ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ MINH NGỌC TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN TÍCH HỢP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG PHẦN SINH THÁI HỌC - SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ MINH NGỌC
TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN TÍCH HỢP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TRONG PHẦN SINH THÁI HỌC - SINH HỌC 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ MINH NGỌC
TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN TÍCH HỢP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TRONG PHẦN SINH THÁI HỌC - SINH HỌC 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN SINH HỌC)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đinh Quang Báo
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô trong phòng đào tạo và các thầy cô giáo bộ môn, trường đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện, giảng dạy và đóng góp nhiều ý kiến, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn Sinh học trường Trung học phổ thông Xuân Đỉnh, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Đinh Quang Báo đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng môn đã có những ý kiến góp ý cho tôi hoàn chỉnh luận văn, ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Học viên
Trần Thị Minh Ngọc
i
Trang 4Phát triển bền vững United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
United Nationals Framework Convention on Climate Change Công ước khung Liên hiệp quốc về BĐKH
Quần thể Quần
xã Sinh quyển Sinh thái Sinh thái học Thựcnghiệm
đối chứng Phiếu học tập Sách Giáo khoa Giáo viên Cấp độ tổ chức sống
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục biểu đồ, hình vẽ vi
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3 3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4 6 Giả thuyết khoa học 4 7 Phương pháp nghiên cứu 4 8 Đóng góp mới của đề tài 5 9 Cấu trúc luận văn 6
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU 7
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 11
1.2.1 Cách tiếp cận 11
1.2.2 Cơ sở lý luận của dạy học tích hợp giáo dục Biến đổi khí hậu trong giảng dạy Sinh thái học 12 16
1.2.3 Cơ sở lý luận của dạy học dự án tích hợp giáo dục Biến đổi khí hậu trong giảng dạy Sinh thái học 12 23
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN 34
1.3.1 Mục đích: 34
1.3.2 Đối tượng khảo sát: 34
1.3.3 Nội dung: 35
1.3.4 Phương pháp: 36
1.3.5 Kết quả khảo sát : 36 CHƯƠNG II: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN TÍCH HỢP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG PHẦN SINH THÁI HỌC SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG.49
iii
Trang 62.1 Phân tích nội dung chương
trình 49
2.1.1 Cấu trúc và nội dung Sinh học THPT 49
2.1.2 Mục tiêu, nội dung chương trình sinh thái học, Sinh học 12 52
2.2 CÁC NỘI DUNG TÍCH HỢP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 55
2.3 Quy trình thiết kế và tổ chức các dự án tích hợp biến đổi khí hậu trong giảng dạy sinh thái học sinh học 12 60
2.3.1 Quan điểm, nguyên tắc thiết kế và tổ chức các dự án học tập 60
2.3.2 Quy trình thiết kế 61
2.3.3 Tổ chức dạy học theo dự án trong phần STH 64
2.3.4 Xây dựng công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh 79
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81
3.1 Mục đích 81
3.2 Tổ chức 81
3.2.1 Phương pháp thực nghiệm 81
3.2.2 Các bước thực nghiệm 81
3.3 Kết quả 83
3.3.1 Sản phẩm của dự án 83
3.3.2 Phân tích định tính 84
3.3.3 Phân tích định lượng 85
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
1 Kết luận 95
2 Khuyến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 102
Trang 7Nhận thức của giáo viên và học sinh về nguyên nhân, tác động của BĐKH
Khảo sát phương pháp, cách thức giáo dục BĐKH trong nhà trường THPT
Thực trạng dạy học dự án và dạy học tích hợp ở hai trường THPT Xuân Đỉnh và THPT Trung Văn
Mục tiêu, Nội dung chương trình Sinh thái học - Sinh học 12 Mức độ tích hợp BĐKH trong chương trình Sinh thái học Các nội dung đánh giá sản phẩm học sinh
Thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN Tần suất điểm các bài kiểm tra lần 2 trong TN Kiểm định X điểm các bài kiểm tra trong TN lần1 Phân tích phương sai điểm các bài kiểm tra trong TN lần 1 Kiểm định X điểm các bài kiểm tra trong TN lần2
Phân tích phương sai điểm các bài kiểm tra trong TN lần 2 Tổng hợp điểm các bài kiểm tra độ bền kiến thức sau TN Bảng tần suất các bài kiểm tra độ bền kiến thức số 1 Bảng tần suất các bài kiểm tra độ bền kiến thức số 2
Trang 8Mối quan hệ giữa mục tiêu tích hợp BĐKH và các cấp học Các hình thức dạy học dự án
Sơ đồ cấu trúc chương trình Sinh học ở trường THPT
Sơ đồ cấu trúc chương trình Sinh học 12
Sơ đồ cấu trúc nội dung STH 12 THPT
Đồ thị điểm trung bình các bài kiểm tra lần 1 trong TN
Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra lần 1 trong TN
Đồ thị điểm trung bình các bài kiểm tra lần 2 trong TN
Đồ thị tần suất điểm các bài kiểm tra lần 2 trong TN
Đồ thị điểm trung bình các bài kiểm tra sau TN
Đồ thị tần suất các bài kiểm tra độ bền kiến thức số 1
Đồ thị tần suất các bài kiểm tra độ bền kiến thức số 2
Trang 9PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lý do thứ nhất: Ứng phó Biến đổi khí hậu là vấn đề cấp bách của toàn thế giới
và đặc biệt là của Việt Nam
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21, đã và đang gây ra những biến đổi mạnh mẽ thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường Trong đó, Việt Nam đã và đang phải đương đầu với những biểu hiện ngày càng gia tăng của những hiện tượng thời tiết này
Theo Thông báo quốc gia lần thứ 2 của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Kể từ năm
1958 đến năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng lên khoảng 0,5 - 0,7 độ C Nhiệt
độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng phía Bắc tăng nhanh hơn các vùng phía Nam Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung bình năm trên lãnh thổ nước ta không rõ rệt theo các thời kỳ và các vùng khác nhau Lượng mưanăm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở các vùng khí hậu phía Nam Tính trung bình trong cả nước, lượng mưa trong 50 năm qua đã giảm khoảng 2% Tuy vậy, biến đổi lượng mưa có xu hướng cực đoan, đó là tăng trong mùa mưa và giảm mạnh trong mùa khô
Bên cạnh đó, số đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam cũng giảm rõ rệt trong
2 thập kỷ qua Các biểu hiện thời tiết dị thường xuất hiện ngày càng nhiều, tiêu biểu như đợt lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 30 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 ở Bắc Bộ, đã gây thiệt hại lớn về cây trồng, vật nuôi cho các địa phương ở đây
Đặc biệt, do tác động của biến đổi khí hậu, trong khoảng 5-6 thập kỷ gần đây, tần số xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông tăng lên với tốc độ 0,4 cơn mỗi thập kỷ; tần
số xoáy thuận nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam tăng với tốc độ 0,2 cơn mỗi thập kỷ và có cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn Quỹ đạo của bão có dấu hiệu dịch chuyển dần về phía Nam và mùa mưa bão kết thúc muộn hơn Nhiều cơn bão có đường đi bất thường và không theo quy luật
Một biểu hiện đáng lo ngại của BĐKH nữa là mực nước biển dâng đã và đang gây ngập lụt trên diện rộng, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai
1
Trang 10Theo báo cáo mới nhất của IPCC, Việt Nam là một trong số rất ít các nước chịu tác động mạnh mẽ của nước biển dâng
Lý do thứ hai: Giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong truyền thông
BĐKH và Ứng phó BĐKH
Học sinh phổ thông là nhân tố cơ bản để lan tỏa trong xã hội, những hành động của các em đều có tính động viên, khích lệ lớn đối với gia đình, xã hội và do đó, có tác độnggóp phần làm thay đổi hành vi, cách ứng xử của mọi người trong xã hội trước hiện tượng BĐKH
Học sinh phổ thông là lực lượng chủ lực trong việc thực hiện và duy trì các hoạt động tuyên truyền về ứng phó với BĐKH trong và ngoài nhà trường Đồng thời, những kiếnthức và kĩ năng về ứng phó với BĐKH mà các em tiếp thu được từ nhà trường sẽ dần hình thành trong tư duy, hành động của các em để ứng phó với BĐKH trong tương lai Bởi vậy việc đầu tư cho giáo dục ứng phó với BĐKH trong hệ thống GDPT nói riêng, hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, là một giải pháp lâu dài, nhưng hiệu quả kinh tế nhất và bền vững nhất
Giáo dục THCS và THPT bên cạnh việc hoàn thiện nội dung GDPT qui định cho từng cấp học, thì trước những thách thức của BĐKH còn có nhiệm vụ cung cấp cho HS những hiểu biết cơ bản về BĐKH, tác động của BĐKH đến môi trường tự nhiên, đến đời sống và sản xuất của con người; những giải pháp nhằm hạn chế tác động của BĐKH và ứng phó với BĐKH để HS trở thành một tuyên truyền viên tích cực trong gia đình, nhà
trường và địa phương về BĐKH
Sự cần thiết phải đưa nội dung BĐKH vào trường học
Giáo dục BĐKH (Climate Change Education) là một nội dung quan trọng trong vấn đề giáo dục vì sự PTBV (Education for Sustainable Development)
Năm 1987, những ý tưởng ban đầu về giáo dục vì sự PTBV được thể hiện trong báo cáo của Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc với tư cách một mặt quan trọng thúc đẩy PTBV Đến năm 1992, Hội nghị Rio de Janeiro (Brazin), giáo dục BĐKH được thể hiện ở Chương 36 của Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) với tên gọi
"Tăng cường giáo dục, đào tạo và nhận thức của cộng đồng"
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV ở Johannesburg (Nam Phi) đề cập
"Một thế giới mà trong đó ai ai cũng đều có cơ hội được hưởng lợi từ một nền giáo
Trang 11dục có chất lượng và được tiếp thu những giá trị, hành vi và cách sống cần có một tương
lai bền vững và cho những chuyển biến tích cực" Sau đó, ngày 20/12/2002, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết 57/254 quan trọng triển khai Thập kỉ Giáo dục vì
Sự phát triển Bền vững (Decade of Education for Sustainable Development) bắt đầu từ năm
2005 đến năm 2014, chỉ định UNESCO (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization) là cơ quan chịu trách nhiệm triển khai các hoạt động của Thập kỉ Tháng 7 năm
2009, UNESCO đã tổ chức hội thảo về chủ đề giáo dục biến đổi khí hậu tại Paris (Pháp)
Ở Việt Nam, Chính phủ đã ban hành "Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam" (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) trong đó nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục Ngày 11/11/2005, Uỷ ban Thập kỉ Giáo dục vì sự phát triển bền vững ở Việt Namđược thành lập theo quyết định số 295/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Giáo dục BĐKH là một trong 15 nội dung của giáo dục vì sự PTBV và chứa đựng những nội dung nổi bật của giáo dục vì sự PTBV Giáo dục BĐKH giúp cho người học hiểu và biết được những tác động của hiện tượng nóng lên toàn cầu hiện nay, đồng thời khuyến khích thay đổi thái độ và hành vi cần thiết để đưa thế giới phát triển bền vững trongtương lai
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Dạy học dự án tích hợp Biến đổi khí hậu vào phần Sinh thái học 12 Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh nâng cao nhận thức và giá trị vận dụng kiến thức sinh thái học
- Định hướng thay đổi hành vi với môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồngthời phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học tích hợp
(2) Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học dự án
(3) Đánh giá thực trạng tích hợp, lồng ghép giáo dục Biến đổi khí hậu ở một số trường THPT trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm thành phố Hà Nội
(4) Phân tích nội dung kiến thức phần sinh thái học làm cơ sở tích hợp kiến thức Biến đổi khí hậu
3
Trang 12(5) Thiết kế, tổ chức một số dự án học tập tích hợp BĐKH trong phần Sinh thái học Sinh học 12 THPT
(6) Thực nghiệm sư phạm
4 Đối tượng và khách thể
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổ chức Dự án giáo dục tích hợp BĐKH
trong phần Sinh thái học
- Khách thể: Tích hợp BĐKH vào dạy học Sinh học -
Nghiệm thể: học sinh lớp 12 THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Nghiên cứu nội dung, địa chỉ tích hợp BĐKH vào một số bài cụ thể trong phần Sinh Thái học sinh học 12 THPT
- Nghiệm thể: một số trường THPT của quận Bắc Từ Liêm - Hà Nội
6 Giả thuyết khoa học
Dạy học dự án tích hợp Biến đổi khí hậu vào giảng dạy Sinh thái học có tác dụng nâng cao nhận thức và giá trị ứng dụng kiến thức sinh thái học, định hướng thay đổi hành visinh đối với các vấn đề bức thiết về môi trường - sinh thái và biến đổi khí hậu, đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập phân tích tổng hợp tài liệu để lựa
chọn những vấn đề làm cơ sở lý luận cho đề tài
Phương pháp nghiên cứu tư liệu được thực hiện thông qua việc tổng hợp, phân tích,
hệ thống các dữ liệu thứ cấp: Thông tư, quyết định, chuơng trình, kế hoạch, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Bộ GD&ĐT về vấn đề đổi mới giáo dục và giáo dục BĐKH; phân tích, tổng hợp, khái quát hoá những tu liệu, tài liệu lý luận về dạy học dự án, sư phạm tích hợp và giáo dục BĐKH, những kết quả nghiên cứu lý thuyết và những kết quả khảo sát, đánh giá về giáo dục BĐKH để xây dựng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết cho vấn
đề nghiên cứu
- Trình tự thực hiện:
+ Tổng hợp các văn bản liên quan đến đổi mới giáo dục và giáo dục BĐKH;
+ Sắp xếp theo trình tự thời gian;
Trang 13+ Phân tích kết quả, rút ra kết luận
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: khảo sát điều tra thực tiễn, thu thập số
liệu làm cơ sở thực tiễn của đề tài
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phương pháp được thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng dạy học dự
án và giáo dục BĐKH trong một số trường THPT Các đối tuợng được điều tra gồm 40 giáoviên (đại diện) của hai trường THPT Xuân Đỉnh và THPT Trung Văn cùng với 200
học sinh lớp 12 của hai trường trên
- Trình tự thực hiện như sau:
+ Thiết kế bảng hỏi; + Tổ
chức lấy ý kiến;
+ Phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu
Phương pháp trắc nghiệm
- Sử dụng một số bài trắc nghiệm để đo mức độ nhận thức về BĐKH của sinh
viên trước và sau thực nghiệm
- Trình tự thực hiện nhu sau:
+ Thiết kế đề trắc nghiệm;
+ Tổ chức thực hiện;
+ Chấm bài, tổng hợp, lập bảng so sánh
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Sử dụng hai dự án học tập để thực nghiệm các hình thức tổ chức dạy học dự án tích hợp giáo dục BĐKH thông qua dạy học bài mới và hoạt động ngoại khóa
7.4 Phương pháp xử lý số liệu
- Các bảng tổng hợp kết quả khảo sát và bài trắc nghiệm được thống kê bằng
thuật toán thống kê (sử dụng excel 2010);
- Các biểu đồ được thực hiện bằng chức năng vẽ và hiệu chỉnh biểu đồ trong word
2010
8 Đóng góp mới của đề tài
1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc dạy học dự án tích hợp Biến đổi khí hậu vào phần Sinh thái học - Sinh học 12 - THPT
5
Trang 142) Đánh giá thực trạng tích hợp, lồng ghép giáo dục Biến đổi khí hậu ở một số trường THPT trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm thành phố Hà Nội
3) Xây dựng được các dự án học tập tích hợp BĐKH và sử dụng các dự án đó để tổ chức dạy học với một số bài trong phần Sinh thái học Sinh học 12 THPT
9 Cấu trúc luận văn
PHẦN I: MỞ ĐẦU
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG II: TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN TÍCH HỢP BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
TRONG PHẦN SINH THÁI HỌC SINH HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 151.1
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU
Biến đổi khí hậu là vấn đề nóng bỏng được cả thế giới quan tâm
Trong những năm 80 của thế kỷ trước, những bằng chứng thuyết phục về khả năng BĐKH đã dẫn đến sự quan tâm chung ngày càng tăng của cộng đồng thế giới Từ năm 1990, một loạt các hội nghị quốc tế đã đưa ra những lời kêu gọi khẩn cấp để có một hiệp ước toàn cầu
về vấn đề này Năm 1992 ở Rio de Janeiro, Braxin, 155 quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã
ký công ước khung của Liên hiệp quốc và BĐKH Mục tiêu của Công ước là nhằm "ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu"
Năm 1997, với hội nghị Kyoto với Nghị định thư KYOTO đã được sự phê chuẩn của 165 quốc gia nhằm giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính thông qua thực hiện "Cơ chế phát triển sạch" Năm 2009, hội nghị BDKH ở Copenhaghen được diễn ra, tiếp tục bàn về các giải pháp ứng phó vơi tình hình BĐKH
Năm 2011, hội nghị Liên hiệp quốc về BĐKH lần thức 17 được tổ chức tại Durban, Nam Phi (28/11 đến 9/12/2011), với sự tham gia của các đại biểu đến từ 194 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên của Công ước khung Liên hiệp quốc vê BĐKH (UNFCCC) Mụctiêu lớn lao của chương trình nghị sự hàng đầu của hội nghị lần này là đạt cho được một thỏa thuận kế tục cho Nghị định thư KYOTO 1997, sẽ kết thúc hiệu lực giai đoạn một vào năm
2013 Đây là thỏa thuận duy nhất cho đến nay về việc hạn chế mức phát thải các loại khí gây hiệu ứng nhà kính làm trái dất ấm nóng lên, dẫn đến khí hậu trái đất thay đổi bất lợi chocon người
Một điều chắc chắn rằng sự quan tâm về BĐKH không dừng lại ở đó, trong những năm tới thế giới sẽ nỗ lực đưa ra hành động chung trước vấn đề BĐKH
Tại Việt Nam vấn đề BDKH đang được dặc biệt quan tâm
Việt Nam đã sớm xây dựng những chiến lược và các chương trình quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu và thực hiên một số dự án
Dự án "Biến đổi khí hậu ở Châu á: Việt Nam" (1992 - 1994) do Viện Quy hoạch
Thủy lợi - Bộ Thủy lợi và Viện Khí tượng thủy văn nhằm đánh giá, phân tích hiện tượng
7
Trang 16và tác động của Biến đổi khí hậu trên phạm vi Châu á, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là
trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp, đồng thời đưa ra những biện pháp ứng phó
Năm 2002 - 2005 tổ chức CECI (Trung tâm nghiên cứu và hợp tác quốc tế Canada)
thực hiện dự án: "Xây dựng năng lực thích ứng với Biến đổi khí hậu ở miền trung Việt
Nam" Năm 2004, báo cáo quốc gia về nỗ lực thích ứng vói BĐKH: "Biến đổi khí hậu và phòng ngừa thảm họa" của Hội chữ thập đỏ đã phân tích và đưa ra biện pháp để Việt Nam
học cách sống chung với BĐKH hay thích ứng với một thực tại mới
Năm 2006, Roger Few đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa thích ứng với BĐKH,
quản lý rủi ro thiên tai và giảm nghèo ở Việt Nam trong báo cáo: "Linking Climate
Change Adaptation and Disaster Risk Management for Sustainable Poverty Reduction Vietnam Country Study" Báo cáo đã xét đến nguy cơ, các tác động BĐKH v à c á c h t iế p c ận
ở V i ệt N a m
Ngoài ra, Việt Nam còn xây dựng các chuyên đề Thủy lợi, nông nghiệp năm 2007,
"Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH" năm 2008, "Chiến lược quốc gia về
Biến đổi khí hậu" năm 2011 và "Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu giai đoạn 2012 - 2015" nhằm đánh giá tổng quan về BĐKH và đưa ra những chính
sách thích ứng, giảm thiểu
Giáo dục nâng cao nhận thức về BĐKH là một trong những giải pháp tốt nhất để ứng phó với BĐKH [6], thông qua giáo dục tạo cảm xúc, thay đổi nhận thức, hành vi, thái
độ đối với biến đổi khí hậu toàn cầu
Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về chủ độngứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, giải pháp về tăng cường, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, hình thành ý thức chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng tiết kiệm tài
nguyên và bảo vệ môi trường của Nghị quyết đã chỉ rõ:
Đa dạng hóa hình thức, đổi mới nội dung, xác định các đối tượng ưu tiên tuyên truyền, giáo dục; đưa nội dung ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vào chương trình đào tạo các cấp học phổ thông, đại học, đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý Phổ biến kinh nghiệm, xây dựng năng lực, kỹ năng phòng tránh
thiên tai, thích ứng với BĐKH cho mọi người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội
Trang 17* Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về BĐKH [40]
Trong nhiệm vụ 7 mục c- Nâng cao nhận thức, giáo dục và đào tạo của Chiến lược quốc gia về BĐKH đã nêu:
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và các thành phần xã hội về các vấn đề BĐKH
- Xây dựng các phương pháp phù hợp nhằm tiếp cận và sử dụng thông tin về BĐKH cho các thành phần xã hội; đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến về tác động, nguy cơ và cơ hội từ BĐKH, đặc biệt chú trọng tới cộng đồng dân cư và địa bàn trọngđiểm
- Đưa kiến thức cơ bản về BĐKH vào trong các chương trình, bậc giáo dục, đào tạo;phát triển và có chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao các chuyên ngành liên quan đến thích ứng với BĐKH và giảm phát thải khí nhà kính
- Tăng cường ý thức, trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm cộng đồng trong phòng, tránh và khắc phục hậu quả thiên tai; xây dựng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với khí hậu cho mọi thành viên của cộng đồng; khuyến khích, nhân rộng các điển hình tốt trong ứng phó với BĐKH
* Quyết định số 4619/QĐ- BGDĐT ngày 12 tháng 10 năm 2010 về việc phê duyệt
Dự án "Đưa các nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương
trình giáo dục và đào tạo giai đoạn 2011-2015"[5]
Mục tiêu chung: Đưa được các nội dung về BĐKH và ứng phó với BĐKH trình giáo dục và đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 18Nhiệm vụ 5 của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH là: Nâng cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực, có 3 chỉ tiêu đến 2015 cần đạt được, cụ thể như sau:
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho toàn xã hội về BĐKH; đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao
+ Hoàn thiện, cập nhật và phổ cập rộng rãi tài liệu và phương tiện phục vụ nâng cao nhận thức;
+ Triển khai kế hoạch nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực trong hệ thống giáo dục, đào tạo các cấp
+ Trên 80% cộng đồng dân cư và 100% công chức, viên chức nhà nước có hiểu biết
cơ bản về biến đổi khí hậu và các tác động của nó
Những đề tài nghiên cứu về BĐKH được nghiên cứu ngày càng nhiều Các cuộc hộithảo, các chương trình, các dự án về lồng ghép tích hợp BĐKH trong các cấp học, các lĩnh vực đã được thực hiện ở nhiều cấp
Việc đưa giảng dạy tích hợp BĐKH vào trường phổ thông là vấn đề được rất nhiều nhà khoa học và các nhà giáo dục quan tâm Hiện đã có một số luận văn nghiên cứu về nội
dung lồng ghép tích hợp Biến đổi khí hậu trong nhà trường như: Tổ chức giáo dục vì sự
phát triển bền vững - trong chương trình sách giáo khoa Địa lý lớp 10 (Nguyễn Thị Thúy
Hường); Tổ chức cho học sinh thực hiện các dự án về Biến đổi khí hậu với sự hỗ trợ của
Internet trong dạy học Địa lý lớp 6 - THC (Hà Văn Thắng); Thiết kế và tổ chức các dự án học tập về truyền thông Biến đổi khí hậu trong dạy học Địa lý lớp 10 - THPT (Nguyễn Thị
Dung); Tích hợp giáo dục môi trường và Biến đổi khí hậu trong dạy học
Sinh thái học Quần thể - Sinh học 12 - THPT (Chu Thị Thu Hương)
Những luận văn trên đã đưa ra một số cách thức tiếp cận, cách thức thiết kế và tổ chức thực hiện lồng ghép, tích hợp nội dung BĐKH vào chương trình, môn học ở trường phổ thông, đem lại các sản phẩm giáo dục hữu ích, thiết thực trong điều kiện toàn nhân loại cũng như Việt Nam đang đối phó với BĐKH như hiện nay
Trang 191.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.2.1 Cách tiếp cận
1.2.1.1 Tiếp cận hệ thống
Khái niệm hệ thống và tiếp cận hệ thống
Về khía cạnh triết học, khái niệm hệ thống được hiểu là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở nên một chỉnh thể trọn vẹn; và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, chúng lại tạo nên những thuộc tính mới Các thuộc tính mới này không có ở các yếu tố cấu trúc khi chúng đứng riêng lẻ Mối tác động qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã sản sinh ra động lực cho sự tự thân vận động và phát triển của hệ thống
Von Bertalanffy xác định một cách ngắn gọn: "Hệ thống là một tổng thể các phần tử có
quan hệ, có tương tác với nhau" [40]
Từ điển Tiếng Việt lại định nghĩa: "Hệ thống là một tập hợp những yếu tố, những bộ phận có mối quan hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau và tạo thành một chỉnh thể nhất định" [21]
Theo Giáo sư Hoàng Tụy "Hệ thống là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ và tương tác với nhau và với môi trường xung quanh một cách phức tạp" [47]
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hệ thống, nhưng các định nghĩa đều có điểm chung là: Hệ thống là tập hợp của những yếu tố có mối liên hệ với nhau tạo cho hệ thống có tính thống nhất ổn định và tính chỉnh thể Các cách định nghĩa khác nhau bởi cách
sự vật hiện tượng trong các hệ thống đều mang tính khách quan nhưng tùy thuộc vào cách tiếp cập, mỗi tác giả đưa ra định nghĩa Hệ thống một cách chủ quan
Tiếp cận được hiểu là cách tiến đến đối tượng, nghiên cứu đối tượng theo cách như thế nào Tiếp cận hệ thống là xem xét một đối tượng nghiên cứu như là một hệ thống lớn bao gồm những hệ con Tiếp cận hệ thống nhấn mạnh vào việc xác định và mô tả mối quan hệ trongtừng hệ con cũng như mối tương tác giữa các hệ con cấu thành nên toàn bộ hệ thống
11
Trang 20Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu đã phát biểu khái niệm TCHT một cách ngắn gọn
như sau: TCHT là cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc và động lực của
chúng, đó là một cách tiếp cận toàn diện và động [19]
Tính hệ thống của sinh giới và tiếp cận hệ thống trong STH
Bản thân sinh giới mang tính hệ thống, trong đó mỗi cấp độ cơ thể sống chính là một hệ con Phân tử - tế bào - cơ thể - quần thể - loài - quần xã - hệ sinh thái - sinh thái quyển, mỗi cấp tổ chức có tính chất, đặc điểm như một hệ sống độc lập Đồng thời các cấp độ này luôn có sự tương tác với nhau và với môi trường sống quanh nó tuân theo quy luật tính hệ thống của vật chất Trong đó Sinh thái học là bộ môn nghiên cứu về các cấp độ tổ chức sống từ cá thể trở lên, nó quan tâm đến mối quan hệ tương hỗ giữa cá thể trong tự nhiên cũng như giữa các cá thể đó với môi trường Sinh thái học bao gồm một số môn học khác nhau, trong đó mỗi môn học nghiên cứu một mức tổ chức sinh học nhất định Mỗi tổ chức
đó lại là một hệ thống mở tự điều chỉnh Chính vì vậy, nghiên cứu Sinh thái học, dạy học Sinhthái học tất yếu theo quan điểm tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu và giảng dạy tích hợp BĐKH với sinh thái học
Ta có sơ đồ tác động giữa các hệ thống trong môi trường trái đất như sau:
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các quyển trên trái đất
Trang 21Theo quan điểm hệ thống, toàn bộ môi trường sống của trái đất chính là một
thượng hệ và các hệ con trong đó bao gồm Thạch quyển, Thủy quyển, Khí quyển, Băng quyển và Sinh quyển Các hệ này tương tác lẫn nhau và tạo ra những bến đổi của mỗi hệ Sự biến đổi của mỗi hệ tiếp tục tác động ngược lại các hệ khác và tạo ra những chu trình tác động hồi tiếp Biến đổi khí hậu là những thay đổi trong khí quyển, đã có lịch sử tồn tại từ rấtlâu Những biến đổi của cổ khí hậu là một trong những nguyên nhân dẫn đến rất nhiều sự thay đổi về thành phần cấu trúc, sự tồn tại diệt vong, sự phát sinh và tiến hóa của các loài sinh vật Tuy nhiên BĐKH tự nhiên trong lịch sử trái đất không có tốc độ nhanh, cường độ mạnh như thời điểm hiện tại - dưới tác động của con người Biến đổi khí hậu ngày nay với nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động sản xuất, sinh hoạt, của con người đang tiếp tục gây tác động cực kỳ mạnh mẽ lên các quyển khác trên trái đất và tác động ngược lại lên loài người
1.2.1.2 Tiếp cận năng lực
Khái niệm năng lực có nguồn gốc tiếng La tinh là competentia Ngày nay năng lực
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc Năng lực cũng được hiểu là khả năng, công suất của mộtdoanh nghiệp, thẩm quyền pháp lý của một cơ quan
Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học Có
nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực Theo từ điển tâm lý học (Vũ Dũng, 2000): Năng lực
là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định
Theo John Erpenbeck, "năng lực được sử dụng như khả năng, được quy định bởi
giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được thực hiện hóa qua chủ định"
Weinert (2000) định nghĩa: "Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc
sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động
cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong tình huống linh hoạt"
Theo De Ketele ( 1995), năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do các tình huống này đặt ra
13
Trang 22Khái quát quát lại năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các
hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động
Có thể nói năng lực có cấu trúc mà các thành phần quan trọng là tích hợp của nội dung, kĩ năng và tình huống Muốn phát triển năng lực phải pháp triển từng yếu tố cấu thành,
đó là pháp triển nội dung, phát triển kĩ năng hay tình huống
Xavier Roegiers đã công thức hoá năng lực như sau:
Năng lực = (những nội dung x những kĩ năng) x những tình huống
= những mục tiêu x những tình huống [22]
Năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trongmột loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do những tình huống này đặt ra Nói cách khác, năng lực là thực hiện kết quả nhiệm vụ đặt ra trong một tình huống nhất định bằng những kiến thức, kĩ năng phù hợp Khái niệm năng lực và khái niệm tích hợp luôn song hành với nhau Có thể coi năng lực là kết quả còn tích hợp là nguyên nhân
Cụ thể trong phạm vi đề tài nghiên cứu, năng lực được xác định là năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu Theo công thức ta sẽ cần chú trọng phát triển kỹ năng ứng phó trong tình huống biến đổi khí hậu toàn cầu (Kĩ năng sống ứng phó với những tác động của biến đổi khí hậu là khả năng ứng xử một cách chủ động tích cực đối với các thiên tai do biến đổi khí hậu gây nên)
Một số kĩ năng quan trọng cần phát triển trong lĩnh vực này, bao gồm:
+ Kĩ năng nhận biết và phát hiện tác động của biến đổi khí hậu tới cuộc sống, sản xuất của con người;
+ Kĩ năng thực hiện các hoạt động thích ứng và giảm thiểu với thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra (lập kế hoạch hành động, ra quyết định hành động và kiên định thực hiện kế hoạch hành động ứng phó với thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra)
Trong quá trình giáo dục cần chú ý rèn luyện kĩ năng ứng phó với thiên tai thông qua việc luyện tập xử lí các tình huống cụ thể
1.2.1.3 Quan điểm dạy học vì sự phát triển bền vững
Liên Hiệp Quốc đã công bố 2005 - 2015 là thập kỷ của nền giáo dục vì sự Phát triển bền vững (Education for Sustainable Development), gọi tắt là Giáo dục bền vững
Trang 23(GDBV) (Sustainability Education) GDBV được định nghĩa là quá trình học dẫn đến kết
quả là hình thành nơi người học khả năng giải quyết vấn đề, trình độ hiểu biết về khoa học
và xã hội và những hành động hợp tác cần thiết để đảm bảo cho một xã hội công bằng, thịnh vượng và môi trường trong lành (PCSD,1999) Năm 2003, UNESCO được đề cử điều hành thập kỉ Giáo dục vì sự Phát triển bền vững (Decade of Education for Sustainable Development-DESD) ESD muốn phá bỏ lối giáo dục truyền thống như: học theo môn học
và ủng hộ lối học kết hợp liên ngành; học theo giá trị; học có tư duy chứ không học thuộc lòng; tiếp cận đa phương pháp, đa hình thức: thơ, kịch, vẽ, tranh luận; tham gia vào việc
ra quyết định; tiếp cận thông tin địa phương phù hợp vẫn hơn thông tin cấp quốc gia
+ Bảo vệ nguồn nước, tiết kiệm năng lượng, bảo tồn đa dạng sinh học, đảm bảo an ninh lương thực;
+ Cải thiện sinh kế, nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng dân cư, góp phần thực hiện xóa đói, giảm nghèo và phát triển đô thị bền vững theo hướng phát triển công
trình xanh, đô thị sinh thái;
+ Giảm nhẹ nguy cơ thảm họa, thiên tai, nâng cao năng lực tự cứu và giảm thiểu rủi ro của các cá nhân, cộng đồng;
+ Nâng cao trách nhiệm công dân hỗ trợ thực hiện các nguyên tắc thuộc các lĩnh vực nhân quyền, lao động và môi trường;
15
Trang 24+ Nâng cao trách nhiệm của cá nhân trong phát triển kinh tế theo hướng sản xuất xanh- công nghệ sạch- sử dụng năng lượng tái chế
- Giáo dục BĐKH là giáo dục ứng phó với BĐKH Vì vậy giáo dục BĐKH chính
là thực hiện giáo dục vì sự phát triển bền vững
1.2.2 Cơ sở lý luận của dạy học tích hợp giáo dục Biến đổi khí hậu trong giảng dạy Sinh thái học 12
1.2.2.1 Khái niệm tích hợp và dạy học tích hợp
Tích hợp và dạy học tích hợp
Tích hợp (Integration)
Theo từ điển tiếng Việt [21] tích hợp là "sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp" Theo Từ điển giáo dục học [24] thì "tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên
cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một
kế hoạch giảng dạy" Kế hoạch giảng dạy ở đây cần được hiểu trong một phạm vi rộng, từ
kế hoạch giảng dạy của một chương trình đến kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng dạy của bài học Cũng theo các tác giả của từ điển này thì có hai kiểu tích hợp
là tích hợp dọc và tích hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau Tích hợp dọc là "loại
tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một
số lĩnh vực gần nhau" còn tích hợp ngang là "tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau" xung quanh
một chủ đề [24]
Từ định nghĩa như thế, một số nhà giáo dục đưa ra các nội dung tích hợp như: tích hợp bộ môn, tích hợp chương trình, tích hợp giảng dạy, tích hợp học tập, tích hợp kiến thức, tích hợp kỹ năng
Theo Dương Tiến Sỹ [23]: "Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các
kiến thức( khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên
cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó"
Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là "integration" một từ gốc Latin (integer) có nghĩa là "whole" hay "toàn bộ, toàn thể" Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động khác nhau,
các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy Như thế, trong dạy học, tích hợp có thể được coi là
Trang 25sự liên kết các các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để
đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất
Theo Xaviers Roegers [22] "Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình
học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động
Khoa sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa"
Theo Nguyễn Văn Khải [20] "Dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết tri
thức các môn học, đó là cơ hội phát triển các năng lực của học sinh Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học sinh sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo"
Các định nghĩa trên nêu rõ mục đích của dạy học tích hợp là hình thành và phát triểnnăng lực của người học Đồng thời các định nghĩa cũng nêu rõ, các thành phần tham gia tích hợp là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạy học
Như thế có thể định nghĩa dạy học tích hợp là "quá trình dạy học mà ở đó các
thành phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống cụ thể trong đời sống
để hình thành năng lực của người học"
Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, tri thức của loài người đang tăng lên một cách nhanh chóng Không những thông tin ngày càng nhiều mà với sự phát triển của các phương tiện công nghệ thông tin, ngày càng có nhiều cơ hội để mỗi người dễ dàng tiếp cận các thông tin mới nhất Trước tình hình trên đòi hỏi giáo viên phải biết dạy tích hợp các khoa học, dạy cho học sinh cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu, song song với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng Việc giảng dạy các môn khoa học trong nhà trường phải phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, bởi vậy không thể cứ tiếp tụcgiảng dạy các khoa học như là những lĩnh vực tri thức riêng rẽ Mặt khác, khối lượng tri thứckhoa học đang tăng nhanh chóng và thời gian học tập trong nhà trường lại có hạn, do đó phảichuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy các môn học tích hợp
17
Trang 26Các mức độ tích hợp kiến thức trong dạy học:
Tích hợp (Integration): Là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức giáo
dục và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, dựa trên
cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học Trong mức độ này, nội dung chủ yếu của bài học hay một phần nội dung môn học có sự trùng hợp với nội dung giáo dục
Kết hợp (Infusion) hay còn gọi là lồng ghép giáo dục trong nội dung môn học:
Chương trình môn học được giữ nguyên, các vấn đề giáo dục được lựa chọn rồi lồng ghép vào chương trình môn học ở chỗ thích hợp sau mỗi bài, mỗi chương, hay hình thành một chương riêng Trong mức độ này, một số nội dung của bài học hay một phần nhất định của nội dung môn học có liên quan trực tiếp với nội dung giáo dục
Liên hệ (Permeation): Chương trình môn học được giữ nguyên Ở hình thức này,
các kiến thức giáo dục không được nêu rõ trong sách giáo khoa, nhưng dựa vào kiến thức bài học ở chỗ thuận lợi, giáo viên có thể bổ sung các kiến thức đó bằng cách liên hệ với nộidung nào đó của giáo dục hướng nghiệp vào bài giảng trên lớp dưới hình thức các ví dụ khi phân tích một cách hợp lí Trong mức độ này, ở một số phần nội dung của môn học, bài học, các ví dụ, bài tập, bài làm là một dạng vật liệu để giúp liên hệ một cách hợp lí với nội dung giáo dục
1.2.2.2 Mục đích, ý nghĩa tích hợp giáo dục biến đổi khí hậu với sinh thái học
Tích hợp giáo dục BĐKH là sự hòa trộn nội dung giáo dục BĐKH vào nội dung của bài học trong từng môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau
Mục đích và định hướng cơ bản của giáo dục BĐKH là giúp người học quan tâm đến vấn đề bảo vệ khí hậu, hiểu rõ nguyên nhân và hệ quả của BĐKH, giúp cá nhân học sinh và cộng đồng tiếp cận được các giải pháp bảo vệ và ứng phó với BĐKH toàn cầu nói chung và ở tại mỗi địa phương nói riêng; phát triển năng lực hành động ứng phó với BĐKH, chứ không đơn giản là kiến thức, kỹ năng liên quan đến BĐKH
Giáo dục về BĐKH phải giúp cho học sinh có hiểu biết về hiện tượng BĐKH, nguyên nhân và những tác động của nó tới đời sống con người và những biện pháp hạn chếcác tác nhân dẫn đến BĐKH, có được những kỹ năng cần thiết để ứng phó với tác động do
sự BĐKH gây ra Từ đó chuẩn bị cho học sinh tâm thế sẵn sàng tham gia các
Trang 27hoạt động nhằm chống lại hạn chế sự BĐKH Một khi học sinh có được những hiểu biết
về hiện tượng BĐKH, nguyên nhân cũng như tác động trực tiếp của nó đối với cuộc sống của người dân, với sự tồn vong của đất nước Việt Nam thì trong mọi hành động các em sẽ cân nhắc để hạn chế nguy cơ dẫn đến BĐKH, chọn lối sống thân thiện với môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững Giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và
có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường cũng như mục tiêu của giáo dục về BĐKH
Tuy nhiên, trong quá trình tích hợp giáo dục không làm quá tải chương trình sách giáo khoa Mà cần khai thác các kiến thức sẵn có trong sách giáo khoa để làm rõ hơn kiến thức về BĐKH, qua đó nâng cao ý thức trách nhiệm của học sinh về ứng phó với BĐKH
19
Trang 28Hình 1.2 Mối quan hệ giữa mục tiêu tích hợp BĐKH và các cấp học
1.2.2.3 Định hướng nội dung tích hợp giáo dục Biến đổi khí hậu với Sinh thái học 12
Để thực hiện được mục tiêu của giáo dục về BĐKH nêu trên cho các nhà trường phổ thông Việt Nam, nội dung giáo dục trong lĩnh vực này cần đề cập đến:
Nội hàm của BĐKH (khái niệm/thuật ngữ)
Hệ quả của BĐKH và tác động của nó trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và khu vực - địa phương (trước mắt và tương lai)
Nguyên nhân của sự BĐKH, đặc biệt là những nguyên nhân do con người tạo ra, như phát thải khí nhà kính gây nên sự ấm lên toàn cầu
Những biện pháp hạn chế tác nhân gây nên BĐKH trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và địa phương, biện pháp hành chính (chính sách), biện pháp kỹ thuật
Ứng phó trước tác động của BĐKH ở Việt Nam: Phòng chống ngập lụt ở đồng bằng châu thổ và vùng ven biển, sạt lở đất vùng ven biển; Lũ và sạt lở đất ở vùng núi
Những kỹ năng cần thiết ứng phó với thiên tai do BĐKH gây nên ở địa phương (kỹ năng cụ thể phòng chống lũ, lụt, sạt lở đất, bão )
Trang 29Cần xác định từng nội dung BĐKH cụ thể tương ứng với các địa chỉ bài học nhằm đem lại hiệu quả ở các hoạt động dạy học trong chương trình học
1.2.2.4 Một số nội dung kiến thức Biến đổi khí hậu
Khái niệm Biến đổi khí hậu:
Theo Công ước khung của Liên hiệp quốc năm 1992 định nghĩa: BDKH là những
biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoaặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người"
Theo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH của Việt Nam (2008):
"BĐKH là sự biến đổi của trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí
hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất"
Nguyên nhân cơ bản của biến đổi khí hậu:
Biến đổi khí hậu do hai nhóm nguyên nhân gây ra là nguyên nhân tự nhiên và nguyên nhân do con người
Nhóm nguyên nhân tự nhiên
- Hoạt động phun trào của núi lửa
- Sự thay đổi dòng chảy của đại dương ảnh hưởng đến sự phân bố của nhiệt độ
và lượng mưa
- Quá trình băng hà và không băng hà đã xảy ra hàng triệu năm
Nhóm nguyên nhân do con người
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Theo Nghị định thư Kyoto, sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6
- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhàkính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép
21
Trang 30- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê
Các biểu hiện của biến đổi khí hậu:
- Sự nóng lên của khí quyển và Trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hoá khác
- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thuỷ quyển, sinh quyển, các địa quyển
Một số hiện tượng của biến đổi khí hậu
- Hiện tượng sương khói
Thực trạng và hậu quả của việc biến đổi khí hậu:
1 Các hệ sinh thái bị phá hủy
2 Mất đa dạng sinh học
Trang 313 Chiến tranh và xung đột
9 Các núi băng và sông băng đang teo nhỏ
10 Mực nước biển đang dâng lên
1.2.3 Cơ sở lý luận của dạy học dự án tích hợp giáo dục Biến đổi khí hậu trong giảng dạy Sinh thái học 12
1.2.3.1 Khái niệm dự án và dạy học dự án
Dự án: Thuật ngữ "Dự án" trong tiếng Việt nghĩa là "một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan với nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
trong điều kiện rằng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách" [21]
Dạy học dự án
BIE định nghĩa phương pháp dạy học dự án là một phương pháp dạy học có hệ
thống cho phép học sinh tiếp thu kiến thức và kĩ năng thông qua một quá trình hỏi đáp mở (extended inquiry process) được xây dựng bằng những câu hỏi phức tạp, mang tính thực tiễn và thông qua việc thiết kế cẩn thận các sản phẩm và nhiệm vụ của quá trình học tập Học
sinh trong một lớp có thể tiến hành dự án cụ thể (brief project) kéo dài một đến hai tuần cho một môn học hoặc tiến hành dự án kéo dài trong cả năm và cần đến sự phối hợp của các cá nhân bên ngoài nhà trường; dự án này gọi là dự án liên môn
(interdisciplinary project) [32]
Theo Richard Johnson, hiệu trưởng trường tiểu học Whitehorse ở Canada, học tập
theo dự án (Project based learning) là một mô hình hoạt động học tập thay thế những bài
học ngắn, tách rời với thực tiễn, lấy thầy giỏo làm trung tâm bằng những hoạt động học tập có tính dài hạn, đòi hỏi sự tương tác lẫn nhau của người học và lấy học sinh làm trung tâm Phương pháp này lấy người học làm trung tâm và tạo cho họ các cơ hội tham
gia nghiên cứu chuyên sâu về các đề tài có giá trị Người học trong quá trình này tự giác hơn bởi sau khi làm dự án, họ phải xây dựng các sản phẩm có ý nghĩa thể hiện quá trình học tập của mình [38]
23
Trang 32Tại trường Morgan Hill, người ta đưa ra một loạt các ý kiến về phương pháp học tập dự án Cụ thể như sau
Phương pháp dự án là một mô hình chuyển đổi từ việc "giáo viên thuyết trình" sang "học sinh hành động ("teachers telling" to "students doing")
Phương pháp dự án lôi cuốn học sinh vào các hoạt động học tập liên quan đến các đề tài có thật, qua đó mà học sinh phát huy và ứng dụng các kĩ năng và kiến thức
Phương pháp dự án là một chiến lược học tập nhấn mạnh rằng điều quan trọng nhất của việc học là hứng thú học tập
Phương pháp dự án một hoạt động học tập mà chương trình học được định sẵn còn những sản phẩm của quá trình học tập của học sinh thì không thể đoán trước hết được
Hoạt động học tập yêu cầu học sinh nghiên cứu thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để giải quyết một vấn đề
Một hệ thống các kinh nghiệm mà học sinh thu được thông qua việc xử lý, xác định thông tin và phân phối thời gian làm việc [36]
Clark County School District lại đưa ra định nghĩa như sau:
Phương pháp học tập kiểu dự án là một mô hình dạy học chuẩn bị cho học sinh những kĩ năng cần thiết kế thành công trước khi tham gia vào thị trường lao động [33]
Trung tâm của phương pháp dạy học dự án là các dự án dài hạn, lấy học sinh làm
trung tâm và liên kết các môn học Khi sử dụng phương pháp dự án, người thầy kết hợp nội dung chương trình học với các vấn đề thật của xã hội Điều này thách thức và kích thích tư
duy của học trò Nhận thức của người học sẽ tăng lên đáng kể nếu như họ tìm ra giải pháp cho một vấn đề có thật trong cuộc sống Vai trò của người thầy chuyển đổi từ người diễn thuyết (lecturer) sang người dẫn dắt (facilator) Điểu này cho phép học sinh học tập và làm việc theo tốc độ riêng, thành lập các mục tiêu cá nhân và tự phân bố thời gian học tập Học sinh buộc phải có trách nhiệm cao hơn trong quá trình học và được khuyến khích tham gia vào quá trình tự đánh giá kết quả học tập của mình
Với sự giúp đỡ của công nghệ, học sinh hoạt động như các nhà chuyên môn, cùng
cộng tác hoàn thành dự án, tìm kiếm giải pháp và trình bày các giải pháp tìm được Những
giờ học sinh học được ở lớp sẽ là cơ sở để họ có thể đương đầu với những thử thách của cuộc sống bên ngoài
Trang 33Dạy học dự án là một PPDH lấy hoạt động của HS làm trung tâm, hướng HS đến việc lĩnh hội kiến thức và kĩ năng thông qua việc đóng một hay nhiều vai để giải quyết vấn đề
(gọi là dự án) mô phỏng những hoạt động có thật của xã hội chúng ta Những hoạt động
này giúp HS thấy kiến thức cần học có ý nghĩa hơn
Theo T.S Nguyễn Thị Phương Hoa: "Phương pháp dạy học kiểu dự án là phương
pháp tổ chức cho giáo viên và học sinh cùng nhau giải quyết không chỉ về mặt lý thuyết mà còn về mặt thực tiễn một nhiệm vụ học tập có tính chất tổng hợp, và tạo điều kiện cho học sinh cùng và tự quyết định trong tất cả các giai đoạn học tập, kết quả là tạo ra được một sản phẩm hoạt động nhất định." [15]
Theo chương trình Dạy học cho tương lai của Intel : "Dạy học theo dự án là một mô
hình dạy học lấy học sinh làm trung tâm Nó giúp phát triển kiến thức và các kỹ năng liên quan thông qua những nhiệm vụ mang tính mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hoá những kiến thức đã học trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình Chương trình dạy học theo dự án được xây dựng dựa trên những câu hỏi định hướng
quan trọng, lồng ghép các chuẩn nội dung và tư duy bậc cao trong những bối cảnh thực tế
Như vậy ta có thể nhận ra từ tất cả các định nghĩa nói trên, phương pháp dạy học
dự án là phương pháp cần có đầy đủ 4 yếu tố sau:
Có sự phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên và học sinh
Giải quyết nhiệm vụ học tập cả về mặt lý thuyết lẫn thực hành
Học sinh tự và cùng quyết định
Tạo ra sản phẩm hoạt động nhất định
1.2.3.2 Mục tiêu dạy học dự án
Dạy học dự án nhằm vào các mục tiêu sau:
- Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực tế Học sinh giải quyết được một vấn đề cụ thể bằng tư duy, kiến thức và kỹ năng của bản thân
- Phát triển và rèn luyện cho HS rất nhiều kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy bậc cao, kĩ năng sống, kĩ làm việc theo nhóm, kỹ năng thực hành nghiên
cứu, kỹ năng giao tiếp
25
Trang 34- Cho phép HS làm việc "một cách độc lập" để hình thành kiến thức và cho ra
- Xây dựng mục tiêu
- Đề ra kế hoạch
- Triển khai - Đánh
giá
GLEF chia các bước của quá trình làm dự án chi tiết hơn với 5 giai đoạn sau:
- Đặt ra câu hỏi cần thiết
Trang 35Thực hiện dự án
Kết thúc dự án
- Thông báo
- Giao lưu, tương hỗ
Trong đó hai bước Thông báo và Giao lưu, tương hỗ có mặt xuyên suốt quá trình làm dự án
Các nhà nghiên cứu của Intel đưa ra mô hình dạy học dự án với 5 giai đoạn chính
Giai đoạn 1: ý tưởng về dự án:
Trên cơ sở phân tích cấu trúc và nội dung môn học, người dạy lựa chọn rsa những vấn đề có thể tiến hành dự án Người dạy và người học cũng có thể cùng nhua thảo luận, đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc một nhiệm vụ cần được giải quyết trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống cần chú ý đến hứng thú của người học, cũng như ý nghĩa
xã hội của đề tài
Người dạy cũng có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hóa Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về đề tài có thể xuất phát từ học sinh Giai đoạn này được K.Frey chia thành hai giai đoạn nhỏ là đề xuất ý kiến và thảo luận ý kiến
Hình thành ý tưởng dự án: Khi hình thành ý tưởng dự án thì thường kết hợp sự hình
thành ý tưởng từ yêu cầu của nội dung, mục tiêu chương trình, yêu cầu của người dạy và hứng thú của người học
27
Trang 36Phân tích ý tưởng dự án: cần phân tích ý tưởng dưới các khía cạnh khác nhau
nhằm xác định chính xác mục tiêu, tính khả thi, tính thời sự - thực tế, tính hấp dẫn đảm bảotính hiệu quả của dự án
Giai đoạn 2: Thiết kế dự án
Bước 1: Lập hồ sơ bài dạy:
Xây dựng kế hoạch bài dạy Kế hoạch bài dạy thể hiện mục tiêu bài dạy theo
chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chứa đựng thông tin về người soạn bài, tổng quan về bàidạy, các phương tiện, thời gian cần thiết, những môn học có liên quan đến bài dạy, đối tượng bài dạy hướng tới, các bước tiến hành bài dạy
Xây dựng bộ câu hỏi khung định hướng Bộ câu hỏi khung định hướng tạo ra một bối
cảnh học tập có ý nghĩa thông qua việc thiết lập mối liên hệ giữa bài học và nhiều lĩnh vực khác trong thực tiễn đồng thời định hướng các dự án học tập tập trung vào đơn vị kiến thức quan trọng Bộ câu hỏi khung chương trình bao gồm các loại câu hỏi: Câu
hỏi khái quát, Câu hỏi bài học và Câu hỏi nội dung
Câu hỏi khái quát: là những câu hỏi mở, có vai trò khơi dậy tính hứng thú, sự quan
tâm của người học; có phạm vi rất rộng, bao quát toàn diện nhiều lĩnh vực, có thể liên quan đến nhiều bài học và nhiều môn học; Là những câu hỏi không có những câu trả lời cụ thể
Câu hỏi bài học: Cũng là câu hỏi mở nhưng bó hẹp trong một chủ đề hoặc bài học
cụ thể, gắn với nội dung bài học cụ thể, vì vậy sẽ dễ tiếp cận hơn đối với người học
Câu hỏi nội dung: là các câu hỏi về từng nội dung trong bài dạy Nó trực tiếp hỗ trợ
những chuẩn kiến thức, mục tiêu học tập và có những câu trả lời "đúng" cụ thể Là những câu hỏi trợ giúp quan trọng cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học
Các câu hỏi định hướng bài dạy đòi hỏi người học phải nắm vững, hiểu rõ các câu hỏi nội dung, câu hỏi bài học, câu hỏi khái quát Các câu hỏi này sẽ là kim chỉ nam dẫn dắt nội dung và cách làm việc cho toàn bộ hồ sơ dạy học
Bước 2: Phân công nhiệm vụ cụ thể cho người học
Mỗi nhóm thực hiện một phần hoặc nhiều phần cụ thể của dự án Việc phân công
và giao nhiệm vụ chi tiết của các dự án là cơ sở để kiểm tra quá trình học tập của người học.Người dạy phân công nhiệm vụ càng khoa học, dễ hiểu thì người học càng dễ hình dung cấu trúc của dự án
Trang 37Giai đoạn 3: Thực hiện dự án:
Về phía người học Với sự giúp đỡ của người dạy, người học nghiên cứu, biến đổi
hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kết quả chung Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân
Về phía người dạy Trong quá trình này, người dạy theo dõi quá trình thực hiện kế
hoạch đã xây dựng và sự hợp tác giữa các học sinh nhằm tạo ra một cộng đồng với việc học tập là trung tâm
29
Trang 38Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm học sinh
Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo Thông thường, sản phẩm học sinh phải hoàn thành gồm:
- Bài mẫu trình bày đa phương tiện học sinh (power point)
- Bài mẫu ấn phẩm học sinh (tờ rơi, áp phích, sản phẩm thật)
- Mẫu trang web học sinh (dạng tệp Publisher hoặc dạng html)
Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
Người dạy và người học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được Việc đánh giá các sản phẩm của người học cần căn cứ vào các tiêu chí
đã công bố từ trước
1.2.3.4 Đặc điểm
Có rất nhiều ý kiến khác nhau và nhiều cách trình bày khác nhau về đặc điểm của phương pháp dạy học dự án
Theo Jane Clark, phương pháp dạy học dự án có 5 đặc điểm [35]
Nội dung dựa trên chương trình học
Trang 39Qua các định nghĩa và đặc điểm của các tổ chức và tác giả khác nhau ta có thể thấy đặc điểm chung của các dạy học dự án có thể được nêu như sau:
Định hướng thực tiễn và xã hội
Những bài học được thiết kế theo dự án cần đạt các tiêu chí sau:
Những đặc điểm của bài học được thiết kế theo dự án một cách hiệu quả: Một dự
án được coi là hiệu quả khi nó đạt được sự cân bằng giữa khả năng thực hiện của học sinh với
ý đồ thiết kế của giáo viên, chỉ rõ những công việc học sinh cần làm Những đặc điểm dưới đây sẽ giúp nhận diện rõ thế nào là bài học theo dự án hiệu quả
Học sinh là trung tâm của quá trình dạy học: Bài học theo dự án được thiết kế cẩn
thận, lôi cuốn học sinh vào những nhiệm vụ mở và có tính thực tiễn cao Các nhiệm vụ của
dự án kích thích khả năng ra quyết định, niềm cảm hứng, say mê của học sinh trong quá trình thực hiện và tạo ra sản phẩm cuối cùng Học sinh lĩnh hội kiến thức bài học thông quaviệc tìm hiểu và tự quyết định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ của dự án Giáo viên giữ vai trò người hỗ trợ hay hướng dẫn Học sinh hợp tác làm việc với nhau trong các nhóm, phát huy tối đa năng lực cá nhân khi đảm nhận những vai trò khác nhau
Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn:
Những dự án tốt được phát triển dựa trên những nội dung cốt lõi của chương trình đáp ứng các chuẩn quốc gia và địa phương Dự án có các mục tiêu rõ ràng gắn với các chuẩn và tập trung vào những hiểu biết của học sinh sau quá trình học Từ việc định hướng vào mục tiêu, giáo viên sẽ chọn lựa hình thức dạy học phù hợp, lập kế hoạch đánh giá và tổ chức cáchoạt động dạy và học Kết quả của dự án được thể hiện kết tinh trong sản phẩm
31
Trang 40của học sinh và quá trình thực hiện nhiệm vụ, ví
dụ phần thuyết trình đầy thuyết phục hay
ấn phẩm thông tin thể hiện sự lĩnh hội các chuẩn nội dung và mục tiêu dạy học
Dự án được định hướng theo Bộ câu hỏi khung chương trình: Câu hỏi khung
chương trình sẽ giúp các dự án tập trung vào những hoạt động dạy học trọng tâm Học sinh được giới thiệu về dự án thông qua các câu hỏi gợi mở những ý tưởng lớn, xuyên suốt
và có tính liên môn Học sinh sẽ buộc phải tư duy sâu hơn về các vấn đề nội dung của môn học theo các chuẩn và mục tiêu Có ba dạng câu hỏi khung chương trình: Câu hỏi khái quát, Câu hỏi bài học và Câu hỏi nội dung Câu hỏi khái quát là các câu hỏi rộng, có tính
mở, đề cập đến các ý tưởng lớn và các khái niệm xuyên suốt Câu hỏi loại này thường mangtính liên môn, giúp học sinh hiểu được mối quan hệ giữa các môn học Các câu hỏi bài học được gắn trực tiếp với dự án, hỗ trợ việc tìm kiếm lời giải cho Câu hỏi khái quát Các câu hỏi bài học thể hiện mức độ hiểu những khái niệm cốt lõi về dự án của học sinh Các câu hỏi nội dung thường mang tính thực tiễn cao, bám sát các chuẩn và mục tiêu đã đề ra
Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên: Ngay từ khi triển
khai dự án, các kết quả dự kiến cần phải được làm rõ và phải luôn được rà soát nhiều lần để kiểm chứng mức độ lĩnh hội bằng các phương pháp đánh giá khác nhau Học sinh sẽ được xem mẫu và hướng dẫn trước để thực hiện công việc có chất lượng nhất, và phải biết rõ điều
gì đang chờ đợi ngay từ khi bắt đầu dự án Cần phải tạo cơ hội để rà soát, phản hồi hay điều chỉnh trong suốt quá trình thực hiện dự án
Dự án có liên hệ với thực tế: Dự án phải gắn với đời sống thực tế của học sinh, có thể
mời các chuyên gia ngoài cùng tham gia để tạo ra những tình huống dạy học Học sinh có thể thể hiện việc học của mình trước những đối tượng thực tế, liên hệ với các nguồn lực cộng đồng, tham khảo các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu, hoặc trao đổi thông qua công nghệ hiện đại
Học sinh thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm hoặc quá trình thực hiện: Thông thường các dự án được kết thúc với việc học sinh thể hiện thành quả học tập của
mình thông qua các bài thuyết trình, các văn bản tài liệu, các mô hình dàn dựng, các đề án hoặc thậm chí là các sự kiện mô phỏng như một hội thảo giả Những sản phẩm cuối cùng này giúp học sinh thể hiện khả năng diễn đạt và làm chủ quá trình học tập