1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức

169 270 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 4,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ THANH THỦY PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12 THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ SỐ PHỨC LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM TOÁN Chuyên n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ THANH THỦY

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12

THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ SỐ PHỨC

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM TOÁN

HÀ NỘI - 2015

i

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN THỊ THANH THỦY

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 12

THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ SỐ PHỨC

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM TOÁN Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học (bộ môn Toán)

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Anh Vinh

HÀ NỘI - 2015

ii

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên trong luận văn, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt khóa học và quá trình nghiên cứu đề tài

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Anh Vinh - người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Đào Duy Từ - Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn

Bên cạnh đó có sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp trong lớp cao học toán K8

- trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã động viên và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn giúp đỡ tác giả về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội , ngày tháng năm 2014

Học viên

Trần Thị Thanh Thủy

i

Trang 4

MỤC LỤC

Mục lục ii

1.1 Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 51.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về tự học 51.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về tự học 6 1.2

Một số khái niệm cơ bản 7 1.2.1 Khái niệm tự học 7 1.2.2 Một số hình thức tự học cơ bản 9

1.2.3 Năng lực và năng lực tự học của học sinh 10 1.2.4 Phân biệt năng lực với tri thức kỹ năng, kỹ xảo 11

1.2.5 Các năng lực hình thành năng lực tự học của học sinh 12 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của học sinh 14 1.3.1 Ảnh hưởng của ý thức, động cơ học tập 14 1.3.2 Ảnh hưởng của năng lực trí tuệ 14 1.3.3 Ảnh hưởng của phương pháp học tập của trò 15 1.3.4 Ảnh hưởng của phương pháp dạy học của thầy 15 1.4 Thực trạng dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học môn Toán ở

trường THPT Đào Duy Từ 16

Chương 2 THIẾT KẾ MỘT SỐ GIÁO ÁN DẠY HỌC SỐ PHỨC THEO

Nội dung và phân phối chương trình chương

Một số giải pháp của giáo viên nhằm phát triển năng lực tự học cho học

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Đối tượng thực nghiệm Kế

hoạch thực nghiệm Tiến hànhthực nghiệm Nội dung thực

nghiệm Nội dung thực nghiệm1

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi xã hội ngày càng phát triển, yêu cầu đối với mỗi cá nhân ngày càng cao Vai trò của người dạy và người học cũng thay đổi Nếu như trước đây, người dạy cung cấp kiến thức cho người học chủ yếu bằng một số hình thức như: thuyết trình giảng giải thì ngày nay người dạy đóng vai trò là người hướng dẫn, người định hướngnhận thức cho người học Và nhiều hình thức học tập mới với nhiều cách chủ

động tiếp nhận, lĩnh hội tri thức của người học đã thay thế cho cách học thụ động

Để có thể chủ động tiếp nhận, lĩnh hội tri thức thay thế cho cách học thụ động đòi hỏi mỗi học sinh phải có nhiều nỗ lực trong hoạt động học tập, đặc biệt phải giành thời gian cho việc tự học Vấn đề tự học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh lĩnh hội kiến thức môn học cũng như phát huy năng lực của bản thân trên cơ sở chính là sự hướng dẫn của giáo viên

Việc tự học, tự nghiên cứu tài liệu học tập đối với học sinh là hoạt động vô cùng cần thiết, mặc dù đã làm quen với hình thức này từ các lớp dưới, nhưng học sinhvẫn gặp một số khó khăn do chưa thực sự tìm ra phương pháp học tập hiệu quả Học sinh còn nhiều vướng mắc, khó khăn khi học tập, chưa thực sự dành nhiều thời gian choviệc tự học, chưa thường xuyên thực hiện tự học chưa được chú trọng đến phát triển năng lực tự học một cách hợp lí

Số phức là chủ đề thường xuất hiện trong các kỳ thi học kỳ, tốt nghiệp, thi tuyển sinh vào đại học và cao đẳng của học sinh Tập hợp số phức là tập hợp trừu tượng để giảng dạy cho học sinh người giáo viên phải hiểu rõ bản chất về tập hợp số phức mới có thể giảng dạy một cách hiệu quả Qua đó giúp học sinh hiểu về tập số phức

và ý nghĩa của nó Học tốt tập hợp số phức trong chương trình trung học phổ thông sẽgiúp học sinh học tốt các môn toán cao cấp ở bậc đại học

Do vậy, việc xây dựng hệ thống bài giảng nhằm phát huy năng lực tự học của học sinh thông qua chủ đề số phức là rất cần thiết

Xuất phát từ thực tế trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, tác giả lựa chọn đề

tài: "Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số

phức" cho luận văn của mình

1

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

Xậy dựng các bài giảng và tổ chức triển khai các bài giảng nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức trong môn toán chương trình trung học phổ thông

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Cơ sở lý luận của đề tài Trong phần này, đề tài hệ thống cơ sở lý luận về khái niệm tự học, các hình thức tự học, các năng lực hình thành nên năng lực tự học

Tìm hiểu thực trạng tự học của học sinh tại trường THPT Đào Duy Từ - Hà Nội

Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh

Xây dựng một số giáo án dạy học nội dung số phức theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh

Tổ chức thực nghiệm nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của các giải pháp cần thực hiện khi xây dựng bài giảng nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh đã đề xuất

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Kế hoạch hướng dẫn học sinh tự học nội dung Số

phức - môn Toán 12 ở trường trung học phổ thông

Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tự học của học sinh

5 Vấn đề nghiên cứu

Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:

- Làm thế nào để phát triển năng lực tự học của học sinh

- Tổ chức dạy học nội dung số phức như thế nào để phát triển năng lực tự học cho học sinh

6 Giả thuyết khoa học

Xây dựng và triển khai các bài giảng theo hướng phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học chủ để số phức có thể thực hiện được và áp dụng một cách hợp lý sẽ mang lại sự chủ động hơn đối với học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức góp phần rèn luyện và phát triển năng lực tự học của học sinh

2

Trang 8

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa lý luận của đề tài :

Bước đầu xác định được cơ sở lý luận cơ bản và thực tiễn của hoạt động tự học

Đề ra phương án dạy học nội dung số phức theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh

-Ý nghĩa thực tiễn của đề tài :

Luận văn có thể giúp giáo viên có thêm tài liệu để phục vụ việc giảng dạy số phức trong chương trình toán 12 trung học phổ thông

Luận văn có thể được áp dụng rộng rãi với các nội dung khác của môn toán, góp phần phát triển năng lực tự học của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học

9 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài Điều tra, quan sát: Tiếp thu ý kiến của giảng viên hướng dẫn, các giáo viên

bộ môn Quan sát giờ dạy của mình để rút ra kết luận trong quá trình giảng dạy Khảo sát phương pháp học tập của học sinh và đánh giá kết quả học tập của học sinh trước và sau khi giảng thực nghiệm

Thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm giảng dạy để đánh giá tính khả thi của đề

tài Thực nghiệm kiểm tra, so sánh với nhóm đối chứng để đánh giá mức độ hiệu quả của

đề tài

10 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương

3

Trang 9

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động tự học

Chương 2: Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học chủ đề số phức

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

4

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1.1

Các nghiên cứu trên thế giới về tự học

Qua tìm hiểu tư tưởng của các nhà khoa học giáo dục trên thế giới về vấn đề tự học có thể kết luận rằng: Tự học không phải là vấn đề mới mà là vấn đề được nhiều nhà giáo dục học trên thế giới quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau: Phát huy tính tích cực, tính tự giác, tính độc lập, tính sáng tạo của người học qua tư tưởng của các nhà giáo dục tiêu biểu như Xôcơrat, Khổng Tử, Platon, Aristốt Cômenxki,

Dixtecvecđề cập tới [28]

Ngay từ thời cổ đại các nhà giáo dục lỗi lạc của Hy Lạp như Xôcrát (469 - 390 TCN), Arixtốt (384 - 322 TCN) và nhiều nhà giáo dục nổi tiếng khác ở Phương Đông như Khổng Tử (551 - 479 TCN), Mạnh Tử (372 - 289 TCN)  đã nhận thấy và đánh giá cao vai trò của tự học, tự tu dưỡng Trong dạy học các ông đều muốn tìm ra các phương pháp phù hợp để giúp người học tự tìm ra chân lý Theo Khổng Tử: Thầy giáo chỉ cho trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò từ đó mà tìm ra, thầy giáo không được làm thay hết cho học trò [28]

Từ những năm trước công nguyên, Xôcơrat(469 - 390 TCN) đã đưa ra quan niệm nổi tiếng của mình: giáo dục phải giúp cho con người khẳng định chính mình Dựa vào quan điểm đó vào trong dạy học, ông cho rằng cần phải để cho người học

tự suy nghĩ, tự tìm tòi, giúp cho người học tự thấy cái sai lầm của mình và tự khắc phục cái sai lầm đó [28]

Đến thế kỷ 17 J.A Cômenxki (1592- 1670) đã tìm ra phương pháp cho phép giáo viên nói ít hơn, học sinh học nhiều hơn Ông đề ra một số nguyên tắc dạy học

mà cho đến nay vẫn còn nguyên tác dụng nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh: Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan trọng dạy học, nguyên tắc đi từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng [28]

Cuối thế kỷ XX ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ, phần lớn các nhà giáo dục học đã nghiên cứu

tự học theo hai hướng chính: Hướng thứ nhất nhiên cứu áp dụng công nghệ dạy học, nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trong quá trình dạy học, thầy từ chuyên gia

5

Trang 11

về việc dạy chuyển sang chuyên gia về việc học của người học Hướng thứ hai là

dạy học phân hóa, dạy học tiến hành theo nhịp độ cá nhân người học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất trong việc học, dạy học cần phải được tổ chức hướng vào người học Tiêu biểu cho các hướng nghiên cứu trên là Raja Roy Singh [28], ông đã nghiên cứu vai trò của năng lực tự học trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời, đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập, trong việc hình thành và phát triển năng lực tự học của người học

Như vậy, vấn đề tự học trong lịch sử giáo dục thế giới đã được quan tâm, đề cập

và nghiên cứu từ lâu với nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau, nhưng tựu trung đều nhấn mạnh vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong hoạt động học tập của ngườihọc, vấn đề này cho đến nay vẫn được các nhà giáo dục ngày nay đặc biệt quan tâm

và nghiên cứu

1.2.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam về tự học

Trong lịch sử giáo dục tại Việt Nam, hoạt động tự học cũng được chú ý từ rất lâu Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tinh thần tự học và học suốt đời, đồng thời Người cũng đặt niềm tin rất lớn vào khả năng tự học của mỗi con người Trong thư gửi các học sinh toàn quốc nhân ngày khai trường năm 1945, Người đã

viết "Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có

sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần vào công học tập của các cháu" Trong câu nói này đã hàm chứa một chân lý sâu sắc đó

là: Đất nước Việt Nam muốn phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu phải dựavào "công học tập", trong đó khả năng tự học của mỗi học sinh là vô cùng quan trọng Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Khánh Bằng, Lê Công Triêm, Bùi Văn Nghị cũng đã đề cập nhiều về vấn đề tự học, đã có những công trình nghiên cứu về hoạt động

tự học của người học, các biện pháp sư phạm của người dạy nhằm nâng cao chất lượng tự học của người học, phương pháp hướng dẫn người học tự học, phương pháp viết tài liệu hướng dẫn người học tự học

Tác giả Trịnh Quốc Lập [18] trong bài báo "Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam" cũng đã cho rằng năng lực tự học không chỉ là một phẩm chất dành cho người học thuộc thế giới phương Tây, về bản chất mà nói người châu Á

6

Trang 12

không phải không có năng lực tự học, hệ thống giáo dục ở các nước châu Á chưa

tạo đủ điều kiện để người học phát triển năng lực tự học Kết quả nghiên cứu của tác giả đã chứng minh rằng trong hoàn cảnh Việt Nam năng lực tự học có thể được phát triển thông qua việc ứng dụng trong học tập tự điều chỉnh

Tác giả Võ Sỹ Hiện[10] trong bài báo khoa học "Thiết kế và sử dụng tài liệu hỗ trợ học sinh tự học" đăng trên tạp chí khoa học Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh cũng đã đưa ra nguyên tắc thiết kế, và cấu trúc nội dung tài liệu hướng dẫn tự học và đưa ra một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài liệu tự học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh và giúp giáo viên có những định hướng khi hướng dẫn học sinh tự học trên lớp và ở nhà

Tác giả Lê Thị Minh Loan [19] trong đề tài khoa học cấp bộ "Thực trạng và giảipháp nâng cao khả năng tự học của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội" cũng đã đưa ra một số yêu cầu đối với người học trong quá trình tự học, một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự học của người học và đưa ra một số giải pháp nâng cao khả năng tự học của người học

Nhìn chung các tác giả đã tập trung nghiên cứu sâu về vấn đề tự học dưới nhiềugóc độ khác nhau và đưa ra một số giải pháp khác nhau nhằm nâng cao năng lực tự học của người học Các tác giả cũng đã đưa ra nhiều kỹ năng tự học cho người học, tuy nhiên chưa có đề tài nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông thông qua dạy học chủ đề số phức

1.2 Một số khái niệm cơ bản

7

Trang 13

Theo Nguyễn Cảnh Toàn - Lê Khánh Bằng [37] cho rằng: Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nằm nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái

độ do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được ấn định, tùy theo hứng thú khoa học và nghề nghiệp, tùy theo trình độ nhận thức về nhiệm vụ hay trách nhiệm, tùy theo đặc điểm, thói quen làm việc riêng của từng người

Cũng theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [36]: Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình

- Theo Nguyễn Thị Tính [35]: "Tự học là một quá trình, trong đó dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua cáchoạt động trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, phán đoán) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ dùng học tập) Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí của người học để vượt chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại,biến kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân người học

Từ những nghiên cứu, công trình khoa học của các tác giả, nhà khoa học chothấy hoạt động tự học được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau song tựu chung các tác giả đều quan niệm rằng tự học là học với sự độc lập và tích cực tự giác ở mức

độ cao, tự học là quá trình mà trong đó chủ thể người học tự biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thao tác trí tuệ hoặc chân tay nhờ cả ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân, tự học có thể diễn ra trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp, chẳng hạn như giải bài tập trên lớp, nảy sinh những thắc mắc khi nghe giáo viên giảng bài, tự sắp xếp những lời giảng của giáo viên để ghi vào vở, tự phân tích nhận xét, câu trả lời của bản khi thảo luận

Từ đó có thể định nghĩa hoạt động tự học như sau: Tự học là quá trình dưới vai

trò chủ đạo của giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo thông qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh, phán đoán) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng thiết bị

8

Trang 14

đồ dùng học tập) Tự học gắn liền với động

cơ, tình cảm và ý chí  của người học

để vượt qua chướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bản thân người học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của cá nhân người học

Trong nhà trường phổ thông, tự học được hiểu là quá trình chủ động, tự giác của người học nhằm nắm bắt các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của giáo viên

1.2.2 Một số hình thức tự học cơ bản

Có nhiều quan điểm khác nhau khi phân chia các hình thức tự học, tuy nhiên nếu căn cứ vào sự tác động của giáo viên thì có thể chia thành ba hình thức cơ bản sau:

Một là, tự học trên lớp: Hoạt động tự học của người học diễn ra dưới sự điều

khiển trực tiếp của giáo viên và phương tiện kỹ thuật ở trên lớp, ở hình thức này người học phải phát huy các phẩm chất và năng lực của mình như: khả năng chú ý, óc phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để tiếp thu, lĩnh hội tri thức, kỹ năng

kỹ xảo mà người dạy định hướng

Hai là, tự học ngoài giờ lên lớp: Hoạt động tự học của người học diễn ra dưới sự

điều khiển gián tiếp của giáo viên, lúc này người học phải tự mình sắp xếp kế hoạch,

sử dụng các điều kiện vật chất nhất là huy động năng lực của bản thân để ôn tập củng

cố, đào sâu, mở rộng hoàn chỉnh tri thức, hoàn thành nhiệm vụ do giáo viên giao cho, đồng thời lĩnh hội tri thức mới

Ba là, tự học không có sự điều khiển trực tiếp hay gián tiếp của giáo viên:

Người học tự tìm kiếm tri thức để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình bằng cách tự tìm tài liệu, tự rút kinh nghiệm, tự phê bình, tự tìm phương pháp, tự sắp xếp thời gian

Trong các hình thức tự học trên thì hình thức thứ ba ở mức độ cao nhất, khó khắn nhất, khắc nghiệt nhất

Tuy nhiên trong hoạt động tự học thì hình thức nào, mức độ nào cũng có tầm quan trọng riêng Vấn đề là cần nắm được và rèn luyện cho người học các hình thức tự học

9

Trang 15

Đối với học sinh trung học phổ thông hoạt động tự học gắn liền với sự hướng dẫn của thầy Hoạt động này diễn ra ở hình thức thứ nhất và hình thức thứ hai - Tự học trên lớp và tự học ngoài giờ trên lớp

1.2.3 Năng lực và năng lực tự học của học sinh

Theo từ điển tiếng Việt [29] thì năng lực có thể được hiểu theo hai nghĩa sau:

(1) Năng lực chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt

động nào đó

(2) Năng lực là một phẩm chất tâm sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn

thành hoạt động nào đó có chất lượng cao

Hiểu theo nghĩa thứ nhất năng lực là một khả năng có thực được bộc lộ thông qua việc thành thạo một hoặc một số kỹ năng nào đó của người học

Hiểu theo nghĩa thứ hai, năng lực là một cái gì đó có sẵn ở dạng tiềm năng của ngườihọc có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống

Như vậy từ hai nghĩa trên chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống Khía cạnh hiện thực của năng lực là cái mà nhà trường phổ thông có thể tổ chức hình thành và phát triển cho học sinh

Theo quan điểm của những nhà tâm lý học:

Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu

cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do quá trình học tập, do rèn luyện mà có [13]

Có thể tham khảo thêm một số cách hiểu về khái niệm năng lực như sau:

Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể [2]

Năng lực là các kỹ năng và khả năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng thành công và có trách nhiệm các giải pháp trong những tình huống thay đổi [38]

10

Trang 16

Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm năng lực chính là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống

Từ đó có thể nhận định năng lực của học sinh phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giảiquyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em

Năng lực toán học theo tác giả Nguyễn Hữu Châu [3]: Năng lực toán học là khả

năng nhận biết ý nghĩa, vai trò của kiến thức toán học trong cuộc sống, khả năng vận dụng tư duy toán học để giải quyết các vấn đề của thực tiễn đáp ứng nhu cầu đời sốnghiện tại và tương lai một cách linh hoạt: khả năng phân tích suy luận, lập luận khái quát hóa, trao đổi thông tin một cách hiệu quả thông qua việc đặt ra, hình thành và giải quyết vấn đề toán học trong các tình huống, hoàn cảnh khác nhau

Ngoài ra năng lực toán học cũng có thể hiểu là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảmbảo thực hiện các hoạt động toán học Các kỹ năng của cá nhân vừa là sản phẩm của sinh lý (có sẵn) vừa là sản phẩm của tâm lý (do rèn luyện mà có) Các hoạt động toán học đó là các thao tác đặc trưng (phân tích, suy luận, lập luận, chứng minh, ) với các đối tượng, nội dung toán học [39]

Năng lực tự học là khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực

trong các hoạt động để tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm việc hoặc làm việc hợp tác với người khác [14]

Năng lực tự học cũng là một khả năng, một phẩm chất tâm sinh lí của con người, vừa như cái bẩm sinh "vốn có", vừa như sản phẩm của lịch sử, hơn nữa là sản phẩm của lịch sử phát triển xã hội Năng lực tự học là cái vốn có của mỗi con người nhưng phải được đào tạo, được rèn luyện trong hoạt động thực tiễn mới trở nên sức mạnh thật sự của người học

Như vậy, "Năng lực tự học có thể được hiểu là phẩm chất sinh lý và tâm lý tạo

cho con người có khả năng hoàn thành hoạt động học tập với chất lượng cao"

11

Trang 17

1.2.4 Phân biệt năng lực với tri thức kỹ năng, kỹ xảo

- Tri thức là những hiểu biết thu nhận được từ sách vở, từ học hỏi và từ kinh

nghiệm cuộc sống của mình [11]

- Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức thu lượm vào thực tế để

tiến hành một hoạt động nào đó [11]

- Kỹ xảo là những kỹ năng được lắp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục

cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức và việc mình đang làm [11]

- Năng lực theo như lý luận nêu trên năng lực là một tổ hợp phẩm chất của cá

nhân, cho phép thực hiện có kết quả hoạt động học tập, giải quyết có hiệu quả nhữngvấn đề có thực trong cuộc sống của người học

Kỹ năng là giai đoạn trung gian giữa tri thức và kỹ xảo trong quá trình nắm vững một phương thức hành động Nói cách khác kỹ năng là một việc gì đó mà học sinh phải thể hiện cái phải làm Kỹ năng bao hàm một hành vi trong đó kiến thức, hiểu biết và lập luận được vận dụng một cách công khai

1.2.5 Các năng lực hình thành năng lực tự học của học sinh

Để hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh cần xác định các thành phần của năng lực này Có nhiều loại năng lực khác nhau, việc mô tả các thành phần năng lực cũng khác nhau Theo tác giả Đào Tam [33] cấu trúc của năng

lực tự học là sự kết hợp của các năng lực thành phần sau:

a Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực này đòi hỏi học sinh phải nhận quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh,suy luận, khái quát hóa các tài liệu toán học, kiến thức toán học, suy xét từ nhiều góc

độ, có hệ thống trên cơ sở những tri thức kinh nghiệm cá nhân; phát hiện ra các khó khăn thách thức, mâu thuẫn, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết,

cần bổ sung và phát hiện các bế tắc các nghịch lý cần khai thông, làm sáng tỏ 

Việc thường xuyên rèn luyện năng lực này tạo cho học sinh thói quen hoạt độngtrí tuệ, luôn tích cực khám phá tìm tòi ở mọi nơi mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiềuđối tượng khác nhau góp phần phát triển năng lực tự học của học sinh nói chung và năng lực tự học toán nói riêng

12

Trang 18

b Năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề, khảo sát các khía cạnh thu thập và

xử lý thông tin, đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Như vậy mỗi quá trình giải quyết vấn đề đều sử dụng những thao tác trí tuệ và hướng đến những mục tiêu xácđịnh

Nếu nói rằng trong dạy học việc quan trọng là phải dạy cho học sinh cách học, thì trong đó cần coi trọng dạy cho học sinh kỹ thuật giải quyết vấn đề Với kỹ thuật này học sinh có thể áp dụng vào nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộcsống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Giáo viên nên xem kỹ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho học sinh phương pháp tự học

c Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp biện pháp ) từ quá trình giải quyết vấn đề

Đây là một trong những năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được khi chính bản thân học sinh có năng lực này Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới hoặc áp dụng (nếu cần thiết)

d Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc nhận thức kiến thức mới)

Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễncuộc sống, hoặc là học sinh vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn,hoặc là trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có nghiên cứu khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức

e Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Dạy học đề cao vai trò tự chủ của học sinh (hay tập trung vào người học), đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buộc) học sinh đánh giá

và tự đánh giá mình Chỉ có như vậy họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lý, cái có hiệu quả hơn

13

Trang 19

Mặt khác, kết quả tất yếu của việc rèn luyện các kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn

đề, kết luận và áp dụng kết quả của quy trình giải quyết vấn đề đòi hỏi người học phảiluôn đánh giá và tự đánh giá Người học phải biết chính xác mặt mạnh, yếu, cái đúng, sai của mình, của việc mình làm, mới có thể tiếp tục vững bước trên con đường học tập chủ động Không có khả năng đánh giá người học khó có thể tự tin trong phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học

Các năng lực trên vừa đan xen vừa tiếp nối nhau tạo nên năng lực tự học ở học sinh Các năng lực trên cũng chính là năng lực của người nghiên cứu khoa học Vì vậy rèn luyện được các năng lực đó chính là học sinh biết đặt mình vào vị trí của người nghiên cứu khoa học hay nói cách khác đó là sự rèn luyện năng lực tự học, tự nghiên cứu

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của học sinh

1.3.1 Ảnh hưởng của ý thức, động cơ học tập

Ý thức học tập có ý nghĩa quyết định trong quá trình hình thành và phát triển năng lực tự học của học sinh Vì chất lượng học tập là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực bản thân người học Nếu người học không xác định được vai trò của mình trong sự thành bại của sự học, thì tự học khó thành công Bên cạnh đó muốn tự học đạt kết quảcao đòi hỏi người học phải có động cơ học tập, có nhu cầu và hứng thú học tập, phải nhận thức rõ mục đích của hoạt động học tập và ý thức đầy đủ về việc học của mình

Để hoàn thành nội dung học tập đòi hỏi chủ thể tự học phải có ý chí vượt khó để vượt qua chướng ngại vật trong quá trình tự học nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra Khi đã xác định được mục đích và động cơ học tập đúng đắn người học mới có thể phát huy được "nội lực" trong học tập, kết hợp các yếu tố "ngoại lực" khác

để tổ chức các hoạt động học tập diễn ra một cách hợp lý và thu được kết quả cao

1.3.2 Ảnh hưởng của năng lực trí tuệ

Năng lực trí tuệ: Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt tri

thức khoa học nhanh hay chậm của mỗi học sinh Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn, đôi khi là quyết định đến khả năng học tập nói chung và năng lực tự học nói riêng

Những người có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi có đủ

14

Trang 20

vốn tri thức tối thiểu khi cần họ có thể độc lập làm việc một mình mà không cần tới

sự hướng dẫn của thầy

Vì vậy, rèn luyện và phát triển năng lực trí tuệ là một yêu cầu để nâng cao chất lượnghọc tập và tự học

1.3.3 Ảnh hưởng của phương pháp học tập của trò

Phương pháp tự học là cách thức hoạt động của người học trong quá trình lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, tìm tòi tri thức mới

Trong tự học, yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công là phương pháp tự học.Nếu người học rèn luyện được thói quen, phương pháp, kỹ năng tự học thì sẽ tạo cho

họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người, làm cho kết quả học tậpđược tăng lên, thích ứng quá trình học tập của trò và phương pháp dạy học của thầy

1.3.4 Ảnh hưởng của phương pháp dạy học của thầy

Phương pháp dạy học là con đường mà chủ thể dung để tác dụng nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích đã định

Theo Nguyễn Bá Kim [16]: "Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nên những hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học" Như vậy, có thể thấy rằng: Phương pháp dạy học của thầy cũng có ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học của người học Cụ thể:

Trong dạy học người giáo viên không chỉ là người nêu rõ mục đích mà quan trọng hơn là gợi động cơ học tập cho học sinh Điều này làm cho học sinh ý thức được những mục đích đặt ra và tạo được động lực bên trong giúp học sinh học tập tự giác, tích cực chủ động sáng tạo

Thông qua việc dạy của thầy, học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hìnhthành năng lực và thế giới quan Từ đó phương pháp tự học được hình thành kéo theo

là sự hình thành và phát triển năng lực tự học của học sinh

Hoạt động kiểm tra đánh giá của thầy cũng ảnh hưởng đến hoạt động tự kiểm tra đánh giá của trò Thật vậy, trong quá trình tự tìm ra kiến thức, người học tự tạo ra mộtsản phẩm ban đầu, có thể chưa chính xác, chưa khoa học Nhưng thông qua

15

Trang 21

trao đổi với bạn bè và kiểm tra kết luận của thầy, người học tự kiểm tra để sửa sai

hoặc hoàn thiện sản phẩm của mình Nếu quá trình này diễn ra thường xuyên sẽ hình thành năng lực tự kiểm tra đánh giá của học sinh, làm cho năng lực tự học ngày càng phát triển

1.4 Thực trạng dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học Toán ở trường

THPT Đào Duy Từ

Qua việc tổng kết kinh nghiệm dạy học của bản thân, của các đồng nghiệp, qua trao đổi trực tiếp với các học sinh, dự giờ đồng nghiệp qua một số năm học, tôi nhận thấy:

Về phía giáo viên, vẫn còn những thầy cô giáo chưa thật sự chú ý đến rèn luyện

và phát triển năng lực tự học cho học sinh, kết thúc mỗi tiết học các thầy cô giáo vẫn chú trọng việc giao bài tập về nhà để học sinh tự học nhưng lại ít chú ý đến việc tổ chức cho học sinh tự học ngay trên lớp để tạo thói quen tự học Trong các tiết lý thuyết giáo viên thường tập trung truyền thụ kiến thức bài học, chưa thực sự chú ý đến hình thành phát triển năng lực tự học trong suốt quá trình học Trong các giờ luyện tập việc dạy vẫn còn mang nặng tính luyện thi nhằm mục đích đạt được khối lượng kiến thức mà chưa chú ý đến việc dạy học sinh cách học, cách tư duy, cách phát hiện

và giải quyết vấn đề Học sinh được cung cấp nhiều dạng bài tập và được luyện tập nhưng các kỹ năng như phân tích, tổng hợp lại ít được chú ý rèn luyện và phát triển Dẫn đến khi gặp những bài tập không thuộc dạng đã học học sinh không biết hướng giải quyết Học sinh bị lệ thuộc vào giáo viên, biết giải quyết các dạng bài mà giáo viên giao cho nhưng lại không biết hệ thống kiến thức đã học theo quan điểm của riêng mình Từ đó làm hạn chế tư duy độc lập và khả năng làm việc nhóm của học sinh, làm cho học sinh máy móc, không sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kỹ năng

Về phía học sinh, hầu hết học sinh nhận thấy cần thiết phải học môn toán nhưng chưa có ý thức tự giác tự học, thường tự học để đối phó với các kì thi, kiểm tracủa giáo viên, chưa thấy được tự học có vai trò quan trọng trong việc ghi nhớ, tái hiện, nắm kiến thức có hệ thống Việc tự học chủ yếu dành cho việc học bài cũ và làm bài tập về nhà, chưa chú trọng đến việc tự học kiến thức mới Việc tự học trên lớp diễn rahạn chế, nhiều học sinh nghe, ghi chép thụ động không tự suy nghĩ để

16

Trang 22

tiếp nhận kiến thức mới Đặc biệt là học sinh không "quen" và không biết tự nghiên

cứu tài liệu

Vậy có thể thấy rằng, tuy giáo viên và học sinh cũng đã có nhận thức về vấn đề

tự học, nhưng do nhiều nguyên nhân mà chất lượng tự học còn chưa cao Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần nhận thức rõ hơn và có các biện pháp định hướng, điều khiển, kiểm tra việc tự học của học sinh; đồng thời tác động tích cực đến những yếu tố ảnh hưởng đến việc tự học làm tăng cường ý thức của học sinh trong vấn đề tự học

17

Trang 23

có thể phát triển năng lực tự học tốt hơn

18

Trang 24

CHƯƠNG 2THIẾT KẾ MỘT SỐ GIÁO ÁN DẠY HỌC SỐ PHỨC THEO HƯỚNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 2.1 Một số vấn đề về nội dung chương IV -Số phức

2.1.1 Mục đích chương

Chủ đề "Số phức" được phân phối chương IV sách giáo khoa giải tích 12 hiện hành, nghiên cứu các nội dung: Khái niệm số phức, các phép toán dạng đại số của số phức như phép cộng, trừ, nhân, chia, khái niệm số phức liên hợp, môđun của số phức

và một số tính chất môđun số phức; Khái niệm căn bậc hai của số phức, ứng dụng vào giải phương trình bậc hai với hệ số thực và hệ số là phức; Dạng lượng giác của sốphức và ứng dụng của dạng lượng giác

Yêu cầu của chương đối với học sinh là:

+ Về kiến thức:

- Hiểu được dạng đại số của số phức, biểu diễn hình học của số phức, phép tínhcộng, trừ, nhân, chia số phức dạng đại số, modul của số phức, số phức liên hợp, căn bậc hai của số phức

- Dạng lượng giác của số phức, khái niệm acgumen của số phức, phép nhân, chia số phức dạng lượng giác, công thức Moivre và ứng dụng của công thức

2.1.2 Nội dung và phân phối chương trình chương

Xuất phát từ mục đích nêu trên, nội dung của chương được phân bố như sau:

19

Trang 25

Nội dung chương gồm 3 bài, dự kiến giảngdạy trong 13 tiết, phân phối cụ thể như

Giải pháp 1- Xây dựng động cơ và động lực tự học

Hoạt động học cũng như bất kỳ một hành động đích thực nào cũng phải được tạo ra và thôi thúc bởi động cơ Một trong những lý thuyết về động cơ được nhắc đến nhiều nhất là lý thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow [20] Trong năm bậc nhu

cầu đáng chú ý nhất là nhu cầu tự hoàn thiện, nhu cầu tự khẳng định Trong hoạt

động dạy học người giáo viên cần hiểu rõ những điều mà học sinh mong muốn, những nhu cầu phát sinh trong họ và công việc học tập của họ để tạo ra mối liên hệ và

sự thống nhất hài hòa giữa các nhu cầu với mục đích và mục tiêu học tập Khi người học sinh thấy những nhu cầu học tập của họ được đáp ứng lúc ấy động cơ tự học sẽ mạnh mẽ hơn

Để thúc đẩy học sinh nỗ lực vươn lên thực hiện những mục tiêu tự học, những tác động của giáo viên với học sinh cần đa dạng và phong phú Giáo viên cần khơi dậy những tình cảm và ý thức trách nhiệm, danh dự cá nhân, đánh giá công bằng, khuyến khích kịp thời những nỗ lực tự học của mỗi cá nhân học sinh

Trang 26

20

Trang 27

Giải pháp 2 - Tăng cường tài liệu hướng dẫn tự học

Để hướng dẫn tự học có hiệu quả giáo viên phải viết tài liệu in ra và hướng dẫn học sinh tự học Trong tài liệu hướng dẫn cần có hệ thống câu hỏi hướng dẫn tự họctrước và sau giờ giảng Nội dung tài liệu hướng dẫn phải chỉ ra được mối quan hệ logic giữa các chương, các mục vẽ ra sơ đồ về mối quan hệ đó Việc hướng dẫn phải thể hiện ra bằng những câu hỏi hoặc bài tập nhỏ

Trong tài liệu hướng dẫn tự học giáo viên giao các bài tập để học sinh tự chuẩn

bị, liên hệ thực tế liên quan đến nội dung bài học Tài liệu hướng dẫn phải có yếu tố phương pháp học và yếu tố mô phỏng sự tìm tòi, khám phá để định hướng và khêu gợiđộng cơ, hỗ trợ ôn tập, củng cố

Giải pháp 3- Rèn luyện và phát triển một số năng lực trí tuệ phù hợp với các

năng lực hình thành năng lực tự học của học sinh

Rèn luyện và phát triển tư duy phân tích

- Phân tích là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức thành

các "bộ phận", các thành phần khác nhau Trong toán học cần có kỹ năng phân tích dấu hiệu bản chất các khái niệm, định lý, phân tích giả thiết trong bài toán,

Thông qua việc rèn luyện và phát triển tư duy phân tích chính là góp phần rèn luyện và phát triển năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề một trong những năng lực hình thành năng lực tự học ở học sinh

Rèn luyện và phát triển tư duy tổng hợp

- Tổng hợp là dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã được tách rời nhờ sự

phân tích thành một chỉnh thể Đó là quá trình tổng hợp lại các phương pháp để giải mộtdạng toán, đó là tìm ra mối liên hệ giữa các khái niệm, định nghĩa và đặc biệt là quá trìnhliên kết các giả thuyết khi giải bài toán

Rèn luyện và phát triển tư duy so sánh

So sánh là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống hay khác nhau, sự bằng

nhau hay không bằng nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa các đối tượng nhận thức Trong dạy Toán cần hướng dẫn học sinh so sánh những khái niệm, định lý,quy tắc mới với những điều đã có, so sánh ở điểm giống và khác nhau

21

Trang 28

Rèn luyện và phát triển tư duy khái quát hóa

- Khái quát hóa là quá trình dùng trí óc hợp nhất nhiều đối tượng khác nhau

thành một nhóm, một loại bằng cách nêu bật một số đặc điểm chung, những thuộc tínhchung, hoặc những quan hệ chung Trong toán học cần có kỹ năng khái quát

hóa từ các trường hợp riêng lẻ để đưa ra các tính chất, các kết luận khái quát

Rèn luyện và phát triển tư duy cụ thể hóa

Cụ thể hóa là quá trình minh họa hay giải thích những khái niệm, định luật

khái quát, trừu tượng bằng các ví dụ cụ thể

Rèn luyện và phát triển tính bề rộng của hoạt động trí tuệ

Bề rộng của trí tuê: Được thể hiện ở chỗ học sinh có thể tiến hành hoạt động

này trong nhiều lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau Nó giúp cho học sinh có điều kiện thuận lợi để tạo nên sự hỗ trợ giữa hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực này và hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực khác

Rèn luyện và phát triển tính linh hoạt của hoạt động trí tuệ

Tính linh hoạt của trí tuệ: Thể hiện ở chỗ: học sinh có khả năng thay đổi

phương hướng giải quyết vấn đề phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện, biết tìm ra phương pháp mới để giải quyết vấn đề, dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác, khắc phục lối rập khuôn theo mẫu định sẵn, máy móc, suy nghĩ theo đường mòn, có khả năng xác lập sự phụ thuộc giữa các kiến thức theo trật tự ngượcvới cách đã biết

Rèn luyện và phát triển tính sáng tạo của hoạt động trí tuệ

Tính sáng tạo: Tính sáng tạo của tư duy thể hiện ở khả năng tạo ra cái mới:

phát hiện vấn đề mới, lời giải mới, hướng đi mới, kết quả mới Cái mới thường được nảy sinh, bắt nguồn từ cái cũ Việc đi từ khái niệm, định lý này đến khái niệm, định lý mới

rõ ràng là một sự sáng tạo lớn

Tính sáng tạo có thể dẫn tới suy nghĩ rất táo bạo nhưng có căn cứ, có cân nhắc cẩn

thận chứ không phải suy nghĩ liều, làm liều

Giải pháp 4- Hướng dẫn học sinh cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu

Lập kế hoạch là việc xây dựng kế hoạch cho những hoạt động cụ thể nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà mục tiêu đề ra Trong kế hoạch tự học học sinh phải xác

22

Trang 29

định rõ nội dung tự học, thứ tự các công việc cần làm để hoàn thành nội dung đó,

thời gian và phương tiện để thực hiện những công việc đó

Mục tiêu và phương pháp tự học học sinh được tham khảo từ sự hướng dẫn của giáo viên Do đó với mỗi chương mới, bài học mới giáo viên cần giới thiệu sơ lược về nội dung sẽ học một cách khái quát để học sinh hiểu và tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập phù hợp Chẳng hạn trong quá trình giảng dạy, giáo viên cung cấp nội dung và thời gian học, thời gian kiểm tra để học sinh nắm rõ Muốn học sinh tự xây dựng kế hoạch học tập thì giáo viên phải là người cung cấp đầy đủ kế hoạch dạy và học của chương, của bài học

Giải pháp 5- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài của tiết học kế tiếp

Trong thực tế dạy học vẫn còn nhiều giáo viên sau khi hoàn thành khối lượng kiến thức của tiết học không đả động gì đến các nội dung sẽ học trong tiết học tiếp theo, bên cạnh đó cũng có các thầy cô quan tâm tới việc này bằng cách giao nhiệm vụ cho học sinh về nhà đọc các phần lý thuyết tiếp theo Với nhiều học sinh việc giáo viên không yêu cầu hoặc có yêu cầu nhưng thiếu sự hướng dẫn cụ thể thì học sinh thường không đọc, không nghiên cứu trước các nội dung được giao này

Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý giáo dục thì: " Một nguyên lý quan trọng là những gì học sinh tự làm được nên để họ tự làm, tự khám phá Vì thế người thầy cần đưa ra các vấn đề để buộc học sinh phải nghiên cứu, tự khám phá, nếu không họ sẽ không bao giờ đọc tài liệu, sách vở" Với quan điểm này cần giao cho học sinh

nhiều tình huống hoặc bài tập để giải quyết:

- Giáo viên phải tính toán mức độ các bài tập từ dễ đến khó để tạo hứng thú và dần dần tạo thói quen đọc tài liệu để giải bài tập hay giải quyết các tình huống

- Giáo viên chú ý tăng cường những tình huống cần có sự trao đổi của nhóm vì khi học theo nhóm, người biết giảng cho người chưa biết thì sẽ giỏi hơn, người chưa biết hỏi người biết sẽ hiểu được vấn đề, điều này sẽ làm cho học tập chất lượng hơn

Giải pháp 6 - Kết nối giờ học trên lớp với tự học của học sinh

Phương pháp tổ chức giờ học trên lớp của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định ý thức tự học của học sinh Để phát huy tốt việc tự học của học sinh giáo viên cần chú ý các vấn đề:

23

Trang 30

- Khai thác tối đa những tình huống có vấn đề để phát huy vai trò chủ động tìm hiểu khám phá kiến thức và khả năng tư duy của học sinh

- Chuẩn bị, lựa chọn các ví dụ ngoài sách giáo khoa, các ví dụ có tính thực tiễn,sinh động Công việc này là một cách làm gương cho học sinh về vấn đề tự học

- Bên cạnh khi tổ chức các hoạt động nhận thức trên lớp giáo viên phải liên kết

để hoàn thiện những vấn đề đã được đặt ra trong hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài

trước giờ học của học sinh Kiến thức học sinh đã thu nhận qua tự học phải là tiền

đề để tiếp nhận kiến thức trên lớp

Giải pháp 7 - Duy trì việc tự học bằng cách giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh

Để việc tự học trở thành ý thức thường trực, người giáo viên phải thường xuyên xây dựng được hệ thống bài tập hợp lý cho từng tiết học Các bài tập phù hợp với nội dung kiến thức theo các cấp độ, tái hiện, tái tạo, vận dụng, phân tích tổng hợp trong đó phải chú ý đến trình độ của học sinh: khá, giỏi, trung bình, yếu kém Có những gợi ý yêu cầu hoặc bài tập mà bắt buộc học sinh phải học lại kiến thức cũ

Việc giao cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập cụ thể này là một trong những hoạt động quan trọng cần thực hiện vì thông qua đó giáo viên có thể phát huy tối

đa năng lực tự học và thúc đẩy học sinh tận dụng thời gian tự học, việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập của học sinh giúp quá trình đào tạo thành tự đào tạo, biến tri thức nhân loại thành tri thức của mình

2.3 Thiết kế một số giáo án giảng dạy theo hướng phát triển năng lực tự học

của học sinh

Giáo án số 1 (Tiết 63) Chương 4: SỐ PHỨC Bài 1: SỐ PHỨC

Chú ý:

- Tiết 63 là tiết đầu tiên của chương Số phức, sách giáo khoa có đề cập tới lịch sử xuất hiện số phức, nhưng trong khuôn khổ sách chỉ giới thiệu ngắn gọn và có bổ sung dưới hình thức bài đọc thêm với nội dung tương đối khó hiểu khi các em tiến hành tự học, để giúp học sinh hiểu rõ hơn về sự xuất hiện của số phức giáo

24

Trang 31

viên biên soạn "Tài liệu tham khảo tiết 63" mục đích giới thiệu cụ thể hơn về sự xuất hiện của số phức (Giải pháp 2 - Tăng cường tài liệu hướng dẫn tự học)

- Để ôn tập và chuẩn bị kiến thức cho tiết 63, kết thúc tiết 62 giáo viên chia lớp thành các nhóm, phát 2 tài liệu cần thiết gồm: "Tài liệu tham khảo tiết 63" và "Phiếu học tập tiết 63" cho nhóm trưởng từng nhóm yêu cầu các nhóm về nhà lập kế hoạch

và thực hiện nội dung công việc (chi tiết "Tài liệu tham khảo tiết 63" và "Phiếu học tập tiết 63" xem tại phần A và B phụ lục 1)

(Giải pháp 2 - Tăng cường tài liệu hướng dẫn tự học; Giải pháp 5- Hướng dẫn học

sinh chuẩn bị bài của tiết học kế tiếp; Giải pháp 7 - Duy trì việc tự học bằng cách giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh)

Hình thức hoạt động: Theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân

công công việc trong nhóm, tổng hợp ý kiến, điều hành nhóm, ) Số

lượng: 5 - 6 học sinh một nhóm, tổng số 8 nhóm

Nội dung công việc: Đọc và trả lời câu hỏi trong phiếu học tập (gồm 4 phiếu)

Hình thức thực hiện: Mỗi thành viên từng nhóm phải chuẩn bị có một phiếu học tập

với nội dung "viết tay" (yêu cầu không photo hoặc đánh máy nội dung) Hình thức đánh

giá: Kiểm tra và chấm điểm nhóm (nếu cần)

Thực hiện: Kết thúc tiết 62 giáo viên chia nhóm và phát "Tài liệu tham khảo tiết 63"

và "Phiếu học tập tiết 63" (chi tiết xem tại phần A và B phụ lục 1) cho nhóm trưởng mỗi nhóm

Tìm được phần thực, phần ảo của một số phức

Thực hiện biến đổi thành thạo các phép toán cộng, trừ số phức

25

Trang 32

mục tiêu cần đạt (Hướng dẫn học sinh cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu)

* Kiểm tra việc tự học ở nhà: Trên cơ sở các nhóm đã chuẩn bị phiếu học tập,

giáo viên kiểm tra từng nhóm (Thực hiện trong vòng 5 phút)

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung

Hoạt động 1: Tìm hiểu sự tồn tại đơn vị ảo i

1 Một số bài toán

- Giáo viên giới thiệu bài toán 1; phân Bài toán 1

tích và yêu cầu học sinh trên cơ sở đã Tìm hai số a, b biết tổng bằng 12 và tích tìm hiểu kiến thức mới, chuẩn bị phiếu bằng 55

học tập trình bày lời giải (Kết nối giờ

- Học sinh thực hiện:

Trang 33

* Các nhóm còn lại theo dõi và đưa ra trình:

nhận xét

X 2 - 12X +55 = 0

Giáo viên chính xác hóa lại lời giải,

-nhận xét và cho điểm nhóm (Xây dựng

 '  19

0

=> phương trình vô nghiệm trên .

động cơ và động lực tự

- Giáo viên dẫn dắt và đưa ra nhận xét

nhằm giới thiệu sự tồn tại một số có

được a = 6 + Khi đó

Trang 34

26

Trang 35

thì phải tồn tại 1 (số có bình phương bằng -1)

Chứng tỏ: "Tồn tại một số nào đó mà

bình phương của nó bằng - 1 và số đó không phải là số thực?"

Ký hiệu i là căn bậc hai của -1, viết i2 = - 1

- Giáo viên giới thiệu bài toán 2; yêu Khi đó: a = 6 + 19 i, b = 6 - 19 i

cầu học sinh trên cơ sở đã tìm hiểu

kiến thức mới, chuẩn bị phiếu học tập gọi là các số phức

trình bày lời giải (Kết nối giờ học trên lớp

với tự học của học sinh)

Bài toán 2

- Học sinh thực hiện: Giải phương trình x 3 = 4+ 15x

* Các nhóm đã chuẩn bị phiếu học tập Lời giải

cử đại diện trình bày

* Các nhóm còn lại theo dõi và đưa ra

nhận xét

Đặt x 3 u 3 v

Phương trình trở thành

3-

* Trong bài toán 2 khi giải phương

trình bậc 3 nếu không sử dụng căn bậc

hai của số âm dẫn đến kết luận phương

trình vô nghiệm, nhưng thử với x = 4 vẫn

là nghiệm phương trình

* Do đó sự tồn tại một số nào đó mà bình phương của nó bằng -1 là hoàn toàn có lý

Trang 36

(Rèn luyện và phát triển tư

duy linh hoạt của hoạt động trí tuệ)

Không đủ thời gian giới thiệu 4 bài Nên x = (2 + i) + (2 - i) = 4

toán trong 4 phiếu học tập, do đó giới Vậy x = 4 là nghiệm phương trình

thiệu 2 bài toán điển hình gồm bài toán

giải phương trình bậc 3 và bài toán tìm

tổng, tích hai số

27

Trang 37

- Giáo viên nhấn mạnh sự tồn tại của

đơn vị ảo i và đặc điểm của nó

- Giáo viên nêu vấn đề:

Ký hiệu căn bậc hai của -1 là i, hãy viết các

số vừa tìm được ở trên - Học sinh thực hiện

- Giáo viên cho học sinh thấy sự khác nhau

giữa các số vừa tìm với các số thực đã biết

nhằm khắc sâu kiến thức về đơn vị ảo i,

chuẩn bị cho việc giới thiệu định nghĩa số

phức

Hoạt động 2: Tìm hiểu định nghĩa số phức

- Giáo viên căn cứ vào cách viết kết 2 Định nghĩa số phức

quả hai bài toán trên gợi ý học sinh a) Định nghĩa

phát biểu định nghĩa số phức (Rèn Một số phức là biểu thức có dạng

luyện và phát triển tư duy cụ thể hóa, z a bi , a, b  R, i đơn vị ảo i2 1

tư duy độc lập của hoạt động trí tuệ)

- Học sinh trả lời

- Giáo viên chính xác lại định nghĩa

- Giáo viên giới thiệu tập số phức ,

a: phần thực, b: phần ảo

Tập số phức: (Complex numbers)

= {a + bi | a, b , i 2 =-1}

nguồn gốc của ký hiệu xuất phát từ tên Ta có:

tiếng Anh Complex numbers (Rèn Ví dụ 1 Tìm phần thực phần ảo của các

luyện và phát triển tư duy linh hoạt của số phức

Trang 39

thành định nghĩa hai số phức bằng

nhau:

Hỏi:

Cho biểu thức a2 - b2 + 2abi = a - bi

* Tìm giá trị a và b để biểu thức nghiệm

đúng với mọi i

- Học sinh trả lời: Sử dụng phương pháp

cân bằng hệ số (Rèn luyện và phát triển tư

duy so sánh)

- Giáo viên nêu vấn đề: Quan niệm vế trái,

vế phải là các số phức, bài toán trên thực

chất là tìm điều kiện để hai số

phức bằng nhau

Thông qua bài toán trên cho biết điều

kiện để hai số phức bằng nhau là gì (Rèn

luyện và phát triển tư duy cụ thể hóa)

- Học sinh trả lời: Phần thực bằng phần

thực, phần ảo bằng phần ảo

- Học sinh thực hiện ví dụ 2

- Giáo viên chính xác lại lời giải

- Giáo viên nhấn mạnh định nghĩa nhằm

khắc sâu kiến thức

Hoạt động 3: Tìm hiểu phép cộng, phép trừ số phức

- Giáo viên giới thiệu ví dụ 1, cầu học 3 Phép cộng và phép trừ số phức

sinh trên cơ sở đã tìm hiểu kiến thức Ví dụ 1 Viết biểu thức dưới dạng x + yi mới, chuẩn bị phiếu học tập trình bày a) (3 + 5i) + (2 - 3i)

lời giải (Kết nối giờ học trên lớp với tự b) (3 + 5i) + 6

học của học sinh

- Học sinh thực hiện c) 7i - (4 + 5i)

-Giáo viên nhấn mạnh: Thực chất ta d) (2+5i)ngh (1+3i) = 3 + 8i +

a) Định ĩa

vừa thực hiện phép cộng hai số phức

Hỏi: Làm thế nào để cộng hai số phức (Định nghĩa 3 sách giáo khoa trang 183)

- Học sinh trả lời: Phần thực cộng phần b) Tính chất

thực, phần ảo cộng phần ảo

- Giáo viên chính xác lại định nghĩa Ví dụ 2

- Giáo viên giới thiệu ví dụ 2 mục đích Cho z1 = 1+ 3i, z2 = 2 + i, z3 = 1 -3i

Trang 40

- Giáo viên gợi ý để học sinh

nhớ lại Cộng với 0 z +0=0 +z = 0

tính chất của phép cộng với số thực Số đối của số phức z z +(-z)=(-z)+z

- Học sinh thực hiện ví dụ 2 Với z = a + bi thì -z = - a - bi

Giáo viên giới thiệu các tính chất của

phép cộng số phức

- Học sinh thực hiện ví dụ 3 (Rèn luyện Ví dụ 3 Tìm số phức z thỏa mãn

và phát triển tính độc lập của hoạt 3 + 5i = z - 1+ i động trí

* Giao nhiệm vụ tự học ngoài giờ lên lớp

Chú ý: Để ôn tập và chuẩn bị kiến thức cho tiết 64, kết thúc tiết 63 giáo viên phát

"Phiếu học tập tiết 64" cho nhóm trưởng từng nhóm yêu cầu các nhóm về nhà lập kế hoạch và thực hiện nội dung công việc (chi tiết "Phiếu học tập tiết 64"

xem phụ lục 2)

(Giải pháp 2 - Tăng cường tài liệu hướng dẫn tự học; Giải pháp 5- Hướng dẫn học

sinh chuẩn bị bài của tiết học kế tiếp; Giải pháp 7 - Duy trì việc tự học bằng cách giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh)

Hình thức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân

công công việc trong nhóm, tổng hợp ý kiến, điều hành nhóm, ) Số

lượng: 5 - 6 học sinh một nhóm, tổng số 8 nhóm

Nội dung công việc: Nêu trong phiếu học tập (gồm 4 phiếu)

Hình thức thực hiện: Mỗi thành viên từng nhóm phải chuẩn bị một phiếu học tập với

nội dung "viết tay" (yêu cầu không photo hoặc đánh máy nội dung)

Hình thức đánh giá: Kiểm tra và chấm điểm nhóm (nếu cần)

Thực hiện: Cuối tiết học 63 Giáo viên giữ nguyên nhóm đã chia và phát phiếu học

tập cho nhóm trưởng từng nhóm

30

Ngày đăng: 21/06/2016, 23:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân - Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức
Hình th ức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân (Trang 37)
Hình thức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân - Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức
Hình th ức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân (Trang 52)
Hình thức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân - Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức
Hình th ức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân (Trang 74)
Hình thức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân - Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức
Hình th ức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân (Trang 81)
Hình thức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân - Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức
Hình th ức hoạt động: theo nhóm (có nhóm trưởng là người chịu trách nhiệm phân (Trang 88)
Bảng 3.1 : Thống kê kết quả kiểm tra các lớp sau thực nghiệm 1 - Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức
Bảng 3.1 Thống kê kết quả kiểm tra các lớp sau thực nghiệm 1 (Trang 104)
Bảng 3.2 : Thống kê kết quả  kiểm tra các lớp sau thực nghiệm 2 - Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức
Bảng 3.2 Thống kê kết quả kiểm tra các lớp sau thực nghiệm 2 (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w