1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li

160 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng, các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục hiện nay cho thấy chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh không cao, đặc biệt việc phát huy tính tích cực của HS, năng lực

Trang 1

 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC - -

 

NGUYỄN HOÀNG LONG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY CHO HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP

CHƯƠNG SỰ ĐIỆN LI (HÓA HỌC 11- CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiệu trường  Đại Học Giáo Dục - Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi 

để các học viên chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. 

Cùng với các học viên lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học 

bộ môn Hóa học, chân thành cảm ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, mở  rộng và chuyển tải kiến thức chuyên môn sâu sắc và cập nhật thông tin hiện  đại về khoa học Giáo dục nói chung và Hóa học nói riêng. 

Đặc biệt, tác giả xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Anh Tuấn,  người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong quá trình làm luận văn, 

để tác giả hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ của mình.  

Tác  giả  chân  thành  cảm  ơn  các  thầy  cô  ở  lớp  Cao  học  Lý  luận  và  phương pháp dạy học bộ môn Hóa học đã giúp đỡ tác giả trong quá trình điều  tra thực trạng cho đề tài. 

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô ở trường THPT Kiến 

An đã giúp đỡ tác giả trong quá trình tiến hành thực nghiệm sư phạm cho đề tài. 

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa  tinh thần vững chắc giúp tác giả thực hiện tốt luận văn này. 

 

Hà Nội, tháng 11 năm 2014 

Học viên    Nguyễn Hoàng Long 

Trang 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  

       TN         : Thực nghiệm 

       THPT      : Trung học phổ thông     

ii 

Trang 4

MỤC LỤC  

Lời cảm ơn  i 

Danh mục viết tắt   ii 

Mục lục   iii 

Danh mục bảng    vi 

Danh mục sơ đồ   viii 

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1. Cơ sở lí luận về tư duy[6, 13, 34]  5  1.1.1. Khái niệm tư duy   5

1.1.2. Những phẩm chất của tư duy   5

1.1.3. Những hình thức cơ bản của tư duy   5

1.1.4. Rèn luyện các thao tác tư duy trong dạy học môn hóa học ở trường  trung học phổ thông  8

1.1.5. Phát triển tư duy hóa học   11

1.2. Cơ sở lí luận về năng lực tư duy   11 

1.2.1. Khả năng và năng lực   12

1.2.2. Khái niệm năng lực tư duy  13

1.3. Những điều kiện ảnh hưởng đến năng lực tư duy   14 

1.4. Những đặc trưng và yếu tố cơ bản của năng lực tư duy   16 

1.4.1. Những yếu tố cơ bản của năng lực tư duy   16 

1.4.1. Những đặc trưng cần  chú ý của năng lực tư duy   16 

1.5. Bài tập hóa học   17 

1.5.1. Khái niệm bài tập hóa học   17

1.5.2. Tác dụng của bài tập hóa học   18

1.5.3. Phân loại bài tập hóa học   18

1.5.4. Những yêu cầu lí luận dạy học cơ bản đối với bài tập   19

Trang 5

iii 

Trang 6

1.5.5.  Quan hệ giữa  bài  tập hóa  học với  việc phát  triển  năng lực  tư  duy 

của học sinh  21

1.6.  Thực  trạng  sử  dụng  bài  tập  hóa  học  để  phát  triển  năng  lực  tư  duy  ở  trường THPT   24

1.7.  Những biện pháp phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua bài  tập Hóa học chương Sự điện li - Hóa học 11 nâng cao   24

1.7.1.  Rèn năng lực quan sát   24

1.7.2.  Rèn các thao tác tư duy  

24  1.7.3.  Rèn năng lực tư duy độc lập  24 

1.7.4.  Rèn năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo   24 

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1   30 

CHƯƠNG 2.HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY CHƯƠNG SỰ ĐIỆN LI - HÓA HỌC 11 NÂNG CAO 31

2.1. Một số phương pháp giải bài tập hóa học chương Sự điện ly - Hóa học 11  nâng cao   31 

2.1.1. Phương pháp sử dụng phương trình ion   31

2.1.2.  Các  phương  pháp  bảo  toàn    (điện  tích,  electron,  nguyên  tố,  khối  lượng )   32

2.1.3. Phương pháp đường chéo   33

2.1.4. Sử dụng công thức giải nhanh tính pH   35 

2.2. Hệ thống bài tập tự luyện không có lời giải   37 

2.2.1. Bài tập sử dụng phương pháp đường chéo   37

2.2.2. Bài tập sử dụng phương trình ion   39

2.2.3. Bài tập sử dụng các phương pháp bảo toàn   47

2.2.4. Bài tập sử dụng công thức giải nhanh tính pH   54

2.2.5. Bài tập có yếu tố thực tế   55 

2.2.6. Bài tập có yếu tố thí nghiệm thực hành   55 

2.3. Hệ thống bài tập tự luyện không có lời giải   56 

Trang 7

2.3.1. Bài tập sử dụng phương pháp đường chéo   56

iv 

Trang 8

 59

2.3.3. Bài tập sử dụng các phương pháp bảo toàn   68

2.3.4. Bài tập sử dụng công thức giải nhanh tính pH   76

2.3.5.  Bài tập có yếu tố thực tế   77

2.3.6. Bài tập có yếu tố thí nghiệm thực hành   78

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2   80 

CHƯƠNG 3.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81 

3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm  81 

3.1.1. Mục đích    81

3.1.2. Nhiệm vụ   81

3.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm  81 

3.3. Tiến trình và nội dung thực nghiệm sư phạm   82 

3.3.1. Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng   82

3.3.2. Trao đổi với giáo viên dạy thực nghiệm   82

3.3.3. Tiến hành thực nghiệm   82

3.4. Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm   84 

3.4.1. Phân tích định tính kết quả thực nghiệm   84

3.4.2. Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm   84

3.4.3. Nhận xét   96

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3   98 

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99

1.  Kết luận   99 

2. Khuyến nghị   100 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

PHỤ LỤC 104  

 

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Thống kê kết quả kiểm tra  lần 1   86

Bảng 3.2. Thống kê kết quả kiểm tra  lần 2   86

Bảng 3.3. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra  số 1 của lớp 11B3 và 11B5    87

Bảng 3.4. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra  số 1 của lớp 11B4 và 11B6   87 

Bảng 3.5. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra  số 1 của lớp 11B1 và 11B2   87

Bảng 3.6. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra  số 1 của lớp 11B2 và 11B4   87

Bảng 3.7. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích tổng hợp bài  kiểm tra số 1   89

Bảng 3.8. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra số 1   90

Bảng 3.9. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra  số 2 của lớp 11B3 và 11B5   91

Bảng 3.10. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm  tra số 2 của lớp 11B4 và 11B6   91 

Bảng 3.11. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm  tra số 2 của lớp 11B1 và 11B2   92

Bảng 3.12. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm  tra số 2 của lớp 11B2 và 11B4   92

Bảng 3.13. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích tổng hợp  bài kiểm tra số 2   93

Bảng 3.14. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra số 2   94

Bảng 3.15. Các tham số đặc trưng bài kiểm tra số 1   95

Bảng 3.16. Các tham số đặc trưng bài kiểm tra số 2   95

Bảng 3.17. Kết quả xử lý để tính toán các tham số bài kiểm tra số 1   95

vi 

Trang 10

Bảng 3.18. Kết quả xử lý để tính toán các tham số bài kiểm tra số 2   95

Bảng 3.19. Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng   96

 

 

vii 

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1. Cấu trúc 3 bộ phận cơ bản của năng lực   13

Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số   89

Hình 3.2. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra số 1   90

Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2   93

Hình 3.4. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra số 2   94

viii 

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong điều kiện toàn cầu hóa và sự bùng nổ tri thức hiện nay trên thế giới, kỹ  năng của con người được xem là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội. Kiến  thức  thì  thật  mênh  mông, sau  một  chặng  đường  học tập  có  thể  nhiều  kiến thức  bị  quên đi, cái còn lại lâu dài trong mỗi chúng ta là phương pháp luận: phương pháp tư  duy, phương pháp học tập, phương pháp ứng xử, phương pháp giải quyết vấn đề    Như vậy, dạy học là cho người học có chiếc chìa khóa để mở các cánh cửa tri thức,  cho  họ  cái  "cần  câu"  chứ  không chỉ  là  một  "con cá" để  họ  có  thể  sống  và  tự  học  suốt đời. Cái đó mới là quan trọng cho cuộc đời và nghề nghiệp của mỗi con người  trong  tương  lai.  Trong  xã  hội  tương  lai,  nền  giáo  dục  phải  đào  tạo  ra  những  con 

người có trí tuệ phát triển thông minh và sáng tạo. Muốn có được điều này, ngay từ  bây giờ nhà trường phổ thông phải trang bị đầy đủ cho học sinh (HS) hệ thống kiến  thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và năng lực tư duy sáng tạo.  Thế nhưng, các công trình nghiên cứu về thực trạng giáo dục hiện nay cho thấy chất  lượng nắm vững kiến thức của học sinh không cao, đặc biệt việc phát huy tính tích  cực của HS, năng lực  tư duy (NLTD), năng  lực giải quyết  vấn đề  và khả năng tự  học không được chú ý rèn luyện đúng mức. Từ thực tế đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra 

là phải đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại 

để bồi dưỡng cho HS NLTD sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.  

Trong dạy học hóa học (HH) , có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát  triển năng lực nhận thức của HS bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau.  Trong đó, việc giải bài tập hóa học (BTHH) với  tư cách là  một phương pháp dạy  học,  có  tác  dụng  rất  tích  cực  đến  việc  giáo  dục,  rèn  luyện  và  phát  triển  HS.  Mặt  khác, cũng là thước đo thực chất sự nắm vững kiến thức và kĩ năng HH của HS.        Bài tập có vai trò quan trọng và hiệu quả sâu sắc trong việc thực hiện mục  tiêu đào tạo, trong việc hình thành phương pháp chung của việc tự  học hợp lí, trong  việc rèn luyện kĩ năng tự lực sáng tạo, phát triển tư duy. Song phương pháp này chưa  thực sự được chú trọng đúng mức, làm giảm vai trò và tác dụng của việc sử dụng bài  tập để phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho HS trong quá trình dạy học HH.  Trong dạy học HH, BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung và cũng vừa là phương 

Trang 13

pháp dạy học, vừa là phương tiện dạy học hiệu quả. Hiện nay, HS được tiếp xúc với 

một khối lượng lớn các BTHH thông qua sách vở , báo, internet. Vì thế người giáo  viên (GV) cần nghiên cứu BTHH trên cơ sở tư duy của HS, áp dụng hệ thống bài tập  (HTBT) trong dạy học hóa học một cách linh hoạt, khéo léo, hợp lý nhằm phát triển tối 

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

-  Nghiên  cứu  hoạt  động  nhận  thức  và  tư  duy  của  HS  trong  quá  trình  giải 

BTHH, từ đó hướng dẫn HS xây dựng tiến trình luận giải, làm cơ sở cho việc tìm  kiếm lời giải một cách có hiệu quả. 

- Xây dựng HTBT có nội dung thuận lợi cho việc rèn tư duy. Thông qua bài tập 

đó HS có thể vận dụng để phát triển năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề. 

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của những nội dung mang tính  phương pháp luận và HTBT đã xây dựng để phát triển năng lực nhận thức và tư duy  cho  HS  thông  qua  quá  trình  tìm  kiếm  lời  giải.  Đối  chiếu  kết  quả  thực  nghiệm  sư  phạm với kết quả điều tra ban đầu, rút ra kết luận về khả năng ứng dụng những nội  dung và biện pháp đã nêu ra vào quá trình dạy học HH. 

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

      Quá trình dạy học HH ở trường THPT Việt Nam. 

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Trang 14

Trang 15

 Hệ thống bài tập hóa học chương Sự điện li (Hóa học 11- chương trình nâng  cao) trường Trung học phổ thông. 

5 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung : Nghiên cứu khả năng tư duy của học sinh trong quá trình giải  bài tập Hóa học chương Sự điện li (Hóa học 11- chương trình  nâng cao). 

- Trao đổi với giáo viên có nhiều kinh nghiệm dạy học. 

- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng  các biện pháp và hệ thống bài tập đã đề xuất. 

7.3 Phương pháp xử lý thông tin: Thống kê toán học kết quả thực nghiệm, đưa ra 

những kết quả phân tích định tính, định lượng từ đó rút ra kết luận cho đề tài.  

8 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Việc nghiên cứu các vấn đề về bài BTHH từ trước đến nay đã có nhiều công  trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước quan tâm đến như Apkin G.L,  Xereda.  I.P.  nghiên  cứu  về  phương  pháp  giải  toán.  Ở  trong  nước  có  GS.  TS   Nguyễn  Ngọc  Quang  nghiên  cứu  lý  luận  về  bài  toán;  PGS.  TS    Nguyễn  Xuân 

Trang 16

Trường,  PGS.  TS    Lê  Xuân  Thọ,  TS  Cao  Cự  Giác,  PGS.  TS    Đào  Hữu  Vinh  và 

nhiều  tác  giả  khác  đều  quan  tâm  đến  nội  dung  và  phương  pháp  giải  toán   Tuy  nhiên, xu hướng hiện nay của lý luận dạy học là đặc biệt chú trọng đến hoạt động và  vai trò của HS trong quá trình dạy học, đòi hỏi học sinh phải làm việc tích cực, tự  lực. Vì vậy, cần phải nghiên cứu bài BTHH trên cơ sở hoạt động tư duy của HS, từ 

đó đề ra cách hướng dẫn HS tự lực giải bài tập, thông qua đó mà tư duy của họ phát  triển.  

9 Cấu trúc của luận văn

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận về tư duy[6, 13, 34]

1.1.1 Khái niệm tư duy

Theo M.N.Sacdacov: Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật 

và hiện tượng trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng. 

Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật và hiện tượng mới, riêng lẻ của  hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa đã thu nhận được.  

1.1.2 Những phẩm chất của tư duy

Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự tích luỹ các thao tác tư  duy thành thạo vững chắc của con người. 

- Tính mềm dẻo: Thể hiện hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng  xuôi và ngược chiều. 

- Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách giải  quyết và tự giải quyết được vấn đề. 

- Tính khái quát: Khi giải quyết một loạt vấn đề nào đó sẽ đưa ra được mô hình  khái quát, trên cơ sở đó có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề tương tự cùng loại. 

1.1.3 Những hình thức cơ bản của tư duy

1.1.3.1 Khái niệm

Là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất khác biệt của sự vật hiện  tượng. 

 

Trang 18

Khái niệm có vai trò quan trọng trong tư duy. Nó là điểm đi tới của quá trình 

tư duy, cũng là điểm xuất phát của một quá trình. 

Trong quá trình tư duy, khái niệm như là công cụ tư duy. Nội dung khoa học  cho khái niệm một nội hàm xác định. Khi ta nói HH vô cơ, HH hữu cơ tức là ta đã  dùng  thuật  ngữ  khoa  học.  Thuật  ngữ  sinh  ra  từ  bản  thân  khái  niệm  và  được  xây 

1.1.3.2 Phán đoán

Là sự tìm hiểu tri thức về mối quan hệ giữa các khái niệm, sự phối hợp giữa các  khái niệm, thực hiện theo một quy tắc, quy luật bên trong. 

Nếu  khái  niệm  được  biểu  diễn  bằng  một  từ  hay  một  cụm  từ  riêng  biệt  thì  phán đoán bao giờ cũng được biểu diễn dưới dạng một câu ngữ pháp. 

Trong tư duy, phán đoán được sử dụng như là những câu ngữ pháp nhằm liên  kết các khái niệm do đó nó có những quy tắc, quy luật bên trong. Trên cơ sở những  khái niệm, phán đoán chính là hình thức mở rộng, đi sâu vào tri thức. Muốn có phán  đoán chân thực, khái niệm phải chân thực, nhưng có khái niệm chân thực chưa chắc 

có phán đoán chân thực. Cũng có khái niệm chân thực, phán đoán chân thực nhưng  không đầy đủ. 

Như vậy, nếu khái niệm chân thực như là điều kiện tiên quyết của phán đoán  thì những quy tắc quy luật sẽ giúp cho phán đoán chân thực hơn. 

Tuy  nhiên,  sự  vật  hay  hiện  tượng  trong  mối  quan  hệ  phức  tạp  hay  đặc  thù  muốn tìm hiểu nó phải có thao tác phán đoán đơn hoặc phán đoán phức. 

Trang 19

Logic  học  lại  chia  phán đoán  đơn  thành  phán đoán  đặc  tính  và  phán  đoán 

về 

quan hệ. Trong phán đoán đặc tính lại chia theo chất lượng và số lượng (chung riêng  đơn nhất) hoặc phân chia theo dạng thức: phán đoán xác suất, phán đoán xác thực. 

Phán đoán phức trong logic học được chia thành phán đoán phân biệt, phán  đoán có điều kiện (liên hệ nhân quả, cơ sở logic, điều kiện liên hệ hệ quả logic). 

Để có sự khẳng định chân thực hay giả dối toàn bộ các phán đoán phải được  đặt trong các trường hợp cụ thể. 

Tóm lại, trong thao tác tư duy người ta luôn luôn phải chứng minh để khẳng  định hoặc phủ định, phải bác bỏ các luận điểm khác nhau để tiếp cận chân lý, tuân  thủ các nguyên tắc logic trong phán đoán sẽ tạo được hiệu quả cao. 

* Loại suy:Là hình thức tư duy đi từ riêng biệt này đến riêng biệt khác. Loại 

suy cho ta những dự đoán chính xác sự phụ thuộc và sự hiểu biết về hai đối tượng.  Khi đã nắm vững các thuộc tính cơ bản của đối tượng thì loại suy sẽ chính xác

* Suy lý quy nạp: Suy lý từ riêng biệt đến phổ biến, từ những hoạt động tới 

các quy luật. Do đó trong quá trình tư duy, sự suy nghĩ theo quy nạp chuyển từ việc  nhận thức các hiện tượng riêng lẻ đến việc nhận thức cái chung. Vì thế các suy lý  quy nạp là yếu tố cấu trúc của tri thức khái quát của việc hình thành khái niệm và  của việc nhận thức các định luật. 

* Suy lý diễn dịch: Là cách suy nghĩ đi từ cái chung, định luật, quy tắc, khái 

niệm chung đến những sự vật hiện tượng riêng lẻ

Quá trình suy lý diễn dịch có thể diễn ra như sau:  

  - Từ tổng quát đến ít tổng quát hơn. 

Trang 20

  -  Từ  phán  đoán  có  tính  chất  tổng  quát  này  đến  các  phán  đoán  có  tính  chất  tổng quát khác. 

     Tri thức ta gặp suy lý từ một tiền đề, có khi từ nhiều tiền đề, đó là hình thức  lập luận ba đoạn với quy tắc của mình.Trong quá trình tư duy quy nạp và suy diễn  bao giờ cũng liên hệ mật thiết với nhau. 

Quy nạp và suy diễn gắn bó với nhau như phân tích và tổng hợp. Quá trình  này được thực hiện trong PP xác định mối liên hệ nhân quả trong các hiện tượng. 

Với tư cách là hình thức tư duy gián tiếp, suy lý trong tư duy logic có vai trò  quan trọng trong tất cả các hoạt động tư duy. Việc hướng dẫn quy tắc logic trong  suy lý tạo được hiệu quả lớn trong quá trình lĩnh hội tri thức. Khẳng định rèn luyện 

tư duy logic trong học tập chính là tạo cho HS có PP trong tư duy từ khái niệm đến  phán đoán suy lý không phải là quá trình tuần tự cho rèn luyện mà là những thao tác  được vận dụng đồng thời. 

1.1.4 Rèn luyện các thao tác tư duy trong dạy học môn hóa học ở trường trung học phổ thông[5, 20, 28]

Tư duy là mức độ cao nhất của nhận thức, nó phản ánh những thuộc tính bản  chất của sự vật hiện tượng. Vì vậy trong quá trình học tập cần phải coi trọng phát  triển tư duy cho HS thông qua việc rèn luyện các thao tác tư duy. 

       Các thao tác cơ bản của tư duy: 

1.1.4.1 Phân tích 

Là quá trình tách các bộ phận của sự vật hoặc hiện tượng tự nhiên của hiện  thực  với các dấu hiệu và thuộc tính của chúng cũng như các mối liên hệ và quan hệ  giữa chúng theo một hướng xác định. 

Muốn giải một BTHH, phải phân tích các yếu tố thuộc dữ kiện. Muốn đánh giá  đúng đắn một cuộc cách mạng, phải biết phân tích yếu tố lịch sử tạo nên cuộc cách mạng 

đó. 

Như vậy, từ một số yếu tố, một vài bộ phận của sự vật hiện tượng tiến đến nhận  thức trọn vẹn các sự vật hiện tượng. Vì vậy, môn khoa học nào trong trường phổ thông  cũng thông qua phân tích của cả GV cũng như HS để bảo đảm sự truyền thụ và lĩnh hội  kiến thức. 

Trang 21

Quá trình hoạt động phân tích cũng đi từ phiến diện tới toàn diện nghĩa là từ  phân tích thử, phân tích cục bộ, từng phần và cuối cùng là sự phân tích có hệ thống. 

1.1.4.2 Tổng hợp

Là hoạt động nhận thức phản ánh của tư duy biểu hiện trong việc xác lập tính  chất thống nhất các phẩm chất và thuộc tính của các yếu tố trong một sự vật nguyên  vẹn, có thể có được trong việc xác định phương hướng thống nhất và xác định các  mối liên hệ, quan hệ giữa các yếu tố của sự vật nguyên vẹn đó, trong việc liên kết 

và liên hệ giữa chúng, vì thế sẽ thu được một sự vật và hiện tượng nguyên vẹn mới. 

Tổng hợp không phải là số cộng đơn giản của hai hay  nhiều sự vật, không  phải là sự liên kết máy móc các bộ phận thành chỉnh thể. Sự tổng hợp chân chính là  một hoạt động tư duy xác định đặc biệt đem lại kết quả mới về chất, cung cấp một 

      Phân tích và tổng hợp không phải là hai phạm trù riêng rẽ của tư duy. Đây là hai quá trình có liên hệ biện chứng. Phân tích để tổng hợp có cơ sở và tổng hợp để phân  tích đạt được chiều sâu bản chất hiện tượng sự vật. Sự phát triển của phân tích và tổng  hợp là đảm bảo hình thành của toàn bộ tư duy và các hình thức tư duy của HS. 

1.1.4.3 So sánh

Là sự xác định những điểm giống nhau và khác nhau của sự vật, hiện tượng 

và những khái niệm phản ánh chúng. 

Thao tác so sánh phải kèm theo sự phân tích và tổng hợp. Như vậy so sánh không những phân biệt và chính xác hóa khái niệm mà còn giúp hệ thống hoá chúng lại. 

Trang 22

* So sánh đối chiếu  

Nghiên cứu hai đối tượng cùng một lúc hoặc khi nghiên cứu đối tượng thứ  hai người ta phân tích  thành từng bộ phận rồi đối chiếu với từng  bộ phận của đối  tượng thứ nhất. Ví dụ: So sánh axit và bazơ, kim loại và phi kim  

1.1.4.4 Trừu tượng hóa và khái quát hóa

Trừu tượng hóa

Là quá trình con người dùng trí óc gạt bỏ những mối liên hệ, quan hệ thứ yếu  của sự vật, hiện tượng và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết cho tư duy. 

Khái quát hóa 

Là hoạt động tư duy tách những thuộc tính chung và các mối liên hệ chung,  bản chất của sự vật và hiện tượng tạo nên nhận thức mới dưới hình thức khái niệm,  định luật, quy tắc. 

Tuy nhiên, trừu tượng hoá chỉ là thành phần của hoạt động tư duy khái quát  hoá  nhưng  là  thành phần không  thể  tách  rời  của   quá  trình  khái  quát  hoá.  Nhờ  tư  duy khái quát hoá ta nhận ra sự vật theo hình thức vốn có của chúng mà không phụ  thuộc vào độ lớn, màu sắc, vật liệu chế tạo hay vị trí của nó trong không gian. Hoạt  động tư duy khái quát hoá của HS phổ thông có ba mức độ sau:  

+ Khái quát hoá cảm tính:Diễn ra trong hoàn cảnh trực quan, thể hiện ở trình 

độ sơ đẳng. 

+ Khái quát hoá hình tượng khái niệm:Là sự khái quát cả những tri thức có 

tính chất khái niệm bản chất sự vật và hiện tượng hoặc các mối quan hệ không bản  chất dưới dạng các hình tượng hoặc trực quan, các biểu tượng. Mức độ này ở lứa  tuổi HS đã lớn nhưng tư duy đôi khi còn dừng lại ở sự vật hiện tượng riêng lẻ. 

+ Khái quát hoá khái niệm: Là  sự  khái  quát  hoá  những  dấu  hiệu  và  liên  hệ 

chung bản chất được trừu xuất khỏi các dấu hiệu và quan hệ không bản chất được lĩnh  hội bằng khái niệm, định luật, quy tắc. Mức độ này thực hiện trong HS trung học phổ  thông. 

Tư duy khái quát hoá là hoạt động tư duy có chất lượng cao, sau này khi học 

ở cấp học cao, tư duy này sẽ được huy động một cách mạnh mẽ vì tư duy khái quát  hoá  là  tư  duy  lý  luận  khoa  học.  Trong  dạy  học,  GV  có  trách  nhiệm  trong  việc  tổ  chức hướng dẫn những hoạt động tư duy cho HS. 

10 

Trang 23

1.1.5 Phát triển tư duy hóa học[8, 9, 17]

Việc phát triển tư duy cho HS trước hết là giúp cho HS nắm vững kiến thức,  biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành qua đó mà kiến thức HS  thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn. HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri  thức khi tư duy của họ được phát triển và nhờ sự hướng dẫn của GV mà HS biết phân  tích, khái quát tài liệu có nội dung sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết. 

Như vậy sự phát triển tư duy của HS được diễn ra trong quá trình tiếp thu và  vận dụng tri thức. Khi tư duy phát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc 

có suy nghĩ, có PP chuẩn bị lâu dài cho HS hoạt động sáng tạo sau này. Do đó hoạt  động giảng dạy HH cần phải tập luyện cho  HS khả năng tư duy sáng tạo qua các  khâu của quá trình dạy học. Từ hoạt động dạy học trên lớp thông qua hệ thống câu  hỏi, bài tập  mà GV điều khiển hoạt động nhận thức của HS để giải quyết các vấn 

đề học tập được đưa ra. HS tham gia vào vấn đề này một cách tích cực sẽ nắm được 

cả kiến thức và PP nhận thức đồng thời các thao tác tư duy cũng được rèn luyện. 

Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển: 

- Có khả năng tự lực chuyển các tri thức, kĩ năng sang một tình huống mới:  Trong quá  trình  học tập, HS  đều phải  giải  quyết  những vấn  đề  đòi  hỏi  liên  tưởng  đến những kiến thức đã học trước đó. Nếu HS độc lập chuyển tải tri thức vào tình  huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát triển. 

- Tái hiện nhanh chóng các kiến thức, các mối quan hệ cần thiết để giải quyết  bài toán nào đó. Thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chất giữa các sự vật hiện  tượng. 

-  Có  khả  năng  phát  hiện  cái  chung  của  các  hiện  tượng  khác  nhau,  sự  khác  nhau giữa các hiện tượng tương tự. 

- Có năng lực áp dụng kiến thức vào thực tế. Đây là kết quả phát triển tổng  hợp của sự phát triển tư duy. Để có thể giải quyết tốt các bài toán đòi hỏi HS phải 

có sự định hướng tốt, biết phân tích, suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để  tìm cách áp dụng thích hợp, cuối cùng là tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả. 

1.2 Cơ sở lí luận về năng lực tư duy[10, 34]

11 

Trang 24

Từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên 

sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý  tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. 

2. Thuật ngữ "khả năng" thông thường có hai nghĩa. Thứ nhất, nó có nghĩa là khả năng làm một việc nào đó: chúng ta nói rằng "anh ấy có khả năng dạy Toán" tức là anh 

ấy đáp ứng yêu cầu việc dạy học môn Toán, nói anh ấy "không có khả năng dạy học"  nghĩa là anh ấy không đáp ứng được yêu cầu dạy học. Nghĩa thứ hai, theo Từ điển tiếng 

Anh Oxford "có các phẩm chất cần thiết theo luật để thực hiện những công việc nhất

định" hoặc "khả năng là việc có thể đáp ứng yêu cầu công việc theo một tiêu chuẩn nhất định và có thể áp dụng linh hoạt kỹ năng và kiến thức trong những tình huống mới"  

3. Từ điển Triết học : Năng lực hiểu theo nghĩa rộng là những đặc tính tâm lý 

của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện cho hoạt động sống của cá thể.  Năng  lực  chung  nhất  của  cá  thể  là  tính  nhạy  cảm  được  hoàn  thiện  trong  một  quá  trình phát triển về mặt phát sinh loài và về mặt phát triển cá thể. 

Năng lực hiểu theo nghĩa đặc biệt là toàn bộ những đặc tính tâm lý của người 

thích  hợp  với  một  hình  thức  hoạt  động  nghề  nghiệp  nhất  định.  Năng  lực  của  con  người  không  những  do  hoạt  động  bộ  não  quyết  định,  mà  trước  hết  là  do  trình  độ  phát triển lịch sử mà loài người đã đạt được. Theo ý nghĩa đó thì năng lực của người  gắn  liền  không thể  tách  rời với  tổ chức lao động  xã  hội  và  với  hệ  thống  giáo  dục  ứng với tổ chức đó.  

4. Năng lực luôn được xem xét trong mối quan hệ với hoạt động hoặc quan hệ nhất 

định nào đó. Cấu trúc của năng lực gồm ba bộ phận cơ bản: Tri thức về lĩnh vực hoạt  động hay quan hệ đó; Kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào  đó;  Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng đó trong một cơ cấu 

thống nhất và theo một định hướng rõ ràng.Ta có sơ đồ sau : 

12 

Trang 25

CƠ SỞ ĐỂ RÈN  LUYỆN VÀ  PHÁT TRIỂN  NLTD 

và xã hội. 

Năng lực tư duy là sản phẩm của quá trình phát triển ngày càng cao yếu tố tự  nhiên, lịch sử của con người và nhân loại. Nói cách khác, năng lực tư duy ngày càng  được nâng cao theo sự phát triển của con người và lịch sử. Nhưng đó không phải là  một quá trình tự phát, mà là cả một quá trình tự giác. Nghĩa là con người tự giác rèn  luyện, nâng cao năng lực tư duy của mình. 

Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hóa,  khái quát hóa, tưởng tượng, suy luận - giải quyết vấn đề, xử lý và linh cảm trong  quá trình phản ánh, phát triển tri thức và vận dụng chúng vào thực tiễn.  

Năng lực tư duy của con người như đã nói ở trên, có yếu tố bẩm sinh. Nhưng  nếu  cho  rằng,  vì là bẩm  sinh  nên không  cần nâng cao, không  cần  đổi  mới,  không  cần phát huy, thì chưa đúng. Thực tế đã chứng minh, yếu tố bẩm sinh có vai trò rất  quan trọng nhưng chỉ ở dạng khả năng, có thể rèn luyện nâng cao, phát huy được, vì  nếu không có tác nhân xã hội thì sẽ mai một dần. "Năng lực của người không phải  hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác do tập luyện mà có".  Năng lực tư duy xét về mặt tinh thần, trí tuệ, mặt bản chất xã hội, phải được đổi 

13 

Trang 26

mới, rèn luyện, bổ sung không ngừng. Tuy nhiên, tùy theo từng bộ phận cấu thành của tư 

duy mà có sự rèn luyện, đổi mới khác nhau ít hoặc nhiều trên cơ sở các quy luật của tư  duy và quy luật của tồn tại. Mác đã nói, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Tri  thức cao hay thấp, nhiều hay ít ở mỗi người là do năng lực tư duy cao hay thấp tiếp thu 

sử dụng nó mà có. Nhưng, đồng thời trình độ tri thức với tư cách là phương pháp nhận  thức là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất để tạo ra và rèn luyện năng lực tư  duy. Nói rèn luyện và phát triển năng lực tư duy trước hết là nâng cao trình độ tri thức, để  tạo nền cho năng lực tư duy. Phải nâng cao trình độ hiểu biết khoa học, trình độ hiểu biết  cuộc sống, nâng cao trình độ tư duy lý luận - nhất là trình độ tư duy lý luận triết học. Hơn nữa, không chỉ là lý luận trong kinh điển, mà quan trọng là lý luận và phương pháp thông  qua việc giải quyết những vấn đề thực tiễn. Do đó, việc nâng cao nội dung tri thức không  tách rời phương pháp tư duy. Phương pháp tư duy được đổi mới, nâng cao để làm công 

cụ rèn luyện và phát triển năng lực tư duy. Tất nhiên, không có một phương thức tồn tại  nào của tư duy lại tách rời nội dung biện chứng của nó. 

Năng lực tư duy không chỉ là năng lực tư duy hình thức mà chủ yếu là năng lực 

tư duy biện chứng. Do đó, để phát triển năng lực tư duy, phải bồi dưỡng và phát triển  tính biện chứng của tư duy (khả năng nhận ra và thống nhất các mặt đối lập, mối liên 

hệ và sự chuyển hóa giữa các khái niệm, phạm trù; năng lực trừu tượng hóa, khái quát  hóa, suy luận, theo quy luật biện chứng của tồn tại). Nâng cao năng lực tư duy không  phải là mục đích tự thân mà là để giải quyết thành công những vấn đề thực tiễn. 

1.3 Những điều kiện ảnh hưởng đến năng lực tư duy[10, 34]

Cơ sở của năng lực tư duy bao hàm cả mặt tự nhiên - sinh học và mặt xã hội -  tinh thần. Do đó, năng lực tư duy mạnh về loại hình nào, cao hay thấp, được phát  triển như thế nào, phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện, yếu tố phức tạp của từng người 

và môi trường đời sống xã hội mà họ hoạt động trong đó. Cụ thể là: 

Thứ nhất, năng lực tư duy phụ thuộc vào đặc tính bẩm sinh do cấu tạo của hệ 

thần kinh trung ương, tâm sinh lý ở từng người. Đây là cơ sở sinh học của năng lực 

tư duy không thể coi nhẹ. Khoa sinh vật học, di truyền học ngày nay đã xác định sự  thông minh của con người có cơ sở từ huyết thống, từ đặc điểm của hệ thần kinh, từ  đặc  điểm  của  nhóm  máu,  từ  gen  di  truyền.  Ăngghen  cũng  coi  năng  lực  tư  duy  lý  luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta mà có thôi. Tuy 

14 

Trang 27

nó chỉ ở dạng khả năng, tức là như một khả năng vốn có bắt nguồn từ năng lực phản 

ánh của óc người, nhưng không có khả năng thì không có hiện thực. 

Thứ hai, năng lực tư duy phụ thuộc vào phương thức sản xuất, môi trường văn 

hóa,  xã  hội  với  tư  cách  là  những  yếu  tố  tạo  nhu  cầu  cho  sự  phát  triển  tư  duy,  và  cũng thể hiện trình độ tư duy mà con người đã đạt được. Năng lực tư duy phải được  phát triển trong môi trường xã hội dân chủ, tự do, phát triển cá tính, cung cấp nhiều  chiều thông tin, có tình huống, mâu thuẫn cần giải quyết thì mới phát triển tư duy. 

Thứ ba, năng lực tư duy phụ thuộc vào trình độ khoa học và nghệ thuật của xã hội 

mà loài người đạt được trong quá trình sáng tạo và sử dụng. Đồng thời, năng lực tư duy cũng phụ thuộc trực tiếp vào hoạt động giáo dục, đào tạo, tiếp thu tri thức một cách tự  giác và suy ngẫm, thử nghiệm vận dụng tri thức (tri thức nội dung và tri thức phương  pháp). Tính độc lập tương đối và tính năng động của tư duy được tạo ra trực tiếp từ tác  động của những nhân tố trí tuệ trong giáo dục, đặc biệt là công nghệ đào tạo. 

Thứ tư, điều kiện, nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến năng lực tư duy xét đến cùng 

là hoạt động thực tiễn. Hoạt động là nguồn gốc của mọi năng lực, đặc biệt là năng  lực tư duy, chính thông qua hoạt động và bằng hoạt động mà tư duy phản ánh được  phương thức, quy luật tồn tại của sự vật, hiện tượng, tạo ra phương thức nội dung  mới trong năng lực tư duy và rèn luyện cho tư duy một năng lực phát triển và giải  quyết vấn đề. 

Thứ năm, nhu cầu, lợi ích - động cơ, cảm xúc tâm sinh lý của chủ thể cũng ảnh 

hưởng trực tiếp đến động cơ hoạt động để hình thành rèn luyện và nâng cao năng  lực tư duy. Đây là động lực bên trong rất quan trọng quyết định nhân cách của con  người cả về mặt đạo đức, bản lĩnh và tư duy. 

Trong tất cả các điều kiện, nhân tố nói trên, nhân tố xã hội và sự rèn luyện bản

thân giữ vai trò quyết định.  Không có môi trường thực tiễn, không thông qua học tập 

phấn đấu thì khả năng sẽ bị mai một dần. Chính nhờ hoạt động xã hội trong quá trình  tiếp thu, tập luyện nâng cao trình độ trí tuệ và phương pháp tư duy khoa học trong  học  tập  và  kinh  nghiệm  thực  tiễn  đã  biến  khả  năng  bẩm  sinh  của  năng  lực  tư  duy  thành hiện thực. Đồng thời nhân tố tinh thần cũng tạo thành một cơ sở mới của năng  lực tư duy. Đến lượt nó, năng lực này phải tiếp tục được phát huy sử dụng  mới có  tính hiện thực. Với ý nghĩa ấy, có thể nói "di truyền xã hội" bao gồm cả hai yếu tố tự 

15 

Trang 28

người, tức là làm rõ năng lực lý tính. Năng lực tư duy là khả năng phản ánh, sản xuất  tri  thức,  biến  tri  thức  thành  phương  pháp  và  sử  dụng  thành  thạo  chúng  để  tiếp  tục 

nhận thức, tìm ra bản chất, quy luật, xu hướng tất yếu của sự vật và hiện tượng, vận  dụng đúng đắn các quy luật trong cuộc sống. 

1.4.1 Những yếu tố cơ bản của năng lực tư duy

Một là, yếu tố thấp của năng lực tư duy là năng lực ghi nhớ, tái hiện, vận dụng 

những  tri  thức  đã tiếp  thu,  không có  năng  lực  này  thì  không  có  cơ  sở  cho  sự 

suy  nghĩ và tư duy. Nói về trí nhớ, có hai cấp độ: trí nhớ cảm tính và trí nhớ lý tính, đều 

thể hiện tính bền vững của sự phản ánh. Trí nhớ, nhất là trí nhớ ở trình độ tư duy đã  được  khoa  học  thừa  nhận  là  một  trong  những  năng  lực  thể  hiện  trí  thông  minh,  phẩm chất rất quan trọng của nhân tài (trí nhớ, ý chí, sự thông minh).  

Hai là, trừu tượng hoá, khái quát hoá trên tiềm lực phân tích và tổng hợp. Nói cách 

khác, đó là năng lực phân tích và tổng hợp ở trình độ lý tính, tức là có khả năng tách bản  chất khỏi hiện tượng, cái chung khỏi cái riêng, và liên kết lại với nhau trong chỉnh thể, từ 

đó đi đến kết luận và những biểu trưng. Trừu tượng hóa được coi như là năng lực tinh thần 

cơ bản nhất của tư duy con người. Trong nhận thức các hiện tượng xã hội, Các Mác đặc  biệt coi trọng sức trừu tượng hóa của tư duy. 

Ba là, liên tưởng, tưởng tượng, suy luận là một loại năng lực bậc cao của tư duy, 

năng lực này gắn liền với cảm xúc, tạo ra sức sáng tạo. Sức tưởng tượng phong phú, có  tiềm lực là một phẩm chất quan trọng của trí thông minh và năng lực tư duy. Nếu xét 

về mặt logic thì quá trình tưởng tượng cũng gắn liền với quá trình suy lý, suy luận theo 

cả logic hình thức và logic biện  chứng, cơ sở của sự tư duy đúng đắn và sáng tạo. 

Bốn là,  trực  giác  với  linh  cảm  là  sản  phẩm  của  quá  trình  tích  luỹ,  suy  ngẫm 

trong quan sát và nghiên cứu. Năng lực này không chỉ ở trình độ tâm lý thông thường 

Trang 29

16 

Trang 30

mà còn ở trình độ nhận thức bậc cao như sự thăng hoa của quá trình nhận thức và tư 

duy ở tầng sâu của trí tuệ. Cần phải hiểu năng lực trực giác trong vô thức, tiềm thức 

là một năng lực tư duy tiềm tàng rất qua trọng. Thiếu điều này sẽ không hiểu đầy đủ  được cơ chế sáng tạo của tư duy. 

Bốn  loại  yếu  tố  này  nằm  trong  tổng thể  như  một quá  trình bao  hàm, chuyển  hoá lẫn nhau, tương sinh và tạo thành năng lực tư duy ở trình độ chính xác và sáng 

tạo. Yếu tố quan trọng nhất là năng lực trừu tượng hoá, suy luận và tưởng tượng, vì 

thế, cần phải có biện pháp bồi dưỡng các yếu tố năng lực tư duy này. 

1.4.2 Những đặc trưng cần lưu ý của năng lực tư duy

(1) Hoạt động tư duy không thể tách rời yếu tố cảm xúc, ý chí. Cảm xúc không  phải là tri thức, nhưng nó là một yếu tố cần thiết cấu thành, là môi trường xúc tác của  quá trình tư duy. Đây là điểm cần lưu ý khi rèn luyện và phát triển năng lực tư duy cho 

HS. 

(2) Năng lực tư duy thể hiện trên cả hai lĩnh vực, hai chức năng là phản ánh, 

xử lý và vận dụng tri thức. Tức là vừa khái quát hoá thành tư tưởng, quan điểm, vừa  phải  cụ  thể  hoá  thành  mục  tiêu,  giải  pháp  để  giải  quyết  vấn  đề  trong  những  tình  huống nhất định. 

(3) Vai  trò của  năng  lực tư  duy  thể  hiện  ở ba  mặt: Một là, tư  duy  huy  động  được toàn bộ trí lực, cả nội dung và phưong pháp tư duy; hai là, cụ thể hoá những 

nhận thức đó để định hướng và chỉ đạo hành động cụ thể của con người trong thực 

tiễn; ba là, lưu giữ, truyền bá, phát triển tri thức, càng sử dụng càng sâu sắc, càng 

tích luỹ được nhiều càng được duy trì. 

(4) Tư duy có nhiều trình độ nhất định mà ở từng người, hoặc từng thời đại đạt  được. Trình độ tư duy thể hiện một năng lực tư duy nhất định, và ngược lại, năng lực tư 

duy nào cũng thể hiện ra ở một trình độ tư duy nhất định. Trình độ tư duy là mức độ đạt

được về nội dung và phưong pháp tư duy, còn năng lực tư duy là một sức mạnh tinh thần, phẩm chất trí tuệ trong nhận thức, thể hiện tập trung ở phưong pháp tư duy.  

1.5 Bài tập hóa học [17, 25, 28, 30]

1.5.1 Khái niệm bài tập hóa học

Trong  thực  tiễn  dạy  học  ở  trường  phổ  thông,  BTHH  giữ  vai  trò  rất  quan  trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, nó vừa là mục đích vừa là nội dung lại 

17 

Trang 31

vừa  là  PP  dạy  học  hiệu  nghiệm.  Nó  không  chỉ  cung  cấp  cho  HS  kiến  thức,  con 

đường dành lấy kiên thức mà còn mang lại niềm vui của quá trình khám phá, tìm tòi  phát hiện của việc tìm ra đáp số đặc biệt BTHH còn mang lại cho  người học  một  trạng thái hưng phấn, hứng thú nhận thức.  

   Vậy bài tập là gì? Theo từ điển Tiếng Việt bài tập là bài ra cho HS làm để  vận dụng điều đã học, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa  học. Ở đây chúng ta hiểu rằng BTHH là những bài được lựa chọn một cách phù hợp  với nội dung rõ ràng, cụ thể. Muốn giải được những bài tập này người HS phải biết  suy luận logic dựa vào nhưng kiến thức đã học, phải sử dụng những hiện tượng hóa  học,  những  khái  niệm,  những  định  luật,  học  thuyết,  những  phép  toán người  học 

  -  Phát triển  năng  lực  nhận  thức,  rèn luyện  trí  thông  minh  cho HS  thông  qua  việc HS tự chọn một cách giải độc đáo, hiệu quả với những bài tập có nhiều cách giải. 

  - Giúp HS năng động, sáng tạo trong học tập, phát huy khả năng  suy luận,  tích cực của HS và hình thành phương pháp tự học hợp lý. 

  - Làm chính xác hóa các khái niệm, định luật đã học. 

  - Là phương tiện để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của học sinh một cách chính 

xác. 

  - Giáo dục đạo đức, tác phong như rèn luyện tính kiên nhẫn, sáng tạo, chính  xác và phong cách làm việc khoa học, giáo dục lòng yêu thích bộ môn. 

1.5.3 Phân loại bài tập hóa học

      Bài tập hóa học được phân làm nhiều loại và trên những cơ sở khác nhau.  Hiện nay được phân loại theo những loại cơ bản sau đây: 

Trang 32

18 

Trang 33

  Muốn khai thác được tối đa tiềm năng trí - đức dục của bài tập, người giáo  viên bộ môn cần giải quyết một loạt những vấn đề cơ bản sau đây có liên quan đến 

hệ thống bài tập của bộ môn mình. 

1.5.4.1 Xây dựng hệ thống đa cấp những bài tập của bộ môn

       * Phân loại các bài tập: Trước hết phải tiến hành phân loại các bài tập của  bộ 

môn, sưu tầm, chọn lọc, sắp xếp chúng thành kiểu (sơ đẳng nhất, cơ bản nhất, 

điển hình nhất), từ đó phân loại tiếp  thành phân kiểu, phân dạngcho đến những  bài tập tổng hợp, phức hợp.    

19 

Trang 34

* Phân hóa các bài tập: Ở mỗi kiểu tìm ra quy luật biến hóa từ cái sơ đẳng, 

cơ bản, điển hình nhất (cái đơn giản coi như xuất phát) đến nhưng bài tập ngày càng 

phức tạp hơn, tổng hợp hơn. Đây là chuỗi bài tập theo logic dọc, đồng thời lại tìm ra 

qui luật liên kết các bài toán giữa các kiểu với nhau. Từ những bài toán điển hình,  đơn giản nhất của hai hay nhiều kiểu khác nhau ″lắp ghép″ thành một bài tổng hợp. 

Đây chính là logic ngang của sự cấu tạo các bài tập từ nhiều kiểu khác nhau.    

  Nắm được hai quy luật (dọc và ngang) của sự hình thành bài tập, ta có thể  sắp xếp chúng theo thứ tự từ bài tập dễ đến bài tập khó. Từ đó mà ta có thể tùy từng  trình độ của HS (giỏi, trung bình, yếu) mà chọn mà đưa ra bài tập vừa sức cho HS  giải. Đây là dạy học phân hóa bằng những bài tập phân hóa). Dạy học theo tiếp cận  này sẽ rất hiệu quả vì nó cho phép ta cá thể hóa cao độ việc dạy học cho một lớp có  nhiều HS ở trình độ lĩnh hội khác nhau. 

1.5.4.2 Biên soạn bài tập mới tùy theo yêu cầu sư phạm định trước

      Nếu nắm được sự phân loại các kiểu điển hình và các quy luật biến hóa (dọc và  ngang) của bài tập, GV có thể biên soạn những bài tập mới bằng cách vận dụng những  quy luật biến hóa trên. Tùy theo yêu cầu sư phạm, ta có thể phức tạp hay đơn giản hóa  bài tập, soạn những bài tập có độ khó tăng dần, có chứa đựng những yếu tố giúp rèn  luyện  những  kĩ  năng  riêng  biệt  nào  đó  v.vBài  tập  được  xây  dựng  theo  tiếp  cận  mođun sẽ đáp ứng  được những  mục  đích  nói trên. Từ một số  bài  tập  điển hình nhất 

"lắp ráp" chúng theo nhiều cách khác nhau "tháo gỡ" bài tập phức tạp thành nhiều bài tập đơn giản hơn.  

1.5.4.3 Bảo đảm các yêu cầu cơ bản trong dạy học bằng bài tập

      Khi sử dụng bài tập như một phương pháp dạy học, cần lưu ý những yêu cầu  sau đây: 

  * Bảo đảm tính cơ bản gắn liền với tính tổng hợp 

  Hệ thống bài tập của bộ môn phải khái quát hết những thông tin cơ bản nhất  của chương trình bộ môn. Nó buộc HS khi giải hệ thống bài tập đó phải huy động  tổng hợp những kiến thức cơ bản của toàn bộ chương trình và những kiến thức hỗ  trợ liên môn. 

* Bảo đảm tính hệ thống và tính kế thừa

20 

Trang 35

  Giải bài tập hóa học thực chất là vận dụng các quy luật của hóa học và việc  biến đổi bài tập ban đầu thành những bài tập trung gian, sơ đẳng hơn, cơ bản hơn.  Những bài tập cơ bản điển hình (đơn giản nhất của một kiểu nhất định) giữ vai trò  rất quan trọng trong học vấn của HS vì chúng sẽ là kiến thức công cụ để giúp HS  giải  được  những  bài  tập  tổng  hợp.  Do  đó  GV  phải  quy  hoạch  toàn  bộ  hệ  thống  những bài tập ra cho HS trong toàn bộ chương trình của môn học, sao cho chúng sẽ 

kế  thừa nhau,  bổ  sung nhau,  cái  trước  chuẩn  bị  cho  cái sau,  cái sau  phát  triển cái  trước tất cả tạo nên (cùng với nội dung các lý thuyết khác) một hệ thống toàn vẹn  những kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo.  

* Bảo đảm tính kĩ thuật tổng hợp

Bài tập phải đóng vai trò cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa nhà trường 

và đời sống sản xuất. Nó phải là phương tiện rèn cho HS những kĩ năng chung nhất  của việc tự học. 

* Bảo đảm tính phân hóa của hệ thống các bài tập 

Trước hết bài tập ra cho HS phải vừa sức. Muốn cho bài tập có khả năng vừa  sức với ba loại trình độ HS trong lớp, người GV phải phân hóa bài tập từ những bài  tập trung bình vừa sức với đại đa số HS, GV phức tạp nó lên để dùng cho một số 

HS khá, giỏi và đơn giản nó đi để dùng cho HS yếu, kém.Có như vậy bài tập mới  trở thành động lực thường xuyên của sự học tập tích cực. 

Thường xuyên coi trọng việc dạy HS phương pháp giải bài tập 

Dựa vào đặc trưng của bộ môn, GV phát hiện ra đặc trưng của PP giải bài tập 

bộ môn. Trên cơ sở đó GV có kế hoạch rèn luyện cho HS hệ thống kĩ năng và kĩ  xảo giải bài tập. PP giải bài tập bộ môn sẽ là cơ sở và điểm xuất phát để hình thành 

và phát triển những PP hợp lý chung nhất của tự học và của hành động. 

1.5.5 Quan hệ giữa bài tập hóa học với việc phát triển năng lực tư duy của học sinh[35]

1.5.5.1 Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực tư duy cho học sinh

Phát  triển  NLTD  của  HS  tức  là  giúp  HS  hiểu  kiến  thức  một  cách  sâu  sắc,  không máy móc, biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt có hiệu quả. Thực chất  công cụ của nhận thức chính là các thao tác tư duy.  

21 

Trang 36

Tư duy càng phát triển thì khả năng lĩnh hội tri thức càng nhanh và sâu sắc,  khả năng vận dụng tri thức càng linh hoạt và có hiệu quả. Theo thuyết hoạt động có  đối tượng thì năng lực chỉ có thể hình thành và phát triển trong hoạt động. Để giúp 

HS phát triển NLTD mà đặc biệt phát triển NLTD sáng tạo thì cần phải tập cho HS  hoạt động tư duy sáng tạo. Theo L.N.Tônxtôi: "Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức  khi nào nó là thành quả của những cố gắng tư duy chứ không phải trí nhớ", điều đó 

có nghĩa là HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức chỉ khi họ thực sự tư duy. 

Phát triển NLTD có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của HS, bằng  cách tư duy, người học có thể nắm bắt được kiến thúc một cách dễ dàng hơn, vận  dụng kiến thức vào thực tế linh hoạt và mềm dẻo hơn. Tư duy giúp con người có thể 

tự rèn luyện được những đức tính tốt như rèn luyện tính độc lập, tính tích cực, chủ  động sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống có vấn đề. 

1.5.5.2 Điều kiện cần thiết để học sinh rèn luyện năng lực tư duy

Năng lực tư duy được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của  chủ thể, do đó muốn hình thành NLTD cho HS thì phải chuẩn bị cho HS có những  điều kiện cần thiết sau: 

Lựa chọn một logic nội dung phù hợp để có thể chuyển kiến thức khoa học thành   kiến thức của HS, nội dung kiến thức phải phù hợp với trình độ của đối tượng HS. 

 PP giảng dạy của GV phải có tác dụng khơi dạy được trí tò mò, lòng ham  hiểu biết của HS, tạo động cơ hứng thú trong hoạt động nhận thức của HS. 

 Cung cấp những phương pháp hoạt động nhận thức và huấn luyện sử dụng  các phương tiện hoạt động nhận thức. Một trong những đặc trưng của tư duy khoa  học là xác định được phương pháp hành động. 

 Ví  dụ:  Rèn  luyện  cho  HS sử  dụng  thành  thạo  các  phương  pháp  tăng  giảm  khối  lượng,  phương  pháp  trung  bình,  phương  pháp  biện  luận  để  HS  áp  dụng  vào 

giải bài tập tổng hợp. 

 Thường xuyên kiểm tra, đánh giá, khuyến khích kịp thời sẽ tạo điều kiện khích lệ  được tinh thần học tập của HS, giúp HS có ý chí phấn đấu vươn lên tự khẳng định mình trước thầy cô và bạn bè. Đây là cơ sở tạo động cơ hứng thú trong hoạt động nhận thức của 

HS. 

Trang 37

22 

Trang 38

1.5.5.3 Quan hệ giữa bài tập hóa học với việc phát triển năng lực tư duy của học sinh

Trong học tập HH, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy  cho HS là hoạt động giải bài tập. Vì vậy GV cần phải tạo điều kiện để thông qua  hoạt động này thì NLTD được phát triển, HS sẽ có những phẩm chất tư duy  mới,  thể hiện ở: 

 Năng lực phát hiện vấn đề mới. 

 Tìm ra hướng mới. 

 Tạo ra kết quả học tập mới. 

 Để có được những kết quả trên, người GV cần ý thức được mục đích của việc  giải BTHH, không phải chỉ tìm ra đáp số đúng mà còn là phương tiện khá hiệu quả để  rèn luyện tư duy hóa học cho HS. BTHH phong phú đa dạng, để giải được BTHH cần  phải vận dụng nhiều kiến thức cơ bản, sử dụng các thao tác tư duy so sánh, phân tích,  tổng hợp, khái quát hóa, trìu tượng hóa,Qua đó HS thường xuyên được rèn luyện ý  thức tự giác trong học tập, nâng cao khả  năng hiểu biết của bản thân. 

 Thông qua hoạt động giải bài tập sẽ giúp cho tư duy được rèn luyện và phát  triển  thường  xuyên,  đúng  hướng,  thấy  được  giá  trị  lao  động,  nâng  khả  năng  hiểu  biết thế giới của  HS lên một tầm cao mới, góp phần cho quá trình hình thành nhân  cách toàn diện của HS. 

1.5.5.4 Người học sinh phải làm gì để học giỏi môn hóa học

Muốn học tốt môn hóa học nói riêng và các môn học khác nói chung, mỗi cá  nhân cần phải rèn luyện để đạt được những yêu cầu sau: 

 Trước hết: Cần có sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tinh thần ý thức học tập 

tự giác, tích cực, có ý thức học hỏi để hoàn thiện kiến thức. 

 Thứ hai: Phải có bề dày kiến thức hóa học và xắp xếp một cách có hệ thống,  biết vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo trong mọi tình huống có vấn đề. 

 Thứ ba: Thường xuyên rèn các thao tác tư duy và năng lực độc lập suy nghĩ  thông qua từng bài giảng, rèn luyện năng lực lập luận đúng đắn, phải sử dụng ngôn  ngữ hóa  học chính xác rõ ràng. 

23 

Trang 39

 Thú  tư:  Có  năng  lực  lao  động  sáng  tạo,  thì  ngay  từ  đầu  phải  tập  luyện  từng 

"sáng  tạo"  nhỏ  thông  qua  các  câu  hỏi,  bài  toán  và  "vấn  đề"  học  tập  thực  tiễn,  chứ 

không phải chi bổ sung tri thức mới vào trí nhớ của mình. 

 Thứ  năm: Phải có hứng thú học tập bộ môn, người HS phải có ý thức được lợi  ích lao động học tập và động cơ hoạt động học tập của mình. 

 Thứ sáu: Có năng lực giải quyết vấn đề, nhất là khi có tình huống phức tạp,  học sinh được đặt vào vị chí chủ thể hoạt động nhận thức thông qua hoạt động tự  lực, tự giác, tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng  tạo và hình thành quan điểm, đạo đức. 

1.6 Thực trạng sử dụng bài tập hóa học để phát triển năng lực tư duy ở

trường THPT

Để có căn cứ đánh giá thực trạng cho việc sử dụng bài tập để phát triển năng  lực tư duy cho học sinh hiện nay, đồng thời cũng nhằm khẳng định tính quan trọng,  cấp thiết và tính thực tế của đề tài, chúng tôi đã phát phiếu điều tra đến 54 giáo viên  đang theo học lớp 3K8 cao học Lý luận và phương pháp dạy học( bộ môn Hóa học  ), trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội. Kết quả thu được như sau : 

Giáo viên hiện nay đều cho rằng bài tập hóa học giữ một vai trò quan trọng  trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn hóa học. Cho dù có giảng lý thuyết kĩ  đến đâu mà không cho học sinh làm bài tập thì chắc chắn các kiến thức mà học sinh 

có được sẽ không bền vững. Có 88,89% giáo viên được khảo sát cho là bài tập giữ  vai trò rất quan trọng, 11,11% còn lại cho là quan trọng. 

Nguồn bài tập được giáo viên sử dụng chủ yếu là từ sách tham khảo bán trên  thị trường  chiếm 55,56%. Thiết nghĩ kết  quả  điều  tra  này  hợp  lí  ở chỗ  sách  tham  khảo trên thị trường thì phong phú, đa dạng, có độ tin cậy hơn nên được giáo viên  lựa chọn. Trong khi đó chỉ có 25,92% giáo viên sử dụng bài tập từ nguồn internet 

và cũng chỉ có 18,52% số giáo viên được điều tra cho biết thường tự biên soạn bài  tập để sử dụng.  

Trong số 54 giáo viên được điều tra, chỉ có 4 giáo viên cho biết mục tiêu cao  nhất của việc dạy học là để phát triển năng lực tư duy cho học sinh ( đạt 7,41% ) và 

1 giáo viên cho biết thêm quan điểm " Phát triển năng lực tư duy cho học sinh là 

24 

Trang 40

tiêu chí  của  việc  dạy  học ".  Có  79,62% giáo  viên  cho  biết  rằng học  sinh khá  giỏi hứng thú học tập khi được làm các bài tập chứa đựng các tình huống có vấn đề. 

Có 59,25% giáo viên cho là hệ thống bài tập hiện nay còn thiếu về số lượng 

và chất lượng. Từ đó mà việc biên soạn, tuyển chọn bài tập phục vụ cho việc dạy  học,  nhất  là  bài  tập  rèn  tư  duy  là  hết  sức  quan  trọng  (  100%  giáo  viên  ).  Để  xây 

dựng được hệ thống bài tập mới mẻ, không rập khuôn thì cần phải thay đổi tư duy 

ra bài tập nhưng không có ý nghĩa là phủ nhận bài tập hiện nay, chỉ có điều là trong  quá trình dạy học thì người giáo viên phải sử dụng sáng tạo ( có 81,48% giáo viên 

có cùng ý kiến ). 

Các  giáo  viên  đều  đánh  giá  cao  hệ  thống  bài  tập  có  tác  dụng  phát  triển  tư  duy. Cụ thể như sau : 

Hệ thống bài tập   Rất cần  Cần thiết Có hay  Không cần 

Thứ  hai,  khi  hình  thức  kiểm  tra  đánh  giá  thay  đổi  thì  giáo  viên  không  còn  quá  chú  trọng  đến  tính  lắt  léo  toán  học  trong  hóa  học.  Giáo  viên  đã  chú  ý  và  coi 

trọng việc sử dụng các tình huống có vấn đề trong dạy học, đúng như quan điểm của  các  nhà  giáo  dục  nổi  tiếng  Ju.V.Khodakov,  Ja.L.Gol'dfarb.  Họ  đã  từng  lưu  ý  các  giáo viên bớt say mê " số học trong hóa học ". 

Ngày đăng: 21/06/2016, 23:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Ái, Nguyễn Tinh Dung, Trần Thành Huế, Trần Quốc Sơn, Nguyễn Văn Tòng (2005), Một số vấn đề chọn lọc của hóa học, tập II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chọn lọc của hóa học
Tác giả: Nguyễn Duy Ái, Nguyễn Tinh Dung, Trần Thành Huế, Trần Quốc Sơn, Nguyễn Văn Tòng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
2. Nguyễn Duy Ái (2001),Tài liệu giáo khoa chuyên hóa học 11 - Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giáo khoa chuyên hóa học 11
Tác giả: Nguyễn Duy Ái
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
3. Ngô Ngọc An (2003),350 bài tập hóa học chọn lọc và nâng cao lớp 11, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 350 bài tập hóa học chọn lọc và nâng cao lớp 11
Tác giả: Ngô Ngọc An
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
4. Nguyễn Như An (1996),Phương pháp dạy học giáo dục học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học giáo dục học
Tác giả: Nguyễn Như An
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1996
5. Nguyễn Ngọc Bảo (1995),Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
6. Nguyễn Hữu Châu (2005),Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
7. Hoàng Chúng (1983), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
8. Nguyễn Cương, Nguyễn văn Đậu, Phạm văn Phái, Đỗ thị Trang(1988), Lý luận dạy Hoá học, tập 2. Trường ĐHSP Hà Nội I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy Hoá học, tập 2
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn văn Đậu, Phạm văn Phái, Đỗ thị Trang
Nhà XB: Trường ĐHSP Hà Nội I
Năm: 1988
9. Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung, Nguyễn thị Sửu - (2000) Phương pháp dạy học Hoá học, tập 1, 2 -Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Hoá học, tập 1, 2
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung, Nguyễn thị Sửu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
10. Nguyễn Tinh Dung -(1982)Mấy biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, Nghiên cứu giáo dục, (9), trang 10, 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
11. Đề thi tuyển sinh các trường đại học và cao đẳng - (2010  2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề thi tuyển sinh các trường đại học và cao đẳng
Năm: 2010 - 2014
12. Nguyễn Đình Độ (1993),Giải bộ đề tuyển sinh Đại học theo phương pháp chủ đề môn Hóa học, Nxb trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải bộ đề tuyển sinh Đại học theo phương pháp chủ đề môn Hóa học
Tác giả: Nguyễn Đình Độ
Nhà XB: Nxb trẻ
Năm: 1993
13. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy (1998),Tâm lí học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Phạm Văn Hoan (2005),Tuyển tập các bài tập hóa học - Trung học phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập các bài tập hóa học - Trung học phổ thông
Tác giả: Phạm Văn Hoan
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
15. Vũ Khắc Ngọc (2009), "18 cách giải cho một bài toán Hóa học", Hóa học và ứng dụng, 87(3), tr. 8-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 18 cách giải cho một bài toán Hóa học
Tác giả: Vũ Khắc Ngọc
Năm: 2009
17. Nguyễn Ngọc Quang(1994),Lý luận dạy hóa học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy hóa học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
18. Nguyễn Thị Sửu, Đặng Thị Oanh(2007),Giảng dạy các chương mục quan trọng của Hoá học phổ thông, Đaị học Sư phạm Hà Nội (Chuyên đề cao học - chuyên ngành LL & PPDH Hoá học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy các chương mục quan trọng của Hoá học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Sửu, Đặng Thị Oanh
Năm: 2007
19. Nguyễn Thị Sửu, Trần Trung Ninh, Nguyễn Thị Kim Thành(2009),Trắc nghiệm chọn lọc Hoá học THPT, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm chọn lọc Hoá học THPT
Tác giả: Nguyễn Thị Sửu, Trần Trung Ninh, Nguyễn Thị Kim Thành
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
20. Cao Thị Thặng - Phạm Thị Lan Hương (2003).Áp dụng dạy học tích cực, Bộ giáo dục và Đào tạo. Dự án Việt Bỉ đào tạo giáo viên các trường sư phạm 7 tỉnh miền Bắc - Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy học tích cực
Tác giả: Cao Thị Thặng, Phạm Thị Lan Hương
Nhà XB: Bộ giáo dục và Đào tạo
Năm: 2003
26. Nguyễn Xuân Trường(2003), "Rèn trí thông minh trong dạy học Hóa học", Hóa học và ứng dụng, 53(5), tr. 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn trí thông minh trong dạy học Hóa học
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: Hóa học và ứng dụng
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Cấu trúc 3 bộ phận cơ bản của năng lực  1.2.2. Khái niệm năng lực tư duy - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Sơ đồ 1.1. Cấu trúc 3 bộ phận cơ bản của năng lực 1.2.2. Khái niệm năng lực tư duy (Trang 25)
Bảng 3.2. Thống kê kết quả  kiểm tra lần 2 - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Bảng 3.2. Thống kê kết quả kiểm tra lần 2 (Trang 124)
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích (Trang 126)
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích (Trang 128)
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 (Trang 130)
Bảng 3.7. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Bảng 3.7. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích (Trang 130)
Hình 3.2. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra số 1 - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Hình 3.2. Đồ thị kết quả học tập bài kiểm tra số 1 (Trang 131)
Bảng 3.8. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra số 1 - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Bảng 3.8. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra số 1 (Trang 131)
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 (Trang 136)
Bảng 3.13. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Bảng 3.13. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích (Trang 136)
Bảng 3.14. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra số 2 - Phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua hệ thống bài tập chương sự điện li
Bảng 3.14. Tổng hợp kết quả bài kiểm tra số 2 (Trang 137)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w