MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nằm ngay trên ngã tƣ hàng hải quốc tế, với vị thế là hành lang hàng hải chiến lƣợc nối liền Ấn Độ Dƣơng và Thái Bình Dƣơng, Biển Đông đƣợc đánh giá là vùng biển trọng yếu nhất trên thế giới. Không một vùng biển nào với diện tích tƣơng đƣơng ¾ Địa Trung Hải lại có tầm quan trọng về phƣơng diện giao thông nhƣ Biển Đông. Biển Đông còn đƣợc biết đến với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, có giá trị kinh tế cao. Vai trò, vị trí chiến lƣợc của Biển Đông gắn liền với lợi ích thiết thân của không chỉ các quốc gia trong khu vực mà cả các cƣờng quốc lớn nhƣ Mỹ, Nhật Bản... Chính vị trí chiến lƣợc và nguồn lợi lớn từ tài nguyên thiên nhiên đã khiến Biển Đông rơi vào tầm ngắm của các quốc gia trong khu vực và các cƣờng quốc trên thế giới. Các quốc gia đều nhận thức đƣợc rằng: “Ai kiểm soát biển và đất liền thì thống trị châu Âu – châu Á, ai thống trị châu Âu – châu Á sẽ kiểm soát vận mệnh của thế giới” 48. Vùng biển này đƣợc đặt trong bố trí chiến lƣợc của các quốc gia. Nhằm vƣơn tới những lợi ích kinh tế và đạt đƣợc những mục tiêu chính trị, các nƣớc trong khu vực đã đƣa ra tuyên bố chủ quyền đối với một phần hay toàn bộ Biển Đông. Thêm vào đó, vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và nhiều nƣớc khác tại quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa đã làm tăng thêm tính phức tạp, biến Biển Đông trở thành điểm nóng về an ninh, chính trị. Những năm gần đây, chiến lƣợc tiến ra biển cả, mở rộng chủ quyền trên biển và khai thác tài nguyên thiên nhiên biển phục vụ cho phát triển kinh tế đất nƣớc luôn là mối quan tâm hàng đầu của Trung Quốc. Trung Quốc đã cho ban hành một loạt văn bản pháp luật về biển, đảo để tạo cơ sở pháp lý, hợp thức hóa các hoạt động của mình trên các vùng biển tranh chấp. Điều này đã ảnh hƣởng trực tiếp tới chủ quyền và lợi ích quốc gia của Việt Nam. Nghị quyết số 09NQTW ngày 0922007 của Hội nghị lần thứ tƣ Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa 9 về Chiến lƣợc biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển”. Một trong những giải pháp đƣợc đƣa ra đó là: “Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, nắm chắc luật pháp và tập quán quốc tế để giải quyết kịp thời, có hiệu quả các tranh chấp biển, đảo; không để xảy ra các điểm nóng. Xây dựng cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Từ những quan điểm thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nƣớc và để thực hiện chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc ta đối với vấn đề phân định biển, bảo vệ chủ quyền trên biển, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật biển của các quốc gia hữu quan trong đó có Trung Quốc là vô cùng cần thiết. Trong thực tiễn, tranh chấp trên Biển Đông, tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trƣờng Sa đã kéo dài nhiều thập kỷ làm ảnh hƣởng đến hòa bình, an ninh trong khu vực nói chung và ảnh hƣởng đến mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc nói riêng. Những năm qua, hai nƣớc đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán tuy nhiên vẫn chƣa tìm đƣợc tiếng nói chung. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu pháp luật Trung Quốc về biển, đảo để bảo đảm giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia khi tiến hành các cuộc đàm phán với Trung Quốc thời gian tới. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật Trung Quốc về biển, đảo cũng xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Từ khi thành lập nƣớc đến nay, Đảng và Nhà nƣớc ta đã luôn quan tâm tới vấn đề bảo vệ chủ quyền trên biển, xây dựng pháp luật biển quốc gia tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, Việt Nam có thể tìm đƣợc những phƣơng hƣớng xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong nƣớc phù hợp. Có thể thấy, pháp luật Trung Quốc về biển, đảo đã tác động nhất định tới cục diện tranh chấp Biển Đông, gây nên những ảnh hƣởng tiêu cực tới cục diện chung và trực tiếp ảnh hƣởng tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp trong đó có Việt Nam. Từ chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc, yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam, việc nghiên cứu, hệ thống hóa các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, phân tích, chỉ ra những điểm không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật Trung Quốc là cần thiết. Do đó, tui đã lựa chọn đề tài “Pháp luật Trung Quốc về biển, đảo nhìn từ góc độ luật pháp quốc tế và thực tiễn tranh chấp Biển Đông” làm đề tài luận văn của mình. 2. Nhiệm vụ của luận văn Luận văn có nhiệm vụ: Khái quát, hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tƣơng quan với pháp luật quốc tế; Chỉ ra những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc. Đánh giá tác động của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông. Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với cục diện Biển Đông. Đƣa ra những đối sách cho Việt Nam nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực của chính sách pháp luật Trung Quốc tới tranh chấp Biển Đông. Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đƣa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo. 3. Phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi đề tài, luận văn nghiên cứu hệ thống pháp luật về biển, đảo của nƣớc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong giai đoạn từ năm 1949 đến nay và tập trung nghiên cứu những văn bản pháp luật về biển, đảo có liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu sau: o Phƣơng pháp duy vật biện chứng; o Phƣơng pháp phân tích tổng hợp; o Phƣơng pháp quy nạp và diễn dịch; o Phƣơng pháp thống kê; o Phƣơng pháp so sánh; o Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại khác. 5. Những đóng góp của luận văn Luận văn trên cơ sở nghiên cứu những văn bản pháp luật chủ yếu của Trung Quốc về biển, đảo đƣa đến một cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp Khái quát, hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo. Phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tương quan với pháp luật quốc tế; Chỉ ra những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc. Đánh giá tác động của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông. Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của chính sách pháp luật biển Trung Quốc đối với cục diện Biển Đông. Đưa ra những đối sách cho Việt Nam nhằm hạn chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực của chính sách pháp luật Trung Quốc tới tranh chấp Biển Đông. Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ PHƯƠNG THANH
PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỀ BIỂN, ĐẢO NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VÀ THỰC TIỄN TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Phước
Hiệp
Hà Nội – 2011 MỤC LỤC
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỀ BIỂN, ĐẢO 6 1.1 Chính sách bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ pháp luật Trung Quốc về biển, đảo 6 1.1.1 Tổng quan về chính sách bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc 6 1.1.2 Tổng quan về chính sách bành trướng của Trung Quốc đối với Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 9 1.1.2.1 Tổng quan về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông 9 1.1.2.2 Tổng quan về chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo
Hoàng Sa 14 1.1.2.3 Tổng quan về chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo
Trường Sa 20 1.2 Những văn bản pháp lý quan trọng của Trung Quốc về biển, đảo 33 1.2.1 Tổng quan về các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo 33 1.2.2 Những văn bản pháp lý quan trọng của Trung Quốc liên quan trực tiếp tới Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1949 đến nay 36 1.3 Pháp luật Trung Quốc về biển, đảo và xu hướng phát triển một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo 39 1.3.1 Thực trạng pháp luật Trung Quốc về biển, đảo 39 1.3.2 Định hướng của Trung Quốc xây dựng pháp luật về biển, đảo 44 CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VỀ BIỂN, ĐẢO TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG 46 2.1 Hệ tiêu chí đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo 46 2.1.1 Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về biển 46
Trang 32.1.2 Điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề biển, đảo 50 2.1.2.1 Điều ước quốc tế đa phương 50 2.1.2.2 Điều ước quốc tế song phương 51 2.1.3 Các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế liên quan đến biển, đảo 52 2.1.4 Các văn kiện quốc tế khác về biển, đảo mà Trung Quốc tham gia hoặc thừa nhận 55 2.2 Đánh giá những quy định trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc về biển, đảo trên cơ sở so sánh với pháp luật quốc tế về biển 56 2.2.1 Pháp luật Trung Quốc về đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải và quy chế pháp lý của lãnh hải 56 2.2.1.1 Đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa 56 2.2.1.2 Quy chế pháp lý của lãnh hải theo pháp luật Trung Quốc 60 2.2.2 Pháp luật Trung Quốc về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 64 2.2.3 Bản chất pháp lý của đường hình chữ U - sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế về biển 72 2.2.4 Quy chế pháp lý của quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nhìn
từ góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật Trung Quốc 81 2.3 Tác động của chính sách, pháp luật Trung Quốc tới cục diện tranh chấp Biển Đông và tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa 91 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM QUA NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC 95 3.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về biển, đảo 95 3.1.1 Khái quát pháp luật biển Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1945 đến nay 95
Trang 43.1.2 Những văn bản pháp lý quan trọng của Việt Nam về vấn đề biển, đảo
có liên quan trực tiếp tới Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 98
3.1.3 Những hạn chế của pháp luật biển Việt Nam 100
3.2 Đối sách cho Việt Nam trước tác động của chính sách, pháp luật Trung Quốc về biển đối với cục diện tranh chấp Biển Đông 105
3.3 Phương hướng hoàn thiện pháp luật biển Việt Nam 111
3.4 Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật biển Việt Nam 114
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
Trang 5Chính vị trí chiến lược và nguồn lợi khổng lồ từ tài nguyên thiên nhiên
đã khiến Biển Đông rơi vào tầm ngắm của các quốc gia trong khu vực và các cường quốc trên thế giới Các quốc gia đều nhận thức được rằng: “Ai kiểm soát biển và đất liền thì thống trị châu Âu – châu Á, ai thống trị châu Âu – châu Á sẽ kiểm soát vận mệnh của thế giới” [48]
Vùng biển này được đặt trong bố trí chiến lược của các quốc gia Nhằm vươn tới những lợi ích kinh tế và đạt được những mục tiêu chính trị, các nước trong khu vực đã đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với một phần hay toàn bộ Biển Đông Thêm vào đó, vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines và nhiều nước khác tại quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đã làm tăng thêm tính phức tạp, biến Biển Đông trở thành điểm nóng về an ninh, chính trị Những năm gần đây, chiến lược tiến ra biển cả, mở rộng chủ quyền trên biển và khai thác tài nguyên thiên nhiên biển phục vụ cho phát triển kinh
tế đất nước luôn là mối quan tâm hàng đầu của Trung Quốc Trung Quốc đã cho ban hành một loạt văn bản pháp luật về biển, đảo để tạo cơ sở pháp lý,
Trang 62
hợp thức hóa các hoạt động của mình trên các vùng biển tranh chấp Điều này
đã ảnh hưởng trực tiếp tới chủ quyền và lợi ích quốc gia của Việt Nam
Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/2/2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 9 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm
2020 đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ
quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền nước ta Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển” Một trong những giải pháp được
đưa ra đó là: “Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, nắm chắc luật pháp và tập
quán quốc tế để giải quyết kịp thời, có hiệu quả các tranh chấp biển, đảo; không để xảy ra các điểm nóng Xây dựng cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” Từ
những quan điểm thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và để thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đối với vấn đề phân định biển, bảo vệ chủ quyền trên biển, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật biển của các quốc gia hữu quan trong đó có Trung Quốc là vô cùng cần thiết
Trong thực tiễn, tranh chấp trên Biển Đông, tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hoàng Sa, Trường Sa đã kéo dài nhiều thập kỷ làm ảnh hưởng đến hòa bình, an ninh trong khu vực nói chung và ảnh hưởng đến mối quan hệ láng giềng giữa Việt Nam và Trung Quốc nói riêng Những năm qua, hai nước đã tiến hành nhiều cuộc đàm phán tuy nhiên vẫn chưa tìm được tiếng nói chung Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu pháp luật Trung Quốc về biển, đảo để bảo đảm giữ vững chủ quyền và lợi ích quốc gia khi tiến hành các cuộc đàm phán với Trung Quốc thời gian tới
Trang 73
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật Trung Quốc
về biển, đảo cũng xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam Từ khi thành lập nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm tới vấn đề bảo
vệ chủ quyền trên biển, xây dựng pháp luật biển quốc gia tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện hành còn bộc lộ một số hạn chế Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, Việt Nam có thể tìm được những phương hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong nước phù hợp
Có thể thấy, pháp luật Trung Quốc về biển, đảo đã tác động nhất định tới cục diện tranh chấp Biển Đông, gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới cục diện chung và trực tiếp ảnh hưởng tới quyền và lợi ích chính đáng của các bên tranh chấp trong đó có Việt Nam Từ chủ trương của Đảng và Nhà nước, yêu cầu của thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam, việc nghiên cứu,
hệ thống hóa các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo, phân tích, chỉ ra những điểm không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật Trung Quốc là cần thiết Do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Pháp luật Trung Quốc
về biển, đảo nhìn từ góc độ luật pháp quốc tế và thực tiễn tranh chấp Biển Đông” làm đề tài luận văn của mình
2 Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn có nhiệm vụ:
Khái quát, hệ thống hoá một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo
Nghiên cứu nội dung các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo
Phân tích, đánh giá các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tương quan với pháp luật quốc tế; Chỉ ra những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật của Trung Quốc
Trang 8 Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, trên cơ sở đó đưa
ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
về biển, đảo
3 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài, luận văn nghiên cứu hệ thống pháp luật về biển, đảo của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong giai đoạn từ năm 1949 đến nay và tập trung nghiên cứu những văn bản pháp luật về biển, đảo có liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
o Phương pháp duy vật biện chứng;
5 Những đóng góp của luận văn
Luận văn trên cơ sở nghiên cứu những văn bản pháp luật chủ yếu của Trung Quốc về biển, đảo đưa đến một cái nhìn tổng quan về hệ thống pháp
Trang 95
luật biển, đảo Trung Quốc Đồng thời thông qua việc nghiên cứu các văn bản pháp luật Trung Quốc liên quan trực tiếp tới Biển Đông, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong mối tương quan với pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề biển, đảo, luận văn chỉ ra, phân tích và đánh giá những chế định không phù hợp với pháp luật quốc tế trong các văn bản pháp luật Trung Quốc Từ đó, kiến nghị, đề xuất đối sách cho Việt Nam trong vấn đề Biển Đông và đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về biển, đảo
6 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 Chương:
Chương 1: Một số nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo
Chương 2: Pháp luật Trung Quốc về biển, đảo trong mối tương quan với pháp luật quốc tế và tác động đối với vấn đề Biển Đông
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật biển Việt Nam qua nghiên cứu, đánh giá pháp luật Trung Quốc
Trang 106
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP
LUẬT TRUNG QUỐC VỀ BIỂN, ĐẢO
1.1 Chính sách bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ pháp luật Trung Quốc về biển, đảo
1.1.1 Tổng quan về chính sách bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia lớn trong khu vực và trên thế giới với nhiều thành tựu phát triển kinh tế, khoa học - kỹ thuật Tuy nhiên, Trung Quốc cũng được biết đến như một quốc gia mang trong mình những tư tưởng thống trị và tham vọng bá quyền Điều này thể hiện trong các tuyên bố và hành động của Trung Quốc trong nhiều thập kỷ qua Trung Quốc luôn duy trì chính sách bành trướng, mở rộng chủ quyền lãnh thổ Từ các vùng lãnh thổ của các quốc gia có chung đường biên giới đến các vùng biển khác nhau đều nằm trong tầm ngắm của Trung Quốc Chính tư tưởng bành trướng trên cơ sở những luận điệu khác nhau đã khiến tranh chấp về phân định đường biên giới giữa Trung Quốc với nhiều quốc gia (như Nga, Mông Cổ, Ấn Độ, các nước Trung Á, Đông Nam Á) thường xuyên phát sinh
Trong quan hệ với Nga, trong lịch sử và đặc biệt là vào thập niên 60-70 của thế kỷ 20, hai nước đã có những bất đồng lớn khi Bắc Kinh đòi 1.540 km² đất thuộc lãnh thổ Nga mà dường như “Sa hoàng đã cướp của Trung Quốc trong thế kỷ 19” Các nhà sử học Trung Quốc cố công đưa ra luận thuyết về
“những vùng đất bị mất” và “món nợ nào đó” của Nga đối với Trung Quốc,
mà âm hưởng của nó đến ngày nay vẫn còn thấy rộ lên trong các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm phát hành rộng rãi và thậm chí cả trong sách giáo khoa phổ thông Tuy Hiệp định ngày 16/5/1991 về vùng biên giới phía đông, Hiệp định ngày 03/9/1994 về vùng biên giới phía tây và Hiệp ước Nga -
Trang 117
Trung ký ngày 16/7/2001 đã bước đầu giải quyết thực tế những tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước song vẫn còn nhiều vấn đề còn tồn tại trong việc phân định biên giới giữa Nga và Trung Quốc
Về vấn đề phân định đường biên giới dài 3.500 km với Ấn Độ, giữa những năm 50, Trung Quốc cho công bố bản đồ địa lý, trong đó có một phần lãnh thổ của Ấn Độ cũng như của Sich Kim, Bhutan, Nepal và một số nước khác Tình hình biên giới chỉ giảm bớt căng thẳng vào đầu thập kỷ 80-90 của thế kỷ 20 Trong cuộc gặp gỡ cấp cao ở Bắc Kinh ngày 07/9/1993, hai bên đã
ký “Hiệp định duy trì hòa bình và ổn định dọc theo biên giới đang kiểm soát thực tế” Đến tháng 11-12/1996, Ấn Độ và Trung Quốc ký Hiệp định về các biện pháp tin cậy lẫn nhau trong lĩnh vực quân sự dọc theo đường biên, thực
tế được coi như một hiệp định không tấn công lẫn nhau Tuy nhiên, nếu xem xét quan hệ Trung - Ấn một cách tổng thể, thì trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Ấn Độ vẫn coi mình là nạn nhân và nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã chiếm một phần lãnh thổ của Ấn Độ Nhiều chính khách New Delhi hiểu rất rõ rằng trong tương lai, Bắc Kinh không bao giờ tự nguyện trao trả phần lãnh thổ mà Ấn Độ coi là của mình Cho nên, tốt nhất vẫn là để nguyên trạng [28]
Bên cạnh việc mở rộng biên giới trên đất liền, Trung Quốc còn chủ trương mở rộng chủ quyền trên biển Chính sách bành trướng ra biển của Trung Quốc thể hiện qua những yêu sách của họ tại biển Hoa Đông và Biển Đông… Cùng với tham vọng bành trướng đó, hải quân Trung Quốc ngày càng vươn ra xa hơn Tháng 12/2008, hải quân Trung Quốc điều động ba chiến hạm tới vùng biển Xô-ma-li, tham gia hoạt động hộ tống tàu thuyền qua lại vùng biển này Tiếp đó, hai tàu thăm dò hải dương của Trung Quốc đã phá
vỡ sự phong tỏa của Nhật Bản, tiến sâu vào vùng biển phụ cận đảo Điếu Ngư, thực hiện khảo sát, khiến Nhật Bản bị bất ngờ Trung Quốc còn biểu dương
Trang 128
sức mạnh hải quân vào tháng 4/2009 Đến nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục có những hành động biểu dương sức mạnh hải quân tại vùng biển Hoa Đông cũng như khu vực Biển Đông
Ta có thể thấy chính sách bành trướng ra biển, đảo là sợi chỉ đỏ xuyên suốt pháp luật Trung Quốc về biển, đảo Trong Tuyên bố lãnh hải ngày 04/9/1958, Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã khẳng định: chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý Quy định này áp dụng cho tất cả lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bao gồm đại lục nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các đảo ven biển, Đài Loan và các đảo xung quanh của nó bao gồm đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất
cả các đảo khác thuộc Trung Quốc Tiếp đó, Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 25/2/1992 đã quy định: “Lãnh hải
nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là vùng biển tiếp liền lãnh thổ đất liền
và nội thuỷ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Lãnh thổ lục địa nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bao gồm đại lục nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các đảo ven biển, Đài Loan và các đảo xung quanh nó bao gồm đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc về nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”
Như vậy, phạm vi “lãnh thổ lục địa” mà Trung Quốc tuyên bố bao gồm nhiều đảo ven biển, Đài Loan, đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc về nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Qua những quy định trong các Tuyên bố và văn bản pháp luật Trung Quốc nói trên, có thể thấy rõ chính sách bành trướng ra biển, đảo của Trung Quốc
Trang 139
1.1.2 Tổng quan về chính sách bành trướng của Trung Quốc đối với Biển Đông và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa
1.1.2.1 Tổng quan về chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông
Biển Đông gắn liền với quyền lợi không thể từ bỏ của Trung Quốc và
để đảm bảo sự hiện diện của mình trong khu vực, nước này đã đề ra những chính sách quân sự và ngoại giao mang màu sắc riêng “rất Trung Quốc” Tạp chí Hoàn Cầu - Tân Hoa Xã Trung Quốc trên cơ sở tập hợp các tuyên bố của
Bộ Ngoại giao đã đăng tải về lập trường cơ bản của Trung Quốc đối với vấn
đề Biển Đông như sau:
“Chính phủ Trung Quốc nhất quán chủ trương dùng phương thức hòa bình đàm phán giải quyết tranh chấp quốc tế Dựa trên tinh thần này, Trung Quốc đã cùng một số quốc gia láng giềng thông qua bàn bạc, đàm phán song phương, giải quyết công bằng, hợp lí, hữu nghị vấn đề biên giới lãnh thổ Trung Quốc nguyện cùng các quốc gia hữu quan căn cứ theo luật quốc tế và luật biển hiện đại, bao gồm các nguyên tắc cơ bản và quy định pháp luật của Công ước Luật biển 1982, thông qua đàm phán hòa bình giải quyết ổn thoả tranh chấp Nam hải Điều này đã được viết rõ trong Tuyên bố hợp tác của Cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức Trung Quốc – ASEAN năm 1997 Chính phủ Trung Quốc còn đưa ra chủ trương “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác”, đồng ý trước khi tranh chấp chưa được giải quyết, cùng các quốc gia tạm thời gác tranh chấp, tiến hành hợp tác Chính phủ Trung Quốc không chỉ chủ trương như vậy mà còn làm như vậy Những năm gần đây, Trung Quốc và các quốc gia hữu quan đã nhiều lần tiến hành thảo luận, trao đổi ý kiến về vấn đề Nam hải và đã đạt được nhận thức chung sâu rộng Cơ chế đàm phán song phương Trung Quốc - Philippines, Trung Quốc - Việt Nam, Trung Quốc - Malaysia đang vận hành có hiệu quả, đối thoại giữa các bên đạt được tiến triển ở những mức độ khác nhau Trong diễn đàn cấp cao Trung
Trang 1410
Quốc - ASEAN, tại các cuộc đối thoại, hai bên cũng đã thẳng thắn trao đổi ý kiến về vấn đề Nam hải, nhất trí dùng phương thức hòa bình và hiệp thương hữu nghị tìm kiếm giải pháp giải quyết ổn thỏa vấn đề
Trung Quốc chủ trương các bên hữu quan giữ thái độ kiềm chế, bình tĩnh và có tính xây dựng đối với vấn đề Nam Sa Những năm gần đây, Việt Nam, Philippines đã đem quân tiến chiếm một số đảo không người ở Nam Sa, phá huỷ bia chủ quyền của Trung Quốc thiết lập trên một số đảo không người
ở Nam Sa, bắt giữ và dùng vũ lực truy đuổi ngư dân nước ta tác nghiệp tại Nam hải, đối với vấn đề này, Trung Quốc vẫn trước sau kiên trì thông qua con đường ngoại giao, dùng phương thức hòa bình cùng các quốc gia hữu quan thương lượng giải quyết các vấn đề có liên quan Điều này rõ ràng thể hiện thành ý của Trung Quốc trong việc bảo vệ sự ổn định khu vực và quan
hệ hữu nghị song phương
Trung Quốc rất coi trọng sự an toàn hàng hải quốc tế Nam Hải Trung Quốc bảo vệ chủ quyền tại các đảo ở Nam Sa và các lợi ích biển không ảnh hưởng tới quyền tự do thông hành của tàu thuyền và máy bay nước ngoài được hưởng theo pháp luật quốc tế Trên thực tế, Trung Quốc chưa từng can
dự vào tự do thông hành của tàu thuyền và máy bay nước ngoài trong vùng,
từ nay về sau cũng không làm như vậy Trung Quốc nguyện cùng các quốc gia ven bờ Nam Hải cùng bảo vệ tuyến đường hàng hải quốc tế khu vực Nam Hải
Vấn đề Nam Hải là vấn đề giữa Trung Quốc và các quốc gia hữu quan Chính phủ Trung Quốc nhất quán thông qua đàm phán song phương hữu nghị giải quyết những bất đồng với các bên hữu quan Sự can dự của bất cứ thế lực bên ngoài nào đều không thể chấp nhận được, chỉ có thể khiến tình hình thêm phức tạp Trung Quốc và các quốc gia hữu quan hoàn toàn có đủ khả năng và lòng tin sẽ giải quyết ổn thoả tranh chấp giữa các bên Hòa bình và
Trang 1511
an ninh của khu vực Nam hải sẽ được bảo đảm lâu dài Hiện nay vùng Nam Hải cơ bản không tồn tại bất cứ nguy cơ nào Tô vẽ cục diện Nam Hải căng thẳng là trái sự thật, thậm chí là có dụng tâm khác” [77]
Tuy đưa ra những tuyên bố ngoại giao như vậy nhưng những hành động của Trung Quốc tại Biển Đông lại khác xa so với những tuyên bố này Với
“cuộc chiến bản đồ” từ những năm 1940 của thế kỷ 20 đến nay và gần đây là với việc đưa ra tấm bản đồ yêu sách một vùng biển rộng lớn chiếm 80% diện tích Biển Đông cùng các đảo, bãi đá bên trong đường 9 đoạn, Trung Quốc không hề thay đổi chủ trương bành trướng của mình xuống các nước khu vực Đông Nam Á Vẫn chiêu bài cũ, Trung Quốc thực hiện cái gọi là phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế; kêu gọi các quốc gia hữu quan căn cứ vào luật quốc tế và luật biển hiện đại, bao gồm các nguyên tắc cơ bản và quy định pháp luật của Công ước Luật biển 1982, thông qua đàm phán hòa bình giải quyết tranh chấp Biển Đông
Trung Quốc thực hiện chủ trương xây dựng đội tàu biển mạnh, biểu dương lực lượng quân sự trong khi vẫn kêu gọi các bên hữu quan giữ thái độ kiềm chế, bình tĩnh và có thái độ xây dựng đối với vấn đề Biển Đông
Trung Quốc cũng tuyên bố vấn đề Biển Đông là vấn đề giữa Trung Quốc và các quốc gia hữu quan, sự can dự của bất cứ bên thứ 3 nào đều không thể chấp nhận được Đối với vấn đề Biển Đông, Trung Quốc không muốn quốc tế hoá tranh chấp Vì một khi Mỹ, Nhật Bản hay một cường quốc khác tham gia vào, lối ra cho Biển Đông có thể đi chệch với lộ trình mà nước này đã tính toán Suốt những năm đầu thế kỉ 20 đến nay, trên phương diện ngoại giao, Trung Quốc đã cố gắng để xúc tiến hoạt động khai thác chung tài nguyên thiên nhiên ở vùng biển tranh chấp Trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước nhỏ khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc muốn mình là
Trang 1612
người chủ động Dù thế nào nước này cũng không muốn sự can dự của bất cứ bên thứ 3 nào có thể ảnh hưởng tới vị thế đó của mình
Về cơ bản, có thể nhận thấy ẩn sau những tuyên bố ngoại giao đầy
“thiện chí” và “có vẻ phù hợp” với pháp luật quốc tế của Trung Quốc là tham vọng bành trướng ra biển và sự áp đặt tư tưởng “nước lớn” trong việc giải quyết tranh chấp biển với các quốc gia hữu quan
Bên cạnh những tuyên bố ngoại giao, chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông còn được thể hiện qua quan điểm “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” Phương án “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” được Trung Quốc đề xuất gồm 4 luận điểm cơ bản: Luận điểm thứ nhất là chủ
quyền thuộc về Trung Quốc Theo Trung Quốc, chủ quyền thuộc về Trung
Quốc là một vấn đề mang tính nguyên tắc, cần phải kiên trì Tháng 3 năm
1991, Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kì Thâm đã phát biểu: “Trong điều
kiện Trung Quốc có chủ quyền, chúng tôi đồng ý thoả thuận với các quốc gia khác tới khai thác chung”
Luận điểm thứ hai là đối với tranh chấp trong việc phân định biển, trong điều kiện chưa thể giải quyết một cách triệt để, có thể chưa bàn tới vấn
đề chủ quyền mà gác lại tranh chấp Gác lại tranh chấp không có nghĩa là từ
bỏ chủ quyền mà là trước hết gác lại chủ quyền
Luận điểm thứ ba là các bên liên quan sẽ tiến hành cùng khai thác đối với một số vùng lãnh thổ có tranh chấp
Luận điểm thứ tư khẳng định mục đích của việc cùng khai thác là thông qua hợp tác tăng cường hiểu biết lẫn nhau, tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp chủ quyền sau này
Trung Quốc coi “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” là giải pháp phù hợp đối với các bên tại Biển Đông Trung Quốc thẳng thắn đưa ra quan điểm sẽ khai thác chung trên cơ sở Trung Quốc có chủ quyền, đề xuất một
Trang 1713
giải pháp trong đó phủ nhận chủ quyền của các quốc gia hữu quan đối với vùng tranh chấp Điều này lý giải cho sự thất bại của phương án “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” tại Biển Đông Không một quốc gia nào có thể tiến hành hợp tác khai thác chung với Trung Quốc khi nước này khẳng định đồng
ý khai thác chung trong điều kiện Trung Quốc có chủ quyền
Sau những thất bại trong việc thuyết phục các quốc gia hữu quan và với
áp lực về nguồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông đã có những thay đổi nhất định Điều này xuất phát từ mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay Chiến lược “giấu mình chờ thời” hay “ ngoại giao hài hòa” nhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn , chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức
ép với các nước tranh chấp trong khu vực Từ năm 2007 đến nay, Trung Quốc
đã có những hành động “cứng rắn” hơn để khẳng định quyền làm chủ của mình như việc can dự vào hoạt động thăm dò dầu khí của các quốc gia khác trên Biển Đông Gần đây, sáng ngày 26/5/2011, tàu Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam trong khi đang thăm dò địa chấn tại lô 148 trong thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam đã bị 3 tàu hải giám của Trung Quốc lao vào cắt cáp (7km cáp bị cắt), làm hỏng một số thiết bị của tàu, gây thiệt hại lớn về kinh tế và ảnh hưởng xấu đến kế hoạch công tác của Tập Đoàn dầu khí Việt Nam tại khu vực này [20] Tiếp đó, sáng ngày 9/6/2011, tàu Viking II của Việt Nam bị một tàu cá Trung Quốc cắt dây kéo giữ thiết bị dàn trải cáp thu
và gây rối 4 đường cáp thu phía bên trái tàu
Sự thay đổi chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông thể hiện qua những điểm sau: Về an ninh, Trung Quốc xây dựng lực lượng hải quân hùng
Trang 1814
mạnh, tăng cường quyền kiểm soát ở các vùng biển trọng yếu, đảm bảo an ninh cho các hoạt động giao thương của Trung Quốc Có nhận định cho rằng Trung Quốc đang xây dựng vành đai an ninh “chuỗi ngọc trai” kết nối các đảo
mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, Biển Đông Trung Hoa (Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải) và biển Nhật Bản cùng với các đảo và những cơ sở cầu cảng khác của Trung Quốc trải rộng từ Hải Nam tới Trung Đông, chuỗi ngọc trai sẽ giống như như một vành đai bao quanh rất nhiều đất liền châu Á Những khu vực này chính là lợi ích an ninh quốc gia mà Trung Quốc tin là sống còn với cả sứ mệnh bảo vệ vùng biển cũng như chi phối châu
Á - Thái Bình Dương [1]
Bên cạnh đó, Trung Quốc xây dựng chiến lược “hải dương xanh” và chuyển từ “phòng ngự biển gần”, sang phát triển theo hướng “hải quân viễn dương” Trung Quốc đang lên kế hoạch đóng tàu sân bay để tăng cường phạm
vi hoạt động, phát triển các loại tên lửa tấn công loại tàu này Về kinh tế, Trung Quốc cần chạy đua để giành giật các nguồn tài nguyên chiến lược Trung Quốc đã vươn ảnh hưởng đến châu Phi, châu Đại dương và Mỹ La-tinh
để tìm các nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu nhằm duy trì nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng Trung Quốc cũng cần đa dạng hóa các nguồn cung dầu lửa Có lẽ vì lý do đó mà Bắc Kinh ngày càng quyết liệt và mạnh bạo hơn trong hoạt động thăm dò dầu khí ở Biển Đông, kiểm soát và ngăn chặn hoạt động của các quốc gia khác ở vùng biển này
1.1.2.2 Tổng quan về chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa
Chính sách, lập trường của Trung Quốc đối với vấn đề quần đảo Hoàng
Sa được thể hiện trong nhiều tuyên bố, động thái ngoại giao và quân sự của nước này qua các thời kỳ
Trang 1915
Từ năm 1884 đến năm 1909, không có gì chứng minh cho sự quan tâm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa Mãi cho tới năm 1909, trước việc năm 1907 Nhật Bản đưa ra các yêu sách về các đảo Pratas (người Trung Quốc gọi là Đông Sa, một quần đảo khác của biển Nam Trung Hoa nằm ở phía Đông Bắc quần đảo Hoàng Sa), người Trung Quốc mới nghĩ tới việc cử một đoàn đi khảo sát tại Hoàng Sa nhằm đi trước các tham vọng có thể có của Nhật đối với quần đảo này [25]
Sau đó vào ngày 30/3/1921, bằng một “sắc lệnh”, Thống đốc dân sự Quảng Đông đã quyết định sáp nhập về hành chính các đảo Hoàng Sa vào Nhai huyện (Hải Nam)
Từ năm 1928, sự quan tâm của Trung Quốc đối với Hoàng Sa lại trỗi dậy, một Uỷ ban đã được lập ra Uỷ ban này tiến hành thanh tra các đảo Hoàng Sa và cung cấp các tài liệu mà bản tổng hợp đã được thực hiện dưới dạng một báo cáo khẳng định lại các tham vọng của Trung Quốc đối với các đảo đó và nêu lên các dự án khai thác to tát Tháng 3/1932, người Trung Quốc cho đấu thầu công khai ở Quảng Châu các quyền khai thác phân chim ở quần đảo Hoàng Sa và đã vấp phải sự phản đối của Pháp
Ngày 29/4/1932, kháng nghị của Chính phủ Pháp nêu rõ các danh nghĩa lịch sử và các bằng chứng về sự chiếm hữu của An Nam, sau đó là của Pháp Cùng năm này, Pháp đề nghị đưa vụ tranh chấp này ra toà án quốc tế và Trung Quốc đã phản đối đề nghị này
Trong suốt khoảng thời gian từ năm 1932 đến 1946, Trung Quốc hầu như không có tuyên bố và hành động gì đối với việc Pháp, Nhật củng cố vị thế của họ trên quần đảo Mãi cho tới tháng 11/1946, các toán quân của Tưởng Giới Thạch mới đổ bộ lên Hoàng Sa lấy cớ là giải giáp quân đội Nhật Bản Đây là sự chiếm đóng quân sự đầu tiên của Trung Quốc đối với các đảo tại quần đảo Hoàng Sa
Trang 2016
Đến năm 1947, lợi dụng tình trạng các đảo không có sự chiếm đóng của các nhà chức trách Pháp, Trung Quốc cho quân đội đổ bộ một lần nữa lên đảo Phú Lâm (Woody) thuộc quần đảo Hoàng Sa Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp đó và gửi một phân đội lính Pháp và Việt Nam đến đặt một đồn lính ở đảo Hoàng Sa
Chính phủ Trung Quốc phản đối và các cuộc thương lượng đã được tiến hành từ ngày 25/2 đến 04/7/1947 ở Paris Tại đây, Chính phủ Trung Quốc đã
từ chối không chấp nhận việc nhờ trọng tài giải quyết do Pháp đề xuất Ngày 01/12/1947, Tưởng Giới Thạch ký một Sắc lệnh đặt các tên Trung Quốc cho hai quần đảo hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Quốc
Với sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1949, môi trường quốc tế của cuộc tranh chấp đã bị thay đổi rất nhiều
Không lâu sau khi Đổng lý Văn phòng của Hoàng đế Bảo Đại, hoàng thân Bửu Lộc trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn đã công khai khẳng định lại các quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa (tháng 4/1949), vào tháng 4/1950, đồn lính do Trung Hoa Dân quốc đặt trên đảo Phú Lâm đã được rút
đi Đơn vị lính Pháp vẫn được duy trì ở đảo Hoàng Sa Ngày 14/10, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Tổng trấn Trung kì đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa
Cho tới năm 1951, trong dự thảo Hiệp ước San Francisco, có đề cập tới việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và yêu sách đối với các vùng lãnh thổ đã tiến chiếm trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Được thông báo về bản dự thảo Hiệp ước này, ngày 15/8/1951, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ra Tuyên bố chủ quyền đối với các đảo ở Nam Hải, khẳng định các quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và một số quần đảo khác ở Biển Đông
Trang 2117
Nhưng vào tháng 9/1951, khi Hội nghị San Francisco khai mạc, Trung Quốc đã không tới dự Hội nghị kết thúc mà không chỉ ra sự quy thuộc rõ ràng nào đối với các quần đảo
Vào tháng 4/1956, khi đội quân viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Nam Việt Nam đưa các lực lượng vũ trang đến thay thế các đơn
vị lính Pháp ở đảo Hoàng Sa Nhưng khi đó Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã cho quân đổ bộ một cách kín đáo, chiếm bộ phận phía đông quần đảo (cụm
An Vĩnh)
Như vậy, từ năm 1956, quần đảo Hoàng Sa đã bị quân đội của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chiếm đóng ở phía đông và quân đội chính quyền Nam Việt Nam đóng ở khu vực phía tây
Trong khoảng thời gian sau này, Trung Quốc vẫn luôn tiến hành các hành động nhằm chiếm nốt vùng đảo phía tây đang đặt dưới sự kiểm soát của Việt Nam Tháng 2/1958, nhiều dân chài Trung Quốc định đến đóng tại khu vực phía tây của Hoàng Sa nhưng không thành công
Ngày 4/9/1958, Chính phủ Trung Quốc ra Tuyên bố lãnh hải, xác định chiều rộng lãnh hải nước này là 12 hải lý, áp dụng cho cả các quần đảo
Đối với Trung Quốc, việc đưa ra những Tuyên bố chủ quyền như vậy là chưa đủ, họ muốn hiện thực hoá tuyên bố ấy, chiếm đoạt Hoàng Sa về tay mình Sau nhiều năm chờ đợi, cuối cùng Trung Quốc đã quyết định hành động, vào ngày 15/1/1974, họ đã cho quân đội đổ bộ lên các đảo phía tây Hoàng Sa, cụm Nguyệt Thiềm (Crescent) mà từ trước vẫn do Việt Nam chiếm đóng Trong suốt những ngày tiếp theo, Trung Quốc cho triển khai lực lượng hải quân lớn để hỗ trợ
Ngày 19/1 và 20/1/1974, Trung Quốc bắn phá và cho quân đổ bộ lên các đảo sau các trận đánh ác liệt chống lại lực lượng của Việt Nam
Trang 2218
Không có sự hỗ trợ và giúp đỡ ngay cả từ phía Mỹ, quân đội Nam Việt Nam thất thủ, Trung Quốc tiến chiếm thành công vùng đảo phía tây và toàn
bộ quần đảo Hoàng Sa bị đặt dưới sự kiểm soát của nước này
Sau khi giành được Hoàng Sa từ Việt Nam, để củng cố vững chắc hơn
vị thế của mình, Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh Hoàng Sa là một bộ phận lãnh thổ của họ Như vào ngày 10/9/1975, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gửi một công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhấn mạnh rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa luôn là một bộ phận lãnh thổ Trung Quốc
Họ cũng cho xây dựng cơ sở hạ tầng và củng cố quân sự tại các đảo Tháng 6 năm 1982, Trung Quốc cho xây dựng một cảng lớn ở Hoàng Sa (theo tin từ Tân Hoa Xã)
Ngày 2/6/1984, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) Trung Quốc quyết định thành lập một khu vực hành chính đặc biệt gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo (điều này đã vấp phải sự phản đối của Chính phủ Việt Nam)
Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp ngày 25/2/1992 của Trung Quốc đã tạo
cơ sở pháp lý cho việc thiết lập đường cơ sở lãnh hải của quần đảo Hoàng Sa
Năm 1996, Trung Quốc lại một lần nữa nhấn mạnh chủ quyền đối với Hoàng Sa qua Tuyên bố phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 Hội nghị lần thứ 19 Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc khoá 8 ngày 15/5/1996 quyết định phê chuẩn Công
ước Luật biển của Liên hợp quốc đồng thời tuyên bố: “Nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa nhấn mạnh có chủ quyền đối với các quần đảo và các đảo đã được liệt kê tại Điều 2 Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (công bố ngày 25/2/1992)”
Tiếp đó, vào ngày 15/5/1996, Chính phủ Trung Quốc căn cứ theo Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp ra Tuyên bố đường cơ sở bộ phận lãnh hải lục địa
Trang 23là đảo Triệu Thuật) là một trong các đảo trọng điểm được đưa vào dự án bảo
vệ và tu bổ, xây dựng trong năm 2011 Ngày 8/4/2011, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước thông tin này, người Phát ngôn
Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga nêu rõ: Việt Nam khẳng định chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Mọi hoạt động của nước ngoài tại hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam
là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt và không để tái diễn các hoạt động xâm phạm chủ quyền của Việt Nam
Như vậy, chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa có thể khái quát gồm những nội dung sau: Thứ nhất, huy động quân sự, sử dụng vũ lực để chiếm đóng và giành lấy Hoàng Sa từ Việt Nam; Thứ hai, củng cố cơ
sở hạ tầng, củng cố quân sự tại các đảo đã chiếm đóng; Thứ ba, đưa ra những Tuyên bố và ban hành các văn bản pháp luật trong đó khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa để hợp thức hóa những hành động chiếm đóng và xâm phạm chủ quyền bất hợp pháp của mình
Về tổng thể, chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa không nằm ngoài chính sách bành trướng chung mà nước này áp dụng đối với các vùng biển, đảo Chính sách của Trung Quốc vẫn là sự kết hợp giữa biện pháp quân sự, ngoại giao và hợp thức hóa những hành động của mình bằng những tuyên bố và các văn bản pháp luật trong nước
Trang 2420
1.1.2.3 Tổng quan về chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa
* Thời kì thực dân Pháp đô hộ tới năm 1945:
Thời kỳ trước năm 1945 khi Pháp đô hộ Đông Dương, quần đảo Trường Sa nằm trong sự kiểm soát của Pháp và sau đó có sự tham gia của Nhật Bản, Trung Quốc hầu như không có tuyên bố và hành động gì đối với việc Pháp, Nhật củng cố địa vị của họ trên đảo
Dấu mốc quan trọng trong thời kỳ này chính là việc ngày 8/3/1925, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc nước Pháp
Tiếp đó, ngày 13/4/1930, Toàn quyền Đông Dương đã phái tàu La Malicieuse tới quần đảo Trường Sa Các thành viên của tàu đã kéo quốc kì Pháp trên một điểm cao Thông cáo ngày 23/9/1930 đã thông báo cho các cường quốc khác về sự chiếm đóng của Pháp trên quần đảo Trường Sa Hải quân Pháp, thay mặt cho Chính phủ Pháp sử dụng tất cả các thủ tục mà luật pháp quốc tế thừa nhận tại thời điểm đó, chiếm hữu một cách chính thức Trường Sa, và tuyên bố chủ quyền của Pháp tại các hòn đảo này
Ngày 13/4/1933, một hạm đội nhỏ thuộc các lực lượng Hải quân Pháp
ở Viễn đông dưới sự chỉ huy của Trung tá hải quân De Lattre rời Sài Gòn tới các đảo Trường Sa (gồm hạm La Malicieuse, pháp thuyền Alerte, các tàu thuỷ văn Astrobale và De Lanessan) Sự chiếm hữu tiến hành theo nghi thức cổ, đó là: một văn bản được thảo ra và các thuyền trưởng ký thành 11 bản - mỗi đảo được nhận một văn bản, văn bản này được đóng kín vào trong một chiếc chai rồi được gắn trong một trụ xi măng xây trên mỗi đảo tại một điểm ấn định và
cố định trên mặt đất Người ta kéo cờ và tiến hành nghi lễ thổi kèn trên các hòn đảo
Trang 2521
Năm 1933, theo Nghị định ngày 26/7, Chính phủ Pháp công bố việc chiếm hữu của Hải quân Pháp đối với quần đảo Trường Sa (tên các đảo được ghi lần lượt) Và theo Nghị định ngày 21/12 cùng năm, Thống đốc Nam Kỳ J Krautheimer sát nhập chính thức quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa
Ngày 31/3/1939, Chính phủ Nhật Bản tuyên bố sự kiểm soát của họ trên quần đảo Trường Sa Thông báo được chuyển tới Đại sứ Pháp bằng một thông điệp khẳng định rằng Nhật Bản là người đầu tiên thám hiểm quần đảo vào năm 1917 Nhật Bản nhận xét là ở đó không có cơ quan quyền lực hành chính địa phương nào và cho đó là một tình trạng có hại cho quyền lợi của Nhật Bản Ngày 4/4 năm đó, nước Pháp phản đối động thái này của Nhật Bản
* Thời kì sau chiến tranh thế giới thứ II:
Ngày 2/8/1945, Hội nghị Postdam được triệu tập
Ngày 15/8/1945, Nhật Bản đầu hàng
Nước Pháp chủ trương giành lại quyền kiểm soát Đông Dương Ngày 28/2/1946, Hiệp ước Pháp - Trung được ký ở Trùng Khánh cho phép Pháp thay thế quân đội Trung Quốc ở Bắc Kỳ Nhưng Chính phủ Hồ Chí Minh ký với đại diện Pháp Hiệp định ngày 6/3/1946 Theo Hiệp định này nước Pháp công nhận Việt Nam dân chủ cộng hòa là thành viên của Liên hiệp Pháp
Ngày 01/12/1947, Tưởng Giới Thạch ký một Sắc lệnh đặt tên Trung Quốc cho hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đồng thời đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Quốc
Ngày 14/10/1950, Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho Chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo
Vào khoảng thời gian này dường như không có sự có mặt về quân sự nào ở quần đảo Trường Sa Ngày 15/8/1951, Thủ tướng Chu Ân Lai ra Tuyên
bố chủ quyền các đảo ở Nam Hải
Trang 2622
Năm 1951, quần đảo Trường Sa trở thành đối tượng của các yêu sách trên lĩnh vực ngoại giao Tổng thống Philippines - Quirino đòi chủ quyền với các đảo ở Trường Sa với lập luận về tính kế cận Ngày 24/8, Tân Hoa Xã tranh cãi về các quyền của Pháp và tham vọng của Philippines đồng thời khẳng định chủ quyền của Trung Quốc
Tháng 9/1951, Hội nghị San Francisco khai mạc Trung Quốc đã không
có mặt Ông Gromyko trong buổi họp toàn thể ngày 5/9 đưa ra 13 điểm bổ sung Điểm thứ nhất dự kiến việc Nhật Bản công nhận chủ quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên “các đảo Paracels và các đảo khác quá về phía Nam” Điểm này đã bị bác bỏ với 48 phía chống 3 phiếu thuận Ngày 7/9, Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Bảo Đại trịnh trọng tuyên
bố hai quần đảo thuộc lãnh thổ của Việt Nam Không có một đại biểu nào bình luận về bản tuyên bố này Không có một sự quy thuộc rõ ràng nào về các đảo được thực hiện bằng thoả thuận khi kết thúc hội nghị
Năm 1952, trong cuộc thảo luận tại Hội đồng Liên hiệp Pháp, khi được yêu cầu cho biết ý kiến về Hiệp ước hòa bình với Nhật Bản, có nhiều tuyên bố
đã được đưa ra Ông Nguyễn Khắc Sử - báo cáo viên Uỷ ban các quan hệ đối ngoại nhận xét rằng Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền đối với các quần đảo nhưng trong văn bản đã chẳng có một chữ nào nói đến sự quy thuộc sau này
của chúng Ông nói thêm: “nhưng các đảo này đã từ lâu là bộ phận của lãnh
thổ Việt Nam Chúng tôi dám hi vọng rằng trong các cuộc thương lượng sau này - trong thời gian không xa lắm, việc trả lại theo luật sẽ được tiến hành với một tinh thần hiểu biết hữu nghị” Tổng trưởng ngoại giao Maurice
Shuman trong cuộc thảo luận này đã khẳng định: “Hoàn toàn đúng là các
quần đảo Paracels và Spratlys thuộc lãnh thổ của Liên hiệp Pháp” Nhưng
ngày hôm sau, ngày 26/3/1952, ông Maurice Faure, báo cáo viên về luật phê
chuẩn Hiệp ước lại coi các đảo này là terrae derelictae (đất bị bỏ)
Trang 2723
Ngày 31/5/1956, Chính phủ Bắc Kinh ra Thông cáo tuyên bố sẽ không dung thứ cho bất kì sự xâm phạm nào đến các quyền của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên quần đảo Trường Sa
Đại sứ Đài Loan tại Manila nhân danh Trung Hoa Dân quốc (Chính phủ Đài Loan) lại khẳng định chủ quyền của họ từ thế kỉ XV Một đơn vị đồn trú của Trung Hoa Dân quốc đã được gửi đến đảo Ba Bình (Itu Aba) và đơn vị này vẫn được duy trì từ đó tới nay
Ngày 1/6/1956, Bộ trưởng Ngoại giao chính quyền Nam Việt Nam, ông
Vũ Văn Mẫu khẳng định lại các quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Ngay ngày hôm sau, Pháp nhắc lại với Chính phủ Philippines các quyền mà Pháp
đã có từ năm 1933
Ngày 22/8/1956, lực lượng Hải quân Sài Gòn đã đổ bộ lên đảo chính của quần đảo Trường Sa, cắm cờ của Việt Nam Cộng hoà và dựng một bia chủ quyền trên đảo Trường Sa Ngày 22/10/1956, Nghị định 143/ND (Sắc lệnh của tổng thống Việt Nam Cộng hòa) về tên các tỉnh Nam Việt Nam đã sát nhập quần đảo vào tỉnh Phước Tuy
Ngày 4/9/1958, Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ban hành bản
Tuyên bố lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, trong đó ấn định chiều
rộng lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý Chiều rộng lãnh hải này áp dụng cho tất
cả lãnh thổ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa kể cả Đài Loan, quần đảo Đông Sa, Trung Sa, Tây Sa, Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc
Bản tuyên bố này được công bố ngày 06/9/1958 trên Báo Nhân dân - cơ quan của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Tuyên bố này không bị phủ nhận
Ngày 14/9 cùng năm, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trong một công
hàm gửi Thủ tướng Trung Quốc đã khẳng định: “Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 04/9/1958 của Chính
Trang 2824
phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận Trung Quốc Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định đó”
Ngày 16/7/1971, Tân Hoa Xã lên án việc Philippines chiếm đóng một
số đảo của quần đảo Trường Sa và khẳng định yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo này
Năm 1973, trong khi hội nghị quốc tế Paris đang diễn ra vào tháng 3/1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền Nam Việt Nam, trong ngày 6/9
đã sửa đổi việc sát nhập hành chính quần đảo Trường Sa Theo Nghị định ngày 6/9/1973 đã sát nhập các đảo trên quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đô, tỉnh Phước Tuy
Ngày 11/01/1974, Bắc Kinh tuyên bố đây là việc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc và khẳng định lại các yêu sách của Trung Quốc về hai quần đảo
Ngày 18/1, Đại sứ Đài Loan tại Sài Gòn bằng công hàm ngoại giao đã khẳng định lại yêu sách của Trung Hoa Dân quốc
Ngày 19/1 và 20/1, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bắn phá và cho quân đổ bộ lên các đảo
Quan sát viên của Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc yêu cầu Hội đồng Bảo an xem xét vấn đề này Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam công bố lập trường của mình cho rằng trước sự phức tạp của vấn đề, cần phải xem xét nó trên cơ sở những nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và quan hệ láng giềng tốt và giải quyết tranh chấp bằng con đường thương lượng
Lầu Năm góc, được chính quyền Nam Việt Nam yêu cầu can thiệp, quyết định đứng ngoài cuộc xung đột
Trang 2925
Qua thông điệp ngoại giao được gửi đến tất cả các nước ký Hiệp định Paris ngày 02/3/1973, Chính quyền Nam Việt Nam yêu cầu Hội đồng Bảo an họp một phiên đặc biệt
Ngày 2/7, đoàn đại biểu Nam Việt Nam ra tuyên bố tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật biển nhằm khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo
Chính quyền Sài Gòn quyết định tăng cường phòng thủ các đảo ở quần đảo Trường Sa Philippines phản đối động thái này của phía Việt Nam Ngày
5, 6/5/1975, hải quân nhân dân Việt Nam giành lại quyền kiểm soát các đảo ở quần đảo Trường Sa từ quân đội Sài Gòn
Ngày 10/9, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gửi một công hàm cho Việt Nam dân chủ cộng hòa nhấn mạnh rằng hai quần đảo luôn luôn là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc
Ngày 24/9, nhân cuộc viếng thăm Trung Quốc của đoàn đại biểu Việt Nam, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Vấn đề tất nhiên sẽ được đưa ra thảo luận trong tương lai”
Ngày 12/5/1977, Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Khoản 5 của Tuyên bố ghi rõ các đảo và quần đảo là bộ phận lãnh thổ Việt Nam và nằm ngoài lãnh hải đều có các vùng biển riêng của chúng
Ngày 12/11/1982, Việt Nam ra Tuyên bố đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải trong đó có đề cập tới 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Ngày 2/6/1984, Trung Quốc quyết định thành lập một khu vực hành chính đặc biệt gồm đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa Chính phủ Việt Nam đã lên tiếng phản đối việc này
Trang 3026
Vào tháng 2/1988, lần đầu tiên Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gửi quân đội tới một số đảo của quần đảo Trường Sa, thể hiện sự hiện diện quân sự trên quần đảo
Ngày 14/3/1988, một cuộc va chạm xảy ra giữa lực lượng hải quân hai bên tại vùng xung quanh các đảo Gạc Ma, đảo Cô Lin và Len Đao, nhiều tàu Việt Nam bị hư hại Các tàu chiến Trung Quốc đã sử dụng pháo hạng nặng
74 thuỷ thủ Việt Nam được coi là mất tích
Tháng 5/1989, Trung Quốc chiếm thêm một đảo nhỏ
Tháng 9/1989, Việt Nam hoàn thành việc xây dựng một cụm dịch vụ - kinh tế - khoa học kĩ thuật trong quần đảo Trường Sa (Theo Công bố của Chính phủ Việt Nam ngày 04/7/1989, cụm dịch vụ - kinh tế - khoa học kĩ thuật này được xây dựng trên thềm lục địa Việt Nam ngoài phạm vi quần đảo Trường Sa)
Tháng 8/1990, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đề nghị tiến hành khai thác chung khu vực quần đảo Trường Sa
Từ ngày 15- 18/7/1991, do sáng kiến của Indonesia, một hội nghị quốc
tế đã được tổ chức tại Bandung giữa các quốc gia trong khu vực về vấn đề quần đảo Trường Sa Bản thông cáo cuối cùng khuyến khích các bên đối thoại
và đàm phán
Ngày 25/2/1992, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thông qua Luật lãnh hải mới, Luật này xác định lãnh hải của Trung Quốc rộng 12 hải lý áp dụng cả cho các quần đảo Tháng 5/1992, Trung Quốc cấp cho công ty Mỹ Crestone Energy đặc nhượng thăm dò dầu tại biển Nam Trung Hoa trong khu vực cách
bờ biển Việt Nam 300 hải lý, khu vực mà Việt Nam coi như vùng đặc quyền kinh tế của mình Ngày 8/7, Trung Quốc chiếm thêm một số đá ngầm tại quần đảo Trường Sa
Trang 31Việc Trung Quốc xâm chiếm bãi Vành Khăn năm 1995 đã làm dấy lên một sự lo ngại với các nước ASEAN và ASEAN đã đứng ra làm vai trò hòa giải và kiềm chế các bên tranh chấp
Kết quả là năm 2002, Trung Quốc và các nước tranh chấp thuộc khối ASEAN đã cùng nhau ký kết Tuyên bố về quy tắc ứng xử trên Biển Đông (DOC), theo đó các bên đồng ý giải quyết các tranh chấp ở vùng Biển Đông một cách hòa bình
Tuy nhiên, mọi việc lại diễn ra không như mong đợi, ngày 09/7/2007, Trung Quốc đã bắn chết ít nhất một ngư dân Việt Nam và nhiều ngư dân khác
bị thương vì cho rằng họ đánh cá trong khu vực biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc, sự kiện này đã gây sự phẫn nộ cho người dân Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước Tháng 6/2007, Trung Quốc đã làm áp lực để tập đoàn dầu khí BP của Anh quốc phải rút lui khỏi dự án thăm dò dầu khí với bên Việt Nam mà Trung Quốc cho là thực hiện tại vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc
Cũng trong năm 2007, Trung Quốc đã yêu cầu một số công ty dầu khí của Mỹ và nước ngoài ngừng việc khai thác với các đối tác Việt Nam ở Biển
Trang 32Cuối năm 2008 Trung Quốc đã nổ súng cảnh cáo và sau đó gây áp lực buộc tập đoàn dầu khí Mỹ Exxon - Mobil phải rút lui khỏi dự án liên doanh với Việt Nam thăm dò dầu khí trên vùng biển này [40], mặc dù Việt Nam khẳng định là dự án được tiến hành trên vùng thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
Tháng 3/2009, tàu hải quân Mỹ Impecable đã đụng độ với một đội năm tàu Trung Quốc, trong đó có hai tàu đánh cá dân sự có lưới rà, khi đang lai dắt một lưới định vị âm thanh trên Biển Đông Mặc dù cuộc va chạm thu hút nhiều sự chú ý của giới truyền thông, nhất là vì cảnh phim các thủy thủ Trung Quốc cởi quần áo khi bị vòi rồng của tàu Impeccable bắn trúng, nhưng những đụng độ có cùng tính chất như vậy thực ra đã xảy ra giữa các phương tiện quân sự Mỹ và Trung Quốc từ năm 2001[43]
Tháng 4/2001, một máy bay trinh sát EP-3 của Mỹ đã va chạm với một máy bay đánh chặn F-8 của Trung Quốc, làm thiệt mạng phi công Trung Quốc, và buộc phải hạ cánh trên đảo Hải Nam Tương tự, lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc đã chặn tàu hải quân Mỹ Bowditch trên biển Hoàng Hải vào năm 2002 và lần nữa vào tháng 3/2009 Một tháng sau máy
Trang 33Ngày 6/5/2009, Malaysia và Việt Nam trình lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc (viết tắt là CLCS) báo cáo chung về khu vực thềm lục địa mở rộng tại phía nam Biển Đông Khu vực xác định hoàn toàn nằm ngoài 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh thổ lục địa của Malaysia và Việt Nam
và nằm ngoài các ranh giới đã thoả thuận với các nước hữu quan Đây là lý do hai nước khẳng định báo cáo chung không làm tổn hại các vấn đề liên quan đến phân định ranh giới giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp liền
Ngay sau đó, Trung Quốc đã gửi công hàm số CML/17/2009 phản đối báo cáo chung này của Việt Nam và Malaysia, đặc biệt công hàm phản đối này có kèm theo một bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” (mặc dù Trung Quốc
chưa bao giờ giải thích “đường lưỡi bò” này là gì) với những yêu sách: “Chủ
quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa và các vùng nước kế cận, cùng quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và mặt đất dưới đáy biển”
Việt Nam đã phản đối ngay lập tức công hàm này
Ngày 23/6/2010, trên đảo Laut, cách đảo Natura của Indonesia khoảng
105 km về phía Tây Bắc, một tàu Ngư Chính của Trung Quốc, tên Yuzheng
311 (Tàu ngư chính này là một tàu quân sự cũ được chuyển đổi thành tàu ngư chính lớn nhất của Trung Quốc, hoạt động tại Biển Đông, trọng tải 4.450 tấn)
Trang 3430
khi bị tàu Hải quân Indonesia ra lệnh phải di tản khỏi khu vực - đe dọa sẽ tấn công nếu không thả chiếc tàu đánh cá của Trung Quốc đã bị Indonesia bắt giữ Ngày 08/07/2010, Indonesia - một quốc gia lớn của ASEAN, không có những tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa cũng đã gửi công hàm No 480 /POL-703/VII/10 lên Liên hợp quốc để phản đối các yêu sách trên vùng biển này của Trung Quốc
Ngày 23/07/2010, trong Hội nghị ARF, sau khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tuyên bố liên quan đến giải quyết tranh chấp Biển Đông:
“Hoa Kỳ hỗ trợ quá trình cộng tác ngoại giao của tất cả các bên tranh chấp
để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không cần cưỡng chế Chúng tôi phản đối việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực của bất
kỳ nước tranh chấp nào” [50]
Ngay sau đó, Ngoại trưởng Trung Quốc đã phản ứng gay gắt với tuyên
bố này và sau đó Hải quân Trung Quốc đã tập trận bắn đạn thật trên khu vực Biển Đông như một động tác để thị uy
Gần đây, Trung Quốc vẫn tiếp tục có những hành động gây hấn trên Biển Đông Họ đã hai lần cắt cáp dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Qua những động thái của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa, có thể thấy chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa có những nét đặc thù Bên cạnh việc biểu dương sức mạnh quân sự, xây dựng các đội tàu biển mạnh
để củng cố quyền kiểm soát, Trung Quốc còn mong muốn giành được những nguồn lợi khổng lồ từ việc khai thác tài nguyên thiên nhiên tại Trường Sa Chính vì thế, nước này đã đưa ra phương án “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác”, khi phương án này không nhận được sự đồng thuận, trước sức ép
về tài nguyên, Trung Quốc đã có những hành động gây hấn, cản trở hoạt động khai thác của các quốc gia khác trên Biển Đông Bên cạnh đó, Trung Quốc đưa ra Bản đồ đường 9 đoạn với nhiều yêu sách và tạo ra sự nhập nhằng, làm
Trang 3531
rối trí các bên quan sát về cách thức diễn giải đúng đắn về sự tồn tại của một đường như thế Có thể nhận định chính sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa có những điều chỉnh theo tình hình và bối cảnh trong nước và quốc
tế Tuy nhiên, dường như, Trung Quốc chưa tìm ra hướng đi đúng đắn khi vẫn loanh quanh trong những tuyên bố mập mờ về đường lưỡi bò và những hành động gây hấn tại vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia hữu quan trong đó có Việt Nam Với tham vọng bành trướng quá lớn của mình, Trung Quốc đang lúng túng khi không đưa ra được những căn cứ pháp
lý bảo vệ yêu sách chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với vùng biển, đảo Trường Sa
Quan điểm, lập trường của Trung Quốc đối với vấn đề quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa còn được thể hiện rõ trong Sách trắng của Trung Quốc (văn kiện của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) ngày 30/1/1980
Sách trắng ngày 30/1/1980 đã khẳng định quan điểm chính thức của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo đó Trung Quốc khẳng định họ có chủ quyền không thể bàn cãi đối với quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa Sách trắng của Trung Quốc nêu rõ: “Quần đảo Tây Sa và quần
đảo Nam Sa là hai quần đảo tương đối lớn trong các đảo ở Nam Hải của Trung Quốc, chúng và quần đảo Đông Sa, quần đảo Trung Sa từ xưa đến nay đều là lãnh thổ của Trung Quốc Điều này không chỉ có nhiều tài liệu lịch sử, các văn kiện, bản đồ, văn vật có thể chứng minh mà còn được nhiều quốc gia trên thế giới và nhiều điển luận quốc tế thừa nhận rộng rãi Trong thời kỳ cận đại, hai quần đảo tuy bị nhiều quốc gia xâm chiếm bất hợp pháp nhưng không thể thay đổi sự thật lịch sử và cơ sở pháp lý chúng thuộc Trung Quốc
Nhà đương cục Việt Nam vẫn mang dã tâm khuyếch trương chủ nghĩa
bá quyền khu vực, đồng thời hướng tới khuyếch trương xâm lược Đông Dương và Đông Nam Á, một mặt phản lại lập trường đã thừa nhận trước đây
Trang 36về cơ bản không thuyết phục hòng mưu đồ tìm căn cứ pháp lý cho việc chiếm lĩnh bất hợp pháp và khuyếch trương dã tâm, điều này là uổng công vô ích
Sự thật lịch sử không thể ngụy tạo, các nguyên tắc của luật quốc tế không thể chà đạp Chúng ta trong văn bản này viện dẫn những ghi chép lịch
sử và văn kiện chính thức nhằm vạch trần và bác bỏ những lời nói dối mà Việt Nam dựng lên, chứng minh rõ ràng Trung Quốc có chủ quyền không cần bàn cãi đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa”
Và để chứng minh cho những luận điệu của mình, trong Sách trắng năm 1980, Trung Quốc đã đưa ra những luận điểm khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc, chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo đã được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận Đồng thời họ nêu về cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa của Trung Quốc và đưa ra những luận điểm khẳng định luận cứ trong Sách trắng của Việt Nam về căn bản không thuyết phục
Qua những điều Trung Quốc nêu trong Sách trắng năm 1980 có thể thấy rằng, Trung Quốc không có thiện chí trong vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam Thậm chí
họ còn khẳng định hai bên Trung - Việt vốn không tồn tại tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Những chính sách
và quan điểm trên cũng được phản ánh khá rõ nét trong pháp luật biển, đảo
Trang 3733
của Trung Quốc nói chung và pháp luật liên quan đến phân định biển, giải quyết tranh chấp biển của nước này với các quốc gia hữu quan nói riêng
1.2 Những văn bản pháp lý quan trọng của Trung Quốc về biển, đảo
1.2.1 Tổng quan về các văn bản pháp luật Trung Quốc về biển, đảo
Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949 đến nay, Đảng và Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng tăng cường phát triển sự nghiệp biển nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia Trung Quốc không ngừng kiện toàn và đẩy mạnh thể chế quy hoạch biển, quản lý biển và xây dựng pháp luật biển Từ thập niên 90 của thế kỉ 20, Trung Quốc
đã coi khai thác tài nguyên biển là một nội dung quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, coi phát triển kinh tế biển là giải pháp quan trọng chấn hưng kinh tế Sự tham gia vào bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, quản lí biển, vào sự nghiệp biển từng bước được mở rộng [69]
Năm 1991, Cương yếu chính sách và công tác biển Trung Quốc thập
niên 90 được thông qua tại Hội nghị công tác biển toàn quốc đã đề ra những
tư tưởng cơ bản chỉ đạo công tác biển Trung Quốc trong thập niên 90 Đây là văn kiện quan trọng chỉ đạo công tác biển Trung Quốc trong những năm 90 của thế kỷ 20, nó có ảnh hưởng sâu sắc đến việc thúc đẩy sự nghiệp biển của Trung Quốc
Tháng 3/1993, Trung Quốc xây dựng Chính sách kỹ thuật biển, trong
đó chỉ đạo xây dựng đội ngũ khoa học kỹ thuật biển, trọng điểm phát triển kỹ thuật ứng dụng thăm dò và khai thác biển, phát triển có chọn lọc kỹ thuật cao,
kỹ thuật mới về biển, hình thành một nền sản xuất tương ứng, đưa khoa học
kỹ thuật biển Trung Quốc tiến gần trình độ tiên tiến của thế giới để phục vụ nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, bảo vệ lợi ích biển của Trung Quốc
Trang 3834
Tháng 5/1995, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn Quy hoạch khai
thác biển toàn quốc nhằm thúc đẩy sự phát triển tiếp tục, ổn định, hài hòa của
kinh tế biển Trung Quốc, thực hiện thống nhất đảm bảo cân bằng giữa hiệu quả khai thác biển và các yếu tố xã hội, môi trường Xây dựng Quy hoạch khai thác biển khoa học còn thể hiện sự chỉ đạo và điều tiết của Chính phủ Trung Quốc đối với việc khai thác biển
Tháng 3/1996, Cương yếu phát triển kinh tế xã hội quốc dân giai đoạn
5 năm lần thứ 9 và tầm nhìn 2010 đã được thông qua Cương yếu đề ra “tăng
cường thăm dò tài nguyên biển, khai thác sản nghiệp biển, bảo vệ môi trường biển” Đây là lần đầu tiên vấn đề biển được đưa vào vị trí quan trọng trong một văn kiện mang tính chiến lược phát triển lâu dài của quốc gia Cũng trong
năm 1996, Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng Chương trình biển Trung
Quốc thế kỷ 21 Chương trình biển với những nội dung cụ thể và sâu sắc đã
trở thành kim chỉ nam cho sự phát triển tiếp tục của sự nghiệp biển Trung Quốc
Năm 1998, Trung Quốc ban hành Chính sách biển Trung Quốc, trong
đó nêu lên một cách có hệ thống và toàn diện những mâu thuẫn trong chính sách và nguyên tắc phát triển sự nghiệp biển Trung Quốc Chính sách biển năm 1998 đã rất coi trọng vấn đề khai thác và bảo vệ biển, tích cực thúc đẩy kinh tế biển phát triển tiếp tục với tốc độ nhanh Nó đã trở thành văn kiện mang tính cương lĩnh chỉ đạo sự phát triển sự nghiệp biển Trung Quốc trong suốt một thời kỳ
Tháng 5/2003, Quốc vụ viện Trung Quốc ban hành Cương yếu quy
hoạch phát triển kinh tế biển toàn quốc, chỉ rõ mục tiêu chiến lược là xây
dựng Trung Quốc trở thành một cường quốc biển Tiếp đó, năm 2006, Hội nghị lần thứ 4 Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ 10 đã phê chuẩn sửa đổi Cương yếu phát triển kinh tế xã hội quốc dân kế hoạch 5 năm lần thứ
Trang 3935
11, trong đó chỉ thị rõ ràng hơn về vấn đề biển Năm 2007, Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 17 đã đề ra yêu cầu cần thiết phải “phát triển sản nghiệp biển”
Tháng 2/2008, Quốc vụ viện Trung Quốc xây dựng Cương yếu quy
hoạch phát triển sự nghiệp biển quốc gia, trong đó đưa ra trù định đối với sự
phát triển kinh tế biển, quản lý tổng hợp biển…, nhấn mạnh xây dựng cường quốc biển là mục tiêu trong phát triển sự nghiệp biển quốc gia Cương yếu đã xác định hướng đi cho công cuộc phát triển sự nghiệp biển Trung Quốc trong 5-15 năm tiếp theo và trở thành văn kiện quan trọng chỉ đạo phát triển sự nghiệp biển Trung Quốc trong giai đoạn lúc bấy giờ
Có thể thấy Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng việc phát triển biển, họ
đã cho ban hành nhiều văn kiện mang tính chiến lược định hướng cho sự nghiệp phát triển biển Để hiện thực hóa những chủ trương và phương hướng chỉ đạo trong các văn kiện này, nhằm quy hoạch hoạt động khai thác biển, bảo
vệ môi trường sinh thái biển, Trung Quốc đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật về biển, đảo như “Luật Bảo vệ môi trường biển nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Luật An toàn giao thông trên biển nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Luật Ngư nghiệp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”, “Luật sử dụng quản lý các vùng biển nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”… Bên cạnh các văn bản luật, pháp luật Trung Quốc về biển, đảo còn gồm hệ thống các văn bản dưới luật như các Điều lệ, biện pháp hướng dẫn thi hành luật (ví dụ: Thông tư về tăng cường thúc đẩy công tác sử dụng quản lý các vùng biển, Biện pháp đăng ký quyền sử dụng các vùng biển, Quy trình kỹ thuật giám sát chất lượng sinh vật biển…)
Như vậy, pháp luật Trung Quốc về biển, đảo đã và đang không ngừng được xây dựng và kiện toàn trên tất cả các lĩnh vực bảo vệ chủ quyền và an
Trang 40Pháp luật về bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển là một trong những nội dung cơ bản của pháp luật Trung Quốc về biển, đảo Từ khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Trung Quốc đã cho ban hành nhiều văn bản khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền đối với các vùng biển, đảo
- Ngày 04/9/1958, Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra Tuyên bố về lãnh hải Trong đó tuyên bố: chiều rộng lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý Quy định này áp dụng cho tất cả lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa bao gồm đại lục nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các đảo ven biển, Đài Loan và các đảo xung quanh nó bao gồm đảo Điếu Ngư, Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc
Lãnh hải của đại lục và các đảo ven biển Trung Quốc lấy các đoạn thẳng nối các điểm cơ sở trên bờ lục địa và trên bờ các đảo ven biển làm đường cơ sở Vùng nước 12 hải lý kéo dài ra bên ngoài từ đường cơ sở là lãnh hải Trung Quốc
Nguyên tắc quy định tại Điều 1, Điều 2 cũng được áp dụng cho Đài Loan và các đảo xung quanh nó, Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây
Sa, quần đảo Nam Sa và các đảo khác thuộc Trung Quốc
- Tiếp đến, ngày ngày 25/2/1992, Trung Quốc ban hành Luật lãnh hải
và vùng tiếp giáp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Trong đó quy định:
“Lãnh hải nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là vùng biển tiếp liền lãnh thổ đất liền và nội thuỷ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa