế độ canh tác ở miền Bắc theo

hệ thống phân vị các biến thái và hệ thống phân vị ra các vi sinh thái củaVlenza (1982) thay thế cho cách làm xây dựng chế độ canh tác ra làm từngthửa ruộng cụ thể cho từng hợp tác xã Các biện pháp kỹ thuật có thể thay đổitheo thị trường, điều kiện kinh tế kỹ thuật , phong tục và các kỹ năng lao độngcủa nông dân, được coi là phần mềm của hệ thống

Nông nghiệp hàng hóa

Theo Đevadra (dẫn theo [22] ) nông nghiệp hàng hóa là nền nôngnghiệp hướng theo thị trường Thị trường cần về số lượng và chất lượng nhưthế nào thì sản xuất phải đáp ứng như vậy Nông nghiệp hàng hóa phải đảmbảo sử dụng tài nguyên có hiệu quả, đầu tư theo chiều sâu

Theo Phạm Chí Thành [29] thì nông nghiệp hàng hòa là sản phẩm củalịch sử từ nông nghiệp truyền thống với các đặc điểm là đầu tư thấp, đa dạng

để giảm rủi ro, hiệu quả thấp và áp dụng kỹ thuật không thường xuyên, sangnền nông nghiệp trung gian, với đặc điểm phát triển nông nghiệp theo xuhướng hệ thống, sau đó mới hình thành nông nghiệp hàng hóa Giai đoạn

Trang 14

trung gian là giai đoạn tập duyệt với kỹ thuật mới là giai đoạn tạo nguồn tíchlũy vốn cho tái sản xuất.

2.3.1 Sơ lược lịch sử phát triển hệ thống cây trồng.

Lịch sử phát triển hệ thống cây trồng gắn liền với quá trình phát triểnnông nghiệp, đặc biệt là sự chuyển đổi hệ thống cây trồng thường gắn liền với

sự ra đời của các công cụ sản xuất mới, các kỹ thuật canh tác tiên tiến, cácgiống cây trồng mới, cũng như các công tác chinh phục thiên nhiên, trị thủycác dòng sông Hệ thống cây trồng luôn tiến triển và ngày càng hoàn thiệnhơn

Việt Nam là đất nước có lịch sử phát triển lâu đời, điều kiện tự nhiênthuận lợi, do vậy nông nghiệp nước ta đã hình thành và phát triển với nhiềuloại cây trồng đa dạng từ các loại cây trồng nhiệt đới đến á nhiệt đới Nằm sát

bờ biển Đông, Việt Nam được coi là trung tâm xuất hiện sớm nhất nền nôngnghiệp nhiệt đới mà đặc trưng là canh tác lúa nước

Theo Nguyễn Duy Tính [36], hệ thống cây trồng thời Văn Lang đã kháphong phú, cây lúa trồng O.Sativa là cây quan trọng nhất Ruộng lúa nước là

cơ sở văn minh của nông nghiệp sông Hồng Nghề trồng lúa nước đã chuyểnbiến theo hướng chung là giống lúa, cơ cấu mùa cụ, tăng vụ, thâm canh…Lịch sử phát triển của hệ thống cây trồng đã trải qua quá trình lâu dài,chuyển biến phát triển từ thấp đến cao và gắn liền với sự tiện bộ của khoa học

kỹ thuật Lịch sử đã chứng kiến những bước ngoặt đó là cuộc cánh mạng cơcấu cây trồng ở Châu Âu, cuộc cách mạng xanh về giống ở Châu Á Cùng với

sự tiến bộ của xã hội loài người, hệ thống cây trồng ngày cành hoàn thiện

2.3.2 Một số đặc trưng của hệ thống cây trồng.

Hệ thống cây trồng mang tính khách quan và được hình thành do trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Các Máccho rằng: “Trong sự phân công lao động xã hội thì con số tỷ lệ là yếu tố

Trang 15

không sao tránh khỏi, một sự thầm kín yên lặng” Điều đó có nghĩa là khôngnên và không thể áp đặt một cách chủ quan một hệ thống cây trồng không phùhợp với thực tế khách quan mà phải nghiên cứu đầy đủ các điều kiện tựnhiên, kinh tế - xã hội cụ thể, đánh giá cho xu hướng chuyển dịch cơ cấu đểtác động thúc đấy cơ cấu mới chuyển dịch nhanh hơn có hiệu quả hơn.

Hệ thống cây trồng phải đảm bảo các mối quan hệ cân đối và đồng bộgiữa các bộ phận trong một tổng thể mà tổng thể đó là một hệ thống lớn baogồm các hệ thống con và mỗi hệ thống còn lại bao gồm nhiều hệ thống nhỏhơn gắn bó với nhau một cách chặt chẽ trong mối quan hệ cân đối và đồng bộ.Nếu thiên lệch về một hệ thống con nào cũng dẫn tới sự phá vỡ tính cân đốiđồng bộ của toàn hệ thống

Hệ thống cây trồng bao giờ cũng là một sản phẩm của một giai đoạn lịch

sử nhất định do vậy nó mang tính lịch sử cụ thể Không thể đem nội dung hệthống cây trồng của một thời kỳ phát triển áp đặt vào một đất nước, một vùnghoặc một thời kỳ mà ở đó trình độ lực lượng sản xuất còn lạc hậu, phân cônglao động xã hội đơn giản hoặc ngược lại Nguyên tắc trên, hoàn toàn khôngcản trở việc thử nghiệm, áp dụng từng bước các mô hình tiên tiến đan xen phùhợp với những điều kiện cụ thể

Hệ thống cây trồng không ngừng vận động, biến đổi và phát triển theo

xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn mở rộng hơn và có hiệu quả hơn Quátrình vận động, biến đổi chính là quá trình điều chỉnh, chuyển dịch cơ cấu câytrồng và quá trình chuyển dịch đó luôn luôn gắn bó chặt chẽ với quá trìnhphát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội càng pháttriển cao hơn, tỉ mỉ hơn, theo quy luật quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tínhchất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Và như vậy, hệ thống câytrồng dần được hoàn thiện hơn, hiệu quả cao hơn Mặt khác hệ thống câytrồng không thể luôn luôn thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người, mà

Trang 16

phải tương đối ổn định phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất Sự ổn định tương đối phản ánh tính khách quan khoa họctrong quá trình hình thành hệ thống cây trồng và đảm bảo tính hiệu quả caotrong kinh doanh và trong đời sống xã hội của đất nước

Chuyển đổi hệ thống cây trồng là một quá trình, không có sẵn một cơcấu kinh tế hoàn thiện và cũng không có một cơ cấu cây trồng chứa đựngtrong nó tất cả những sai lầm, lạc hậu

Hệ thống cây trồng mới được bắt nguồn, chuyển dịch từ hệ thống trước

nó, từ sự tích lũy về lượng đủ mức dẫn tới sự biến đổi về chất Sự chuyển dịchđòi hỏi phải có thời gian, là một trình tất yếu khách quan như bản thân nộidung của hệ thống cây trồng Quá trình chuyển đổi hệ thống cây trồng đòi hỏi

sự tác động bằng hệ thống chính sách và biện pháp đồng bộ tác động hợp quyluật, thúc đẩy quá trình hình thành

2.3.3 Chuyển đổi hệ thống cây trồng.

Việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực đảm bảohiệu quả kinh tế, ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống cây trồngvới các điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, quần thể sinh vật, tập quán canh táccòn có mối quan hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất ở vùng, khu vực đó.Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, ngược lại cơ cấu câytrồng là cơ sở để xác định phương hướng sản xuất Nghiên cứu chuyển đổi hệthống cây trồng có cơ sở khoa học sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp chocác nhà quản lý xác định phương hướng sản xuất một cách đúng đắn

Chuyển đổi hệ thống cây trồng cần phải theo hướng tăng nhanh các sảnphẩm có tính hàng hóa, song song với việc nâng cao chất lượng nông sản.Trước hết phải đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu cầu ngày càng tăng của thịtrường trong nước, đồng thời quan tâm tới khả năng cạnh tranh trên thị trườngquốc tế Đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm các loại nông sản,

Trang 17

nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến

Định hướng chuyển đổi hệ thống cây trồng trên cơ sở phát triển nôngnghiệp sinh thái, đa dạng hóa sản phẩm Lựa chọn và đầu tư tập trung pháttriển nhanh các sản phẩm mũi nhọn, các vùng sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quảkinh tế cao, đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy các vùng khác, các loại sản phẩmkhác Khai thác hợp lý, hiệu quả và bền vững tiềm năng đất đai, gắn sản xuấtnông nghiệp với lâm nghiệp, thủy sản và các ngành khác Khai thác tiềm năng

và lợi thế của từng vùng, bảo vệ môi trường, gìn giữ cân bằng sinh thái và đadạng sinh học

Quan điểm chuyển đổi hệ thống cây trồng

- Chuyển đổi hệ thống cây trồng trên quan điểm sản xuất hàng hóa vàđạt hiệu quả cao

- Sản xuất luôn luôn phải gắn liền với thị trường, do đó trong cơ chế củakinh tế thị trường, yếu tố sản xuất hàng hóa đòi hỏi phải có một hệ thống câytrồng phù hợp Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của từng vùng sẽ quyết địnhviệc chuyển đổi hệ thống cây trồng Quá trình sản xuất nông nghiệp phải nôngnghiệp phải gắn liền với chuyên môn hóa và tập trung vào một vài sản phẩmchủ yếu Những sản phẩm đó chứa đựng một dạng tri thức khoa học kỹ thuật

và tổ chức quản lý, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khảnăng cạnh tranh và tiêu thụ được sản phẩm (dẫn theo Nguyễn Duy Tính) [36]

- Chuyển đổi hệ thống cây trồng theo hướng đa dạng hóa sản phẩmtrong điều kiện kinh tế hộ nông dân ở vùng ít dân Trong nền kinh tế thịtrường, hộ gia đình trở thành một đơn vị kinh tế tự chủ độc lập, người dân tựchịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh Những điều đó đã kíchthích các hộ gia đình khai thác hết mọi tiềm năng về đất đai, vốn và con ngườicủa mình để tạo ra được hiệu quả cao, nâng cao được tỷ suất hàng hóa thôngqua việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và đa dạng hóa cây trồng Hộ nông dân là

Trang 18

đơn vị kinh tế tự chủ do đó vấn đề áp đặt một hệ thống cây trồng là khônghợp lý, mà chỉ khuyến khích vận động để họ chủ động nắm bắt và nhanhchóng áp dụng những mô hình canh tác tiến bộ Các chủ hộ nông dân căn cứvào khả năng của gia đình để quyết định lựa chọn hệ thống cây trồng thíchhợp (theo Nguyễn Duy Tính) [36].

- Chuyển đổi hệ thống cây trồng đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinhthái, xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững và an toàn lương thực.Khái niệm về hệ sinh thái do Tansley A Đề xuất năm 1935 là một đơn vị baogồm các vật sống và ngoại cảnh không sống của chúng

Hệ sinh thái gồm 2 thành phần chủ yếu:

+ Các quần thể sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) với các mối quan

hệ dinh dưỡng và vị trí của chúng

+ Các nhân tố ngoại cảnh: khí hậu, đất, nước…

Theo chức năng, hoạt động của hệ sinh thái được phân theo dòng nănglượng, chuỗi thức ăn, sự phân bố theo không gian và thời gian tuần hoàn vậtchất, phát triển, tiến hóa và điều khiển Trong sinh quyển có ba loại hệ sinhthái chủ yếu:

+ Các hệ sinh thái tự nhiên: rừng, đồng cỏ, sông, hồ, biển

+ Các hệ sinh thái nông nghiệp

+ Các hệ sinh thái đô thị: các thành phố lớn, các khu công nghiệp

Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân tạo do lao động của conngười tạo ra Cây trồng, vật nuôi và các thành phần sống của hệ sinh tháinông nghiệp có quan hệ rất chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh

Hệ sinh thái nông nghiệp là một hệ thống với các hệ sinh thái phụ như:Đồng ruộng trồng cây lâu năm, vườn cây lâu năm hay rừng nông nghiệp,đồng cỏ chăn nuôi, ao hồ thả cá, các khu dân cư, trong đó hệ sinh thái đồngruộng là thành phần trung tâm quan trọng của hệ sinh thái nông nghiệp Hệ

Trang 19

sinh thái nông nghiệp là các vùng sản xuất nông nghiệp, cũng có thể là một cơ

sở sản xuất nông nghiệp như: Nông trường, nông trại HTX nông nghiệp (dẫntheo Đào Thế Tuấn) [30]

2.3.4 Nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp và các hệ thống sử dụng đất thích hợp ở Việt Nam.

Những nghiên cứu mang tính hệ thống theo các vùng sinh thái: Điềukiện sinh thái và sản xuất nông nghiệp ở vùng trung du và miền núi nhằm sửdụng, quản lý đất dốc và bảo vệ môi trường (Thái Phiên) [18], (Bùi QuangToản) [31] Đánh giá, đề xuất sử dụng đất trên quan điểm sinh thái bền vữngcho vùng Tây Bắc ( Lê Thái Bạt) [4] Phân chia các tiềm năng nông nghiệpcho vùng trung du, miền núi phía Bắc (Ngô Văn Nhuận) [17] Đánh giá tiềmnăng và hướng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái thích hợp đối với sảnxuất nông nghiệp (Nguyễn Viết Phổ, Trần An Phong, Dương Văn Xanh) [21].Điều tra phân vùng sinh thái nông nghiệp của đồng bằng sông Hồng (CaoLiêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà) [14] Nghiên cứu sinh thái nôngnghiệp vùng trung du miền Bắc Việt Nam (Lê Trọng Cúc) [17] Đánh giátiềm năng sinh thái đất bạc màu Hà Nội để xác định các hệ thống sử dụng đấthợp lý cho đất bạc màu (Đào Châu Thu, Đỗ Nguyên Hải) [33] Những nghiêncứu đánh giá tổng quát về vấn đề môi trường và hiện tượng suy thoái đất cóliên quan tới các điều kiện tự nhiên và quá trình sử dụng đất ( Tôn ThấtChiểu) [7], (Trần An Phong) [19], [20] Lê Văn Khoa với những nghiên cứuchuyên sâu về vấn đề ô nhiễm môi trường đất Việt Nam [12] Nghiên cứu về

ô nhiễm kim loại nặng đối với đất và nước ở vùng sản xuất nông nghiệp ngoạithành Hà Nội (Nguyễn Đình Mạnh 1996 – 1998) …đã phản ánh được nhiềuvấn đề về môi trường nhằm đưa ra các giải pháp chiến lược cũng như các giảipháp khắc phục cho sử dụng đất trên quan điểm sinh thái lâu bền Vùng đồngbằng sông Hồng là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn thứ 2 ở Việt Nam, với

Trang 20

nhiều loại hình sử dụng đất đa dạng (2 - 3 vụ/năm), đây cũng là nơi tập trungnhiều chủng loại cây trồng nông nghiệp thu hút được rất nhiều công trìnhnghiên cứu khoa học về đánh giá phân tích các hệ thống sử dụng và duy trìkhả năng sử dụng đất bền vững Những công trình nghiên cứu hệ thống nôngnghiệp đã làm cơ sở khoa học cho việc xác định các hệ thống sử dụng đất củavùng đồng bằng sông Hồng (Đào Thế Tuấn) [34] Tạ Minh Sơn với nghiêncứu điều tra và đánh giá một cách toàn diện các hệ thống cây trồng trên cácnhóm đất đã góp phần định hướng các hệ thống sản xuất cây trồng thích hợpcho phát triển sản xuất nông nghiệp lâu bền trên các nhóm đất chính [23].Ngoài ra, một số nhà khoa học nước ngoài như: Eric Lequere, Jean – MarcBabier [9] cũng đã tiến hành nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp ở lưu vựcsông Hồng và tập trung vào cây lúa hoặc một số phương thức canh tác khácnhau của khu vực…

Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây

là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng

và bảo vệ đất, cũng như xác định các chỉ tiêu cho đánh giá sử dụng đất, quản

lý đất đai bền vững trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam

Trang 21

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến sử dụng đất nôngnghiệp trên địa bàn Đan Phượng

- Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Đan Phượng

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu.

Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Đan Phượng bao gồm: các loạiđất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp

3.2 Nội dung nghiên cứu.

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất đai vàphát triển nông nghiệp

- Nghiên cứu đặc tính, tính chất của một số đơn vị đất đai chính

- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

- Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp và giải pháp thực hiện

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu mang tính khoa học, xã hội sâu sắc, dựa trên cơ sởthực tế để xây dựng, bổ sung và hoàn thiện công tác “Đánh giá hiện trạng vàđịnh hướng sử dụng đất nông nghiệp” nên đề tài được nghiên cứu theo cácphương pháp sau:

3.3.1 Phương pháp điều tra khảo sát thu thập số liệu thứ cấp.

Thu thập các số liệu, tài liệu, bản đồ liên quan phục vụ công tác “Đánhgiá hiện trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đan Phượng”.+ Các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

+ Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

Trang 22

+ Hiện trạng cơ sở hạ tầng.

3.3.2 Phương pháp điều tra dã ngoại, phỏng vấn nông dân tại các xã.

Nhằm khoanh định hiện trạng sử dụng đất một cách chính xác, cụ thểđến từng loại đất cũng như cơ cấu cây trồng vật nuôi, phỏng vấn các hộ giađình để tìm hiểu tình hình sử dụng đất, hiệu quả kinh tế của các loại hình sửdụng đất

3.3.3 Phương pháp thống kê.

Từ những số liệu thu thập được thống kê theo hệ thống biểu mẫu chuyênngành, phân tích tương quan giữa các yếu tố

3.3.4 Phương pháp minh họa trên bản đồ.

Mọi thông tin cần được biểu diễn trên bản đồ có tỷ lệ thích hợp

Trang 23

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.

4.1.1 Điều kiện tự nhiên.

4.1.1.1 Vị trí địa lý.

Đan Phượng là một huyện đồng bằng châu thổ sông Hồng, ở phía bắccủa tỉnh Hà Tây Tọa độ địa lý nằm trong khoảng 20058’20’’ đến 21004’12’’ độ

vĩ bắc, từ 105030’15’’ đến 105042’05’’ độ kinh đông

Có vị trí địa lý như sau:

+ Phía Bắc giáp huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc

+ Phía Nam giáp huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây

+ Phía Đông giáp huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội

+ Phía Tây giáp huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây

Đan Phượng có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh

tế - xã hội Trung tâm huyện cách thủ đô Hà Nội 20 km, cách thành phố HàĐông 18 km , có quốc lộ 32 chạy qua trung tâm huyện Hiện nay, Đanphượng là địa bàn thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm kiếm đối tác

mở rộng thị trường sản xuất tạo ra cơ hội thuận lợi cho huyện tiếp thu thànhtựu khoa học và kỹ thuật hòa nhập với nền kinh tế thị trường phát triểnthương mại, dịch vụ… Với vị trí địa lý của mình, Đan Phượng có điều kiệnphát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triểnkinh tế - xã hội

4.1.1.2 Địa hình, địa mạo.

Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, cho nên địa hình toàn huyện tươngđối bằng phẳng Hai mặt huyện giáp sông: phía Bắc giáp Sông Hồng, phía Tâygiáp sông Đáy, vào mùa mưa thì mực nước sông dâng cao hơn mặt ruộng

Trang 24

Nhìn chung thì địa hình huyện thuận lợi cho phát triển mạng lưới giaothông, thủy lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới khu dân cư, khu côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ra các vùng chuyêncanh lúa màu.

Căn cứ vào địa hình huyện có thể chia thành ba vùng như sau:

+ Vùng có địa hình cao, vàn cao gồm có 3 xã: Thọ An, Thọ Xuân,Trung Châu

- Mùa khô – lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ

16 – 210 C, lượng mưa/tháng biến động từ 20 – 56 mm Bình quânmỗi năm có 3 đợt rét nhiệt độ dưới 130C kéo dài trên 3 ngày

- Mùa mưa – nóng từ tháng 4 đến tháng 10 với lượng mưa trung bìnhtháng trên 100 mm – 315 mm Các tháng mùa mưa có lượng mưachiếm 80% lượng mưa cả năm Nhiệt độ bình quân tháng từ 23,9 –29,6 0C

Độ ẩm không khí trung bình trong năm của huyện vào khoảng 82%,thấp nhất là tháng 12 (76%), cao nhất là tháng 3, tháng 4 (85 – 87%)

Trang 25

Bảng 1: Tổng hợp các yếu tố khí hậu trung bình nhiều năm.

mưa (mm)

32,1 35,0 45,6 51,1 212,1 243,3 348,3 237,3 150,7 84,2 29,4 28,1 1512,0 Giờ nắng

(giờ)

14,7 28,2 13,6 110,5 230,5 209,4 263,4 193,1 217,6 201,9 204,1 145,9 1832,9 Độẩm

không khí

(%)

80,0 82,0 87,0 89,0 85,0 84,0 85,0 85,0 83,0 79,0 76,0 76,0 82,0

Nguồn: Số liệu thống kê của phòng nông nghiệp huyện Đan Phượng (2000 – 2005).

4.1.1.4 Thủy văn – Tài nguyên nước.

Đan Phượng có hệ thống sông ngòi bao bọc hai mặt, phía Bắc huyện làsông Hồng, phía Tây là sông Đáy Trong đó, sông Hồng là con sông lớn củamiền Bắc nước ta tạo nên vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng màu mỡ bởisông có hàm lượng phù sa lớn với chất lượng phù sa tốt Hai con sông nàyđều có lưu lượng nước dồi dào

Ngoài ra, huyện Đan Phượng còn có trên 116 hồ ao phân bố khắp các xãtrong huyện chứa một lượng khá lớn, góp phần cung cấp nước cho sản xuấtnông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân trong địa bàn huyện

Về nước ngầm, qua khảo sát và tính toán cụ thể cho thấy: mức nướcngầm có ở độ sâu trung bình từ 8 – 14 m với chất lượng nguồn nước khá tốt.Nhìn chung nước mặt và nước ngầm trong huyện khá dồi dào đảm bảo cungcấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội khác

4.1.1.5 Tài nguyên đất, đặc tính đất đai.

Huyện Đan Phượng với tổng diện tích đất tự nhiên là 7735,49 ha, hiệnnay Đan Phượng đang sử dụng với mục đích như sau:

+ Đất nông nghiệp: 3791,99 ha

Trang 26

+ Đất phi nông nghiệp: 3058,68 ha

Trung tâm huyện

Nguồn: Theo số liệu phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đan Phượng.

Từ kết quả điều tra các tính chất đất nông nghiệp của huyện Đan phượng ta cónhận xét như sau:

* Độ chua:

Nhìn chung đất đai huyện Đan phượng thuộc loại đất chua và rất chua

- Đối với vùng có địa hình vàn cao, cao pHKCl = 5,03 – 6,37 đây là loạiđất từ chua đến ít chua nhưng diện tích đất ít Độ chua lý tưởng pHKCl = 6,37thuộc xã Trung Châu

- Đối với đất có địa hình vàn, vàn thấp độ chua pHKCl = 4,05 – 4,75 đấtthuộc diện chua

Trang 27

- Đối với đất vùng trũng độ chua pHKCl = 3,95 – 4,5 đây là loại đất rấtchua Độ chua pHKCl = 3,95 thuộc xã Hạ Mỗ.

* Đạm tổng số: Nhìn chung đạm tổng số huyện Đan Phượng từ 0,95% 0,195%, trong đó hàm lượng đạm tổng số 0,95 thuộc xã Tân Hội, Liên Hà,hàm lượng đạm tổng số 0,195 thuộc xã Hồng Hà

-* Lân dễ tiêu và lân tổng số

Hàm lượng lân tổng số và lân dễ tiêu của huyện Đan Phượng thuộc diệnnghèo lân P2O5 tổng số 0,01 – 0,05; P2O5 dễ tiêu 1 – 5 mg/100g đất Hàmlượng lân lớn nhất thuộc xã Liên Hồng, Trung Châu Hàm lượng lân thấp nhất

là xã Tân Hội, Liên Hà

* Kali:

Đất huyện Đan Phượng có hàm lượng kali dễ tiêu nghèo từ (3 – 12) mg/100g đất Xã có hàm lượng kali dễ tiêu cao là xã Tân Hội, Hạ Mỗ, Liên Hà,Thọ Xuân, xã có hàm lượng kali dễ tiêu thấp là xã Thọ An

* Dung tích hấp phụ (CEC):

Dung tích hấp phụ của đất ruộng huyện Đan Phượng (CEC = 10,75) xã

có dung tích hấp phụ cao là xã Song Phượng (16,53), xã có CEC thấp nhất làthị trấn Phùng, Đồng Tháp (CEC = 4,87)

4.1.1.6 Môi trường sinh thái.

Hiện trạng môi trường huyện Đan Phượng đang đặt ra các vấn đề cầnphải giải quyết bao gồm: Sự ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí

và các vấn đề về môi trường khu công nghiệp tập trung Mà các nguyên nhânchính là do:

+ Nước thải khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, bệnh viện, khu dân

cư tập trung, phân bón hóa học, chuồng trại chăn nuôi Chất thải rắn (chất thảikim loại), khí thải và bụi

+ Sự thay đổi về số lượng, chất lượng nước sinh hoạt và không khí do

Trang 28

khu công nghiệp tập trung ở ven thị trấn Phùng của huyện, đã có những ảnhhưởng xấu tới môi trường và sức khỏe của con người hiện nay và trong tươnglai Do đó việc quy họach định hướng sử dụng đất trong tương lai cần chú ýtới vấn đề bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước sạch, bảo vệ đất nôngnghiệp nói riêng và cả huyện Đan Phượng nói chung.

4.1.1.7 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường.

Đan Phượng có vị trí khá thuận lợi trong mối giao lưu kinh tế, văn hóavới các huyện, tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là thủ đô Hà Nội

Địa hình tương đối bằng phẳng, thời tiết khí hậu ôn hòa, nguồn nướcphong phú, đất đai thích hợp nhiều loại cây trồng, tiềm năng tăng vụ còn lớn.Tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đều trong năm, chế độ dòng chảythay đổi theo mùa nên tình trạng ngập úng, hạn hán cục bộ vẫn còn ở nhiều xãtrong huyện

Đất đai phì nhiêu, nhưng do quá trình canh tác lâu đời nên hầu hết diệntích đất đã bị chua và nghèo lân dễ tiêu làm hạn chế đến năng suất cây trồng

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội.

4.1.2.1 Dân số và lao động.

4.1.2.1.1 Tình hình dân cư và sự phân bố dân cư.

Huyện Đan Phượng là một trong những vùng cư trú lâu đời của dân cưnông nghiệp tỉnh Hà Tây Sự phát triển dân số và phân bố dân cư của huyệnmang những nét chung của sự phát triển dân số và phân bố dân cư của vùngđồng bằng Bắc bộ Toàn huyện có 15 xã và một thị trấn với số dân 139462người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2007 là 1,30 %

Mật độ dân số trung bình của huyện là 1821 người/km2, là một trongnhững huyện có mật độ dân số cao của tỉnh, đứng thứ năm của tỉnh Hà Tây

Sự phân bố dân số giữa các xã trong huyện được thể hiện ở bảng 3

Bảng 3: Diện tích – Dân số - Mật độ dân số năm 2007.

Trang 29

Diện tích (Km2) Dân số TB

(người)

Mật độ DS(Người/km2)

Nguồn: Phòng thống kê huyện Đan Phượng.

Sự phân bố dân số giữa các xã trong huyện không đồng đều, thị trấnPhùng mật độ dấn số cao nhất (2863 người/km2), tiếp đến là các trung tâmkinh tế đang được hình thành như xã Đồng Tháp, Đan Phượng, Thượng Mỗ,Liên Trung, Tân Lập (có mật độ dân số trên 2000người/km2) Các xã thuầnnông xa trục giao thông mật độ dân số thấp hơn, thấp nhất là xã Trung Châu(965 người/ km2)

4.1.2.1.2 Nguồn lao động và phân bố sử dụng.

Năm 2007 toàn huyện có 68034 lao động chiếm khoảng 48,72% dân số.Lao động nông nghiệp 53747 chiếm 79% lao động trong toàn huyện Laođộng phi nông nghiệp chiếm 21% Có thể nói Đan Phượng có nguồn lao độngkhá dồi dào, hàng năm được bổ sung thêm khoảng 1200 người đến tuổi laođộng Do vậy để giải quyết việc làm cho lực lượng lao động trên địa bàn là rấtbức bách cả trong giai đoạn hiện tại và đến năm 2013

Trang 30

Trong điều kiện đất chật người đông lực lượng lao động nông nghiệpchiếm tỷ trọng lớn, hiệu suất sử dụng lao động thấp, sức ép sử dụng lao độngngày càng tăng Để giải quyết được tình trạng này đòi hỏi phải có những giảipháp đồng bộ cả về kinh tế - xã hội, trong đó việc nâng cao hiệu quả sử dụngđất là một trong những giải pháp quan trọng.

4.1.2.1.3 Gia tăng dân số.

* Năm 2007 tỷ lệ gia tăng dân số của huyện là 1,30%, trong đó

+ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,23%

+ Tỷ lệ tăng cơ học 0,07%

Như vậy huyện Đan Phượng có tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên thấp so với

tỷ lệ chung của tỉnh (toàn tỉnh tỷ lệ tăng dân số là 1,34%)

* Tỷ lệ tăng dân số qua một số năm:

*Dự báo dân số từ năm 2007 đến năm 2013

Theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện Đan Phượng từ năm

2007 đến năm 2009 là 1,15%, từ năm 2009 – 2013 là 0,96%

Bảng 4: Dự báo dân số từ năm 2007 – 2013.

So sánh tăng (+) Giảm (-)

2007 2009 2013 2007-2009 2009-2013 1.Dân số Người 139462 141066 154688 +1604 +13622

3.Tỷ lệ tăng dân số % 1,3 1,15 0,96 -0,15 -0.09 4.Quy mô hộ Người/hộ 3,98 3,97 3,91 -0,01 -0,06 5.Dân số thị trấn Người 8474 8542 8987 +68 +445

Trang 31

6.Dân số nông thôn Người 130988 132524 145701 +1536 +13177

4.1.2.2 Tình hình sản xuất và phát triển kinh tế xã hội.

4.1.2.2.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế.

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế chung của tỉnhnền kinh tế của Đan Phượng đã có sự chuyển biến tích cực, các cơ sở sản xuấttrên địa bàn huyện không ngừng phát triển Kinh tế trong huyện 5 năm vừaqua đã có bước tăng trưởng không ngừng, nhiều chỉ tiêu hoàn thành và vượtmức kế hoạch Đại hội do Đảng bộ huyện đề ra

Tổng giá trị sản xuất của các ngành năm 2004 là 335,51 tỷ đồng đếnnăm 2007 là 428,63 tỷ đồng Bình quân mỗi năm tăng 6,77%

Về cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng giá trị dịch vụ,thương mại và công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp giảm Năm

2007 cơ cấu kinh tế thể hiện như sau:

+ Ngành nông nghiệp: 316,17 tỷ đồng chiếm 73,76%

+ Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: 35.84 tỷ đồng chiếm 8.36%.+ Thương mại dịch vụ: 76.62 tỷ đồng chiếm 17.88%

Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc năm 2004 là 20,36 ngàn tấn,năm 2007 là 24,60 ngàn tấn, góp phần đưa bình quân lương thực đầu người từ

202 kg/người/năm 2004 lên 220 kg/người/năm 2007

Mặc dù trình độ thâm canh nông nghiệp khá cao, song xu thế đất nôngnghiệp bình quân trên đầu người ngày một giảm, vì vậy để đảm bảo tốc độtăng trưởng kinh tế của huyện, đòi hỏi phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đổimới cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, sử dụng hợp lý đất đai, xâydựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng đồng bộ

4.1.2.2.2 Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp.

Nông nghiệp trong những năm qua và những năm tới vẫn sẽ được xácđịnh là một ngành kinh tế chủ đạo của huyện, giá trị sản lượng bình quân 5

Trang 32

năm (2004 – 2007) là 221.87 tỷ đồng/năm, nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt6.1%/năm.

Theo thống kê của phòng Tài nguyên và môi trường huyện Đan Phượng,đất nông nghiệp liên tục giảm, nhất là diện tích trồng cây hàng năm Bìnhquân diện tích đất nông nghiệp nói chung cũng như diện tích đất trồng câylương thực nói riêng trên đầu người ngày một giảm, gây sức ép cho việc sửdụng đất nông nghiệp Vì vậy đòi hỏi phải có những giải pháp sử dụng đấthợp lý, khai thác một cách có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp

+ Trồng trọt:

Thời kỳ 2004 – 2007 sản xuất ngành trồng trọt đã thu được một số kếtquả tương đối tốt, mặc dù diện tích trồng cây lương thực giảm Lúa là câylương thực chủ yếu của huyện, diện tích gieo trồng cả năm 2007 là 2174,49

ha giảm 249,59 ha so với năm 2004 Năng xuất lúa cũng tăng liên tục từ 55,6tạ/ha năm 2004 lên 58,9 tạ/ha năm 2007 Tổng sản lượng quy ra thóc năm

2007 đạt 24600 tấn tăng so với năm 2004 là 8,6%, bình quân lương thực đầungười đạt 220,30 kg/năm

Sản xuất lương thực hiện còn giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu ngànhtrồng trọt Các cây trồng khác cũng có xu hướng phát triển với quy mô ngàycàng lớn, trong đó đậu tương và ngô là hai cây chủ lực Ngoài ra còn có khoailang, rau xanh đang được mở rộng diện tích

Bảng 5: Diễn biến diện tích năng xuất một số cây trồng chính.

Năm

Bình quân

1 Lúa

Diện tích cả năm (ha) 2424,08 2312,60 2245,37 2174,49 2289,14

Sản lượng (tấn) 13623,33 13251,20 13157,87 12807,75 13210,04

2 Ngô

Diện tích cả năm (ha) 260,16 255,03 250,78 244,02 252,50 Năng suất (tạ/ha) 45,87 46,40 46,53 46,98 46,29 Sản lượng (tấn) 1193,35 1183,34 1166,88 1146,41 1172,50

3 Đậu tương

Trang 33

Diện tích cả năm (ha) 265,14 260,21 250,46 245,13 255,24 Năng suất (tạ/ha) 17,01 17,10 17,19 18.28 17.30 Sản lượng (tấn) 451,00 444,96 430,54 448,10 443,65

4 Khoai lang

Diện tích cả năm (ha) 196,64 185,13 170,22 150,50 175,62 Năng suất (tạ/ha) 109,06 107,02 107,05 109,00 106,89 Sản lượng (tấn) 2144,56 1983,19 1822,21 1640,45 1897,60

5 Rau xanh

Diện tích cả năm (ha) 420,14 400,01 345,62 339,89 376,42 Năng suất (tạ/ha) 156,46 158,07 163,09 208,00 167,22 Sản lượng (tấn) 6573,51 6322,96 5636,72 7069,71 6400,73Nhìn chung sản xuất trồng trọt của Đan Phượng đang thể hiện xu thếphát triển theo hướng thâm canh, đa dạng hóa cây trồng, đặc biệt đối với cây

có ý nghĩa hàng hóa

+ Chăn nuôi:

Chăn nuôi của huyện Đan Phượng phát triển tương đối ổn định, năm

2007 quy mô đàn gia súc như sau:

Đàn trâu 5.694 con giảm 4.2% so với năm 2004

Đàn bò 10.068 con tăng 15.4% so với năm 2004

Đàn lợn 80.638 con tăng 16.2% so với năm 2004

Chăn nuôi gia cầm, thủy cầm phát triển đáng kể Tổng giá trị sản phẩmchăn nuôi năm 2007 đạt gần 50 tỷ đồng (trong đó đàn gia súc chiếm 68.2%)chiếm 37.1% tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp

Bảng 6: Diễn biến đàn gia súc của Đan Phượng thời kỳ 2004 – 2007

Năm

2007/2004 (%)

1 Đàn trâu tổng số 1947 5804 5848 5694 95,74

Trong đó cầy kéo 5587 5366 5440 5296 94,79

2 Đàn bò tổng số 8720 9330 10029 10068 115,46 Trong đó cầy kéo 8059 8349 8524 8558 106,19

3 Đàn lợn 69384 62448 76917 80638 116,22 Trong đó lợn nái 12983 11715 14392 15098 116,22

Nguồn: Phòng thống kê huyện Đan Phượng

+ Nuôi trồng thủy sản:

Ngày đăng: 22/06/2016, 10:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tổng hợp các yếu tố khí hậu trung bình nhiều năm. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 1 Tổng hợp các yếu tố khí hậu trung bình nhiều năm (Trang 25)
Bảng 2: Hàm lượng dinh dưỡng trong đất huyện Đan Phượng. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 2 Hàm lượng dinh dưỡng trong đất huyện Đan Phượng (Trang 26)
Bảng 4: Dự báo dân số từ năm 2007 – 2013. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 4 Dự báo dân số từ năm 2007 – 2013 (Trang 30)
Bảng 5: Diễn biến diện tích năng xuất một số cây trồng chính. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 5 Diễn biến diện tích năng xuất một số cây trồng chính (Trang 32)
Bảng 6: Diễn biến đàn gia súc của Đan Phượng thời kỳ 2004 – 2007. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 6 Diễn biến đàn gia súc của Đan Phượng thời kỳ 2004 – 2007 (Trang 33)
Bảng 7: Hệ thống thủy lợi của huyện Đan Phượng. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 7 Hệ thống thủy lợi của huyện Đan Phượng (Trang 36)
Bảng 9: Diện tích cơ cấu đất nông nghiệp qua một số năm - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 9 Diện tích cơ cấu đất nông nghiệp qua một số năm (Trang 39)
Bảng 11: Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng cây hàng năm - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 11 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng cây hàng năm (Trang 45)
Bảng 12: Cơ cấu đất nông nghiệp huyện Đan Phượng năm 2013. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 12 Cơ cấu đất nông nghiệp huyện Đan Phượng năm 2013 (Trang 53)
Bảng 13: Lựa chọn các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2007 và đề xuất hướng sử dụng giai đoạn 2008 – 2013 trên địa bàn huyện Đan Phượng – Tỉnh Hà Tây
Bảng 13 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w