1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI VÀ VẬT NUÔI BÔNG CHỐNG CHỊU THUỐC TRỪ CỎ GLYPHOSATE GHB614

24 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI VÀ VẬT NUÔI BÔNG CHỐNG CHỊU THUỐC TRỪ CỎ GLYPHOSATE GHB614 CÔNG TY TNHH BAYER VIỆT NAM THÁNG 4,

Trang 1

BÁO CÁO TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI VÀ VẬT NUÔI

BÔNG CHỐNG CHỊU THUỐC TRỪ CỎ GLYPHOSATE GHB614

CÔNG TY TNHH BAYER VIỆT NAM

THÁNG 4, 2015

Toàn bộ dữ liệu trong hồ sơ đăng ký này được bảo vệ bản quyền và không được sử dụng, sao chép hay đưa cho bên thứ ba nếu không có được sự đồng ý của các tác giả

Trang 2

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG

1 Tổ chức cá nhân đăng ký:

- Công ty TNHH Bayer Việt Nam

- Người đại diện của tổ chức: Ông David John Champion – Tổng Giám đốc

- Đầu mối liên lạc của tổ chức: TS Đặng Ngọc Chi – Giám đốc đăng ký hạt giống

- Địa chỉ: Lô 118/4 Khu công nghiệp Amata, Thành phố Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai

- Điện thoại: (+84-8) 3845 0828

- Fax: (+84-8) 3997 9206

- Email: chi.dang@bayer.com

2 Tên thực vật biến đổi gen

- Tên thông thường: Bông

- Tên khoa học : Gossypium hirsutum

- Tên thương mại: GlyTol

- Tên sự kiện chuyển gen: GHB614

- Tính trạng liên quan đến gen được chuyển: Chống chịu thuốc trừ cỏ glyphosate

- Mã nhận diện duy nhất (nếu có): BCS-GHØØ2-5

Trang 3

PHẦN II THÔNG TIN VỀ CÂY CHỦ NHẬN GEN

1 Tên cây chủ nhận gen:

(a) Tên khoa học: Gossypium hirsutum

(b) Tên thông thường: Cây bông

rộng rãi nhờ sợi của nó Xơ sợi được tạo ra trên vỏ hạt vòng quanh thành sợi chắc mảnh Chỉ

có ở Mỹ và một vài nước khác phát triển các sản phẩm thương mại từ hạt bông Hạt bông thô

có thể được sử dụng làm thức ăn cho đại gia súc ở dạng các khô hạt bông, vỏ hạt hoặc hạt có thể được chế biến để thu dầu, một thành phần chính được sử dụng làm thực phẩm Linters (xơ ngắn) còn lại trên vỏ sau khi loại bỏ sợi dài có thể sử dụng cho cả mục đích thực phẩm/thức

ăn chăn nuôi hoặc các mục đích khác

Bông thuộc vào chi Gossypium, nằm trong họ Malvaceae hoặc Mallow Các thành viên khác

của họ này bao gồm mướp tây, thục quỳ, hoa hồng sharon, hay thậm chí là các cây trồng như

cỏ trà lại là những cây xếp vào nhóm cỏ có anh hưởng xấu tới bông Chỉ có chi Gossypium và

một vài chủng phân lập khác thuộc các chi khác, được xác định đặc tính thông qua sợi (lông), hạt lông (seed hair) hay cấu trúc tạo lông, phát triển ra ngoài biểu bì của vỏ hạt Có 50 loài

phân bố trong chi Gossypium, nhưng chỉ 4 trong số chúng được sử dụng để sản xuất xơ vải

thương mại (Fryxell, 1992)

Nhóm Gossypieae có 2 đặc điểm đặc trưng: sự tạo thành phôi (phức tạp hơn so với các nhóm

khác trong họ Malvaceae) và sự có mặt của các mạch hỗ khác biệt trong nhiều phần của cây nhưng đặc biệt trong lá mầm Các mạch hỗ được biết là các tuyến chứa gossypol và khác biệt

về đặc điểm sinh thái và thành phần hoá học Đây là những đặc điểm đặc trưng cho nhóm này (Fryxell, 1979)

Bông có nguồn gốc từ cây gỗ lâu niên, sau đó được thuần hoá và chuyển thành cây trồng thu hoạch hàng năm và thường không mang các đặc điểm của cây thuộc nhóm cỏ dại Bông được trồng từ hạt Nếu vắng mặt các côn trùng hỗ trợ thụ phấn, bông có thể tự thụ phấn, nhưng khi các tác nhân thụ phấn có mặt, việc thụ phấn chéo sẽ diễn ra đáng kể (Oosterhuis và Jernstedt, 1999) Việc trồng bông bị hạn chế về mặt địa lý hơn bất kỳ cây trồng nào khác ở Châu Âu

Trang 4

bởi nó chỉ có thể phát triển được trong các vùng có dưới 180 ngày lạnh giá trong 1 năm (180 frost-free days per year) Bông cần lượng nước mưa trung bình ít nhất là 50 cm/năm, nhưng mưa lớn và thời tiết có độ ẩm lớn trong giai đoạn cuối quá trình phát triển dễ làm giảm năng suất cũng như tăng nguy cơ tấn công của sâu bệnh.Tại thời điểm thu hoạch, thời tiết cần khô ráo, mưa sẽ làm biến mầu sợi và ảnh hưởng tới chất lượng xơ vải

Bông được trồng và thu hoạch ở Mỹ một cách cơ giới hoá Các kỹ thuật trồng, bao gồm tưới tiêu và luân canh cây trồng, thuốc trừ cỏ được sử dụng để kiểm soát cỏ dại Việc kiểm soát cỏ dại có ảnh hưởng lớn tới năng suất trồng bông, do đó hầu hết các vùng trồng bông ở Mỹ đều

sử dụng thuốc trừ cỏ Người trồng bông có thể sử dụng thuốc trừ cỏ với phổ tác dụng rộng tới nhiều loại cỏ dại, nhưng không ảnh hưởng tới cây bông, có tính kinh tế và không ảnh hưởng tới môi trường Nhiều loại thuốc trừ cỏ có phổ tác dụng rộng, nhưng có thể tiêu diệt bông ngay cả với lượng khuyến cáo cho việc kiểm soát cỏ

Các đặc điểm tính trạng cung cấp thông tin liên quan đến tính bền của các giống mới được phân phối trong thương mại hóa Việc chọn lọc các giống mới ban đầu dựa vào các dữ liệu của cây trồng bố mẹ Các nhà chọn tạo giống đánh giá các giống bông mới chọn tạo qua nhiều chỉ tiêu tại các thời kỳ sinh trưởng khác nhau trong toàn bộ quá trình phát triển giống

Ở giai đoạn sớm của quá trình sinh trưởng, các nhà tạo giống đánh giá số cây tồn tại và độ khỏe của cây giống Khi cây bước vào thời kỳ chín, khả năng kháng sâu và bệnh được tiếp tục đánh giá Hạt bông khi thu hoạch được phân tích các chỉ tiêu như năng suất, sợi bông dài

và khỏe Trong một số trường hợp, cây trồng được cải tạo để nâng cao một số thành phần đăc biệt, và các nhà chọn tạo giống cây trồng thường chú ý để phân tích các thành phần đó

Thông tin về sự an toàn của cây nhận gen

Bông không được coi là cây trồng gây hại, gây dị ứng và gây bệnh cho con người, tuy nhiên nó tạo ra các chất kháng dinh dưỡng như gossypol và axit béo cyclopropenoid (CPFA) Quá trình chế biến hạt bông có thể bao gồm các công đoạn: tách sợi, tách vỏ, nghiền, ép tấm, chiết, tẩy màu, tẩy mùi để thu dầu béo thực phẩm Sản phẩm phụ của quy trình chế biến có thể sử dụng làm thực phẩm cho con người như xơ ngắn, hay thức ăn chăn nuôi như vỏ hay khô dầu bông (Freyssinet, 2007; OECD,2009)

Dầu hạt bông được sản xuất đầu tiên ở Hoa Kỳ Dầu thô có chứa khoảng 2% các vật liệu glyceride nhưng được loại bỏ gần như hoàn toàn trong quá trình chế biến Trong các vật liệu này có phytoalexin, axit béo cyclopropenoid (CPFA), phospholipid, các sterol, resins, carbohydrate và các sắc tố liên quan Thành phần đáng chú ý nhất của terpenoid phytoalexin

non-là gossypol Quá trình chế biến dầu loại trừ hầu hết thành phần gossypol, quá trình khử mùi

sẽ loại bỏ hầu hết các CPFA

Khô dầu hạt bông, vỏ, xơ ngắn bông là các sản phẩm phụ của ngành công nghiệp dầu hạt bông Trong những sản phẩm này, khô dầu hạt bông là nhiều nhất và được sản xuất bằng công nghệ ép dầu và sử dụng hóa chất tách chiết Để có thể sử dụng làm thương phẩm với các

Trang 5

sản phẩm có hàm lượng gossypol thấp, giới hạn của thành phần gossypol là dưới 0,04% hay (400 ppm) Xơ ngắn bông hầu hết chỉ chứa cellulose tinh chất Xơ ngắn bông có chất lượng cao nhất được tinh sạch trong các xử lý hóa học trong tiêu hóa, tẩy rửa, giặt và làm khô Vỏ

có hàm lượng lớn các chất xơ không tiêu hóa được

Gossypol

Bông có chứa một lượng tương đối các chất terpenoid phytoalexin Các Phytoalexin là các chất kháng sinh, trong bông thì các chất này được tích trữ trong các tuyến sắc tố Các chất này đóng vai trò quan trọng trong việc chống chịu với một số loại bệnh có thể gây hại trên cây bông Chất terpenoid phytoalexin thông dụng trong cây bông gồm có gossypol, hemigossypol, desoxyhemigossypol, 2,7-dihydroxy cadalene, hemigossypolone và heliocides H1 và H2 Gossypol là chất đáng chú ý nhất trong các chất terpenoid phytoalexin và được phân lập đầu tiên từ các tuyến sắc tố của hạt bông Chất này nhìn chung là độc tốc cho các loài không phải động vật nhai lại và mang chức năng bất dục đực Gossypol có thể thấy ở dạng tự do hoặc kết hơp Nghiên cứu cho rằng khoảng 18mg gossypol tự do (tương đương với 0,1% gossypol tự do) là hàm lượng cao nhất mà bò sữa có thể được cho ăn hàng ngày Các nhà khoa học cũng đã tìm ra rằng gossypol là chất có thể chống virus và chống lại ung thư

Các axit béo Cyclopropenoid

Bông chứa một số axit béo cyclopropenoid (CPFA) có trong dầu Các loại có thể đo đạt được gồm có axit malvalic, sterculic và dihydrosterculic Các CPFA nâng điểm hòa tan (melting point) của các chất béo trong động vật được cho ăn bằng hạt bông và khô dầu hạt bông Cơ chế của các hoạt động này xuất hiện ức chế của việc làm không no các axit béo no bão hòa Trong gà, lòng đỏ trứng mất màu và giảm khả năng nở là hai ảnh hưởng bất lợi, và do đó, các ngành công nghiệp rất hạn chế việc sử dụng khô dầu hạt bông trong chế độ dinh dưỡng cho gia cầm Các CPFA cũng có sự liên kết với các tỷ lệ cao của ung thư gan ở cá hồi cho ăn hạt bông, mặc dù đã biết rằng aflatoxi, một độc tố mycotoxin bị nhiễm trong hạt bông, cũng gây

ra ung thư đối với cá hồi cầu vồng (rainbow trout)

Các thành phần khác

Lá cây bông mang một số chất flavonoid, các tannin và anthocyanin Một số lá bông được thu hoạch cùng với quả bông và bị loại bỏ trong quá trình tỉa hạt (ginning) Trong một số điều kiện ngoại lệ, như điều kiện hạn, các phần loại bỏ sau khi tỉa hạt hay gốc cây bông được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi cho đại gia súc Tuy nhiên, vì hạn chế trong việc sử dụng, flavonoid, tannin và anthocyanin không được cho là các chất chống dinh dưỡng chính hay

các chất độc tự nhiên (OECD, 2009)

Lịch sử sử dụng cây chủ làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi

Trang 6

Bông, Gossypium spp được trồng để thu sợi từ hàng ngàn năm nay Việc trồng và sản xuất

vải sợi được phát triển độc lập ở giữa 2 bán cầu Nam và Bắc Một trong những ghi chép lâu đời nhất về công nghiệp dệt may thì cách đây 5000 năm công nghiệp vải sợi từ bông đã có ở thung lũng sông Indus, nay thuộc Pakistan Khảo cổ ở Peru và Mexico đã phát hiện ra nhiều mẫu vải bông có tới 4000 -7000 năm tuổi Vải bông cũng được tìm thấy trong nhiều nền văn minh Ai Cập cổ hay trong các dấu tích của người da đỏ Indian khu vực Tây Nam nước Mỹ từ hàng trăm năm trước công nguyên

Hạt bông, sản phẩm nông nghiệp thô trước đây phần lớn được loại bỏ, nay được chuyển thành thực phẩm cho con người, động vật, phân bón cho thực vật, sợi cho sản xuất tấm lót nội thất, cellulose cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau từ thuốc nổ tới bo mạch chip máy vi tính Ngoài ra bông là thực phẩm của tự nhiên và cây trồng tạo sợi Mặc dù sợi bông là sản phẩm có giá trị nhất trong lĩnh vực bông vải nhưng cũng phải chú ý rằng cây trồng này cũng

là nguồn cung cấp dầu thực vật quan trọng Điều này có nghĩa, bông cũng là cây trồng sử dụng cho mục đích thực phẩm Bông được sản xuất chính ở Trung Quốc, Mỹ, Ấn độ, Pakistan và Uzbekistan, với tổng sản lượng chiếm gần 75% sản lượng toàn thế giới

Chỉ có quả nang của bông là được dùng để thu sợi hoặc làm thực phẩm/thức ăn chăn nuôi Phần còn lại của cây được sử dụng làm phân bón ngay tại ruộng trồng sau quá trình phân huỷ (OECD, 2009)

Hạt bông là nguồn cung cấp dầu béo và protein rất tốt bởi hàm lượng cao các thành phần này trong hạt cũng như chất lượng axit béo và axit amin của nó Bốn sản phẩm chính từ quá trình chế biến hạt bông là dầu béo, khô dầu, vỏ và xơ ngắn bông Tỷ lệ các sản phẩm trong công nghiệp chế biến hạt bông ở Mỹ trong vòng 5 năm gồm có: 16,14% dầu, 25,15% vỏ ; 46,0% khô dầu bông; 8,51% xơ ngắn và 4,21% chất thải (Jones và King, 1993)

Ngày nay bông tại các nước công nghiệp phát triển được thu hái một cách cơ giới hoá Sau khi tách bông, nang quả bông thường được ép cơ học, vận chuyển vào dây chuyền chế biến được gọi là quy trình tỉa bông Trong quá trình tỉa nang quả bông, sợi cho công nghiệp dệt may được tách riêng từ hạt Hạt đã được tách bông sẽ được gọi là hạt xơ (fuzzy seed) (hay có thể gọi là hạt tách sợi dài), sẽ được sử dụng để chế biến hoặc dùng trực tiếp làm thức ăn gia súc Dầu bông là nguồn dầu thực vật quan trọng, đây là một trong các loại dầu béo chứa nhiều axit chưa bão hoà nhất, cùng với dầu cải, ngô, bông , hoa rum đỏ, hướng dương, dầu bông cũng có chất lượng cao bởi hàm lượng vitamin E và độ bền của nó khi được sử dụng làm dầu rán

Xơ xơ ngắn hạt bông (cottonseed linter fiber), bao gồm trên 99% là chất xơ cũng được dùng làm thực phẩm sau khi được xử lý hoá học để phân giải, làm trắng, rửa và sấy khô Sản phẩm này ở dạng bột trắng, không mùi, màu và bền hoá học do vậy không phản ứng với các thành phần khác gây biến mùi, màu cho thực phẩm Do vậy nó có thể được dùng trong nhiều thực phẩm như bánh, dressing, đồ ăn nhanh hoặc thịt chế biến

Khô dầu hạt bông

Trang 7

Phương pháp chế biến dầu béo ảnh hưởng tới tính hữu dụng của khô dầu bông (cottonseed meal) So với các phương pháp chế biến khác, việc ép vít tải giảm hàm lượng gossypol tự do, giảm Nitơ hoà tan nhưng lại có được hàm lượng dầu lớn và tiêu tốn năng lượng Sử dụng cho nuôi gà, hàm lượng dầu cao có thể ảnh hưởng tới sự mất màu của trứng trong quá trình bảo quản (do sự có mặt của axit béo cyclopropenoid); đối với gia súc, hàm lượng dầu cao tạo nhiều năng lượng cho vật nuôi Phương pháp chiết bằng dung môi trực tiếp sẽ tạo ra khô dầu bông có hàm lượng gossypol tự do và nitơ hoà tan cao Nếu dựa trên quan điểm về chất lượng protein thì khô dầu bông sản xuất theo phương pháp này rất tốt cho động vật có dạ dày đơn (động vật nhai lại)

Phương pháp chế biến sử dụng dung môi tách chiết có ép sơ bộ tạo ra sản phẩm khô dầu bông

có đặc điểm trung gian giữa 2 phương pháp tách dầu là ép và sử dụng hóa chất Nó có hàm lượng gossyol tự do thấp, độ hoà tan nito cao hơn mức trung bình, hàm lượng chất béo thấp

Loại khô dầu bông này được sử dụng cho gà đẻ trứng (Ensminger et al., 1994) Hạt bông

được chế biến thành các khô dầu bông có chứa hàm luợng protein khác nhau 36%; 41%; 44%

và 48-50% Khô dầu bông có chứa 36% protein thu được từ phương pháp ép bằng trục vít, trong khi đó phương pháp chiết dung môi trực tiếp hoặc chiết dung môi trên hạt bông đã được ép sơ bộ tạo ra khô dầu bông có hàm lượng protein cao hơn 44% (Ensminger và cộng

sự, 1994)

Ngoài mục đích sử dụng để cung cấp protein cho các sản phẩm thực phẩm/thức ăn chăn nuôi, khô dầu bông còn là nguồn cung cấp protein kỹ thuật và nó được sử dụng làm chất kết dính Protein này được ép đùn tạo vật liệu sợi để sử dụng cho công nghiệp dệt may

Các sản phẩm protein từ hạt bông

Trước đây, sản phẩm protein từ hạt bông được sử dụng chủ yếu cho mục đích phân bón hoặc làm thức ăn chăn nuôi Từ đầu những năm 60, người ta bắt đầu mới phát triển các sản phẩm protein từ hạt bông để làm thực phẩm cho người Sản phẩm đầu tiên được thương mại hoá là bột hạt bông sử dụng để bổ sung vào bánh mì hay môi trường nuôi cấy vi sinh vật (trong các nghiên cứu) Ở Nam Mỹ, thực phẩm ăn dặm chứa hàm lượng protein cao có tên là Incaparinha được sản xuất để sử dụng cho trẻ thiếu dinh dưỡng Đây là hỗn hợp giữa bột ngô

và hạt bông với tỷ lệ 60:40 (Bressani, 1997)

Xơ ngắn hạt bông (Cottonseed linters)

Ba loại xơ ngắn bông chính được thu hồi trong quá trình tách sợi: công đoạn cắt thứ nhất: 0,15-0,38 kg / 10 kg hạt; công đoạn cắt thứ 2, 0,90-1,05 kg / 10 kg hạt; và thu từ công đoạn nghiền, 0,35-1,00 kg / 10 kg hạt Sản phẩm từ công đoạn cắt thứ nhất được sử dụng để tạo ra các sản phẩm sử dụng cho phẫu thuật, giấy, bao gói; sản phẩm từ công đoạn cắt thứ 2 sử dụng

để sản xuất sợi tái sinh, phim ảnh, thuốc nổ, chất dẻo, giấy, và sản phẩm thu từ công đoạn nghiền sử dụng trong công nghiệp tạo cellulose hoá học và các sản phẩm nệm lót (Cherry và Leffler, 1984)

Trang 8

Xơ ngắn bông - Linter, chứa 90-95% cellulose, không chứa lignin, có hàm lượng sáp thấp, pectin, axit hữu cơ, các chất tro vô cơ (Jones và King, 1993) Sau quá trình chế biến ở pH kiềm, và nhiệt độ cao, xơ ngắn từ hạt bông có thể được sử dụng như là một sản phẩm có hàm lượng chất xơ cao Chất xơ này dùng cho thực phẩm có chứa trên 99% hàm lượng sơ tổng (Freyssinet, 2007)

Vỏ hạt

Vỏ là phần bên ngoài hạt có tác dụng bảo vệ hạt, phần này phải được tách ra để lộ phần bên trong hạt cho quá trình tách chiết dầu Sự có mặt vỏ hạt trong khô hạt làm giảm hiệu suất thu hồi dầu do có thể hấp phụ một lượng dầu tự do Khoảng 1% của vỏ hạt tính theo khối lương

là dầu và 3% là protein Vỏ có chứa hàm lượng chất xơ cao, đặc biệt là cellulose và lignin (NCPA, 2000; Jones và King, 1993) Vỏ hạt bông được sử dụng làm thức ăn thô cho chăn nuôi, hay có thể dùng làm nhiên liệu, vật liệu cách nhiệt, làm ẩm đất, sử dụng trong dầu khoan, bổ sung vào chất dẻo chứa phenol để tăng độ bền, cung cấp cellulose cho các loại xơ tái sinh và cũng là nguồn tạo xylose và furfural (Cherry và Leffler, 1984)

Lecithin – Photpho lipit

Trong các loại dầu từ hạt nói chung, trừ bông thì hạt bông có hàm lượng photpho lipit là cao nhất Phân đoạn chứa lượng photpho lipit thu từ quá trình tinh chế dầu béo được xử lý để loại các lipit trung tính và các protein tạp, sau đó được phân đoạn tiếp thành photpho lipit và glycolipit Do sự có mặt của gossypol liên kết với photpho lipit trong quá trình tách dầu, photpho lipit từ hạt bông chỉ được sử dụng cho các mục đích công nghiệp Photpho lipit bông

có nhiều ưu điểm hơn so với photpho lipit từ các loại hạt khác bởi hầu hết các axit béo có mặt đều chỉ có dưới 2 liên kết đôi do vậy chúng ít bị oxy hoá và bị ôi hơn (Cherry và Leffler, 1984) Từ giống bông không tạo gossypol (glandless cotton), có thể có được sản phẩm photpho lipit từ hạt bông dùng cho thực phẩm (Cherry và Leffler, 1984)

Trang 9

PHẦN III THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN SINH VẬT CHO GEN

1 Tên của sinh vật cho gen

Tên khoa học: Zea mays

Tên thông thường: Ngô, bắp

2 Thông tin liên quan đến sinh vật cho gen

Sự kiện chuyển gen bông GHB614 mang một tính trạng đơn lẻ chống chịu thuốc trừ cỏ do

gen 5-enol-pyruvylshikimate-3-phosphate synthase bị biến đổi, 2mepsps, có nguồn gốc từ ngô

được chèn vào hệ gen cây bông

Ngô có một lịch sử sử dụng an toàn cho việc trồng trọt cũng như sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi Ngô là loại cây ngũ cốc đứng thứ ba trên thế giới sau lúa mỳ và gạo Ngô được trồng thương mại rộng rãi tại trên 25 quốc gia Ngô công nghiệp được trồng từ khoảng

8000 năm trước tại Mexico và Trung Mỹ và khoảng 500 năm ở Châu Âu Từ những năm

1995 – 1997, 66% ngô sản xuất trên thế giới được dùng làm thức ăn chăn nuôi và 17% cho con người tiêu thụ Ở các nước đang phát triển, 30% ngô được sản xuất làm thực phẩm và khoảng 57% làm thức ăn chăn nuôi, trong khi đó ở Châu Âu, Bắc Mỹ và các quốc gia thu nhập đầu người cao, 4% ngô được sử dụng cho con người tiêu thụ và 76% là cho thức ăn chăn nuôi

Ngô có lịch sử sử dụng an toàn làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi Một lượng không đáng

kể của các chất chống dinh dưỡng và gây dị ứng có mặt trong hạt ngô được loại bỏ qua quy trình chế biến thông thường trong công nghiệp

Ngô tự nhiên đã mang các chống dinh dưỡng và chất gây dị ứng Axit phytic có mặt trong ngô tồn tại ở dạng liên kết với phôtpho vào khoảng 60-70% (phytate) Do tồn tại chủ yếu ở dạng phytate, nên lượng cung cấp phốtpho sẵn có tự nhiên trong ngô chỉ có dưới 15% cho động vật không nhai lại Thông thường người ta thường đưa thêm phytase vào khẩu phần dinh dưỡng cho lợn và gia cầm để nâng cao việc sử dụng phốtpho Thành phần axit phytic trong hạt ngô thay đổi từ 0,45 – 1% trọng lượng khô

Trang 10

Raffinose là một oligosaccharide không tiêu hoá được Raffinose được xếp vào một chất kháng dinh dưỡng do việc tạo ra khí và làm cho đầy hơi khi sử dụng thành phần này Raffinose không phải là chất gây độc nhưng có thể gây ra sự khó chịu Có thể loại trừ thành phần này ra khỏi thực phẩm và thức ăn chăn nuôi bằng cách ngâm, nấu, xử lý với enzyme, dung môi hay tia hồng ngoại Tỷ lệ của raffinose trong ngô là 0,21 – 0,31%; hàm lượng tiêu thụ mỗi ngày 15g được cho là an toàn

Ngô mang hàm lượng thấp các chất ức chế trypsin và chymotrypsin, không chất nào có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng

Ngô thông thường không phải là một loại thực phẩm gây dị ứng, dù trong vài trường hợp, một số phản ứng dị ứng đã được ghi nhận Các báo cáo về ảnh hưởng dị ứng của ngô gồm có

dị ứng trên da, hệ tiêu hoá, và các vấn đề về hệ hô hấp (OECD, 2002)

Ngô có một lịch sử sử dụng an toàn cho việc trồng trọt cũng như sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi Ngô là loại cây ngũ cốc đứng thứ ba trên thế giới sau lúa mỳ và gạo Ngô được trồng thương mại rộng rãi tại trên 25 quốc gia Ngô công nghiệp được trồng từ khoảng

8000 năm trước tại Mexico và Trung Mỹ và khoảng 500 năm ở Châu Âu Từ những năm

1995 – 1997, 66% ngô sản xuất trên thế giới được dùng làm thức ăn chăn nuôi và 17% cho con người tiêu thụ Ở các nước đang phát triển, 30% ngô được sản xuất làm thực phẩm và khoảng 57% làm thức ăn chăn nuôi, trong khi đó ở Châu Âu, Bắc Mỹ và các quốc gia thu nhập đầu người cao, 4% ngô được sử dụng cho con người tiêu thụ và 76% là cho thức ăn chăn nuôi

Ngô mất khả năng tồn tại ngoài tự nhiên do quá trình thuần hoá lâu dài và cần có sự can thiệp của con người để phát tán hạt cho nó Mặc dù ngô từ các vụ trước có thể chống chịu qua mùa đông và nảy mầm vào năm tiếp theo, nhưng nó không thể sống được như cỏ dại Ngô không

có khả năng tái sinh ngoài điều kiện trồng trọt đã được thuần hoá Cây ngô không phải là loài xâm lấn trong tự nhiên Trái ngược với cỏ dại, ngô có nhụy hoa cái (bắp) với bắp được bao bọc bởi các lá bi Chính vì vậy mà việc phát tán hạt đơn lẻ không xảy ra một cách tự nhiên (OECD, 2003)

Trang 11

PHẦN IV THÔNG TIN VỀ THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN

Mô tả quá trình tạo ra thực vật biến đổi gen

Quá trình chuyển gen

Đoạn ADN từ plasmid pTEM2 được chuyển vào hệ gen của bông GHB614 bằng vi khuẩn

Agrobacterium Với phương pháp chuyển gen này, đoạn ADN nằm giữa bờ phải và bờ trái

của T-DNA từ plasmid pTEM2 được chuyển lên hệ gen của cây trồng Các vùng bờ phải và

trái của A tumefaciens, như mô tả trong bảng 2 cũng được chèn vào hệ gen bông sự kiện

Glytol GHB614 Mặc dù một số gen sử dụng trong quá trình chuyển gen có xuất xứ từ A tumefaciens, vốn được biết là vi sinh vật gây bệnh cho cây, tạo ra khối u cho cây được loại bỏ

và không hợp nhất vào hệ gen cây nhận (Deblaere và cộng sự, 1985)

Gen 2mepsps được sử dụng trong một số cây trồng nông nghiệp để tạo ra khả năng kháng

thuốc trừ cỏ glyphosate cho cây trồng

Các thông tin chi tiết về quá trình chuyển gen, sự nhận diện các vật liệu di truyền đưa vào cây chủ, phân tích các dữ liệu xác đinh đặc tính của đoạn chèn được mô tả trong các phần IV.A.2a, IV.A.2.b, và IV.A.2.d, dưới đây

Phương pháp chuyển gen

Mẫu mô Gossypium hirsutum từ bông Coker312 được chuyển gen với vector pTEM2 (Habex, 2011) thông qua phương pháp chuyển gen sử dụng Agrobacterium tumefaciens Tế bào mô

bông được tiếp xúc với canh trường chủng A tumefaciens C58C1Rif đã được làm mất độc tính (Van Larebeke và cộng sự, 1974) có chứa vector pTEM2 Sau quá trình cùng nuôi cấy, các tế bào mô bông được tái sinh thành cây trên môi trường có sử dụng 500 mg/l claforan để tiêu diệt Agrobacterium còn lại, sau đó tiếp tục được chọn lọc với glyphosate Các chồi cây tạo ra được chuyển vào nhà kính, sau đó được đánh giá khả năng kháng thuốc trừ cỏ glyphosate, được tiếp tục trồng tới khi ra hoa và tạo hạt

Nêu những tính trạng và đặc điểm mới của thực vật biến đổi gen so với loài thực vật thông thường tương ứng

Tính trạng được đưa vào cây bông là tính chống chịu với thuốc trừ cỏ glyphosate

Bông GHB614 chứa gen cải biến 2mepsps được hợp nhất ổn định vào hệ gen cây trồng, gen

này mã hoá cho enzyme cải biến 5-enolpyruvylshikimate 3-phosphate synthase (2mEPSPS) Glyphosate là loại thuốc trừ cỏ rộng rãi có tác động ức chế các enzyme tự nhiên 5-enolpyruvylshikimate 3-phosphate synthase (EPSPS), tham gia vào quá trình chuyển hoá axit shikimic để sinh tổng hợp axit amin vòng thơm trong cây trồng và vi sinh vật (OECD, 1999) Tuy nhiên, enzyme 2mEPSPS nhờ sự biến đổi có chủ đích trong trình tự, nó không bị ức chế bởi glyphosate và sự biểu hiện của nó đủ tạo ra hoạt tính đảm bảo sự kháng lại thuốc trừ cỏ glyphosate cho bông GHB614

Trang 12

Sự thay đổi kiểu hình tương ứng với sự chuyển gen đó là bông GHB614 phát triển tốt khi sử dụng thuốc trừ cỏ glyphosate Tính trạng này không ảnh hưởng tới môi trường vô sinh cũng như hữu sinh xung quanh Thông qua các nghiên cứu khảo nghiệm trên ruộng của bông

GHB614, việc chuyển vào đoạn chèn chứa gen 2mepsps không có các ảnh hưởng đa kiểu

hình gây ra sự khác biệt nào được quan sát được Bông mang sự kiện GHB614 không khác biệt so với các dòng bố mẹ hay các bông thông thường khác về các đặc điểm dinh dưỡng, nông học và khả năng sinh sản

Lịch sử cấp phép làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi

Bông GHB614 đã được cấp chứng nhận an toàn cho việc sự dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi cũng như an toàn cho môi trường trong 10 quốc gia

Các quốc gia đã cấp chứng nhận an toàn cho sự kiện GHB614

phẩm

Thức ăn chăn nuôi Năm cấp Đơn vị cấp chứng nhận

Viết tắt:

FDA: Bộ lương thực và thuốc Hoa Kỳ

USDA: Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ

MFDS: Bộ An toàn thực phẩm và thuốc, Hàn Quốc

(Tên gọi trước đây là KFDA: Korea Food and Drug

Administration)

RDA: Bộ Nông nghiệp nông thôn Hàn Quốc

MHLW: Bộ Y tế, lao động và phúc lợi Nhật Bản

MAFF: Bộ nông nghiệp, lâm nghiệp và nghề cá

INVIMA: Institute Nacional de Vigilancia de Medicamentos

Ngày đăng: 21/06/2016, 19:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình gây ra sự khác biệt nào được quan sát được.  Bông mang sự kiện GHB614 không khác  biệt  so  với  các  dòng  bố  mẹ  hay  các  bông  thông  thường  khác  về  các  đặc  điểm  dinh  dưỡng,  nông học và khả năng sinh sản - BÁO CÁO TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ RỦI RO CỦA THỰC VẬT BIẾN ĐỔI GEN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI VÀ VẬT NUÔI BÔNG CHỐNG CHỊU THUỐC TRỪ CỎ GLYPHOSATE GHB614
Hình g ây ra sự khác biệt nào được quan sát được. Bông mang sự kiện GHB614 không khác biệt so với các dòng bố mẹ hay các bông thông thường khác về các đặc điểm dinh dưỡng, nông học và khả năng sinh sản (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w