Xã Minh Dân ở trung tâm của huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nơi có hầu hết các hộ dân làm nông nghiệp. Tuy nhiên, sự hiểu biết của nông dân về việc sử dụng thuốc BVTV còn thấp, lượng sử dụng ngày càng lớn, không theo quy trình cụ thể. Đặc biệt vỏ, bao bì của các loại thuốc BVTV không được thu gom, xử lý đã làm hủy hoại môi trường sinh thái, gây nên nhiều loại bệnh nguy hiểm. Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài :“Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Minh Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa”
Trang 1DANH MỤC VIẾT TẮT
ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
BNN & PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn BVTV : Bảo vệ thực vật
FAO: Tổ Chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc
HTX: Hợp tác xã
IFOAM: Tổ chức nông nghiệp hữu cơ quốc tế
IPM: Phương pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp
IRRI: Viện Lúa Quốc tế
LHQ: Liên Hiệp Quốc
NNHC: Nông nghiệp hữu cơ
QPPL: Quy phạm pháp luật
QT: Quần thể
TTS: Thuốc trừ sâu
UBND: Ủy ban nhân dân
UNEP: Cơ quan môi trường thuốc Liên Hiệp quốc
VIETGAP: Tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam VSV: Vi sinh vật
WHO: Tổ chức Y tế thế giới
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu 2
PHẦN II TỔNG QUAN 3
2.1.Tổng quan về thuốc BVTV 3
2.1.1 Khái niệm về thuốc bảo vệ thực vật 3
2.1.2 Vai trò của hóa thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp 4
2.1.3 Tác hại của thuốc BVTV 4
2.1.4 Những nhân tố liên quan đến tính độc của thuốc BVTV 8
2.2 Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất BVTV trên thế giới và Việt Nam 15
2.2.1 Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất BVTV trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất BVTV ở Việt Nam 17
2.3 Giới thiệu chung về nông nghiệp hữu cơ 20
2.3.1 Khái niệm nông nghiệp hữu cơ 20
2.3.2 Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam và triển vọng 22
PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 25
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Nội dung nghiên cứu 25
Trang 33.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Minh Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh
Thanh Hóa 25
3.2.2 Thực trạng sản xuất đất nông nghiệp 25
3.2.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV 25
3.2.4 Thực trạng quản lý thuốc BVTV 25
3.2.5 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu việc sử dụng và tác hại của thuốc BVTV 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 25
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu: 26
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Minh Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa 27
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 28
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở xã Minh Dân .33 4.2 Thực trạng sản xuất đất nông nghiệp 33
4.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV 35
4.3.1 Chủng loại thuốc được sử dụng 35
4.3.2 Liều lượng sử dụng 37
4.3.3 Ý thức sử dụng của người dân 39
4.4 Thực trạng quản lý thuốc BVTV 44
4.4.1 Tình hình kinh doanh thuốc BVTV tại xã Minh Dân 44
4.4.2 Các văn bản pháp luật có liên quan đến thuốc BVTV được áp dụng tại địa phương 45
4.4.3 Các biện pháp quản lý được áp dụng tại địa phương 46
Trang 44.6 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu việc sử dụng và tác hại của thuốc
BVTV 47
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thời gian tồn lưu trong đất của một số hóa chất BVTV 5
Bảng 2.2: Báo cáo giá trị kinh tế canh tác hữu cơ cà chua và cải bắp ở Sóc Sơn 24
Bảng 4.1: Cơ cấu kinh tế của xã Minh Dân năm 2010 và năm 2011 29
Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 34
Bảng 4.3: Các loại thuốc BVTV thường được sử dụng ở địa bàn xã Minh Dân 36 Bảng 4.4: Số lần sử dụng thuốc BVTV đối với một số loại cây trồng 37
Bảng 4.5: Liều lượng phun trên lúa của một số loại thuốc BVTV 39
Bảng 4.6: Thực trạng phun thuốc trước ngày thu hoạch ở một số loại cây trồng 41
Bảng 4.7: Tỷ lệ các dụng cụ bảo hộ được người dân mang theo khi phun thuốc BVTV 43
Bảng 4.8: Danh sách cửa hàng kinh doanh thuốc BVTV tại xã Minh Dân 44
Trang 6DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Nội dung mối quan hệ qua lại giữa ba yếu tố : Thuốc, Dịch hại vàđiều kiện ngoại cảnh tác động đến hiệu lực của thuốc BVTV 15Biểu đồ 4.1: Cơ cấu lao động xã Minh Dân 29Biểu đồ 4.2: Cơ cấu kinh tế xã Minh Dân năm 2012 và 2012 30Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ về số lần sử dụng thuốc BVTV đối với một số loại cây trồng 38Ảnh 4.1: Người dân đang phun thuốc BVTV 42Ảnh 4.2: Người dân xả bừa bãi vỏ, bao bì thuốc BVTV 44
Trang 7PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm rấtthuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nhưng cũng rất thuận lợi cho sự phátsinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng Do vậy việc sử dụnghóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùamàng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng vàchủ yếu Tuy nhiên, những năm gần đây việc sử dụng hóa chất BVTV trongthâm canh sản xuất có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại Điềunày đã và đang gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khoẻ con người
Xã Minh Dân ở trung tâm của huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nơi cóhầu hết các hộ dân làm nông nghiệp Khu đồng ruộng của xã rộng khoảng 200
ha nằm ngay cạnh khu dân cư Đây là nguồn cung cấp lương thực và hoa màurất đa dạng như : lúa, ngô, khoai lang, khoai tây, dưa chuột, bí ngô, đậu đỗ,…
Tuy nhiên, sự hiểu biết của nông dân về việc sử dụng thuốc BVTV cònthấp, lượng sử dụng ngày càng lớn, không theo quy trình cụ thể Đặc biệt vỏ,bao bì của các loại thuốc BVTV không được thu gom, xử lý đã làm hủy hoạimôi trường sinh thái, gây nên nhiều loại bệnh nguy hiểm
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài :
“Đánh giá hiện trạng quản lý, sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp ở xã Minh Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa” 1.2 Mục đích, yêu cầu
Trang 8- Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vậtđến môi trường, sức khỏe người dân ở xã Minh Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnhThanh Hóa.
- Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu tác hại của hóa chất bảo vệ thựcvật theo định hướng phát triển một nền nông nghiệp sạch
Trang 9Theo một khái niệm khác: Thuốc BVTV là các hóa chất bảo vệ mùa màngkhỏi sự xâm nhập của côn trùng (thuốc trừ sâu), động vật gây hại (thuốc diệtchuột, thuốc trừ mọt), cỏ dại (thuốc trừ cỏ) hay các loại bệnh thực vật, đượcdùng trên cả ruộng khô và ruộng nước Thuốc BVTV thường là các hóa chấttổng hợp bao gồm rất nhiều loại khác nhau, nhằm mục đích tiêu diệt hay ức chế
sự phát triển của dịch hại Bản chất của thuốc BVTV là được dùng để giết một
số loài sinh vật chuyên biệt nhưng vẫn có tiềm năng gây hại cho các sinh vậtkhác, bao gồm cả con người [11]
2.1.1.2 Phân loại:
Có nhiều cách phân loại thuốc BVTV:
- Phân loại theo đối tượng sử dụng được dùng nhiều nhất, gồm thuốcBVTV phòng trừ động vật gây bệnh (thuốc trừ sâu, thuốc trừ nhện, thuốc trừchuột,…), thuốc BVTV phòng trừ bệnh cây, thuốc trừ cỏ dại
- Phân loại theo con đường xâm nhập gồm: thuốc có tác dụng tiếp xúc,thuốc có tác dụng vị độc, thuốc có tác dụng xông hơi, thuốc có tác dụng nội hấp,thuốc có tác dụng thấm sâu
- Cũng có thể phân loại theo nguồn gốc hóa chất gồm: thuốc BVTV cónguồn gốc vô cơ, thuốc BVTV có nguồn gốc hữu cơ (thuốc BVTV có nguồn
Trang 10gốc tự nhiên, thuốc BVTV hữu cơ tổng hợp), thuốc BVTV có nguồn gốc vi sinh[6]
2.1.2 Vai trò của hóa thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp
Từ khi được sử dụng đến nay, thuốc BVTV là công cụ đắc lực của ngườinông dân trong mỗi vụ gieo trồng với nhiều ưu điểm nổi trội: có thể diệt nhanh dịchhại, triệt để, đồng loạt trên diện rộng và chặn đứng những trận dịch trong thời gianngắn; mang lại hiệu quả rõ rệt, kinh tế, bảo vệ được năng suất cây trồng, đồng thờigiảm được diện tích canh tác; dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau,đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp duy nhất [6]
Qua thực tế, vai trò của thuốc BVTV trong việc bảo vệ cây trồng chốnglại dịch hại và sâu bệnh là không thể phủ nhận Có thể nói, thuốc BVTV là mộttrong những yếu tố cần thiết để có thể duy trì sản xuất lương thực – thực phẩm.Theo các số liệu thống kê từ trước đến nay, tổn thất do sâu bệnh trong nôngnghiệp trên thế giới ước tính khoảng 25% - 30% tổng sản lượng Các côn trùng
y tế (ruồi, muỗi, gián,…) cũng đang là vấn nạn gây ảnh hưởng đến sức khỏe conngười Người ta nhận thấy rằng, từ khi các nước nhiệt đới châu Á cấm sử dụngDDT, bệnh sốt rét phát triển trở lại [2]
Nghiên cứu của Viện Lúa Quốc tế (IRRI) từ năm 1964-1971, qua thínghiệm sử dụng thuốc BVTV, năng suất lúa đã bội thu 2,7 tấn/ha.[5] Vào năm
1971, tại Mỹ nếu không sử dụng thuốc BVTV thì sản lượng rau quả giảm 50%(theo Naishfain, 1971) Ở Việt Nam do có đóng góp của thuốc BVTV mà năngsuất các loại cây trồng ngày càng tăng, đặc biệt là đối với lúa [1]
Theo WHO (1990) nếu canh tác tốt và sử dụng hợp lý thuốc BVTV sẽ làmtăng sản lượng cây trồng Thuốc BVTV có khả năng diệt trừ dịch hại trong thờigian ngắn, hiệu quả mọi lúc, mọi nơi Đặc biệt trong nhiều trường hợp khi sâu bệnhbùng phát, thuốc BVTV được xem như là giải pháp nhất có hiệu quả [5]
2.1.3 Tác hại của thuốc BVTV
2.1.3.1 Tác hại của thuốc BVTV đối với sản xuất nông nghiệp
Trang 11Thuốc BVTV giúp tiêu diệt nhanh các loại sâu bệnh, tuy nhiên nó cũng cónhững tác động xấu tới năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế qua hiện tượng
“kháng thuốc”
Theo Perry, Agosin (1974), khi QT sâu bệnh chịu tác động của 1 loại TTStrong nhiếu thế hệ liên tiếp sẽ xảy ra quá trình chọn lọc Những cá thể mang sẵngen kháng thuốc tồn tại và sản sinh ra nhiều cá thể khác cũng kháng thuốc, hìnhthành “nòi kháng thuốc” [22]
Đặc biệt, một nòi sâu chẳng những có thể hình thành tính kháng thuốc đốivới loại TTS sử dụng, mà nhiều khi còn kháng được một hay nhiều loại TTSkhác mà nòi sâu đó chưa tiếp xúc [23] Syed (1990) đã cho biết: Sau khi sử dụngPermethrin và deltamethrin để trừ sâu hại ở vùng cao nguyên Cameron –Malaysia thì sâu tơ chẳng những đã kháng được 2 loại thuốc đó mà còn kháng
cả Cypermethrin là loại TTS chưa hề được dùng ở đây Đó là hiện tượng khángchéo của sâu hại [21]
2.1.3.2 Tác hại của thuốc BVTV đối với môi trường
Thuốc BVTV tồn dư lâu đời gây ô nhiễm môi trường, theo Trần VănChiến và Phan Trung Quý: [1]
Bảng 2.1: Thời gian tồn lưu trong đất của một số hóa chất BVTV
Hóa chất BVTV Thời gian tồn lưu trong đất (tuần)
Trang 12đến các loài động vật sống trong đất phụ thuộc chủ yếu vào loại thuốc, liềulượng, nồng độ, phương pháp sử dụng thuốc và điều kiện ngoại cảnh Nồng độđồng (Cu) trong đất 2000ppm đã giết chết 100% giun đất có khả năng phân giảitàn dư thực vật, làm cho đất tơi xốp, thoáng khí ở vườn cây ăn quả [6]
Nhiều nghiên cứu của các cơ quan chuyên môn, khi phun thuốc BVTV đểtrừ dịch hại ngoài đồng ruộng thì chỉ có 5 - 7% lượng thuốc tham gia trực tiếpvào quá trình tiêu diệt dịch hại, còn 93 – 95% bị rửa trôi vào nguồn nước, thẩmthấu vào đất canh tác gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và tiêu diệt các loài vi sinhvật có ích Mặt khác, khi phun, thuốc bị khuếch tán vào trong không khí và nhờgió và mưa sẽ di chuyển đến nhiều vùng khác nhau Ngoài ra, tại một số vùngcủa nước ta do việc xây dựng một số kho thuốc BVTV không đúng quy định đãgây ô nhiễm nguồn nước ngầm nghiêm trọng [12]
Đối với môi trường không khí, đã có một số kết quả nghiên cứu chỉ rarằng thuốc BVTV gây ô nhiễm không khí trên diện rộng Theo Phùng Thị Thanh
Tú (1994), bụi thuốc BVTV có thể phát tán rất xa, ở Bắc Mỹ và Trung Phi cóthể bay tới Đại Tây Dương, tuyết trên Bắc Cực cũng có thuốc BVTV Người ta
đã tìm thấy nhóm Photpho hữu cơ trong không khí ở độ cao 50 – 200 m từ 3 – 8ngày sau khi phun thuốc bằng máy bay [9]
2.1.3.3 Tác hại của thuốc BVTV đối với con người và những động vật máu nóng
a Đối với động vật máu nóng:
Sự tồn lưu của thuốc BVTV trong môi trường gây nhiễm không chỉ choquần thể thực vật, động vật tồn tại trong môi trường mà còn cả động vật sử dụngchúng làm thức ăn
Theo Lê Trường (1985) khi phun 2,4-D hoặc 2,4,5-T lên cỏ Xuđăng đãlàm tăng hàm lượng axit xyahydric trong cỏ (ở liều 1,1 kg/ha 2,4-D làm tăng35%, 2,4,5-D làm tăng 75%) nên cỏ đã thành độc với gia súc (Swanson CR,Shaw WC, 1995) Ở một số loài thực vật khi bị nhiễm 2,4-D hoặc 2,4,5-T liều
Trang 13thấp sẽ làm tăng lượng Nitrat trong cây trồng đến mức nguy hiểm cho gia súcTrong các nghiên cứu khác tại vùng Bắc Dakota, Stickel LE (1993) đã phát hiệnrất nhiều loại động vật nhỏ chứa dư lượng DDT trong cơ thể Ở chuột chù ngắnđuôi là 5,2 – 25,2 ppm, sóc đất là 0,08 – 0,69 ppm, chuột nhảy là 0,08 – 0,18ppm, chuột đồng là 0,16 – 0,2 ppm [8].
b Đối với con người
Con người có thể nhiễm độc thuốc BVTV theo nhiều con đường khácnhau, có thể ngộ độc khi trực tiếp phun thuốc, ngộ độc từ thực phẩm chứa dưlượng thuốc BVTV hoặc nhiễm thuốc gián tiếp từ môi trường
Một số loại thuốc trừ sâu có khả năng bay hơi mạnh nên gây khó chịu,mệt mỏi, thậm chí choáng ngất cho người trực tiếp phun thuốc sâu trên đồngruộng, nhất là trong trường hợp không có các biện pháp phòng tránh tốt
Theo Cục Y tế dự phòng và Môi trường (Bộ Y tế) cho biết số người ngộđộc thuốc BVTV lớn hơn 20 triệu người, tập trung chủ yếu ở các nước đangphát triển, mỗi năm trên thế giới có khoảng 2,5 triệu người chịu tác động củathuốc BVTV Kết quả phân tích dư lượng hóa chất BVTV trong năm 2009 cácbệnh viện đã tiếp nhận 4 515 người bị nhiễm độc thuốc BVTV trong đó đã có
138 trường hợp tử vong do nhiễm độc quá nặng [15]
Cũng theo FAO, những năm gần đây số người ngộ độc thuốc BVTV lớnhơn 20 triệu người, tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển, mỗi năm trênthế giới có khoảng 2,5 triệu người chịu tác động của thuốc BVTV Kết quả phântích dư lượng hóa chất BVTV trong đất tại huyện Cẩm Khê, Phú Thọ cho thấyhàm lượng DDT trong đất bằng 1,56 mg/kg Ở Thanh Sơn, Phú Thọ là 30mg/kg, huyện Diễn Châu, Nghệ An vượt ngưỡng tới mức từ 15 đến 2 800 mg/kg(JA Ming, 2006) Sự tích tụ hóa chất trong đất thấm vào nguồn nước ngầm, làmnguồn nước nhiễm hóa chất BVTV, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt vàcũng là một trong những nguyên nhân làm gây bệnh ung thư tại các làng xã Hà
Trang 14Nói chung các loại thuốc BVTV nguồn gốc hóa học hầu hết đều có tínhđộc cao Ngoài ra việc dùng thuốc trừ sâu liên tục sẽ sinh chứng nhờn thuốc Vìthế mỗi loại thuốc trừ sâu chỉ có tác dụng mạnh một số năm đầu sử dụng Đểhạn chế bệnh nhờn thuốc, tăng khả năng diệt trừ sâu người ta thường tăng dầnnồng độ thuốc, tăng số lần dùng thuốc dẫn đến ảnh hưởng càng lớn.
Nói tóm lại, thuốc trừ sâu, diệt cỏ có tác dụng tích cực bảo vệ mùa màng,tuy nhiên nó còn gây nên nhiều hệ quả môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tới
hệ sinh thái và con người Do vậy cần phải thận trọng khi dùng thuốc và phảidùng đúng liều, đúng loại, đúng lúc theo chỉ dẫn của cán bộ kỹ thuật [16]
2.1.4 Những nhân tố liên quan đến tính độc của thuốc BVTV
2.1.4.1 Đặc tính của chất độc
a Cấu tạo của thuốc BVTV
Trong phân tử chất độc thường có những gốc sinh độc quyết định đến độđộc của thuốc đó Các gốc sinh độc có thể chỉ là một nguyên tử hay loại nguyên
tố (như Hg, Cu,…trong các hợp chất chứa thủy ngân hay chứa đồng); hoặc cũng
có thể là một nhóm các nguyên tố (như gốc –CN có trong các hợp chất xianamit;hay gốc –P=O(S) trong các thuốc lân hữu cơ) biểu hiện đặc trưng tính độc củanó
Các thuốc BVTV có nguồn gốc khác nhau, nên cơ chế tác động của chúngcũng khác nhau
có kích thước lớn khó bám dính trên bề mặt vật phun nên thường bị rơi vãi thấtthoát nhiều, giảm lượng thuốc tồn tại trên vật phun Đối với côn trùng, kích
Trang 15thước hạt thuốc lớn sẽ khó xâm nhập vào miệng côn trùng, lượng thuốc xâmnhập vào cơ thể côn trùng bị giảm, hiệu lực của thuốc do thế cũng giảm theo.Với các thuốc bột thấm nước khi pha với nước tạo thành huyền phù, kích thướchạt lớn làm cho huyền phù dễ bị lắng đọng, khó trang trải đều trên bề mặt, dễlàm tắc vòi phun, rất khó sử dụng.
Hình dạng hạt thuốc ảnh hưởng nhiều đến độ bám dính và tính độc củathuốc Hạt thuốc xù xì, nhiều góc cạnh dễ bám dính trên bề mặt vật phun hơncác hạt thuốc trơn láng
Khả năng bám dính của thuốc là một trong những nhân tố kéo dài thêmhiệu lực của thuốc Thuốc có độ bám dính tốt, ít bị thất thoát do rửa trôi, chốngđược tác hại của ẩm độ, mưa và gió, lượng thuốc tồn dư trên cây nhiều và lâuhơn [6]
c Cường độ tác động
Cường độ tác động của chất độc đến cơ thể sinh vật phụ thuộc vào nồng
độ, thời gian tiếp xúc và mức tiêu dùng của thuốc BVTV
Nồng độ của thuốc BVTV là lượng độc chứa trong dạng thuốc đem dùnghoặc lượng hóa chất có trong không khí Nhìn chung nồng độ càng cao càng dễgây hại cho sinh vật
Mức tiêu dùng là lượng thuốc cần thiết để xử lý cho một đơn vị diện tíchhay thể tích Mức tiêu dùng phụ thuộc vào các loại dịch hại, loại cây (cây có tán
lá rộng, cần dùng với lượng thuốc nhiều hơn để có thể trang trải đều trên cây),vào tuổi của cây (cây lớn cần phun với lượng thuốc nhiều hơn), tình hình sinhtrưởng của cây (cây càng xanh tốt, phát triển mạnh càng cần lượng thuốc nhiềuhơn) và các loại thành phẩm (dạng thuốc hạt cần lượng nhiều hơn thuốc bộtngấm nước và dạng dung dịch)
Khi phun thuốc lên cây ở dạng lỏng, lượng dung dịch phun trên đơn vịdiện tích cũng mang đặc tính của mức tiêu dùng Ngoài ra khi sử dụng thuốc ở
Trang 16trải (khi dùng bơm động cơ, lượng nước có thể giảm đi nhưng nồng độ thuốcphải tăng lên tương ứng so với dùng các bơm tay nhưng không được thay đổimức tiêu dùng).
Quy mô sử dụng và số lần phun thuốc: Số lần phun thuốc càng nhiều, quy
mô dùng thuốc càng rộng, ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường càngmạnh, đặc biệt là các thuốc trừ sâu Ngoài ra, khoảng cách giữa các lần phuncàng ngắn, càng dễ tạo điều kiện tích lũy trên bề mặt vật phun, dễ gây ô nhiễmvới môi trường
Thời gian hiệu lực của thuốc càng dài, độ độc của thuốc đối với môitrường càng tăng Cùng một nồng độ, thời gian thể hiện triệu chứng ngộ độc,gây chết hay quật ngã cho sinh vật càng ngắn, thì loại thuốc đó càng độc
2.1.4.2 Đặc điểm của sinh vật
Các loài sinh vật có phản ứng rất khác nhau đối với một loại thuốc, ở cùngmột liều lượng, một phương pháp xử lý, thậm chí trên cùng một điểm xử lýnhưng có loài bị thuốc gây hại, loài khác lại không hay ít bị gây hại Ví dụ:Dung dịch Boocđo có thể diệt trừ nhiều loại nấm và vi khuẩn gây bệnh cho câynhưng lại có hiệu lực kém hoặc không diệt được loài nấm phấn trắng(Erisiphales) Thuốc trừ cỏ Ethoxysulfuron có khả năng diệt trừ mạnh cỏ cói lác
và cỏ lá rộng, nhưng lại ít có hiệu lực trừ cỏ hòa thảo đặc biệt là cỏ lồng vựcnước và không gây hại lúa
Nhìn chung các loài ký sinh thiên địch thường mẫn cảm với thuốc trừ sâuhơn các loài côn trùng và nhện gây hại
Mỗi một loại thuốc chỉ diệt được một số loài sinh vật, nên người ta đãchia thuốc BVTV thành các nhóm khác nhau để tiện cho việc sử dụng như thuốctrừ sâu, trừ bệnh, trừ cỏ…
Cùng một loài sinh vật, tính mẫn cảm của loài sinh vật ở các giai đoạnphát dục khác nhau cũng không giống nhau với từng loại thuốc Ví dụ: Giaiđoạn trứng và nhộng của côn trùng thường chống thuốc mạnh hơn giai đoạn sâu
Trang 17non và trưởng thành; cỏ non thường chống chịu thuốc kém hơn cỏ già (do khảnăng xâm nhập của thuốc vào cỏ già kém hơn vào cỏ non và khả năng trao đổichất của cỏ già cũng kém hơn cỏ non).
Tính mẫn cảm của chất độc còn có thể biến đổi theo ngày đêm Nhữngcôn trùng hoạt động ban ngày thường kém mẫn cảm với thuốc hơn vào ban đêm.Ngược lại, những côn trùng hoạt động ban đêmlại có khả năng chống chịu vớithuốc mạnh hơn ở ban ngày
Giới tính cũng ảnh hưởng đến sự chống chịu của thuốc Thông thườngkhả năng chống chịu của con đực kém con cái
Tính mẫn cảm của các cá thể sinh vật trong một loài, cùng giai đoạn phátdục với một loại thuốc cũng khác nhau Khi bị một lượng rất nhỏ chất độc tácđộng, có những cá thể bị hại rất nghiêm trọng nhưng có các cá thể khác không bịhại Đó là phản ứng cá thể của sinh vật gây nên do các loài sinh vật có cấu tạokhác nhau về hình thái, đặc trưng về sinh lý, sinh hóa khác nhau Những côntrùng đói ăn, sinh trưởng trong điều kiện khó khăn thường có sức chống chịu vớithuốc kém
2.1.4.3 Điều kiện ngoại cảnh
Yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng trực tiếp đến lý hóa tính của thuốc BVTV,đồng thời ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý của sinh vật và khả năng tiếp xúc vớithuốc, nên chúng ảnh hưởng đến tính độc của thuốc cũng như khả năng tồn lưucủa thuốc trên cây
a Những yếu tố thời tiết, đất đai
Tính thấm của màng nguyên sinh chất chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điềukiện ngoại cảnh như độ pH của môi trường, ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ,…Do tínhthấm thay đổi, khả năng xâm nhập của chất độc vào tế bào sinh vật cũng thayđổi, nói cách khác, lượng thuốc BVTV xâm nhập vào tế bào sinh vật nhiều ítkhác nhau, nên độ độc của thuốc thể hiện không giống nhau
Trang 18Theo Klaus (1995) thì nhiệt độ là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết địnhđến khả năng và tốc độ phân giải, xâm nhập của thuốc Do đó nó có ảnh hưởngtrực tiếp đến độ an toàn và hiệu quả của thuốc [20] Đại đa số các thuốc BVTV,trong phạm vi nhiệt độ nhất định (từ 10-400C), độ độc của thuốc với sinh vật sẽtăng khi nhiệt độ tăng.
Nhưng cũng có trường hợp, tăng hay giảm nhiệt độ của thuốc cũng khôngảnh hưởng nhiều đến độ độc của thuốc (như CuSO4.5H2O)
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng mạnh đến độ bền và tuổi thọ của sản phẩm.Nhiệt độ làm tăng phân hủy của thuốc, làm tăng sự lắng đọng của các giọt haycác hạt chất độc trong các thuốc dạng lỏng, gây phân lớp ở các thuốc dạng sữa,dạng huyền phù đậm đặc
Độ ẩm không khí và độ ẩm đất cũng tác động đến quá trình sinh lý củasinh vật cũng như độ độc của chất độc Độ ẩm của không khí và đất đã làm chochất độc thủy phân và hòa tan rồi mới tác động đến dịch hại Độ ẩm cũng tạođiều kiện cho thuốc xâm nhập vào cây dễ dàng hơn
Có trường hợp độ ẩm không khí tăng lại làm giảm tính độc của thuốc Độđộc của pyrethrin với Dendrolimus spp, giảm đi khi độ ẩm không khí tăng lên
Ngược lại, ẩm đọ cũng ảnh hưởng rất mạnh đến lý tính của thuốc, đặc biệtcác thuốc ở dạng rắn Dưới tác động của ẩm độ, thuốc dễ bị đóng vón, khó phântán và khó hòa tan
Nhiệt và ẩm độ ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của thuốc, nên khi bảoquản nhà sản xuất thường khuyên thuốc BVTV phải được cất nơi râm mát đểchất lượng thuốc không bị thay đổi
Lượng mưa vừa phải sẽ làm tăng khả năng hòa tan của thuốc trong đất.Nhưng mưa to, đặc biệt sau khi bón thuốc gặp mưa ngay, thuốc rất dễ bị rửa trôi,nhất là các dạng thuốc dạng bột, các thuốc chỉ có tác dụng tiếp xúc Vì vậykhông nên phun thuốc khi trời sắp mưa to
Trang 19Ánh sáng cũng có ảnh hưởng lớn đến quá trình phân giải của TTS Nhiềuloại thuốc bị mất hiệu lực hoàn toàn khi gặp điều kiện ánh sáng trực xạ và cường
độ cao Cũng có trường hợp cường độ ánh sáng càng mạnh, làm tăng cường độthoát hơi nước, tăng khả năng xâm nhập thuốc vào cây, do vậy hiệu lực củathuốc càng cao
Đặc tính hóa lý của đất ảnh hưởng đến hiệu lực của thuốc Khi bón vàođất, thuốc thường bị keo đất hấp phụ do trong đất có keo và mùn Hàm lượngkeo và mùn càng cao, thuốc càng được hấp phụ vào đất, lượng thuốc càng được
sử dụng càng nhiều, nếu không tăng lượng dùng, hiệu lực của thuốc bị giảm.Nhưng nếu thuốc được giữ lại nhiều quá, bên cạnh tác động giảm hiệu lực củathuốc, còn có thể ảnh hưởng đến cây trồng vụ sau, nhất là các loài cây mẫn cảmvới thuốc đó
Hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất có thể làm tăng hay giảm độ độccủa thuốc BVTV Theo Caridas (1952) thông báo trên đất trồng đậu tương cóhàm lượng lân cao sẽ làm tăng hiệu lực của thuốc Schradan Hackstylo (1955)lại cho biết trên đất trồng bông có hàm lượng đạm cao, hàm lượng lân thấp đãlàm giảm khả năng hấp thu Dimethoate của cây
Độ pH của đất có thể phân hủy trực tiếp thuốc BVTV trong đất và sự pháttriển của VSV đất Thông thường trong môi trường axit thì nấm phát triển mạnh,còn trong môi trường kiềm vi khuẩn lại phát triển nhanh hơn
b Những yếu tố về cây trồng và điều kiện canh tác
Khi điều kiện canh tác tốt, vệ sinh đồng ruộng tốt sẽ hạn chế được nguồndịch hại
Trong phòng trừ cỏ dại, tình hình sinh trưởng và phát triển của cây trồng
và cỏ dại mang một ý nghĩa quan trọng Khi mật độ cây trồng cao, cây phát triểnmạnh, cây càng già càng cạnh tranh với cỏ dại mạnh, nhiều khi không cần trừ
cỏ Nói chung, thực vật càng non càng dễ bị thuốc trừ cỏ tác động
Trang 20Dưới tác động của thuốc BVTV, cây trồng được bảo vệ khỏi sự phá hoạicủa dịch hại sẽ sinh trưởng và phát triển tốt Khi cây sinh trưởng tốt sẽ tạo ranguồn thức ăn dồi dào, dịch hại có đủ thức ăn, chất lượng thức ăn lại tốt nêndịch hại phát triển mạnh, có sức chịu đựng với thuốc tốt hơn Mặt khác khi câysinh trưởng tốt, cây phát triển rậm rạp, có lợi cho dịch hại ẩn náu, thuốc khótrang trải đồng đều, khó tiếp xúc được với dịch hại, lượng thuốc cần nhiều hơn,việc phòng trừ dịch hại trở nên khó khăn hơn, hiệu lực của thuốc bị giảm nhiều.
Trong điều kiện cây trồng được sinh trưởng tốt, số lượng dịch hại sống sót
do không tiếp xúc với thuốc sẽ sống trong điều kiện thuận lợi, ít bị cạnh tranhbởi các cá thể cùng loài, của các ký sinh thiên địch, nguồn thức ăn dồi dào, chấtlượng tốt, dễ hình thành tính chống thuốc, gây bùng phát số lượng Dưới tácđộng của thuốc, tính đa dạng của quần thể bị giảm, cả về chủng loại lẫn sốlượng Khi các loài ký sinh thiên địch bị hại, dễ làm cho dịch hại tái phá, có thểphát thành dịch, gây hại nhiếu cho cây trồng Khi dùng liên tục một hay một sốloại thuốc để phòng trừ các loại dịch hại chính sẽ làm cho các loại dịch hại thứyếu trước kia nay nổi lên thành dịch hại chủ yếu, được coi là xuất hiện một loàidịch hại mới
Tóm lại, ba nhân tố thuốc BVTV, sinh vật và ngoại cảnh là rất mật thiết,tương tác lẫn nhau, nhân tố này là tiền đề cho nhân tố kia hay ngăn cản nhân tốkia phát huy tác dụng
Trang 21Sơ đồ 2.1: Nội dung mối quan hệ qua lại giữa ba yếu tố : Thuốc, Dịch hại và
điều kiện ngoại cảnh tác động đến hiệu lực của thuốc BVTV.
Từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1960, các thuốc trừ dịch hại hữu cơ ra đời, làmthay đổi vai trò của biện pháp hóa học trong nông nghiệp:Ceresal- thuốc trừ nấm thủy ngân hữu cơ đầu tiên (1913), các thuốc trừ nấm lưuhuỳnh (1940) Thuốc trừ cỏ còn xuất hiện muộn hơn (những năm 40 của thế kỷ20) Việc phát hiện khả năng diệt côn trùng của DDT (1939) đã mở ra cuộc cách
Thuốc BVTV
- Bản chất hóa học
- Đặc tính vật lý
- Cường độ tác động
Điều kiện ngoại cảnh
- Điều kiện thời tiết, đất đai
- Điều kiện canh tác, cây trồng
Dịch hại
- Đặc tính sinh vật học
- Đặc tính sinh thái học
Trang 22mạng của biện pháp hóa học BVTV Hàng loạt các thuốc trừ sâu ra đời sau đó:Clo hữu cơ (1940 – 1950), các thuốc nông hữu cơ, các thuốc cacbamat (1945-1950) Lúc này người ta cho rằng: Mọi vấn đề BVTV đều có thể giải quyết bằngthuốc hóa học
Đến cuối những năm 1950, những hậu quả xấu của thuốc BVTV gây racho con người, môi sinh và môi trường được phát hiện Khái niệm phòng trừtổng hợp sâu bệnh ra đời
Những năm 1960-1980, việc lạm dụng thuốc BVTV đã ảnh hưởng rất xấucho môi sinh, môi trường, dẫn tới tình trạng: Nhiều chương trình phòng chốngdịch hại của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế dựa vào thuốc hóa học đã bịsụp đổ; tư tưởng sợ hãi, không dám dùng thuốc BVTV xuất hiện, thậm chí cóngười cho rằng, cần loại bỏ không dùng thuốc BVTV trong sản xuất nôngnghiệp
Tuy vậy, các loại thuốc BVTV mới có nhiều ưu điểm, an toàn hơn đối vớimôi sinh môi trường, như thuốc trừ cỏ mới, thuốc trừ sâu perethroid tổng hợp(1970), các thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học hay tác động sinh học, cácchất điều tiết sinh trưởng côn trùng và cây trồng vẫn liên tục ra đời Lượngthuốc BVTV được dùng trên thế giới không những không giảm mà còn tăng lênkhông ngừng Theo Chua and Ooi (1986), ở các vùng chuyên trồng rau ởMalaysia, có đến 88% người dân phun thuốc từ 1 – 2 lần/tuần, 12% còn lại phuntới 3 lần/tuần [18] Còn theo FAO (1996), ở Ấn Độ và Bangladesh, người dânphun thuốc tới 40 lần/vụ, thậm chí còn nhúng cả rau vào dung dịch thuốc sau khithu hoạch để tăng độ đẹp cảm quan cho sản phẩm [19]
Tuy nhiên, từ năm 1980 đến nay, vấn đề bảo vệ môi trường được quantâm hơn Nhiều loại thuốc BVTV mới, trong đó có nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinhhọc, có hiệu quả cao với dịch hại nhưng an toàn với môi trường ra đời Quanđiểm phòng trừ tổng hợp được phổ biến rộng rãi Ngành BVTV tiếp tục pháttriển nhanh chóng để có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất Các nhà máy hóa
Trang 23chất ra đời, hoạt động và xuất ra thị trường ngày càng nhiều sản phẩm Trên thếgiới có khoảng 900-1000 loại thuốc chính với khoảng 5000 loại chế phẩm khácnhau [6].
Sản lượng thuốc BVTV sản xuất và tiêu thụ hàng năm lên tới hàng triệutấn Theo thống kê điều tra số liệu năm 1990-1991 con số này là 25 triệu tấn.Tiêu thụ thuốc BVTV trên thế giới năm 1992 là 22,4 tỷ USD, tăng lên 27,8 tỷUSD trong năm 1998 và đạt 29,2 tỷ USD vào năm 2000 [7] Trong gần chụcnăm trở lại đây do quá trình thâm canh tăng vụ, mức độ sâu hại gia tăng kéotheo nhu cầu sử dụng thuốc BVTV cũng tăng nhanh
2.2.2 Tình hình quản lý và sử dụng hóa chất BVTV ở Việt Nam.
Ở Việt Nam sự ra đời của ngành Hóa bảo vệ thực vật ở Việt Nam đượcđánh dấu bằng việc thành lập Tổ Hóa bảo vệ thực vật (1/1956) của viện Khảocứu trồng trọt Thuốc BVTV được dùng lần đầu trong sản xuất nông nghiệp ởmiền Bắc là trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng Yên (vụ Đông xuân1956-1957) Ở miền Nam, thuốc BVTV được sử dụng từ năm 1962
Thời kỳ bao cấp, việc nhập khẩu, quản lý, phân phối thuốc do nhà nướcđộc quyền thực hiện Lượng thuốc BVTV không nhiều, khoảng 15000 tấn thànhphẩm/năm với khoảng 20 chủng loại thuốc trừ sâu (chủ yếu) và thuốc trừ bệnh
Đa số các loại thuốc có độ tồn dư lâu trong môi trường hoặc có độ độc cao Việcquản lý thuốc lúc này khá dễ dàng Thuốc giả kém chất lượng ít có điều kiệnphát triển
Tuy nhiên lúc này, thuốc BVTV dùng tràn lan, hiện tượng phun phòngxảy ra khá phổ biến, khuynh hướng phun sớm, phun định kỳ ra đời, thậm chícòn dùng thuốc vào cả những thời điểm không cần thiết; tình trạng dùng thuốckhông đúng kỹ thuật nảy sinh khắp nơi Thuốc đã để lại những hậu quả xấu đếnmôi trường và sức khỏe con người Khi nhận ra những hậu quả xấu, cộng vớituyên truyền quá mức về tác hại của chúng đã gây nên tâm lý sợ thuốc, nhiều ý
Trang 24Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, tăng diện tích, do thay đổi cơcấu giống cây trồng nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn Vì vậy sốlượng và chủng loại thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên Nếu như trước năm
1985 khối lượng thuốc BVTV dùng hàng năm khoảng 6.500 đến 9.000 tấn thànhphẩm quy đổi và lượng thuốc sử dụng bình quân khoảng 0,3 kg hoạt chất /ha thìthời gian từ năm 1991 đến nay lượng thuốc sử dụng biến động từ 25- 38 ngàntấn Đặc biệt năm 2006 lượng thuốc BVTV nhập khẩu là 71.345 tấn Cơ cấuthuốc BVTV sử dụng cũng có biến động: thuốc trừ sâu giảm trong khi thuốc trừ
cỏ, trừ bệnh gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại Nguyên nhân của sự biếnđộng này là do từ năm 1992 nền nông nghiệp Việt Nam đã áp dụng rất có kếtquả chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) Nhiều hộ nông dân đã biết
áp dụng các biện pháp kỹ thuật phòng trừ tổng hợp trong sản xuất và chỉ phunthuốc khi cần thiết theo sự chỉ đạo của cơ quan BVTV Tại các địa phương có ápdụng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp IPM số lần phun thuốc đã giảm đi.Kết quả này chứng minh rằng chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp IPM làmột trong các biện pháp hữu hiệu nhằm tránh nguy cơ ô nhiễm môi trường do
sử dụng thuốc BVTV
Nhìn chung tập quán canh tác và diện tích trồng lúa lớn nên các tỉnh vùngđồng bằng nông dân sử dụng nhiều thuốc BVTV hơn (1,15-2,26 kg thành phẩm/ha/năm) so với các tỉnh miền núi (0,23 kg thành phẩm/ha/ năm)
Do nhu cầu sử dụng thuốc BVTV tăng, các cơ sở kinh doanh, buôn bánmặt hàng thuốc BVTV cũng ngày càng gia tăng Mặc dù BVTV là một mặt hàngkinh doanh có điều kiện nhưng không phải cơ sở nào cũng có đầy đủ các điềukiện như quy định Kết quả thanh tra 14.570 lượt cửa hàng, đại lý kinh doanhthuốc BVTV năm 2006 cho thấy có 14,8% vi phạm các quy định về kinh doanhthuốc BVTV Trình độ của người kinh doanh thuốc BVTV còn thấp so với yêucầu trong khi theo điều tra có tới trên 90% nông dân tìm hiểu cách sử dụngthuốc BVTV trực tiếp từ người bán thuốc
Trang 25Hầu hết các loại thuốc BVTV sử dụng trong nông nghiệp Việt Nam đềunhập khẩu từ nước ngoài Khối lượng thuốc BVTV nhập khẩu tăng từ 13.000-15.000 tấn/năm những năm đầu thập kỷ 90 lên 33.000-38.000 tấn những năm
2000 Đặc biệt các năm 2005 và 2006 do bùng phát dịch rầy nâu và vàng lùnxoắn lá tại các tỉnh Nam bộ nên lượng thuốc BVTV nhập khẩu đã tăng lên51.000 tấn (2005) và 71.000 tấn (2006) Hiện tượng nhập lậu các loại thuốcBVTV (bao gồm cả thuốc cấm, thuốc ngoài danh mục, thuốc hạn chế sử dụng)đang là vấn đề chưa thể kiểm soát nổi Hàng năm vẫn có một khối lượng lớnthuốc BVTV nhập lậu vào nước ta Tình trạng các thuốc BVTV tồn đọng không
sử dụng, nhập lậu bị thu giữ đang ngày càng tăng lên về số lượng và chủng loại.Điều đáng lo ngại là hầu hết các loại thuốc BVTV tồn đọng này được lưu giữtrong các kho chứa tồi tàn hoặc bị chôn vùi dưới đất không đúng kỹ thuật nênnguy cơ thẩm lậu và dò rỉ vào môi trường là rất đáng báo động Cùng với thuốcBVTV tồn đọng, các loại thuốc và bao bì, đồ đựng thuốc BVTV đang là nguy cơ
đe dọa sức khoẻ cộng đồng và gây ô nhiễm môi trường nếu không áp dụng ngaycác biện pháp giải quyết khẩn cấp
Các cơ sở gia công, sang chai, đóng gói thuốc BVTV vẫn còn một số cơ
sở chưa quan tâm đúng mức đến việc cải tiến công nghệ còn sử dụng các dâychuyền công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm Đặc biệt là hệ thống xử lý chất thải chưađạt các tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường [15]
Những năm qua, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) về thuốcBVTV đã được xây dựng và hoàn thành trên cơ sở hướng dẫn của FAO, UNEP,WHO, Hài hòa các nguyên tắc quản lý thuốc BVTV của các nước ASEAN, cácCông ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Các văn bản QPPL quy định việcquản lý thuốc BVTV ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Pháp lệnh Bảo vệ và Kiểmdịch thực vật năm 2001; Điều lệ Quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theoNghị định số 58/2002/NĐ-CP ngay 3/6/2002) của Chính phủ; Thông tư số
Trang 26nhập khấu, sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, ghi nhãn, sử dụng, vậnchuyển, bảo quản, quảng cáo, khảo nghiệm, kiểm định chất lượng và dư lượngthuốc BVTV; Thông tư số 77/2009/TT-BKNPTNT quy định về kiểm tra nhànước chất lượng thuốc BVTV nhập khẩu; Danh mục thuốc BVTV được phép sửdụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam của Bộ NN& PTNT banhành hàng năm; Các Quy chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn Việt Nam, Tiêu chuân chátlượng thuốc BVTV về cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, quy tình kiểm tra sửdụng thuốc BVTV trên cây trồng và các văn bản hướng dẫn khác của CụcBVTV [7]
Thực tế những năm qua cho thấy, khi nông dân áp dụng các tiến bộ kỹthuật (TBKT) như IPM, "3 giảm 3 tăng", thâm canh lúa cải tiến SIR, thực hànhnông nghiệp tốt VietGap, công nghệ sinh thái BVTV việc sử dụng hóa chấtBVTV giảm 30-60%, trong khi năng suất vẫn tăng 5-10%, lợi nhuận tăng 8-16%, nông sản đạt tiêu chuẩn an toàn Năm 2010, cả nước có khoảng 1,5 triệu
ha áp dụng các TBKT nêu trên Nếu áp dụng trên diện tích 5-7 triệu ha, đã cóthể giảm 20-30% lượng thuốc BVTV sử dụng hằng năm
Tuy nhiên cần sớm xây dựng chiến lược sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ởViệt Nam trong 10-15 năm tới, với các định hướng chủ yếu sau: Giảm nguy cơ,giảm sử dụng thuốc BVTV; Nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc BVTV cả về kỹthuật, sản xuất, kinh tế, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và sức khỏecộng đồng; Bảo đảm an toàn trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật; Nâng caonhận thức, hiểu biết và trách nhiệm xã hội của người sử dụng thuốc BVTV [13]
2.3 Giới thiệu chung về nông nghiệp hữu cơ
2.3.1 Khái niệm nông nghiệp hữu cơ
Nông nghiệp hữu cơ (NNHC), theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, là hệthống canh tác và chăn nuôi tự nhiên, không sử dụng hóa chất làm phân bón vàthuốc trừ sâu, giúp giảm thiểu ô nhiễm, bảo đảm sức khỏe cho người và vậtnuôi
Trang 27Tại Hội nghị LHQ về “Nông nghiệp hữu cơ và An ninh lương thực” vừa
diễn ra ở Rome (Italia), các chuyên gia Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp vàthực phẩm hữu cơ Đan Mạch nhận định: So với phương thức canh tác tự nhiêntruyền thống, nông dân sẽ không phải tốn tiền mua thuốc và phân hóa học, đồngthời có thể đa dạng hóa mùa vụ và canh tác theo hướng bền vững Hơn nữa, nếunông sản được chứng nhận là thực phẩm hữu cơ, người trồng có thể xuất khẩuvới giá cao hơn nông sản bình thường
Theo Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO), nền NNHC có khả năng bảođảm đủ nguồn cung cấp lương thực nuôi sống dân số trên thế giới hiện nay songsong với giảm thiểu những tác động có hại cho môi trường
Tóm lại, nông nghiệp hữu cơ là một hình thức sản xuất tránh hoặc loại bỏphần lớn việc sử dụng phân bón tổng hợp, thuốc trừ sâu, các chất điều tiết tăngtrưởng của cây trồng, và các chất phụ gia trong thức ăn gia súc Các nông dân canh tác theo hình thức nông nghiệp hữu cơ dựa tối đa vào việcquay vòng mùa vụ, các phần thừa sau thu hoạch, phân động vật và việc canh tác
cơ giới để duy trì năng suất đất để cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng,
và kiểm soát cỏ, côn trùng và các loại sâu bệnh khác Mục đích hàng đầu củanông nghiệp hữu cơ là tối đa hóa sức khỏe và năng suất của các cộng đồng độclập về đời sống đất đai, cây trồng, vật nuôi và con người
Theo tổ chức nông nghiệp hữu cơ quốc tế IFOAM: "Vai trò của nôngnghiệp hữu cơ, dù cho trong canh tác, chế biến, phân phối hay tiêu dùng, lànhằm mục đích duy trì sức khỏe của hệ sinh thái và các sinh vật từ các sinh vật
có kích thước nhỏ nhất sống trong đất đến con người." Nhìn chung canh tác Nông nghiệp hữu cơ sẽ cải thiện và duy trì cảnh quan tựnhiên và hệ sinh thái nông nghiệp, tránh việc khai thác quá mức và gây ô nhiễmcho các nguồn lực tự nhiên, giảm thiểu việc sử dụng năng lượng và các nguồnlực không thể tái sinh, sản xuất đủ lương thực có dinh dưỡng, không độc hại, và
Trang 28tăng độ màu mỡ lâu dài cho đất, củng cố các chu kỳ sinh học trong nông trại,đặc biệt là các chu trình dinh dưỡng, bảo vệ cây trồng dựa trên việc phòng ngừathay cho cứu chữa, đa dạng các vụ mùa và các loại vật nuôi, phù hợp với điềukiện địa phương,…
2.3.2 Nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam và triển vọng
Cho đến thập kỷ 60 thế kỷ XX, nền nông nghiệp Việt Nam được xem lànông nghiệp sạch Nguồn hữu cơ chủ yếu được sử dụng là phân bón, bao gồmphân chuồng trại, tro rơm rạ, bèo hoa dâu và các nguồn phân xanh cũng như cácchất phế thải từ nguồn hoa màu Tuy nhiên, do sức ép về dân số, tài nguyên đấttrở nên hạn hẹp về số lượng và xuống cấp về chất lượng, do nhu cầu an toànlương thực và xuất khẩu, nền nông nghiệp sạch Việt Nam đã chuyển sang nềnnông nghiệp sử dụng phân bón vô cơ Việc sử dụng quá nhiều phân bón vô cơ
đã có tác động xấu đến môi trường, đặc biệt gây ô nhiễm nguồn nước và đất, ảnhhưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, tạo nên nhu cầu về sản phẩm an toàn donền nông nghiệp sạch cung cấp
Để khắc phục những nhược điểm trên, nông nghiệp nước ta đang từngbước chuyển dịch sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ Trên thịtrường, người dân đã biết đến và đang làm quen dần với các sản phẩm nông sảnsạch như: Rau sạch, rau an toàn và một số hoa quả, thực phẩm an toàn
Hiện nay, vấn đề thực phẩm sạch được người dân đặc biệt chú ý quantâm, vì nó liên quan đến sức khoẻ con người
Nông nghiệp hữu cơ được dựa trên các kiến thức khoa học kết hợp với sựmàu mỡ của đất đai và các biện pháp cải tạo đất để đảm bảo chất lượng sảnphẩm Nông nghiệp hữu cơ mới phát triển vài năm gần đây ở Việt Nam, do vậy,quy mô còn rất nhỏ và mang tính thử nghiệm, nhưng nông nghiệp hữu cơ đã cósức hấp dẫn và thu hút được sự quan tâm của người sản xuất và tiêu dùng Bởi
vì, nông nghiệp hữu cơ đã sử dụng các biện pháp và quá trình canh tác được coi
là lành mạnh về sinh thái và bền vững Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có chất
Trang 29lượng cao và đảm bảo an toàn cho sức khoẻ con người Trong nông nghiệp hữu
cơ, nông dân không sử dụng phân bón hóa học và các chất kích thích tăngtrưởng; không sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật hoặc các chất diệt cỏ ;nông nghiệp hữu cơ từ chối sử dụng các chế phẩm biến đổi gen
Nếu chúng ta làm một phép tính so sánh về chi phí sẽ thấy: chi phí muanguyên vật liệu để sản xuất ra phân hữu cơ giảm 30% so với chi phí mua phânbón hóa học Vì hệ thống canh tác này hướng tới tăng cường sinh thái tự nhiênhơn là phá hoại tự nhiên Nó chủ yếu dựa vào các nguồn sẵn có tại chỗ được tậndụng tối đa để bồi hoàn cho đất, góp phần giữ gìn sinh thái
Lào Cai, Tuyên Quang, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hà Nội là 6tỉnh đầu tiên được thử nghiệm chương trình này Cụ thể là tập huấn trồng lúahữu cơ cho nhóm nông dân xã Tả Vai, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai; tập huấn trồngvải hữu cơ cho nhóm nông dân xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, Bắc Giang; tậphuấn rau hữu cơ cho nhóm nông dân xã Phù Lưu, huyện Hàm Yên, TuyênQuang, xã Định Phúc, TP Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, xã Đình Bảng, Bắc Ninh; vàtập huấn thủy sản hữu cơ cho nhóm nông dân ở Tân Dân, Hải Phòng
Nông dân hữu cơ ở Sóc Sơn đã đưa ra báo cáo tổng kết giá trị kinh tế trênruộng cải bắp, cà chua theo phương pháp canh tác hữu cơ Tổng thu nhập là 48triệu/sào cà chua so với thông thường 20 triệu/sào cà chua Chi phí sản xuất:922.000 đồng/ruộng cà chua so với thông thường là 945.000 đồng/ruộng càchua Lợi nhuận thu về 38.780.000 đồng so với thông thường là 19.055.000đồng
Riêng ruộng cải bắp do đợt ngập úng tháng 11 năm ngoái, sản lượng hữu
cơ chỉ có 400kg/ruộng cải bắp nhưng bán ra 10.000 đồng/kg so với sản lượng vô
cơ 1,4 tấn/ruộng cải bắp với giá bán ra 2.500 đồng/kg
Bảng 2.2: Báo cáo giá trị kinh tế canh tác hữu cơ cà chua và cải bắp ở Sóc Sơn
Trang 30Hữu cơ Thông thường Hữu cơ Thông
thườngDoanh thu 40 triệu
đồng/sào
20 triệuđồng/sào 4.000.000đ 3.500.000đChi phí 922.000đ/ruộng 945.000đ/ruộng
có thể trồng luân canh và sử dụng phân xanh để tăng độ màu cho đất
Tuy nhiên do thiếu vốn đầu tư, tốn nhiều thời gian cho công đoạn chuẩn
bị, thêm vào đó, khả năng sản xuất lớn của NNHC hạn chế do diện tích nôngnghiệp ngày càng bị thu hẹp, lại chưa có chuẩn sản phẩm hữu cơ, …nên NNHCcũng gặp nhiều khó khăn
Tóm lại, NNHC với lợi ích lâu dài mà nó mang lại cần phải được pháttriển và mở rộng ở Việt Nam Điều này đòi hỏi sự quan tâm của các Bộ, banngành của Chính phủ tạo điều kiện nghiên cứu và tuyên truyền phát triển mởrộng [14]
Trang 31PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn xã Minh Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Minh Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
3.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2.2 Thực trạng sản xuất đất nông nghiệp
3.2.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV
3.2.4 Thực trạng quản lý thuốc BVTV
3.2.5 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu việc sử dụng và tác hại của thuốc BVTV
3.3 Phương pháp nghiên cứu.
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Minh Dân
- Thu thập số liệu về hiện trạng môi trường, tình hình quản lý môi trường trên địa bàn xã Minh Dân
- Tìm các thông tin từ tài liệu đã công bố (sách, báo cáo khoa học,
internet) về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu khoa học
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Phỏng vấn 3 đối tượng: cán bộ quản lý,
Trang 32- Phương pháp quan sát: Đánh giá bằng cảm quan qua quan sát thực tế tình hình môi trường.
- Phương pháp chuyên gia :Tham khảo ý kiến của các nhà quản lý trên địabàn, nhà khoa học…
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu:
- Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel