MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG DANH MỤC HÌNH LỜI MỞ ĐẦU 1 1.1. Mục đích, yêu cầu 3 1.1.1. Mục đích 3 1.1.2. Yêu cầu của đề tài 3 1.2. Ý nghĩa của đề tài 3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4 1.1 Khái quát về đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 4 1.1.1 Khái niệm về đất và đất nông nghiệp 4 1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất trong sản xuất nông nghiệp 5 1.2. Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp 5 1.2.1. Khái niệm về sử dụng đất 5 1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp 6 1.3. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 12 1.3.1 . Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất 12 1.3.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14 1.4. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 20 1.4.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 20 1.4.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 22 CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 27 2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 27 2.2. Nội dung nghiên cứu 27 2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến việc sử dụng đất nông nghiệp 27 2.2.2. Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp 27 2.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 27 2.2.4. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Song Mai 27 2.2.5. Đề xuất giải pháp 28 2.3. Phương pháp nghiên cứu 28 2.3.1. Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu 28 2.3.2. Phương pháp thống kê xử lý số liệu. 28 2.3.3. Phương pháp minh họa bằng các bảng, biểu đồ. 28 2.3.4. Phương pháp kế thừa. 28 2.3.5.Phương pháp điều tra, phỏng vấn hộ nông dân 29 CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30 3.1. Đặc điểm Điều kiện tự nhiên, cảnh quan môi trường 30 3.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 30 3.1.2. Các nguồn tài nguyên 33 3.1.3. Cảnh quan môi trường và các hệ sinh thái 35 3.1.4. Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường 36 3.2. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 37 3.2.1. Tăng trưởng kinh tế 37 3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành 37 3.2.3. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 38 3.2.4. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 42 3.2.5. Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội 43 3.3. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và phân bố hệ thống cây trồng trên địa bàn xã Song Mai 44 3.3.1. Hiện trạng sử dụng đất xã Song Mai 44 3.3.2. Hiện trạng cây trồng và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính 47 3.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của một số loại hình sử dụng đất chính của xã Song Mai 53 3.4.1.Hiệu quả kinh tế 53 3.4.2 Hiệu quả xã hội 56 3.4.3 Hiệu quả môi trường 60 3.5. Lựa chọn các loại hình sử dụng đất bền vững 64 3.5.1. Nguyên tắc để lựa chọn các LUT bền vững 64 3.5.2. Kết quả lựa chọn 65 3.6. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của xã Song Mai 67 3.6.1. Định hướng phát triển nông nghiệp của xã trong thời gian tới 67 3.6.2. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của xã trong thời gian tới. 69 3.7 Những khó khăn và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Song Mai. 74 3.7.1 Những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp 74 3.7.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. 76 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82 Kết luận 82 Kiến nghị 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
TỐNG THỊ HỮU THÚY
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ SONG MAI
Trang 2Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Bùi Nguyễn Thu Hà
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong thời gian thực hiện đề tài
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả mọi sự giúp đỡ quý báu trên!
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Tống Thị Hữu Thúy
Trang 3Số thứ tựTriệu đồng
Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 12
1.3.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất 12
1.3.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
a) Hiệu quả kinh tế 16
b) Hiệu quả xã hội 18
c) Hiệu quả về môi trường 19
1.4.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 21
Bảng 3.3 : Hiện trạng các cây trồng chính ở xã Song Mai 47
Bảng 3.4 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính và hệ thống cây trồng xã Song Mai năm 2014 48
Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế của một số kiểu sử dụng đất 54
(tính cho 1 ha) 54
Bảng 3.6 : Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao động của các LUT hiện trạng (tính cho 1 ha) 58
3.4.3 Hiệu quả môi trường 60
Bảng 3.7: So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn phân bón cân đối 61
và hợp lý 61
Kiến nghị 83
Trang 5DANH MỤC BẢNG
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 12
1.3.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất 12
1.3.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
a) Hiệu quả kinh tế 16
b) Hiệu quả xã hội 18
c) Hiệu quả về môi trường 19
1.4.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 21
Bảng 3.3 : Hiện trạng các cây trồng chính ở xã Song Mai 47
Bảng 3.4 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính và hệ thống cây trồng xã Song Mai năm 2014 48
Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế của một số kiểu sử dụng đất 54
(tính cho 1 ha) 54
Bảng 3.6 : Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao động của các LUT hiện trạng (tính cho 1 ha) 58
3.4.3 Hiệu quả môi trường 60
Bảng 3.7: So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn phân bón cân đối 61
và hợp lý 61
Kiến nghị 83
Trang 6DANH MỤC HÌNH
LỜI CẢM ƠN 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
1.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất 12
1.3.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất 12
1.3.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 15
a) Hiệu quả kinh tế 16
b) Hiệu quả xã hội 18
c) Hiệu quả về môi trường 19
1.4.2.Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 21
Bảng 3.3 : Hiện trạng các cây trồng chính ở xã Song Mai 47
Bảng 3.4 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính và hệ thống cây trồng xã Song Mai năm 2014 48
Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế của một số kiểu sử dụng đất 54
(tính cho 1 ha) 54
Bảng 3.6 : Mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân trên ngày công lao động của các LUT hiện trạng (tính cho 1 ha) 58
3.4.3 Hiệu quả môi trường 60
Bảng 3.7: So sánh mức đầu tư phân bón với tiêu chuẩn phân bón cân đối 61
và hợp lý 61
Kiến nghị 83
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng Đất đai có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò khác nhau
Trong nông nghiệp đất đai đóng một vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất này Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của con người vào cây trồng đều dựa vào đất và thông qua đất đai, đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được, là đối tượng để lao động, con người đã tác động vào nó tạo ra lương thực, thực phẩm đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội và đời sống sinh hoạt của mình, bên cạnh đó con người đã và đang khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên như: đất, nước tạo
ra sức ép đối với đất đai
Việt Nam là một nước nông nghiệp đất chật người đông, đất đai được sử dụng vào mục đích nông nghiệp lại chiếm tỷ lệ thấp, nên chỉ số về đất nông nghiệp bình quân đầu người là 1133,0 m2/người Chính vì vậy, việc sử dụng tốt đất đai nhằm đem lại hiệu quả cho xã hội là vấn đề hết sức quan trọng luôn được Đảng và nhà nước quan tâm Tại điều 18 hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 1992 ” Nhà nước thống nhất quản lý toàn
bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật”, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích
và có hiệu quả Hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và kinh tế nông
Trang 8thôn gắn với thị trường theo hướng phát triển mạnh, vững chắc, có hiệu quả Đại hội Đảng lần thứ IX đã quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế
xã hội nước ta 10 năm (2001 - 2010), trong đó nông nghiệp được quan tâm đặc biệt “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động nông thôn"
Song Mai là một xã thuộc thành phố Bắc Giang, Tỉnh Bắc Giang với tổng diện tích tự nhiên là 998,51ha Người dân nơi đây sống dựa vào nông nghiệp
là chủ yếu, trước đây nông nghiệp vẫn còn lạc hậu do trình độ thâm canh còn thấp Trong những năm gần đây do phát triển theo cơ chế thị trường, được sự quan tâm của các cấp, các ngành đồng thời áp dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật, đời sống của người dân trong xã từng bước được cải thiện Tuy nhiên, thu nhập từ sản xuất lương thực vẫn còn hạn chế, năng suất chưa cao, hiệu quả của các loại hình sử dụng đất còn tương đối thấp, chưa tương xứng với tiềm năng đất đai của xã Để xây dựng định hướng sản xuất thích hợp cần
có những đánh giá hiệu quả sử dụng đất nhằm đưa ra loại hình sử dụng đất hiệu quả nhất cho người nông dân đồng thời bảo vệ nguồn tài nguyên đất trong tương lai
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, được sự đồng ý của khoa Quản lý đất đai - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của: Th.s Bùi Nguyễn Thu Hà, tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
trên địa bàn xã Song Mai - Thành Phố Bắc Giang - Tỉnh Bắc Giang”
Trang 91.1.2 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Song Mai
- Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường, phát hiện các ưu nhược điểm của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đang được áp dụng trên địa bàn xã
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã
1.2 Ý nghĩa của đề tài
- Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình thực hiện đề tài
- Trên cơ sở đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đề xuất được những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả, có tính khả thi cao trên địa bàn xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, Tỉnh Bắc Giang
Trang 10CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 1.1.1 Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
“Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” ( theo C.Mác )
Các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: “ Đất đai
là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được ”
Như vậy đã có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đất nhưng khái niệm chung nhất có thể hiểu: Đất đai là khoảng không gian có giới hạn theo chiều thẳng đứng, gồm: khí hậu của bầu khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm
và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật với các thành phần khác,
nó có tác động giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người
Luật đất đai năm 2003 phân loại đất thành 3 nhóm theo mục đích sử dụng đó là nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Đất nông nghiệp là đất để sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng: Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Đất nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm cần thiết nuôi sống xã hội
Trang 111.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất trong sản xuất nông nghiệp
- Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người
- Đối với nông nghiệp: đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất ,
là điều kiện vật chất, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới , xáo…)
- Trong nông nghiệp ngoài vai trò là không gian đất còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng :
+ Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất
+ Tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nước, muối khoáng, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển
Chính vì vậy có thể nói rằng: đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp
1.2 Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm về sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa người và đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khai thác trong môi trường Căn cứ vào nhu cầu thị trường, con người sẽ quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất đai nhằm đạt hiệu quả sinh thái kinh tế xã hội cao nhất
Sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất đai theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào các thuộc tính tự nhiên của đất đai Các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể hiện ở 4 mặt sau:
-Sử dụng đất hợp lý về không gian hình thành hiệu quả kinh tế về không gian sử dụng đất
Trang 12-Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất.
-Quy mô sử dụng đất có sự tập trung thích hợp
-Giữ mật độ sử dụng thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách kỹ thuật tập trung thâm canh
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
1.2.2.1 Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp.Vì vậy, khi sử dụng đất ngoài bề mặt không gian cần thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như yếu tố bao quanh bề mặt trái đất như: Nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản dưới lòng đất Trong nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố hàng đầu sau đó là điều kiện đất đai Theo N.Borlang - người được giải Noben về giải quyết lương thực cho các nước phát triển cho rằng: Yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây trồng
ở tầm cỡ thế giới của các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông dân thiếu vốn là độ phì của đất
a) Yếu tố khí hậu
Các yếu tố khí hậu bao gồm: ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm không khí… ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Nhiệt độ bình quân cao hay thấp, sự sai khác nhiệt độ và ánh sáng về thời gian và không gian trực tiếp ảnh hưởng đến phân bố sinh trưởng và phát triển của cây trồng Lượng mưa ít hay nhiều, bốc hơi nhanh hay chậm có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng Chính vì thế, khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 13Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ
độ địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng vùng, miền Trải dài trên 15 vĩ độ, Việt Nam có 7 tiểu vùng khí hậu khác nhau nên việc phân bố các loại cây trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp cũng khác nhau Nếu như ở trung du và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp lơ xanh ở đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới thì ở đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng sầu riêng, măng cụt hay miền Đông Nam bộ và Tây Nguyên có thể trồng chôm chôm, trái bơ, thanh long, Sake
là những cây nhiệt đới điển hình
b)Yếu tố đất trồng
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng Đất trồng với các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung cấp cho cây các yếu tố
sinh trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí Độ phì là một trong những
yếu tố quan trọng nhất của đất Vị trí từng mảnh đất có ảnh hưởng đến quá trình hình thành độ phì của đất Độ phì nhiêu của đất liên quan trực tiếp đến năng suất cây trồng Do vậy, tuỳ theo vị trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng thích hợp trên từng loại đất mới cho năng suất, hiệu quả sử dụng đất cao
c) Yếu tố cây trồng
Trong sử dụng đất nông nghiệp, cây trồng là yếu tố trung tâm Con người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng Những sản phẩm này cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho xuất khẩu
Trang 14Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất hợp lý trên đất đem lại những giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất và môi trường đất Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây thất thu cho người nông dân mà còn ảnh hưởng xấu đến đất.
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ thuật, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều Sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất Vì vậy, những tiến bộ trong công tác giống cây trồng đã tạo cơ hội cho việc phát triển nông nghiệp hàng hoá
1.2.2.2 Nhóm yếu tố về kinh tế xã hội
Nhân tố kinh tế xã hội bao gồm các yếu tố như: con người, kinh tế, cơ chế chính sách…
a) Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất Khi dân
số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo Ngược lại, ngày nay, khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt năng suất và hiệu quả cao hơn Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm, tính bền vững tài nguyên đất kém hơn Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân số vừa là thị trường cầu của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về lao động cho sản xuất Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không có thị trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra Đặc biệt, đối với một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở nên quan trọng
Trang 15Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp Nếu người nông dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có
ý thức trong sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao
b) Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và ngược lại Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Khi kinh tế phát triển, nó sẽ làm tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được hiệu quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao làm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng.c) Cơ chế chính sách
Do có tầm quan trọng đặc biệt nên nông nghiệp, nông thôn luôn giành được những ưu tiên trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Trong mỗi nền kinh
tế, người nông dân tiến hành sản xuất, kinh doanh ở những điều kiện khác nhau, đặc biệt là các điều kiện về tự nhiên và kinh tế, gây ra bất bình đẳng về thu nhập Các chính sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, chính sách tín dụng nông thôn, chính sách về giải quyết việc làm và xoá đói giảm nghèo, khuyến nông thực sự đã giúp ích rất nhiều trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp của những người nông dân
Trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp hàng hoá, người nông dân thường chịu thiệt thòi do hạn chế về kiến thức thị trường, thông tin thị trường, sức mua Hơn nữa, các hiệu ứng tràn ra ngoài trong sản xuất nông nghiệp cũng làm cho sản xuất không hiệu quả: việc sử dụng bừa bãi phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ có tác động tiêu cực đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất Do vậy, việc Nhà nước can thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn lực
Trang 16trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm bảo ổn định và lâu dài Trong những năm qua, Chính phủ đã không ngừng ban hành sửa đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn Luật đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7/2003) đã thể chế hoá và nới rộng quyền của người sử dụng đất Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu dài đối với đất Người
sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà còn được quyền thừa
kế những đầu tư trên đất Điều đó đã trở thành động lực quan trọng trong phát triển nông nghiệp Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế
so sánh của từng vùng, từng miền Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây trồng có giá trị hàng hoá cao Các quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất nông nghiệp cũng là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Nhân tố kinh tế xã hội luôn mang ý nghĩa quyết định chỉ đạo với việc sử dụng đất đai nói chung Vì vậy phương hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững được quyết định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Trang 171.2.2.3 Nhóm yếu tố các biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai,cây trồng, vật nuôi tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng xuất kinh tế Đây là những vấn đê về sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững
Theo Frank Elliva Dounglss C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chưc sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất Cho đến giữa thế kỷ
21, trong nông nghiệp nước ta quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều hướng sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đât nông nghiệp
Khoa học kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Cải tiến kỹ thuật trước hết làm tăng cung về hàng hoá nông sản, cũng tức là làm phát triển kinh tế Áp dụng khoa học (kiến thức), kỹ thuật (công cụ), công nghệ (kỹ năng) để tăng năng suất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Thông qua việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như: giống cây trồng, vật nuôi mới, các quy trình kỹ thuật trong canh tác, trong chế biến bảo quản… làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng vật nuôi, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực như đất đai, lao động, vốn
Trang 181.3 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
1.3.1 Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Trước đây, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách tổng quát và chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa
là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng
số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Kết quả là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là
Trang 19sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định
về kinh tế - xã hội đất nước
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế
Sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả đồng nghĩa với việc phải xây dựng một hệ thống nông nghiệp vững chắc Nông nghiệp là một hệ thống thiết kế
để tạo môi trường cho cuộc sống của con người Có rất nhiều quan điểm về hệ thống nông nghiệp:
Conway (1987): Hệ thống nông nghiệp là hệ thống phải duy trì được năng suất sinh khối (sinh khối/đơn vị diện tích/đơn vị thời gian) theo thời gian
từ thập kỷ đến thế kỷ
Okigbo (1991): Hệ thống nông nghiệp là hệ thống có sản lượng chấp nhận được hoặc tăng lên, thoả mãn các nhu cầu của con người ngày một nâng cao; một hệ thống có năng suất tăng liên tục, đảm bảo có hiệu quả kinh tế cao
và an toàn sinh thái, thông qua sự quản lý các nguồn lợi thiên nhiên và đầu tư, với những tổn hại ít nhất đến môi trường và ít nguy hiểm nhất đối với con người
Greenland (1994): Hệ thống nông nghiệp là hệ thống quản lý đất, không làm suy thoái đất, hoặc làm ô nhiễm môi trường trong khi đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của cuộc sống con người
FAO: Hệ thống nông nghiệp là hệ thống quản lý thành công các nguồn lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, để thoả mãn những nhu cầu của con người, trong khi duy trì hoặc nâng cao chất lượng môi trường và bảo vệ các nguồn lợi thiên nhiên
Trang 20Đào Thế Tuấn (1995) thường liên hệ tính hiệu quả cùng sự phát triển theo thời gian của nhiều nhân tố trong hệ thống như: đất canh tác, sản lượng lương thực sản xuất ra từ hệ thống, dân số….
Mục đích của nông nghiệp là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người
mà không bóc lột đất đai, làm ô nhiễm môi trường Nông nghiệp phải coi thiên nhiên là môi trường lý tưởng để phát triển một cách hòa hợp với thiên nhiên
Như vậy: Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất hiệu quả phải đạt được trên cơ sở là duy trì và nâng cao được khả năng sản xuất, khả năng phục vụ của đất đai; có thể đứng vững được về mặt kinh tế đời sống và được
xã hội chấp nhận; giảm được nguy cơ cho sản xuất và môi trường; bảo vệ được tiềm năng của các nguồn lợi tự nhiên
1.3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Tuỳ theo nội dung của hiệu quả mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau Theo đa số các nhà kinh tế cho rằng, tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả
là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả
Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
có thể xem xét ở các mặt sau:
+ Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường do xã hội đặt ra như: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhun cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
+ Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo
Trang 21nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có mọt lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn
vị đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất sẽ đạt được kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra ít nhất và hạn chế ảnh hưởng môi trường Đó là phản ánh kết quả quá trình đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường
xã hội với hiệu quả cao
+ Tiêu chuẩn đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lý chất thải có hiệu quả
+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những người sống bằng nông nghiệp Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
• Bền vững về mặt kinh tế: Hệ thống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao phát triển ổn định, được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hoá sản phẩm
• Bền vững về mặt xã hội: thu hút nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội
• Bảo vệ về môi trường: loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao phải bảo vệ
độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên
1.3.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó
Trang 22mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
a) Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì
“Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho
xã hội
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau
Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Trang 23Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội"
- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan
hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H = K - C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0)Trong đó:
+ H: Hiệu quả
+ K: Kết quả
+ C: Chi phí
+ 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó
GTGT = GTSX - CPTG
Trang 24+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ, GTGT/LĐ) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu
sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động
b) Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết đến hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn
mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân Hiệu quả xã hội góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
Chỉ tiêu hiệu quả về mặt xã hội, bao gồm các chỉ tiêu:
- Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người
- Thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm
- Thu nhập bình quân trên đầu người ở vùng nông thôn
- Đảm bảo an toàn lương thực và gia tăng lợi ích của nông dân
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội
Tuy nhiên, không phải bất kỳ loại sử dụng nào cũng đạt được đầy đủ các chỉ tiêu xã hội nêu trên Tùy theo yêu cầu nghiên cứu hay mục tiêu xây dựng
dự án, người đánh giá có thể không lựa chọn chỉ tiêu này mà lựa chọn chỉ tiêu
Trang 25kia để đưa vào đánh giá
c) Hiệu quả về môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo
vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra.Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ
Trang 26dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về một số chỉ tiêu như:
- Mức sử dụng phân bón
- Mức sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
- Hệ số sử dụng đất
- Đánh giá hệ thống sản xuất cây trồng
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi loại hình sử dụng đất
- Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên
Việc xác định hiệu quả về môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, khó định lượng, nó đòi hỏi phải thực hiện nghiên cứu trong thời gian dài Tuy nhiên, theo từng đặc tính và mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau Vì vậy, khi đánh giá xem xét trong từng trường hợp cụ thể mà đặt cho chúng các trọng số khác nhau
1.4 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trên thế giới đất đai phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu khác nhưng Châu Á lại có tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp trên diện tích tự nhiên thấp và lại là khu vực có tỉ lệ dân
số đông trên thế giới Có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới như: Trung Quốc, ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích, tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt
Theo tài liệu của FAO/UNESCO: trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do tác động con người, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích Ở Trung Quốc, diện tích đất bị
Trang 27suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng; 6,67 triệu ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy Tại khu vực châu Á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha đất đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người Theo kết quả điều tra của FAO, 1992, do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng đất dốc Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: châu Âu, châu Úc, châu Phi: 5 -10 tấn/ha, châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; châu Á: 30 tấn/ha.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt, từ số liệu của UNDP năm 1995 cho ta thấy đây là khu vực dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích canh tác thấp: bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12ha; Malaysia 0,27ha; Philipin 0,13ha; Thái Lan 0,42ha; Việt Nam 0,1ha Như vậy, chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất và Việt Nam là quốc gia đứng vào hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN
Những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm phương hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là hướng đi trong tương lai
1.4.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33.069.348 ha Tính đến năm 2010, đất nông nghiệp: 26.100.160 ha,
Trang 28chiếm 78,93% tổng diện tích đất tự nhiên, bình quân 0,30 ha/đầu người và 0,68 ha/lao động nông nghiệp Trong đó đất được dùng cho sản xuất nông nghiệp: 10.117.893 ha, chiếm khoảng 38,77% diện tích đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm: 6.437.293 ha bằng 25,66% diện tích đất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm: 3.680.600 ha bằng 12,27% diện tích đất nông nghiệp); diện tích đất lâm nghiệp: 15.249.025 ha, chiếm 59,13% diện tích đất nông nghiệp (diện tích đất rừng sản xuất: 7.389.462 ha bằng 21,89% diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất rừng phòng hộ: 5.719.339 ha bằng 28,90% diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất rừng đặc dụng: 2.140.225 ha bằng 8,33% diện tích đất nông nghiệp), diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản: 690.218
ha, chiếm 2,82% diện tích đất nông nghiệp, còn lại là đất nông nghiệp khác và đất làm muối chiếm 0,12% diện tích đất nông nghiệp Trong nửa thập kỷ qua, dân số Việt Nam tăng 3,20 lần, với tốc độ tăng bình quân là 2%, dân số hiện nay hơn 80 triệu người
Trang 29Bảng 1.1 Biến động đất nông nghiệp của cả nước
(ha)
Năm 2005 (ha)
Tăng giảm (ha)
Đất nông nghiệp 26.100,160 24.822,560 1.277,600
1 Đất sản xuất nông nghiệp 10.117,893 9.415,568 702,3251.1 Đất trồng cây hàng năm 6.437,293 6.370,029 67,264Trong đó: Đất trồng lúa 4.127,731 4.165,277 -37,5461.2 Đất trồng cây lâu năm 3.680,600 3.045,539 635,061
2 Đất lâm nghiệp 15.249,025 14.677,409 571,6162.1 Đất rừng sản xuất 7.389,462 5.434,856 1.954,6062.2 Đất rừng phòng hộ 5.719,339 7.173,689 -1.454,3502.3 Đất rừng đặc dụng 2.140,225 2.068,864 71,361
3 Đất nuôi trồng thủy sản 690,218 700,061 -9,843
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường,2010)
Như vậy diện tích đất trồng lúa của nước ta năm 2010 là 4.127,731 ha,
so với năm 2005 đã giảm 37,546 nghìn ha, trong đó, giảm nhiều nhất ở đồng bằng sông Hồng, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác dưới 0,5%
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên nguồn đất có hạn, dân số lại đông, bình quân đất tự nhiên trên người là 0,45 ha, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135 trên thế giới, xếp thứ 9/10 Đông Nam Á Dân số tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người sẽ tiếp tục giảm Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp có chiều hướng giảm nhanh do chuyển mục đích sử dụng Đồng thời, các thảm họa thiên nhiên cũng là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp ở nước ta hiện nay
Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Trang 30Hiện nay, tài nguyên đất ngày càng được sử dụng hợp lý và có hiệu quả hơn so với các năm trước ở nước ta Trong cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp, cây lâu năm chiếm hơn 30%, cây hàng năm chiếm hơn 60% diện tích Tuy nhiên với hơn ¾ diện tích tự nhiên là đất dốc thì tỷ lệ cây lâu năm cần phải tăng hơn nữa Tuy nhiên ở miền núi du canh, quảng canh, độc canh còn khá phổ biến, năng suất cây trồng thấp so với các nước khác Vấn đề thoái hoá đất Việt Nam đang là một thách thức to lớn Nguyên nhân thoái hoá đất bắt nguồn từ các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiệu quả của cây trồng Hậu quả thoái hoá đất rất nghiêm trọng dẫn tới sự suy thoái tài nguyên động thực vật, suy giảm và mất khả năng sản xuất của đất.
Trong những năm gần đây các nhà khoa học nước ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề kỹ thuật và kinh tế, nhiều công trình nghiên cứu cấp quốc gia đã được tiến hành
Năm 1960, GS Bùi Huy Đáp đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông vào sản xuất do đó đã tạo ra sự chuyển biến rõ nét trong sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Vấn đề luân canh bố trí hệ thống cây trồng tăng vụ, gối vụ, trồng xen
để sử dụng tốt hơn nguồn lực đất đai, khí hậu được nhiều tác giả như Bùi Huy Đáp (1979), Ngô Thế Dân (1982), Vũ Tuyên Hoàng (1987) đề cập đến
Các đề tài nghiên cứu trong công trình KN-01 (1991-1995) do bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái như vùng núi và trung du phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhằm đánh giá hiệu quả các hệ thống cây trồng trên từng vùng đất đó
Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng (1997) cho thấy, ở vùng này đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3-4 vụ/năm đạt hiệu quả kinh tế cao Đặc biệt ở
Trang 31vùng ven đô, vùng tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về sử dụng đất đai hiệu quả kinh tế rất cao.
Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình công thức luân canh 3-4 vụ/năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, tưới tiêu chủ động có điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng, bố trí lại cây trồng có giá trị kinh tế cao đạt giá trị sản lượng bình quân từ 30 - 35 triệu đồng/năm
Nhìn chung công trình nghiên cứu mới chỉ giải quyết phần nào vấn đề đặt
ra trong việc sử dụng đất đai hoang Có những mô hình cho nghiên cứu kinh
tế cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả thực tế rất thấp, có mô hình đạt hiệu quả cao trước mắt song chưa có gì đảm bảo việc khai thác ổn định lâu dài, đặc biệt có nơi còn làm hủy hoại môi trường phá hủy đất Vì vậy cần có các công trình nghiên cứu ở từng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở địa phương từ đó có các giải pháp thích hợp hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững
Nông nghiệp là ngành đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của hầu hết mọi quốc gia Do đó, đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác để đưa ra những định hướng và giải pháp thiết thực cho việc sử dụng đất mang lại hiệu quả cao là vấn đề cấp thiết đang cần được giải quyết hiện nay, đặc biệt với một nước có truyền thống canh tác nông nghiệp lâu đời như Việt Nam
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp lý Mục tiêu đặt ra là sử dụng tối đa và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất của quốc gia, nhằm phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội Việc sử dụng đất dựa trên nguyên tắc là ưu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp
Trang 33CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp ở xã Song Mai - Thành Phố Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Tiến hành nghiên cứu trên toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của xã Song Mai - Thành Phố Bắc Giang - tỉnh Bắc Giang
- Thời gian: Từ ngày 09/02/2015 đến ngày 09/05/2015
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến việc sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, các nguồn tài nguyên… ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai
- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: Cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động và việc làm, thị trường tiêu thụ nông sản, dịch vụ và cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, công trình phúc lợi, ) ảnh hưởng đến sử dụng đất
2.2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất nông nghiệp
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
- Thực trạng phát triển ngành nông nghiệp
- Xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
2.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả về kinh tế của các loại hình sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất
2.2.4 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Song Mai
Trang 34- Đề xuất phương hướng và lựa chọn các kiểu sử dụng đất trên diện tích đất của xã đạt hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
2.2.5 Đề xuất giải pháp
Đề xuất các giải pháp mở rộng diện tích và phát triển những loại hình
sử dụng đất nông nghiệp có triển vọng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu
- Thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
- Thu thập số liệu, tài liệu về địa chất, địa hình, đất đai, phân loại đất và các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã
- Thu thập số liệu về tình hình sử dụng đất
2.3.2 Phương pháp thống kê xử lý số liệu.
- Phương pháp thống kê được ứng dụng để xử lý các số liệu điều tra, thu thập được trong quá trình nghiên cứu
- Sử dụng phần mềm Excel để xử lý,tổng hợp, phân tích số liệu
-Sử dụng phần mềm Microstation, Mapinfo để xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất và sơ đồ vị trí khu vực điều tra
2.3.3 Phương pháp minh họa bằng các bảng, biểu đồ.
- Phương pháp biểu đồ, bảng được ứng dụng để thể hiện một số kết quả nghiên cứu
- Phương pháp bản được ứng dụng để thể hiện các kết quả nghiên cứu thông qua bản đồ hiện trạng sử dụng đất thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/5000
2.3.4 Phương pháp kế thừa.
- Phương pháp này được sử dụng nhằm xác định, phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội – môi trường và tổng hợp các dữ liệu có liên quan đến xã Song Mai thông qua các thông tin, số liệu đã thu thập được
từ các nguồn khác nhau
Trang 35- Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu đã thực hiện trước đây tại khu vực nghiên cứu và các thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
2.3.5.Phương pháp điều tra, phỏng vấn hộ nông dân
Đây là phương pháp tiến hành bằng cách sử dụng bảng câu hỏi để điều tra ngẫu nhiên một số hộ nông dân nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan cũng như chính xác của số liệu thu được
Trang 36CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm Điều kiện tự nhiên, cảnh quan môi trường
3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Song Mai là một xã nằm ở phía Tây - Tây bắc của Thành phố cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 4km và có địa giới hành chính tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp : xã Quế Nham - Tân Yên và xã Xuân Hương - Lạng Giang
- Phía Nam giáp : xã Đa Mai TP Bắc Giang và xã Nghĩa Trung - Việt Yên
- Phía Đông giáp : Phường Thọ Xương TP và xã Xuân Hương - Lạng Giang
- Phía Tây giáp : xã Nghĩa Trung huyện Việt Yên
Hình 3.1: Sơ đồ vị trí xã Song Mai
Vị trí địa lý rất thuận lợi, nằm ngoại thành Thành phố Bắc Giang, phía Đông của xã có Sông Thương bao bọc, xã có đường TL398 chạy qua nối TP Bắc Giang với các huyện lân cận Vị trí địa lý của xã như vậy việc đi lại và
Trang 37giao lưu hàng hoá, văn hoá xã hội và chuyển giao khoa học kỹ thuật rất thuận lợi.
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Xã có địa hình bán sơn địa tương đối bằng phẳng, địa hình thấp dần từ Tây bắc xuống Đông nam Phía bắc chủ yếu là đồi thấp, phía Nam địa hình tương đối bằng phẳng Độ dốc trung bình 0-80, độ cao so với mực nước biển 8- 10m, nhiều khu vực trong xã có địa hình thấp hơn mực nước Sông Thương
Là xã trung du có diện tích thuộc loại lớn nhất của thành phố Phần diện tích bằng phẳng tương đối lớn, thuận tiện cho sự phát triển hoa mầu, cây lương thực, nuôi trồng thủy sản và cũng có nhiều vị trí thuận lợi cho xây dựng
cơ sở hạ tầng và phát triển theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Là một xã thuộc vùng trung du Bắc bộ do đó có những nét đặc thù cơ bản về khí hậu thời tiết của vùng trung du Bắc bộ, khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mưa nhiều và hanh khô rõ rệt
* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23,40C, mùa nóng nhiệt độ trung bình/ ngày khoảng 280C, mùa khô hanh nhiệt độ 15-170C có những ngày nhiệt độ xuống đến 100C Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm khoảng 10-150 C
* Độ ẩm: Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 82%, độ ẩm cao nhất
có lượng mưa thấp nhất 16,9 mm có những năm không có mưa Mùa mưa bắt
Trang 38đầu từ tháng 4 đến tháng 9 lượng mưa chiếm 85-88% tổng lượng mưa cả năm,
số ngày mưa khoảng 115 ngày, lượng mưa trong năm khoảng 1200mm, hanh khô thường bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau thời tiết thường khô không có mưa
*Gió: Gió thổi theo hai mùa rõ rệt, gió Đông bắc thổi vào mùa đông lạnh
và gió Đông nam thổi về mùa nóng, các tháng 4, 5, 6 thỉnh thoảng xuất hiện gió tây khô nóng nhưng ít ảnh hưởng đến sản xuất Úng thường xảy ra vào tháng 8, 9, 10, cũng ảnh hưởng một phần đến diện tích đất sản xuất nông nghiệp
Tuy nhiên do địa hình thấp hơn mực nước sông Thương vào mùa lũ dung tích của các ao, hồ nhỏ nên khi có mưa lớn, tập trung khả năng tiêu thoát nước kém, gây ngập úng cho các khu vực thấp, trũng
+ Nhóm đất tạo thành do quá trình bồi tụ phù sa của các sông, ngòi tạo thành
- Căn cứ vào tính chất nông hóa thổ nhưỡng, đất của xã được phân ra làm 4 loại chính:
Trang 39+ Đất bạc màu trên phù xa cổ nằm rải rác trong xã, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến thịt trung bình Đất này tuy nghèo đạm, lân và mùn nhưng giàu Kali, tơi, xốp và thoát nước tốt, thích hợp cho các loại cây khoai tây, khoai lang, cà rốt, đậu đỗ, lạc, rau
+ Đất phù xa có tầng loang lổ loại đất này phân bố chủ yếu ở phía đông bắc của xã Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, độ dày tầng đất phổ biến
60 - 100 cm, độ dày tầng canh tác 15 - 40 cm Loại đất này đang trồng 2 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa 1 vụ màu
+ Đất phù xa ngập úng phân bố ở phía nam của xã địa hình vàn thấp Loại đất này thường bị ngập, úng cục bộ hoặc chịu ảnh hưởng của nước ngầm nông Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt nặng Độ dày tầng đất lớn hơn 100 cm, hàm lượng các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá + Đất tầng mỏng nhiều sỏi đá loại đất này phân bố chủ yếu ở phía bắc của xã, trên đồi tầng đất mỏng, độ phì kém, bạc màu, cần được đầu tư cải tạo
3.1.2 Các nguồn tài nguyên
3.1.2.1 Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên là 998,51ha, gồm 3 nhóm đất chính:
- Diện tích đất nông nghiệp: 662,60 ha, chiếm 66,36% tổng diện tích tự nhiên
- Diện tích đất phi nông nghiệp: 310,95 ha, chiếm 31,14% tổng diện tích
tự nhiên
- Diện tích đất chưa sử dụng: 24,96 ha, chiếm 2,50% tổng diện tích tự nhiên
Trang 40Biểu đồ 3.1: Cơ cấu sử dụng đất xã Song Mai năm 2014
Với diện tích đất nông nghiệp lớn rất thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá
Nhìn chung tài nguyên đất đai của xã thuộc loại nghèo chất dinh dưỡng, vùng đất trồng lúa có lượng mùn thấp, độ chua khá lớn Lân tổng số và lân dễ tiêu nằm ở thang cấp nghèo đến rất nghèo Ngày nay do quá trình canh tác, bảo vệ đất còn bất hợp lý, việc cải tạo và bồi bổ đất không thường xuyên đã làm cho đất ngày một xấu đi, hơn nữa đất dễ bị rửa trôi, xói mòn
3.1.2.2 Tài nguyên nước
Tài nguyên nước được nhìn nhận và đánh giá dựa trên 2 nguồn nước chính
là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm
- Nguồn nước mặt: Chủ yếu được khai thác và sử dụng từ các kênh rạch, trên địa bàn, trong đó Sông Thương là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất
và sinh hoạt của nhân dân cũng như phục vụ tiêu nước trong khu vực Tuy nhiên trong những năm qua, cùng với phát triển kinh tế, các chất thải, rác thải trên địa bàn xã ngày càng nhiều làm ô nhiễm các sông rạch, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước mặt của xã