Báo cáo gồm các phần sau: Phần thứ nhất: Đánh giá chung về công tác quy hoạch Phần thứ hai: Kết quả và tình hình thực hiện quy hoạch giai đoạn 2001 2008 Phần thứ ba: Điều chỉnh, bổ sung đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Phần thứ tư: Đề xuất một số giải pháp chính và tổ chức thực hiện
Trang 1RÀ SOÁT, ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
TỈNH HÀ TĨNH
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Hà Tĩnh có diện tích 602.650 ha, trong đó đất dành cho nông nghiệp 486.978
ha, chiếm 80,8% diện tích tự nhiên của tỉnh Dân số toàn tỉnh 1.280.549 người,trong đó sống ở nông thôn 1.123.824 người, chiếm 87,8% tổng dân số; lao độngnông nghiệp 435.400 người, chiếm 70,4% lao động xã hội; GDP nông nghiệp năm
2008 chiếm 37,63% tổng GDP toàn tỉnh Với cơ cấu dân số, lao động và kinh tếnhư vậy, có thể khẳng định rằng nông nghiệp - nông thôn đã, đang và tiếp tục có
vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo anninh, chính trị của tỉnh nhà
Ngay từ ngày đầu tái lập tỉnh, công tác điều hành, chỉ đạo trên lĩnh vực nôngnghiệp-nông thôn luôn được Tỉnh uỷ, HĐND và Uỷ ban nhân tỉnh quan tâm Quyhoạch phát triển Nông nghiệp - Nông thôn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010 đã đượcxây dựng và được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1399
lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản, thuỷ lợi, các cây trồng, vật nuôi chủ yếu và một sốlĩnh vực khác cũng đã được xây dựng và chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Đặc biệt,
để tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn, Tỉnh uỷ đã ban hành Nghịquyết 08/NQ-TU về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009-
2015 và định hướng đến năm 2020, đây là bước chuyển lớn trong điều hành, chỉđạo cho phát triển nông nghiệp-nông thôn tỉnh nhà
Như vậy, vấn đề phát triển nông nghiệp-nông thôn đã đặt ra yêu cầu mới.Các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp mà quy hoạch NN-NT đến 2010 đã đưa ra sẽkhông còn phù hợp, cần có sự rà soát, điều chỉnh đáp ứng với yêu cầu của giaiđoạn mới Thực hiện nhiệm vụ Uỷ ban nhân dân tỉnh giao tại Quyết định số 3390/QĐ-UBND ngày 27/12/2007, trên cơ sở đề cương nhiệm vụ được UBND tỉnh phêduyệt tại Quyết định số 2383/QĐ-UBND ngày 03/12/2008, Sở Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn đã tiến hành rà soát lại Quy hoạch phát triển Nông nghiệp -Nông thôn đã được xây dựng, đánh giá tình hình quản lý và tổ chức thực hiện quyhoạch Trên cơ sở đó điều chỉnh, bổ sung một số chỉ tiêu đảm bảo phù hợp vớitình hình và yêu cầu mới
Nội dung Báo cáo “Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển Nôngnghiệp - Nông thôn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” gồmcác phần sau:
Phần thứ nhất: Đánh giá chung về công tác quy hoạch
Phần thứ hai: Kết quả và tình hình thực hiện quy hoạch giai đoạn 2001
-2008
Phần thứ ba: Điều chỉnh, bổ sung đến năm 2010, định hướng đến năm 2020Phần thứ tư: Đề xuất một số giải pháp chính và tổ chức thực hiện
Trang 3Phần thứ nhất ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH
I CÔNG TÁC LẬP QUY HOẠCH
1 Những kết quả đã đạt được
Trong những năm qua, công tác quy hoạch đã được quan tâm xây dựng trêntất cả các lĩnh vực: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ sản, Thuỷ lợi Các quyhoạch đã được xây dựng gồm:
- Quy hoạch tổng thể phát triển Nông nghiệp - Nông thôn tỉnh Hà Tĩnh đếnnăm 2010 đã được xây dựng và phê duyệt năm 2002;
- Quy hoạch phát triển các loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu tỉnh Hà Tĩnh giaiđoạn 2007-2010 và định hướng đến năm 2020 được xây dựng và phê duyệt năm2008
- Quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Hà Tĩnh được xây dựng và phê duyệt năm 2006
và được điều chỉnh năm 2008;
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2009 - 2020được xây dựng và phê duyệt năm 2009
- Chiến lược phát triển thuỷ sản;
- Quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Hà Tĩnh thời kỳ 2001-2010được xây dựng và phê duyệt năm 2002;
- Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản trên cát đến năm 2010 được xây dựng vàphê duyệt năm 2004;
- Quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn2005-2010 được xây dựng và phê duyệt năm 2006;
- Quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn2006-2010, định hướng đến 2015 (rà soát sửa đổi) được xây dựng và phê duyệtnăm 2007;
- Quy hoạch một số điểm dịch vụ hậu cần nghề cá như: Cảng cá, bến cá, khuneo đậu tránh trú bão
- Chiến lược phát triển thuỷ lợi tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006 - 2020 được phêduyệt năm 2007;
- Quy hoạch Thuỷ lợi sông Nghèn được xây dựng và phê duyệt năm 2000
- Quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Cả được xây dựng
và phê duyệt năm 2004
- Quy hoạch phát triển nguồn nước lưu vực sông Trí - Nam Kỳ Anh và vùngphụ cận được xây dựng và phê duyệt năm 2008
- Quy hoạch bố trí dân cư vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới trênđịa bàn tỉnh đến năm 2010, định hướng đến năm 2015 được xây dựng và phêduyệt năm 2007
- Quy hoạch sản xuất chế biến, lưu thông muối đến 2010 tỉnh Hà Tĩnh, đượcxây dựng và phê duyệt năm 2001
Trang 4- Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn đến 2010 tỉnh Hà Tĩnh đượcxây dựng và phê duyệt năm 2003;
Các quy hoạch đã phục vụ tốt cho công tác quản lý, chỉ đạo, góp phần vàotăng trưởng của ngành Nông nghiệp - Nông thôn Phần lớn chỉ tiêu của các quyhoạch được lập đều phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địaphương nên đảm bảo có tính khả thi cao
2 Một số tồn tại, hạn chế
- Công tác lập quy hoạch chưa thực hiện theo quy trình, còn mang tính chắp
vá, thiếu chổ nào làm chổ đó, chưa đảm bảo tính chọn lọc để tạo ra một kịch bảncho phát triển Nông nghiệp - Nông thôn
- Công tác điều tra cơ bản, cập nhật hiện trạng còn yếu nên thông tin phục
vụ cho xây dựng chiến lược, quy hoạch thiếu, độ tin cậy thấp
- Việc phối, kết hợp quy hoạch giữa các lĩnh vực trong ngành cũng như vớicác ngành khác có liên quan chưa thực sự gắn kết được với nhau, chưa đáp ứngđược yêu cầu khai thác tổng hợp đa mục tiêu, còn có sự chồng chéo giữa quyhoạch của các ngành và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương
- Phần lớn các quy hoạch phát triển trong nông nghiệp và nông thôn đangdừng lại ở quy hoạch chung cấp tỉnh Cấp huyện, xã hầu như chưa thực sự đượcquan tâm, không tổ chức triển khai xây dựng quy hoạch cho cấp mình vì vậy trongquá trình tổ chức sản xuất có sự chồng chéo, trùng lặp
- Do tầm nhìn hạn chế nên các quy hoạch chỉ phù hợp trong thời gian ngắn,sớm lạc hậu so với thực tiễn nhưng việc điều chỉnh, bổ sung chưa thực hiện đượckịp thời
- Năng lực của một số đơn vị tư vấn còn hạn chế nên chất lượng của một sốquy hoạch còn chưa cao
II CÔNG TÁC QUẢN LÝ QUY HOẠCH
1 Những kết quả đã đạt được
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan quản lý nhà nước về cácquy hoạch thuộc Ngành, trong thời gian qua đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụcủa mình Công tác quản lý quy hoạch đang dần được đi vào nề nếp và có chấtlượng Những công việc đã triển khai thực hiện tốt gồm:
- Công tác lập quy hoạch ngành và lĩnh vực: Đã xây dựng quy hoạch tổngthể và quy hoạch cho các lĩnh vực đảm bảo theo đúng niên độ quy định
- Nghiệm thu, thẩm định các quy hoạch đúng nội dung và đảm bảo chấtlượng, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt kịp thời
- Sau khi quy hoạch được phê duyệt đã tổ chức công bố
- Công tác lập kế hoạch hàng năm cơ bản đã bám sát các chỉ tiêu của quyhoạch đã đề ra
Trang 52 Một số tồn tại, hạn chế
- Thiếu đầu mối quản lý, cập nhật quy hoạch
- Việc công bố quy hoạch làm chưa đúng quy trình
- Công tác quản lý quy hoạch chưa chặt chẽ, chưa thực hiện đầy đủ các quyđịnh của Nhà nước đã ban hành
- Công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc xây dựng và tổ chức thực hiệnquy hoạch chưa đi vào nền nếp, nên công tác điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chưađược triển khai kịp thời
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1 Những kết quả đã đạt được
Trong thời gian qua, Ngành Nông nghiệp & PTNT đã bám các quy hoạch đểchỉ đạo thực hiện, xây dựng các chương trình, dự án, đề xuất xây dựng các quyhoạch cụ thể đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng
Trên cơ sở quy hoạch tổng thể của tỉnh, một số địa phương đã triển khaithực hiện khá tốt nên đã góp phần phát triển sản xuất, khai hoang mở rộng diệntích, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, hình thành nhiều vùng sản xuất tậptrung, chuyên canh, sản xuất hàng hoá có hiệu quả nhất định về kinh tế - xã hộicũng như bảo vệ môi trường sinh thái
2 Một số tồn tại, hạn chế
- Cấp huyện, xã hầu như chưa thực sự quan tâm nên việc tổ chức triển khaithực hiện quy hoạch của tỉnh còn hạn chế, sản xuất phát triển tự phát không theoquy hoạch; mặt khác chưa quan tâm dành nguồn lực để tổ chức thực hiện Sự phốikết hợp giữa Ngành cấp tỉnh và chính quyền địa phương cấp huyện, TP, thị xã cònchưa chặt chẽ
- Một số dự án, công trình chưa được quy hoạch, nhưng vẫn được thẩm định
và đầu tư xây dựng, một số địa phương tự ý xây dựng các công trình không theoquy hoạch, ảnh hưởng đến quy hoạch tổng thể (nhất là lĩnh vực thuỷ lợi)
- Một số dự án xây dựng chưa tuân thủ quy hoạch dẫn đến khi công trìnhđưa vào sử dụng có những bất cập đáng kể làm phá vỡ quy hoạch theo hệ thống.Một số công trình xây dựng không theo quy hoạch, hoặc xây dựng không phù hợpvới chế độ của cây trồng và tập quán canh tác
- Một số giải pháp, chính sách đã đề ra trong quy hoạch nhưng trong quátrình triển khai thực hiện chưa ban hành kịp thời, một số chính sách đã ban hànhthì không đủ các điều kiện đảm bảo (nhất là vốn ngân sách) dẫn đến chậm tiến độhoặc không thực hiện được
Trang 6Phần thứ hai KẾT QUẢ VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH
GIAI ĐOẠN 2001 - 2008
I CÁC MỤC TIÊU CỦA QUY HOẠCH NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
ĐẾN NĂM 2010 ĐÃ ĐƯỢC XÂY DỰNG
Quy hoạch tổng thể phát triển Nông nghiệp - Nông thôn tỉnh Hà Tĩnh đến
ngày 26/6/2002 Trong thời gian qua quy hoạch tổng thể tuy chưa được điềuchỉnh, bổ sung nhưng trong quá trình xây dựng quy hoạch phát triển các lĩnh vực,các sản phẩm chủ yếu đã có sự điều chỉnh cho một số mục tiêu liên quan, vì vậycác mục tiêu phát triển dưới đây có sự sai khác so với mục tiêu đã phê duyệt tại
được xây dựng và điều chỉnh như sau:
- Tổng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản đạt 4.000 tỷ đồng, chiếm 36-38% GDPcủa tỉnh
- Giá trị sản xuất đạt 5.642 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng: 6-6,2% Cơ cấuNông - Lâm - Thuỷ sản: 67% - 10% - 23%
- Sản lượng lương thực có hạt 55 vạn tấn
- Thịt hơi các loại đạt 6,7 vạn tấn
- Mủ cao su khô 2.118 tấn
- Cây ăn quả 8,1 vạn tấn
- Kim ngạch xuất khẩu đạt 60 triệu USD
- Độ che phủ của rừng đạt 53%
- Sản lượng nhựa thông 2,2 vạn tấn
- Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng đạt 3,4 vạn tấn, trong đó nuôi mặn lợ 1,1vạn tấn
- Sản lượng muối 4,1 vạn tấn
- 100% hộ nông dân có nhà kiên cố và bán kiên cố, giảm hộ nghèo xuống10% (theo tiêu chí cũ)
II KẾT QUẢ SẢN XUẤT VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH
TRÊN CÁC LĨNH VỰC
1 Về giá trị
1.1 Tổng sản phẩm Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản
Giai đoạn 2001-2008, tốc độ tăng GDP bình quân 10,07%/năm, trong đóNông - Lâm - Thủy sản tăng 2,75%/ năm Cơ cấu GDP khu vực Nông - Lâm -Thủy sản giảm dần, từ 49,88% xuống 37,63% (mục tiêu đến 2010 là 36-38%).Tổng sản phẩm Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản năm 2008 đạt 4.107 tỷ đồng Cơcấu và tốc độ tăng GDP các năm như sau:
Trang 7GDP theo giá so sánh (tỷ đ) Tốc độ tăng (%) Năm Tổng Nông-lâm
-thuỷ sản
CN - Xây dựng Dịch vụ Chung
TS
N-L- XD
CN-Dịch vụ
TS
N-L- XD
CN-Dịch vụ
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008 và QH phát triển NN-NT đến năm 2010
1.2 Giá trị sản xuất Nông, Lâm nghiệp và Thuỷ sản
Giai đoạn 2001 - 2008, GTSX nông, lâm, thuỷ sản từ 2.122,7 tỷ đồng, tănglên 2.742,5 tỷ đồng (giá so sánh), tốc độ tăng bình quân đạt 3,73%/năm (so vớimục tiêu đề ra thì chưa đạt) GTSX theo giá thực tế đạt 7.364/7.542 tỷ đồng củamục tiêu đến năm 2010, đạt 97,6%
Trong nông nghiệp: chăn nuôi từ 29,73% tăng lên 32,58%; trồng trọt từ67,33% xuống còn 65,32%;
Trong lâm nghiệp: cơ cấu giá trị khoanh nuôi trồng rừng - khai thác - dịch
Trang 8GTSX theo giá so sánh (tỷ đ) Tốc độ tăng (%)
nghiệp
Lâm nghiệp
Thuỷ sản Chung
Nông nghiệp
Lâm nghiệp
Thuỷ sản
Thuỷ sản Tổng
Nông nghiệp
Lâm nghiệp
Thuỷ sản
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2008 và QH cây, con chủ yếu
1.3 Xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản
Giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản từ 9,8 triệu USD tăng lên 32,46 triệuUSD (bình quân tăng 22,6%/năm), trong đó: Nông nghiệp từ 5,28 triệu USD tănglên 6,74 triệu USD, lâm nghiệp từ 1,53 triệu USD tăng lên 19,4 triệu USD, thuỷsản từ 2,98 triệu USD tăng lên 6,32 triệu USD Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu gồm:lạc nhân, dăm gỗ, thuỷ sản đông lạnh
1.4 Tình hình thực hiện quy hoạch
- Tổng sản phẩm năm 2008 đạt 102,68% so với mục tiêu đến năm 2010
- GTSX đạt 97,6% so với mục tiêu đến năm 2010
- Xuất khẩu đạt 54,1% so với mục tiêu đến năm 2010
Các chỉ tiêu về giá trị cơ bản đạt và vượt so với quy hoạch đã đề ra Riêng
về giá trị xuất khẩu đạt thấp, một mặt do việc sản xuất các mặt hàng có khả năngxuất khẩu phát triển chậm, mặt khác thì năng lực xuất khẩu trực tiếp của tỉnh cònyếu, phần lớn phải qua trung gian hoặc xuất khẩu tiểu ngạch nên số liệu phản ánhchưa chính xác
Trang 92 Lĩnh vực Nông nghiệp
2.1 Về trồng trọt
2.1.1 Cây lương thực
a- Cây lúa: Diện tích gieo trồng năm 2001 đạt 108.300 ha, cơ cấu mùa vụ
Ðông xuân - Hè thu - Mùa là 51,5% - 33,7% - 14,8% thì đến 2008 giảm xuống còn100.476 ha và cơ cấu là 53,1% - 40,4% - 6,6% (bình quân giảm 1.118 ha/năm)
Năng suất từ 38,24 tạ/ha đã tăng lên 44,36 tạ/ha (BQ 3,76%/năm); sản lượng
từ 41,4 vạn tấn lên 46,5 vạn tấn (năm 2007 do ảnh hưởng của cơn bão số 2 nên sảnlượng chỉ đạt 38,8 vạn tấn)
Vùng trọng điểm lúa tập trung chủ yếu ở Ðức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà,Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, TP Hà Tĩnh và TX Hồng Lĩnh với diện tích gieo trồngkhoảng 80 ngàn ha, chiếm 82% diện tích trồng lúa của tỉnh
b- Cây ngô: Năm 2001 có 2.355 ha, sản lượng 6.139 tấn và tăng khá nhanh
qua các năm, đến năm 2008 đạt 9.816 ha, sản lượng đạt 24.411 tấn, tuy nhiên năngsuất còn thấp và chưa ổn định Ngô chủ yếu được trồng vụ Xuân, vụ Hè thu và vụĐông, trong đó vụ Ðông chiếm hơn 80% diện tích
Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng và bình quân lương thực như sau:
Năm
Diện tích gieo trồng
cây lương thực (ha)
Năng suất BQ/vụ (tạ/ha)
Sản lượng lương thực (tấn)
B.quân đầu người
(kg) Tổng Riêng lúa Lúa Ngô Tổng Riêng lúa Tổng Riêng lúa
Nguồn: Niên giám thống kê 2008 và QH phát triển cây trồng, vật nuôi chủ yếu
c- Cây khoai lang: Diện tích từ 17.284 ha đã giảm xuống 12.811 ha do
chuyển đổi sang trồng các cây khác có giá trị cao hơn như lạc, đậu, ngô
d- Cây sắn: Diện tích từ 2.570 ha đã tăng lên 4.119 ha do gần đây có sự đầu
tư của Công ty VEDAN tại huyện Kỳ Anh Sắn trồng để chế biến là giống sắncông nghiệp như KM94, KM98 còn lại là giống địa phương
2.1.2 Cây công nghiệp ngắn ngày
a- Cây lạc: Diện tích từ 17.371 ha lên 20.615 ha Nhờ đưa các giống mới
vào sản xuất nên năng suất từ 15,33 tạ/ha tăng lên 21,62 tạ/ha; sản lượng từ 31.903tấn lên 45.578 tấn
Trang 10b- Cây vừng: Diện tích từ 2.273 ha đã giảm xuống 1.475 ha, thể hiện quy mô
diện tích gieo trồng và sản lượng còn nhỏ và chưa ổn định, chưa hình thành vùngsản xuất tập trung lớn
Diễn biến diện tích và sản lượng cây công nghiệp ngắn ngày như sau:
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 QH 2010
I Diện tích (ha)
Lạc 17.371 18.909 19.930 21.425 21.701 20.252 20.450 20.615 22.700 Vừng 2.273 1.957 2.022 2.299 1.553 1.366 1.567 1.475
Nguồn: Niên giám thống kê 2008 và QH phát triển cây trồng, vật nuôi chủ yếu
2.1.3 Cây công nghiệp dài ngày
a- Cây cao su: Đến cuối năm 2008 đã trồng được 5.661 ha và đã đưa vào
khai thác 1.080 ha, sản lượng đạt 900 tấn mủ khô Cao su chủ yếu được trồng tậptrung ở các huyện: Hương Khê, Kỳ Anh, Can Lộc, Thạch Hà và Vũ Quang
b- Cây chè: Diện tích hiện có 837 ha, trong đó có 609 ha đang cho sản
phẩm, còn lại một số là chè trồng mới; năng suất 70 tạ/ha, sản lượng 750 tấn chèthành phẩm; giá trị xuất khẩu đạt 500.000 USD
Diễn biến diện tích và sản lượng cây công nghiệp dài ngày như sau:
Nguồn: Niên giám thống kê 2008 và QH phát triển cây trồng, vật nuôi chủ yếu
2.1.4 Cây ăn quả
a- Cây bưởi: Diện tích bưởi từ 1.033 ha lên 1.625 ha, sản lượng từ 2.098 tấn
lên 12.719 tấn Ngoài cây bưởi Phúc Trạch nổi tiếng khắp cả nước và đã cóthương hiệu, vùng Hương Sơn còn có cây bưởi đường tuy diện tích không nhiều
Trang 11và chủ yếu trồng rải rác trong vườn tạp nhưng về giá trị không thua kém bưởiPhúc Trạch
b- Cây cam: Diện tích từ 1.347 ha lên 2.420 ha, trong đó chủ yếu là cam
chanh Diện tích cam bù năm 2001 đã có 741 ha, nhưng mấy năm nay do bị bệnhvàng lá nên một số diện tích bị phá bỏ, nhân dân hạn chế đầu tư vì vậy đến năm
2007 chỉ còn lại khoảng 251 ha
Ngoài 2 cây ăn quả chủ lực trên, còn có một số loài cây khác như quýt,hồng, nhãn, vải, chanh, dứa, chuối được trồng rải rác trong vườn tạp
2.1.5 Cây rau đậu
a- Cây rau đậu thực phẩm: Diện tích biến động trong khoảng 9.205 - 10.721
ha Một số nơi đã trồng các loại rau cao cấp như xu hào, cải bắp, dưa chuột, dưa
đỏ, hành đã cho thu nhập cao trên một đơn vị diện tích và đem lại lợi nhuận chongười sản xuất Tuy nhiên, phần lớn diện tích rau được trồng xen vụ là chính, chưađược quy hoạch thành vùng tập trung chuyên canh
b- Cây đậu đỗ: Diện tích biến động trong khoảng 11.174 - 13.163 ha (đạt,
trong đó việc trồng đậu Hè thu trên đất lúa cao cưỡng và vùng đồi đã đem lại kếtquả khả quan, góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ và tăng thu nhậptrên đơn vị diện tích
Diễn biến diện tích và sản lượng cây rau đậu như sau:
Cây \ Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 QH 2010
I Diện tích (ha)
Rau đậu TP 9.641 10.377 10.576 10.721 9.373 9.277 9.575 9.205 15.000 Đậu đỗ 12.121 12.311 12.742 13.163 11.910 11.729 11.857 11.174 13.368
II Sản lượng (Tấn)
Rau đậu TP 56.133 62.111 64.539 67.325 59.105 60.028 55.562 54.749 88.384 Đậu đỗ 6.504 7.333 7.555 9.824 8.213 9.717 3.850 10.282 11.775
Nguồn: Niên giám thống kê 2008 và QH phát triển cây trồng, vật nuôi chủ yếu
So sánh kết quả sản xuất năm 2008 thì sẽ có khả năng đạt mục tiêu đề ra đếnnăm 2010
2.2 Về chăn nuôi
2.2.1 Chăn nuôi trâu bò
Tổng đàn trâu từ 100.000 con tăng lên 109.780 con năm 2007 (năm 2008giảm xuống 101.961con)
Tổng đàn bò từ 148.000 con lên 191.442 con, tăng 6.200 con/năm; tỷ lệ đàn
bò lai Zêbu từ 5,9% lên 14% tổng đàn
2.2.2 Chăn nuôi lợn
Tổng đàn từ 406.259 con lên 422.639 con năm 2007, tăng 2.700 con/năm(năm 2008 do ảnh hưởng của dịch tai xanh nên tổng đàn chỉ đạt 365.613 con, sangnăm 2009 đã phục hồi trở lại khá tốt); chất lượng đàn lợn được tăng lên theohướng siêu nạc Ðã có nhiều mô hình chăn nuôi tập trung an toàn dịch bệnh quy
Trang 12mô từ 100 - 300 con ở các huyện, thị xã, một số trang trại nuôi thâm canh với quy
mô 500 - 800 con, song nhìn chung vẫn còn nuôi nhỏ lẻ là chủ yếu
2.2.3 Chăn nuôi gia cầm
Tổng đàn gia cầm từ 3,6 triệu con tăng lên 4,7 triệu con Thời gian qua, doảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nên tổng đàn có sự biến động, nhưng nói chungvẫn phát triển khá, đã xuất hiện nhiều mô hình nuôi gà công nghiệp, vịt siêu thịt,siêu trứng ở quy mô nhỏ
G cầm (ng con) 3.616 3.571 4.631 4.829 4.976 4.158 4.379 4.732 5.361
Dê (ngàn con) 13,7 13,6 14,6 17,4 20,4 21,4 23,9 17,1 15,0 Hươu (ngàn con) 7,9 4,2 8,5 10,2 11,5 12,1 14,8 19,4 21,6
SL XC (tấn) 31.666 32.607 36.564 36.480 38.211 39.510 44.604 55.080 66.986
T đó lợn (tấn) 27.154 28.077 31.833 31.530 32.791 33.696 36.736 46.647 47.262
Nguồn: Niên giám thống kê 2008 và QH phát triển cây trồng, vật nuôi chủ yếu
Mấy năm qua do tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm đã xảy ra kháphức tạp và diện rộng, làm cho tổng đàn có biến động nhưng sản lượng xuấtchuồng tăng mạnh nhờ được đầu tư giống, thâm canh và phát triển chăn nuôi tậptrung quy mô lớn và vừa ở một số nơi Dự báo tình hình phục hồi đàn gia súc, giacầm trong thời gian tới rất khả quan, vì vậy khả năng sẽ đạt mục tiêu đã đề ra đếnnăm 2010, trong đó có một số chỉ tiêu có thể vượt
2.3 Hệ thống dịch vụ phục vụ sản xuất
2.3.1 Công tác giống
a- Giống cây trồng: Trung tâm giống cây trồng Hà Tĩnh và Trại giống cây
ăn quả Truông Bát thực hiện việc tiếp nhận, khảo nghiệm, chọn lọc, phục tráng vànhân thuần các loại giống cây trồng để cung cấp giống gốc cho các cơ sở sản xuấtgiống trong toàn tỉnh Ngoài ra còn có các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanhgiống, đã đảm bảo phần lớn nguồn giống cho người nông dân
b- Giống vật nuôi: Trung tâm giống chăn nuôi đã đặt 8 điểm cung ứng tinh
nhân tạo ở các huyện Ðức Thọ, Can Lộc, Hương Khê, Thành phố Hà Tĩnh để thụtinh nhân tạo bò cho người chăn nuôi Ðồng thời với thụ tinh nhân tạo còn thựchiện biện pháp nhảy trực tiếp ở các địa phương Ðã đầu tư xây dựng Trại giống bò
Trang 13chất lượng cao tại Hương Khê để cung cấp nái nền cho nhu cầu của người chănnuôi trong tỉnh
Trung tâm Giống chăn nuôi tỉnh và 8/12 huyện, thị xã đã có trạm truyềngiống lợn cấp ông bà và bố mẹ, hàng năm cung ứng được trên 4 vạn liều tinh, đápứng được hơn 50% yêu cầu công tác phối giống lợn, còn lại được sản xuất trongnhân dân Tổng công ty KSTM Hà Tĩnh cũng đã tham gia sản xuất, cung ứnggiống lợn nái ngoại và giống thương phẩm trên địa bàn tỉnh
Hệ thống các trạm trại trên đã có những đóng góp không nhỏ trong việccung cấp các giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng tốt cho sản xuất Xây dựng
mô hình và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới cho nông dân để tăng năng suất, chấtlượng sản phẩm, từ đó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướnghàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế
Tuy nhiên, do đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của các trạm trại còn mỏng,nên nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa chưa được thường xuyên tiếpcận với các tiến bộ kỹ thuật mới Lượng giống cây trồng, vật nuôi cung ứng hàngnăm còn thiếu, phải mua ở nơi khác về, một số ít chất lượng không đảm bảo yêucầu làm ảnh hưởng đến sản xuất cũng như tư tưởng của người dân
2.3.2 Hệ thống dịch vụ BVTV, Thú y và vật tư nông nghiệp
Hệ thống dịch vụ phục vụ sản xuất như Bảo vệ thực vật, Thú y, vật tư nôngnghiệp đã được củng cố, tổ chức đến tận cơ sở, góp phần vào thắng lợi của sảnxuất nông nghiệp Song công tác quản lý chất lượng vẫn còn có lúc, có nơi làmchưa tốt, gây thiệt thòi cho nông dân
2.3.3 Công tác khuyến nông, khuyến lâm và chuyển giao KHKT:
Hệ thống tổ chức khuyến nông, khuyến lâm đã được củng cố và tăng cường
từ tỉnh đến cơ sở, bao gồm: Trung tâm khuyến nông và khuyến lâm tỉnh, 12 Trungtâm ứng dụng KHCN tại 12 huyện, thị và 261 xã phường, thị trấn đã có cáckhuyến nông viên cơ sở (mỗi xã có ít nhất 1 khuyến nông viên)
Hoạt động khuyến nông, khuyến lâm trong thời gian qua đã góp phần nângcao năng lực cộng đồng, thay đổi dần nhận thức cũng như tập quán canh tác củađại bộ phận nông dân Ðã tổ chức tập huấn, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật, đưacác giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, xây dựng được nhiều
mô hình trình diễn làm nơi học tập cho nông dân, qua đó đã góp phần thúc đẩychuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ trong sản xuất
Tuy nhiên công tác khuyến nông, khuyến lâm trong thời gian qua vẫn cònbộc lộ một số mặt tồn tại như: Nội dung và phương pháp khuyến nông chưa đápứng yêu cầu của thời kỳ sản xuất hàng hoá và sự phát triển của khoa học kỹ thuật;việc xây dựng, chuyển giao và nhân rộng các mô hình trình diễn ra sản xuất đại tràvẫn còn hạn chế; năng lực của đội ngũ cán bộ khuyến nông ở cơ sở chưa đáp ứngyêu cầu, chế độ chính sách cho cán bộ khuyến nông cơ sở còn bất cập Việc cậpnhật kiến thức chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khuyến nông chưa được thườngxuyên và kịp thời, kinh phí hoạt động nhìn chung còn eo hẹp
Trang 142.4 Đánh giá một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, chăn nuôi chủ yếu là quy mô nhỏ, cơ cấucác loại cây trồng, vật nuôi manh mún, phân tán và tự cung, tự cấp là chính
- Chưa xây dựng được bộ giống chuẩn cho nông nghiệp của tỉnh, hệ thốngcung ứng giống cho nông dân vẫn còn nhiều bất cập, nhiều nơi nông dân đã phải muagiống trôi nổi, song Nhà nước chưa kiểm soát được
- Năng suất các cây trồng, vật nuôi tuy tăng qua các năm, nhưng so với cả nước
và các tỉnh có điều kiện tương đồng thì vẫn còn thấp Hàng hoá chỉ mới đáp ứng yêucầu nội tiêu, chưa đủ khả năng vươn ra các thị trường lớn
- Nhiều tiến bộ kỹ thuật mới cho năng suất, hiệu quả cao, song việc nhân rộngvào sản xuất gặp nhiều khó khăn Công tác khuyến nông vẫn còn nhiều hạn chế, cán
bộ khuyến nông cơ sở vừa thiếu lại vừa yếu Các tiến bộ kỹ thuật về cơ giới hoá trongsản xuất nông nghiệp chậm được áp dụng Việc chỉ đạo sản xuất và đưa các tiến bộ
kỷ thuật mới nhiều địa phương chưa quan tâm đúng mức, đôi lúc còn chủ quan, duy ýchí, áp đặt; có lúc thì thiếu sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, buông lỏng
- Lợi nhuận trong nông nghiệp thấp, sản xuất chưa gắn với chế biến và thịtrường tiêu thụ, tình trạng đầu tư quảng canh trong sản xuất nông nghiệp đang phổbiến hiện nay Lao động thủ công đang chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các khâu củaquá trình sản xuất;
- Thời tiết khí hậu khắc nghiệt, lũ lụt, hạn hán xảy ra liên tục, sâu bệnh, dịchhại ở cây trồng, vật nuôi phát triển mạnh luôn đe dọa đến sản xuất, đất đai phântán, manh mún sẽ gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, làm tăng giá thành sảnphẩm, giảm sức cạnh tranh của hàng hoá nông lâm sản
2.5 So sánh kết quả thực hiện với các chỉ tiêu quy hoạch
- Diện tích trồng lúa có xu hướng giảm nên đã điều chỉnh quy mô từ110.000 ha xuống 91.880 ha, đến năm 2008 đạt 100.476 ha Để thực hiện chủtrương của Chính phủ về việc ổn định diện tích trồng lúa thì cần phải điều chỉnhcho phù hợp
- Tổng diện tích cây ăn quả đến năm 2008 đạt 49,56% so với chỉ tiêu quyhoạch đến 2010 Lý do không đạt, chủ yếu là do vùng dứa nguyên liệu Kỳ Anhkhông thực hiện được nên đã giảm 5.725 ha, diện tích cam và bưởi đã điều chỉnhtại quy hoạch phát triển cây trồng, vật nuôi chủ yếu
- Diện tích cao su có khả năng đạt và vượt chỉ tiêu quy hoạch vì cao su đang
là thế mạnh trong tập đoàn cây công nghiệp dài ngày, do đó cần phải điều chỉnhcho phù hợp với xu thế phát triển
- Một số cây trồng, vật nuôi khác có khả năng đạt mục tiêu quy hoạch như:Ngô, lạc, đậu, trâu bò, lợn, gia cầm, hươu Một số cây trồng, vật nuôi chưa đưavào quy hoạch cần được bổ sung như: Sắn nguyên liệu, hoa cây cảnh, dê, ong
Trang 153 Lĩnh vực Lâm nghiệp
3.1 Quy hoạch 3 loại rừng
Theo kết quả quy hoạch lại 3 loại rừng được UBND tỉnh phê duyệt và kếtquả rà soát hiện trạng rừng đến hết năm 2008, hiện trạng 3 loại rừng như sau:
tích (ha)
Phân theo ba loại rừng (ha) Đặc dụng Phòng hộ Sản xuất Tổng DT đất L nghiệp 364.468,2 74.597,9 118.310,2 171.560,1
Rừng tự nhiên có 210.485,5 ha, chiếm 57,75% đất lâm nghiệp, trong đó
rừng giàu chỉ chiếm 27,1%; rừng trung bình chiếm 17,7%, còn lại trên 54% diệntích tập trung ở trạng thái nghèo kiệt và rừng phục hồi
3.1.2 Rừng trồng
đất có rừng, nhưng chất lượng rừng không cao Tập trung vào một số loài câychính như: Thông nhựa, keo, bạch đàn, phi lao và cây bản địa
3.1.3 Đất chưa có rừng
Đất chưa có rừng 56.486,7 ha, chiếm 15,5% đất lâm nghiệp, nhưng diện tích
thuộc đối tượng trồng được rừng chiếm tỷ lệ nhỏ, phần lớn diện tích không trồngđược rừng hoặc trơ sỏi đá, khó trồng rừng nằm ở vùng núi ven biển Đối tượng đấttrống có cây gỗ tái sinh có khả năng khoanh nuôi thì cây tái sinh mục đích kinh tếthấp, chất lượng cây kém, các loại cây phi mục đích lớn, dây leo cây bụi nhiều
3.2 Kết quả các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
3.2.1 Kết quả sản xuất
a- Trồng rừng: Trong mấy năm gần đây việc phát triển rừng sản xuất đang
từng bước tạo ra các vùng nguyên liệu tập trung phục vụ cho công nghiệp chế biếntrong tỉnh Cơ cấu cây trồng đã có những cải thiện đáng kể, với sự đa dạng, phongphú về loài, kể cả cây bản địa và các loài nhập nội, vừa đảm bảo được giá trịphòng hộ, vừa sớm mang lại hiệu quả kinh tế cho người làm rừng Việc sử dụnggiống mới và công nghệ tạo giống từ mô, hom đang thay thế cho giống gieo từ hạt.Chất lượng rừng trồng ngày càng được nâng lên, tỷ lệ thành rừng đạt trên 95%.Giai đoạn 2001-2008 đã trồng được 43.777 ha rừng các loại
Trang 16b, Khoanh nuôi rừng: Bằng nguồn vốn đầu tư của dự án 661, vốn tự có của
các chủ rừng, giai đoạn 2001- 2008 đã khoanh nuôi phục hồi thành rừng được
38.187 ha Tuy diện tích rừng phục hồi tăng, nhưng chất lượng cũng như tỷ lệ cây
mục đích, có giá trị kinh tế còn thấp
c- Khai thác lâm sản: Mỗi năm khai thác khoảng 10.000 m3 gỗ rừng tự
Trồng rừng T.trung (ha) 4.162 3.168 4.708 5.976 6.246 6.530 6.427 6.560 Chăm sóc rừng (Ha) 11.507 17.430 17.690 18.065 18.480 18.680 18.950 19.170
Gỗ tròn khai thác - m 3 28.422 28.422 41.378 44.054 47.490 49.200 73.112 64.420 Củi khai thác - ster 699.086 700.180 685.630 692.790 702.147 713.000 727.000 715.250 Tre, nứa (ngàn cây) 31.099 30.959 26.930 27.555 27.635 2.470 2.530 2.115 Nhựa thông (tấn) 1.492 1.358 1.570 1.600 2.010 1.870 1.650 1.575
Kết quả sản xuất lâm nghiệp được thể hiện ở biểu sau:
Nguồn: Niên giám thống kê Hà Tĩnh năm 2008
3.2.2 Tổ chức quản lý, bảo vệ rừng
a- Bảo vệ rừng: Hệ thống tổ chức bảo vệ rừng được xác lập từ tỉnh đến
huyện, xã và các chủ rừng, vì vậy đã từng bước ngăn chặn và đẩy lùi nạn khai thác
rừng trái phép; ngoài ra rừng còn được khoán cho các hộ gia đình, tổ chức bảo vệ
b- Quản lý: Hiện nay rừng và đất lâm nghiệp tỉnh ta có các loại hình chủ thể
quản lý, bao gồm: 2 Ban QL rừng đặc dụng quản lý 91.439,8 ha; 7 Ban QL rừng
phòng hộ quản lý 87.846,2 ha; các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế quản lý
100.630,1 ha; các loại hình quản lý khác (chính quyền địa phương, hộ gia đình và
một số tổ chức khác) quản lý 84.892,7 ha
c- Giao đất, giao rừng: Ðến nay đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho 20/20 đơn vị quốc doanh với diện tích 280.264,8 ha, chiếm 77% đất lâm
nghiệp; giao cho hộ gia đình và cá nhân 33.425,7 ha, chiếm 9%; UBND xã đang
quản lý 50.965,0 ha, chiếm 14% Hiện nay các huyện đang thực hiện việc giao
rừng cho các hộ gia đình, cá nhân theo Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày
25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp & PTNT
3.2.3 Công tác giống
Việc sản xuất giống cây Lâm nghiệp từ trước đến nay chủ yếu được tổ chức
tại các chủ rừng theo hình thức cung ứng tại chổ, chưa có cơ sở chuyên sản xuất
giống để cung cấp cho người trồng rừng vì vậy chất lượng cây giống còn thấp
3.3 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Nhận thức về trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp chính quyền còn
chưa đầy đủ, bộ máy quản lý lâm nghiệp các cấp còn thiếu và yếu (nhất là ở cấp
xã, huyện) Nhận thức về lâm nghiệp, về giá trị của rừng ở một bộ phận cán bộ
còn phiến diện, chưa đánh giá đầy đủ vai trò của rừng trong việc bảo vệ môi
trường sinh thái
Trang 17- Hoạt động của các đơn vị lâm nghiệp còn chậm chuyển biến, chưa thực sựnăng động, sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trình độ cán bộ, côngnhân còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa theo kịp đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
- Chưa huy động tối đa các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển rừng, do
đó chưa phát huy hết tiềm năng lợi thế của tỉnh
- Nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp ngày càng tăng tạo nên sức ép trong côngtác quản lý đất lâm nghiệp, nhiều nơi đất đã cho doanh nghiệp thuê nhưng khitriển khai sản xuất lại bị nhân dân sở tại ngăn cản nên doanh nghiệp không tổ chứcsản xuất được, đây là vấn đề khá lớn làm ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện cácchủ trương phát triển của tỉnh
- Công tác giao đất, khoán rừng vẫn còn nhiều bất cập, việc giao đất với quy
mô nhỏ lẻ, manh mún, thiếu sự lựa chọn đối tượng đang là những trở ngại trongquá trình công nghiệp hoá, sản xuất lớn Mặt khác việc giao đất, giao rừng trướcđây còn có sự chồng chéo, trùng lặp; hồ sơ giao đất thiếu rõ ràng, chủ yếu đanggiao trên bản đồ và sổ sách, nên dẫn đến tranh chấp, gây khó khăn cho công tácquản lý, đầu tư phát triển rừng Việc rà soát đất đai ở các chủ rừng theo chủ trươngcủa Nhà nước chưa triệt để và còn nhiều bất cập Hiện nay nhu cầu được giao đấtrừng sản xuất của cộng đồng dân cư là rất lớn đã dẫn đến tình trạng tranh chấp, lấnchiếm xẩy ra ở nhiều nơi
- Kết quả trồng rừng nhiều năm qua đã tạo được nhiều việc làm, tạo ra vùngnguyên liệu tập trung và phát huy được chức năng bảo vệ môi trường sinh thái,nhưng hiệu quả kinh tế từ rừng vẫn còn thấp
- Giống cây lâm nghiệp là yếu tố quyết định chất lượng rừng trồng, nhưngtrong nhiều năm qua công tác này đang ở tình trạng thả nổi, cây giống xô bồ, chấtlượng kém, sinh trưởng chậm vẫn được đưa vào trồng rừng
- Công nghiệp chế biến chậm đổi mới và chưa kịp thích ứng với cơ chế thịtrường, sản phẩm làm ra chưa đa dạng, chất lượng chưa cao, sức cạnh tranh thấp,chưa thâm nhập được các thị trường lớn Nguyên liệu rừng trồng hiện nay vẫn tậptrung cho các nhà máy sản xuất dăm, nên giá trị gia tăng thấp, hiệu quả kinh tếchưa cao
- Sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cho lâm nghiệp còn chưa tương xứngvới yêu cầu, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất còn thiếu và yếu, nhất là hệthống đường lâm nghiệp, công trình phòng chống cháy, phòng trừ sâu bệnh hại
- Quỹ đất chưa sử dụng có khả năng phát triển lâm nghiệp lại manh mún, ởvùng sâu, vùng xa, điều kiện khai thác sử dụng khó khăn, giá thành đầu tư cao dokhông có đường lâm nghiệp
3.4 Tình hình thực hiện quy hoạch
Quy hoạch 3 loại rừng vừa được điều chỉnh trong năm 2008, Quy hoạch bảo
vệ và phát triển rừng được xây dựng và phê duyệt năm 2009, vì vậy các bất cậptrong quy hoạch cho lĩnh vực Lâm nghiệp đã được điều chỉnh, bổ sung trong cácquy hoạch trên
Trang 184 Lĩnh vực Thuỷ sản
4.1 Tiềm năng và nguồn lợi
4.1.1 Nguồn lợi thuỷ hải sản
lớn gồm: Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng và Cửa Khẩu, thuận lợi cho tàu thuyền
ra vào, buôn bán, giao lưu hàng hoá Thuỷ sản
- Có 6 huyện thị tiếp giáp biển: Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Thành phố
Hà Tĩnh, Cẩm xuyên, Kỳ Anh với tổng số 64 xã có khai thác và NTTS mặn lợ;
- Khả năng khai thác hàng năm: 84.000 tấn hải sản
- Chủng loại hải sản đa dạng: Gồm 267 loài trong đó có 60 loài cá; 20 loàitôm và nhiều loài mực, cua ghẹ có giá trị kinh tế cao
4.1.2 Tiềm năng về nuôi trồng thủy sản
Diện tích tiềm năng có thể nuôi trồng thuỷ sản: 20.000 ha
Trong đó: + Diện tích nước mặn lợ: 7.000 ha
+ Diện tích nước ngọt: 13.000 ha
4.2 Kết quả sản xuất
4.2.1 Nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ
Đây là nghề mới nhưng có tốc độ phát triển khá nhanh, diện tích tăng hàngnăm 15-20% Từ 1.000 ha năm 2000 nay đã phát triển lên 3.200 ha, đã có 52 xã/6huyện thành phố phát triển NTTS mặn lợ Nhiều đồng nuôi được đầu tư xây dựng,huy động được nguồn vốn trong nhân dân Đa số diện tích cho hiệu quả tốt, trình
độ kỹ thuật của người dân ngày càng nâng cao, nhiều mô hình, điển hình sản xuấtxuất hiện, giống mới được ứng dụng rộng rãi Thực sự NTTS đang trở thành mộtnghề quan trọng trong kinh tế thuỷ sản, thu hút lao động, chuyển đổi cơ cấu nghề,
cơ cấu lao động trong nông thôn ven biển Đây còn là một nghề mang tính bềnvững góp phần giảm áp lực khai thác ven bờ, tận dụng các bãi triều đất đai hoanghoá nhiễm mặn, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo vùng biển ngang, vencửa sông Tỷ trọng NTTS trong cơ cấu kinh tế ở nhiều xã ven biển thay đổi nhanhchóng
Ngoài việc mở rộng diện tích tôm sú, đã mở rộng phát triển một số loại cógiá trị kinh tế như cua, ngao, sò, tôm thẻ, các loài cá Bước đầu đã có những cơ
sở SX cung ứng giống, kỹ thuật, dịch vụ thức ăn, hoá chất NTTS, trang thiết bị vềkiểm dịch, phòng dịch
Kết quả NTTS mặn lợ hàng năm như sau:
Chỉ tiêu \ Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2010QH
Diện tích (ha) 1.375 1.758 2.140 2.680 2.850 3.161 3.200 3.200 3.600
NSBQ (tấn/ha) 0,95 1,44 1,76 1,39 1,74 1,74 1,63 1,88 2,97
Sản lượng (tấn) 1.300 2.534 3.780 3.750 4.950 5.500 5.200 6.000 10.700
Trang 194.2.2 Nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
Diện tích nuôi từ 2.415 ha năm 2001 đã tăng lên 4.500 ha, tốc độ tăngtrưởng đạt 9,3% Tuy vậy so với chỉ tiêu quy hoạch đề ra đến năm 2010 thì còn đạtthấp (34,6%)
NTTS nước ngọt còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát, manh mún chưa nhân radiện rộng trong toàn tỉnh các mô hình cá - lúa, cá - lúa - vịt, cá - vịt mà chỉ tậptrung ở một số địa phương có truyền thống và có sự quan tâm chỉ đạo cũng như hỗtrợ nhiều mặt của các cấp uỷ đảng, chính quyền
Kết quả NTTS nước ngọt qua các năm như sau:
4.2.3 Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
a- Khai thác hải sản: Là nghề truyền thống một thời đã nuôi sống gần 30%
dân số trong tỉnh và là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho nhân dân Đến nayphương tiện được hiện đại hơn, thuyền thủ công tồn tại không đáng kể, thuyềnmáy lớn ngày càng nhiều
Tổng số tàu thuyền 3.740 chiếc, với tổng công suất 56.000 CV
Số lao động trực tiếp khai thác 10.000 người, số lao động gián tiếp và dịch
vụ gần 20.000 người, số lao động xuất khẩu và đánh cá phía Nam 2.500 người.Kết quả khai thác thủy sản qua các năm như sau:
Chỉ tiêu \ Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Số tàu thuyền (chiếc) 3.901 3.830 3.316 3.030 2.444 2.450 2.494 3.740
Tổng công suất (CV) 63.480 63.954 61.490 61.490 43.500 41.800 46.424 56.000 Sản lượng (tấn) 21.000 20.250 20.000 20.000 20.020 22.900 21.300 22.400
b, Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản: Trong những năm qua ngành Thuỷ sản đã có
nhiều hoạt động tích cực nhằm bảo vệ và phát triển NLTS như: Đẩy mạnh côngtác quản lý tàu cá, thả con giống xuống biển để tăng khả năng tái tạo NLTS, tíchcực tuyên truyền các qui định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển NLTS…
4.3 Công tác giống
Toàn tỉnh hiện có 5 cơ sở sản xuất giống thuỷ sản mặn lợ, mỗi năm sản xuấtđược trên 23 triệu con giống (chủ yếu là tôm sú) và 2 cơ sở sản xuất giống thuỷsản nước ngọt, mỗi năm sản xuất được 80 triệu con cá bột
Ngoài ra còn có khoảng 30 cơ sở ương giống, thuần dưỡng cá nước ngọttrên địa bàn với quy mô 40 vạn con giống/năm
Trang 20Tổng nguồn giống thuỷ sản nước ngọt sản xuất và cung ứng trong tỉnh là 15triệu con, đạt 75% nhu cầu giống cho người nuôi Một số đối tượng có giá trị kinh
tế cao như ếch, ba ba, cá lóc môi sề… đã cho sinh sản nhân tạo thành công nhưnglượng giống chưa đủ đáp ứng yêu cầu của người dân vì vậy phải khuyến khích các
cơ sở đầu tư vào sản xuất giống thuỷ đặc sản
4.4 Tình hình thực hiện quy hoạch
Trong những năm gần đây NTTS tỉnh ta đã có bước phát triển mạnh, các địaphương đều bám sát quy hoạch để xây dựng và phát triển, khai hoang mở rộngdiện tích NTTS, chuyển đổi cơ cấu sản xuất như chuyển đổi các vùng làm muối,trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm Đã hình thành nhiều vùng nuôi tập trung,chuyên canh, nuôi tôm công nghiệp, nuôi tôm trên cát đạt hiệu quả tốt
Tuy nhiên việc thực hiện quy hoạch nuôi trồng thủy sản nước ngọt chưa đạtyêu cầu, việc phát triển nuôi cá tại các hồ lớn chưa triển khai tốt, mô hình cá lúaphát triển chậm do quá trình chuyển đổi từ ruộng nhỏ thành các ruộng lớn chậm,chưa có quy hoạch chi tiết cho các vùng nuôi, năng suất nuôi còn đạt thấp Quyhoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản chưa được xây dựng
5 Về Diêm nghiệp
5.1 Tình hình sản xuất
Sản xuất muối được tập trung ở 8 xã, nằm trên địa bàn 4 huyện với tổngdiện tích đồng muối 444 ha, trong đó diện tích sản xuất 328 ha, nhưng do năngsuất thấp hoặc thiếu lao động và không có vốn đầu tư cải tạo nên một số bị bỏhoang, năm 2007 và 2008 chỉ đưa vào sản xuất được 252 ha
Kể từ 2002 đến nay một số công trình đê bao ngăn mặn trọng điểm đã cơbản hoàn thành do đó nghề sản xuất muối có điều kiện để phát triển, mặt khác việcđưa tiến bộ khoa học kỹ thuật xuống đồng muối như các mô hình khuyến diêm,các dự án cải tạo đồng muối v.v nên năng suất, sản lượng tăng Năng suất đồngmuối bình quân tăng lên từ 70 tấn lên 85-100 tấn/ha/năm, sản lượng cũng tăng lên,năm 2007, 2008 ước đạt 23.000 tấn
Do sự tàn phá của bão số 2 và số 5 nên nhân dân nhiều huyện trong tỉnh bịthiếu hụt một lượng muối đáng kể, khoảng 3,5-4 ngàn tấn Riêng lượng muốinguyên liệu cho các xí nghiệp chế biến muối của Công ty cổ phần muối và thươngmại Hà Tĩnh dự kiến thiếu hụt khoảng 5-7 ngàn tấn (năm 2008) Giá muối cũng cóchiều hướng tăng cao và đạt mức bình quân 1.600-1.800đ/kg
5.2 Tình hình đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất
- Một số đồng muối tại xã Hộ Độ, Mai Phụ huyện Lộc Hà, xã Cẩm Longhuyện Cẩm Xuyên đã được đầu tư nâng cấp từ nguồn vốn ngân sách Trung ương,vay tín dụng, huy động trong diêm dân và các nguồn khác
- Đã làm được một số đường vận chuyển muối tại xã Thạch Bàn (Thạch Hà)
và Hộ Độ (Lộc Hà), kết hợp giao thông nông thôn vùng muối
- Từ năm 2002 đến nay, tỉnh đã bố trí qua nguồn kinh phí sự nghiệp của SởNông nghiệp và PTNT để đầu tư vào chương trình khuyến diêm
Trang 21- Bộ Nông nghiệp và PTNT đã đầu tư theo các chương trình như: Khuyếncông, xoá đói giảm nghèo.
5.3 Về đời sống diêm dân
- Hà Tĩnh có khoảng 3.100 hộ sản xuất muối, thu nhập bình quân từ 3-4triệu đồng/hộ/năm Nếu tính theo tiêu chí quy định thì 100% các hộ sản xuất muốithuộc diện hộ nghèo
- Hàng năm diêm dân không đủ vốn để đầu tư sản xuất đã bỏ hoang một sốdiện tích trong lúc lao động không có việc làm, thiếu nguồn thu nhập, đời sống hếtsức khó khăn
5.4 Một số tồn tại, hạn chế
- Kết cấu hạ tầng đồng muối xuống cấp không đảm bảo an toàn, thuận tiệncho dân sinh đi lại và phục vụ sản xuất
- Đầu tư dàn trải, kéo dài, hiệu quả thấp
- Nghề muối nhìn chung chưa được quan tâm như những ngành kinh tếkhác Công tác quy hoạch, kế hoạch và chỉ đạo thực hiện gặp nhiều bất cập rất dễdẫn tới buông lỏng quản lý
- Thiếu vốn để khắc phục sự yếu kém, xuống cấp của kết cấu hạ tầng phục
vụ sản xuất muối và để thực thi các chính sách cho diêm dân
5.5 Tình hình thực hiện quy hoạch
So với chỉ tiêu quy hoạch đã đề ra, diện tích và sản lượng đến năm 2008 chỉđạt 70 - 76% Nếu ngành muối không được quan tâm đầu tư phục hồi thì khó cókhả năng đạt được mục tiêu
6 Thuỷ lợi, đê điều PCBL và cấp nước sinh hoạt, VSMT nông thôn 6.1 Thuỷ lợi
6.1.1 Hiện trạng các công trình thuỷ nông
Ðến nay toàn tỉnh có: 345 hồ, đầm chứa nước lớn nhỏ, với tổng dung tích
các loại và hàng ngàn công trình trên kênh Nhìn chung các công trình đã phát huyhiệu quả phục vụ sản xuất dân sinh
Hàng năm các công trình thuỷ nông đã tưới nước cho 49.900 ha lúa Ðôngxuân, 40.000 ha lúa Hè thu và 6.000 ha lúa Mùa; cấp nước cho NTTS nước lợ hơn5.000 ha Tổng diện tích tưới thiết kế của toàn bộ hồ đập và trạm bơm là 105.481
ha, diện tích thực tưới là 53.627,7 ha (cho lúa 49.700, màu và cây công nghiệpkhác 3.930 ha) đạt 62,23% diện tích thiết kế Diện tích canh tác chưa được tướitoàn tỉnh là 32.544 ha
6.1.2 Tình hình hạn hán
Hạn hán thường xảy ra mạnh trong vụ Hè Thu từ tháng 5 đến tháng 7 Diệntích hạn điển hình một số năm như sau: Năm 1998: 12.005/32.134 ha lúa; năm2005: 1.488/33.793 ha lúa; năm 2007: 5.724/38.400 ha lúa
Trang 226.1.3 Công trình tiêu nước
Hệ thông kênh tiêu của tỉnh chủ yếu lợi dụng các sông, suối, các trục tiêu tựnhiên để tiêu úng là chính Mấy năm gần đây do việc xây dựng các cơ sở hạ tầng
đã lấn chiếm các trục tiêu, lòng dẫn, hành lang tiêu thoát lũ trên các dòng sông làmtắc nghẽn các hệ thống trục tiêu chính gây cản trở dòng chảy thoát lũ khi gặp mưalớn Mặt khác từ trước lại nay công tác quy hoạch tiêu, quản lý quy hoạch tiêu vàđầu tư xây dựng các hệ thống tiêu úng nội đồng chưa thực sự quan tâm đúng mứcnên có một số vùng thường bị ngập úng cục bộ nhiều ngày, làm ảnh hưởng đếnsản xuất, sinh hoạt và sức khoẻ của nhân dân
6.2 Đê điều phòng chống lũ
Toàn tỉnh có 32 tuyến đê, với chiều dài 316,2km trong đó tuyến đê La Giang
là đê cấp II dài 19,2km, còn lại 31 tuyến đê cấp IV, cấp V với chiều dài 297 km;
Hệ thống đê rải khắp trên địa bàn 11 huyện, TP, thị xã (chỉ còn huyện Hương Khêkhông có đê) Ngoài tuyến đê La Giang hàng năm được Bộ Nông nghiệp và PTNTđầu tư vốn tu bổ thường xuyên đang từng bước được củng cố, trong 3 năm (2006đến 2008), toàn tỉnh đã nâng cấp được 23,2/280 km đê biển, đê cửa sông Hệthống công trình trên đê với 209 cống cấp, tiêu thoát lũ, ngăn mặn giữ ngọt lớnnhỏ dưới đê, 68 km kè bảo vệ mái, 8 km kè bảo vệ bờ sông, 95 mỏ hàn
6.3 Cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn
6.3.1 Cấp nước sinh hoạt nông thôn
Đến tháng 7/2008, toàn tỉnh có 331.657 công trình cấp nước sinh hoạt nôngthôn các loại, trong đó 49 công trình cấp nước tập trung; 151.551 giếng đào;79.653 giếng khoan; 100.287 lu, bể chứa nước và 117 giếng làng Các công trình
đã cung cấp nước dùng cho 95,6% số dân vùng nông thôn Số người dân được sửdụng nước hợp vệ sinh chiếm 56,1% so với số người có nước dùng và có 20,6% sốngười được dùng nước sạch đạt tiêu chuẩn TC 09
6.3.2 Vệ sinh môi trường nông thôn
Theo kết quả điều tra đến tháng 7 năm 2008, toàn tỉnh có 267.623 hộ giađình có hố xí Trong đó có 84.876 số hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh, đạt 31,7%
Đến nay 32 xã đã có tổ chức thu gom rác thải, 6 xã có hệ thống thoát nướcthải chung Nhiều xã cấp ngân sách cho dân xây dựng hố chứa rác hộ gia đìnhnhư: xã Thiên Lộc (Can Lộc), Cẩm Nhượng (Cẩm Xuyên) Hơn 80% hộ gia đình
có chuồng trại chăn nuôi và hố xí 2 ngăn hợp vệ sinh
6.4 Những tồn tại và nguyên nhân
6.4.1 Những tồn tại chính
- Hiệu quả sử dụng công trình còn thấp, công tác quản lý còn yếu (đặc biệt
là các công trình do địa phương quản lý), việc sử dụng nước còn lãng phí
-Việc tưới tiêu khoa học chưa làm được, mới chỉ chú trọng tưới cho lúa, còncác cây trồng khác tưới chưa được nhiều
- Chưa có hệ thống kênh tiêu riêng nên việc tiêu úng cho cây trồng nhiềuvùng chưa kịp thời, còn xảy ra hiện tượng úng ngập dài ngày
Trang 23- Việc sữa chữa, nâng cấp công trình hàng năm còn hạn chế, công trình ngàycàng xuống cấp nghiêm trọng.
6.4.2 Những nguyên nhân cơ bản
- Công tác lập và quản lý quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức
- Công trình xây dựng chưa đồng bộ, tổ chức quản lý chưa khép kín
- Phần lớn các công trình xuống cấp, nhất là đầu mối công trình và hệ thốngkênh mương các hồ chứa, đập dâng nhỏ, hàng năm thường bị thiên tai đe doạ
- Hệ thống các văn bản định mức kinh tế - kỹ thuật, cơ chế, chính sách vềquản lý khai thác công trình thuỷ lợi còn thiếu, chưa đồng bộ
- Cán bộ có trình độ chuyên môn quản lý ở các công trình thiếu (đặc biệt làcác công trình do địa phương quản lý)
- Ý thức của người dân chưa cao trong công tác quản lý và khai thác côngtrình thuỷ lợi
- Hàng năm kinh phí cấp bù cho các tổ chức quản lý thuỷ nông không đủnên các đơn vị thuỷ nông hoạt động khó khăn
6.5 Tình hình thực hiện quy hoạch
So sánh với các mục tiêu đã đề ra, tình hình thực hiện như sau:
- Về thuỷ nông: Cơ bản đạt chỉ tiêu tưới cho 85 - 90% diện tích lúa, còn lạimàu và cây công nghiệp chưa thực hiện được, công tác tiêu úng chưa đạt yêu cầu
- Về đê điều phòng chống lũ: Hệ thống đê sông cơ bản đã đảm bảo phòngchống lũ nhưng đê biển chưa được xây dựng đáng kể, một số nơi còn bị bão vàtriều cường đe doạ, người dân sống ven biển chưa thực sự an tâm
- Về nước sinh hoạt và VSMT nông thôn: Tỷ lệ số dân được dùng nước hợp
vệ sinh năm 2008 đạt 56,11%, so với quy hoạch thì còn đạt thấp (tỷ lệ dùng nướcsạch QH đến năm 2010 là 90%)
7 Chế biến nông, lâm, thuỷ sản và ngành nghề nông thôn
7.1 Chế biến nông sản
7.1.1 Chế biến lúa gạo
Toàn tỉnh hiện có 1.060 cơ sở xay xát lúa, gạo ngô của tư nhân, quy mô nhỏnên chất lượng gạo kém, tỷ lệ thu hồi gạo thấp, chỉ đáp ứng tiêu dùng trong tỉnh
Toàn tỉnh có 213 cơ sở chế biến bún, bánh tráng, miến, trong đó có 42 cơ sở
có dây chuyền chế biến tương đối hiện đại, khép kín từ nguyên liệu đến sản phẩm
7.1.2 Chế biến, kinh doanh lạc, đậu
Toàn tỉnh có 131 cơ sở kinh doanh lạc + đậu, hàng năm tiêu thụ khoảng60% sản lượng của tỉnh, thu hút được 690 lao động Hiện nay tỉnh ta chưa có nhàmáy chế biến lạc, đậu quy mô công nghiệp, chỉ qua giai đoạn sơ chế rồi bán chocác cơ sở tư nhân và bán đi các tỉnh bạn để xuất khẩu Hiện tại lượng xuất khẩutrực tiếp còn hạn chế, chỉ chiếm 18,6%
Trang 247.1.3 Chế biến chè
Công nghiệp chế biến chè tại các cơ sở của Công ty cổ phần chè Hà Tĩnh cócông nghệ khá hiện đại, sản phẩm chủ yếu xuất khẩu sang một số nước nhưPakistan, Nga, Trung Quốc, Ấn Ðộ Ngoài ra còn có các lò thủ công chế biếnnhỏ lẻ của các hộ gia đình, sản phẩm làm ra chủ yếu tiêu thụ nội địa
7.1.4 Chế biến thức ăn gia súc
Từ năm 2000 đến 2005 đã có 3 xưởng chế biến thức ăn gia súc mini đượcđầu tư xây dựng (Nhà máy CBTĂ nuôi tôm Thanh Bình, Nghi Xuân; xưởngCBTĂ gia súc Hùng Hưng, Ðức Thọ; xưởng CBTĂ gia súc Hồng Kỳ, Thạch Hà).Các cơ sở này có công suất nhỏ, công nghệ cũ, chất lượng không cao nên khó tiêuthụ, hiện nay đã ngừng hoạt động Năm 2005 Tổng Công ty khoáng sản và thươngmại Hà Tĩnh đã đầu tư xây dựng nhà máy CBTĂ gia súc Thiên Lộc có công suất150.000 tấn/ năm với công nghệ tiên tiến
7.1.5 Giết mổ và chế biến thịt gia súc, gia cầm
Giết mổ gia súc gia cầm của Hà Tĩnh vẫn đang còn manh mún, chủ yếu là tạicác hộ gia đình Một số địa phương đã lò mổ tập trung nhưng vẫn còn mang tính hìnhthức, các lò mổ tập trung chưa được đầu tư trang thiết bị hiện đại mà vẫn giết mổ theophương pháp thủ công, vì vậy công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinhthú y, phòng dịch chưa được quan tâm đúng mức
Chế biến thực phẩm đang còn mang tính nhỏ lẻ, chỉ có ở các hộ gia đình, chưađăng ký tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, vì vậy công tác an toàn VSTP đáng lo ngại
7.1.6 Sản xuất chế biến cói
Nghề dệt chiếu cói được duy trì tại làng Nam Sơn (Thị trấn Nghèn) và làngHồng Lam (Xuân Giang, Nghi Xuân) Nghề chiếu cói chưa được sự quan tâm về xâydựng vùng nguyên liệu, việc cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm đều do tưthương đảm nhận Nguyên liệu tại chỗ không đảm bảo chất lượng để làm ra sản phẩm
đủ tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của khách hàng, phần lớn mua ở ngoài tỉnh cho nên giáthành cao, vì vậy thu nhập của người lao động thấp, sản phẩm hàng năm giảm dần
7.2 Chế biến lâm sản
7.2.1 Chế biến mủ cao su
Công ty cao su Hà Tĩnh đã đưa nhà máy chế biến tại xã Hà Linh, huyệnHương Khê vào hoạt động Năm 2006 sản xuất được 240 tấn mủ tờ, năm 2007 sảnxuất được 540 tấn mủ khô Nhìn chung sản phẩm làm ra chỉ mới ở dạng sơ chế,chưa có sản phẩm tinh chế, nên hiệu quả kinh tế chưa cao
7.2.2 Chế biến nhựa thông
Xưởng chế biến nhựa thông của Công ty cổ phần Hà Vinh có dây chuyền côngnghệ chưng cất do Trung Quốc lắp đặt năm 2001 tương đối hiện đại, tiêu thụ 2.500 -3.500 tấn nguyên liệu/năm, trong đó nguồn trong tỉnh chỉ cung cấp được 2.500 tấn,phần còn lại phải mua từ các tỉnh khác nên ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
Trang 257.2.3 Chế biến gỗ
Toàn tỉnh có 732 cơ sở chế biến gỗ, trong đó có 2 doanh nghiệp nhà nước, 20doanh nghiệp tư nhân, 2 doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, 10 công ty cổ phần,
6 công ty trách nhiệm hữu hạn, còn lại là các cơ sở tư nhân
Tỷ lệ nguyên liệu gỗ rừng trồng đưa vào chế biến đang dần thay thế gỗ rừng tựnhiên, tuy nhiên sản phẩm sơ chế còn chiếm tỷ trọng cao (trên 85%, chủ yếu là dămmảnh) vì vậy hiệu quả SXKD doanh còn thấp, thu ngân sách không đáng kể
7.2.4 Chế biến song, mây, tre đan
Hà Tĩnh có 16 cơ sở chế biến mây tre đan, trong đó có 7 hợp tác xã còn lại là các
cơ sở nhỏ lẻ của các hộ gia đình Lợi nhuận của các cơ sở không ổn định và hầu nhưkhông đáng kể, chủ yếu là lấy công làm lãi, giải quyết việc làm khi nông nhàn Quy
mô các Hợp tác xã còn nhỏ, mẫu mã chưa phong phú, đa dạng, hàng hóa sản xuất rachưa xuất khẩu trực tiếp mà phải qua các đại lý lớn ở Hà Nội, Hà Tây, TP Hồ ChíMinh
Nguồn nguyên liệu hiện nay rất khó khăn do nguồn khai thác từ rừng tự nhiên đãcạn kiệt, nguồn cung cấp từ rừng trồng chưa đáp ứng đủ nhu cầu Trình độ tay nghềcòn nhiều hạn chế nên nhu cầu về đào tạo rất lớn, đặc biệt là khâu thiết kế mẫu mã
7.3 Chế biến thuỷ hải sản và muối
7.3.1 Chế biến thuỷ hải sản
Đến nay đã có 3 nhà máy với công suất 3.000 tấn thành phẩm/ năm Chế biếnthuỷ sản xuất khẩu được duy trì ổn định và phát triển, sản phẩm chế biến và giá trị tănglên hàng năm: năm 2000 đạt 1.870 tấn sản phẩm, giá trị 10 triệu USD; Năm 2008 đạt3.800 tấn, giá trị trên 21 triệu USD, tăng gấp 2 lần Từ chỗ chỉ sản xuất một số mặthàng truyền thống như tôm đông, mực đông Blok, đến nay đã sản xuất trên 10 mặthàng như: mực sasơhmi, Xuxi, mực lột da, tôm nguyên con, chả cá, lẩu thuỷ sản tổnghợp, mực khoanh… Thị trường tiêu thụ ổn định và được mở rộng, đặc biệt là thịtrường Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông… Ngoài Công ty cổ phần XNK thuỷ sản HàTĩnh và Công ty cổ phần XNK thuỷ sản Nam Hà Tĩnh, nhiều cơ sở tư nhân, tổ hợpcũng đang vươn lên tìm kiếm thị trường thu mua và chế biến xuất khẩu thuỷ sản tại cácvùng cửa lạch như: Thạch Kim, Cẩm Nhượng, Cửa Hội, Kỳ Anh với doanh số đạt 9 -
10 triệu USD/ năm, giải quyết công ăn việc làm cho trên 1.000 lao động trực tiếp vàhàng ngàn lao động dịch vụ khác Ngoài ra còn có trên 50 cơ sở chế biến nước mắm,ruốc, hàng năm SX được 5,5 triệu lít nước mắm, 3.000 tấn mắm ruốc các loại, 500 tấnsản phẩm khô, 500 tấn bột cá
Tuy vậy với tiềm năng và lợi thế của kinh tế thuỷ sản tỉnh nhà và sự phát triểncủa kinh tế thị trường thì chế biến thuỷ sản xuất khẩu của tỉnh phát triển còn chậm vàchưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, sản xuất còn nhỏ lẻ, nguyên liệu chủ yếuđang ở dạng sơ chế chưa khai thác và tận thu hết giá trị của sản phẩm
7.3.2 Chế biến muối
Cả tỉnh có 3 cơ sở chế biến muối được Nhà nước đầu tư trước năm 1995,cho đến nay chưa có thêm một cơ sở nào được đầu tư xây dựng mới Sản lượng
Trang 26chế biến chủ yếu của 2 dây chuyền do Công ty cổ phần muối Hà Tĩnh tự đầu tưnâng cấp:
- Dây chuyên chế biến muối trộn Iốt tại Thạch Hà có công suất thực tế 3-4ngàn tấn/năm;
- Dây chuyền sản xuất muối tinh, muối sấy, muối trộn Iốt tại Kỳ Anh cócông suất thiết kế 7 ngàn tấn/năm; công suất thực tế: 2-3 ngàn tấn/năm
Sản lượng sản xuất muối tinh và muối trộn Iốt năm 2001 đạt 4.500 tấn, đãtăng lên 7.500 tấn năm 2008
7.4 Ngành nghề nông thôn
7.4.1 Sản xuất nón lá
Nón lá ở Hà Tĩnh là một nghề truyền thống đã được phát triển ở các địa phươngnhư Kỳ Thư (Kỳ Anh), Cẩm Hà (Cẩm Xuyên), Phù Việt (Thạch Hà), Gia Phố (HươngKhê) và một số địa phương khác Sản phẩm nón lá đa dạng và phong phú về chủngloại, phẩm cấp phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng
7.4.2 Sản xuất hàng kim khí (đúc rèn)
Sản xuất hàng kim khí tập trung chủ yếu ở làng Trung Lương và Ðức Thuận(Thị xã Hồng Lĩnh) Hình thức sản xuất chủ yếu là cá thể, sản xuất các mặt hàng phục
vụ sản xuất nông nghiệp như lưỡi cày, bừa, dụng cụ cầm tay Mấy năm nay một số cơ
sở đúc gang đã sản xuất được các chi tiết máy cơ khí theo đơn đặt hàng của các doanhnghiệp trong và ngoài tỉnh như máy luyện quặng, máy bơm nước, máy xay xát lúa đạt chất lượng tốt, được khách hàng tín nhiệm
Ngoài làng rèn Trung Lương có quy mô lớn thì ở các thị trấn, thị tứ trong tỉnhcũng có các cơ sở làm nghề rèn nhưng chủ yếu là phân tán, quy mô nhỏ Một số hộ cónguồn gốc xuất xứ từ làng nghề Trung Lương đã di cư từ nhiều đời trước
Hiện nay Làng nghề tập trung ở Trung Lương đã được xây dựng, các cơ sở đúcrèn có quy mô lớn đã vào sản xuất, vì vậy đã giảm tiếng ồn, ô nhiễm bụi khí độc trongkhu dân cư
7.4.3 Sản xuất, gia công nệm, chăn bông
Nghề này chủ yếu phát triển ở làng Thạch Ðồng, TP Hà Tĩnh, sản phẩm gồmnệm bông, sản xuất và gia công chăn bông theo yêu cầu của khách hàng Hình thức tổchức cá thể, hộ gia đình tự tìm nguồn nguyên liệu, tìm khách hàng để tiêu thụ sảnphẩm vì vậy kết quả sản xuất và thu nhập của mỗi hộ khác nhau tùy thuộc năng lực củamỗi hộ Thiết bị công nghệ chủ yếu là máy may, còn lại làm bằng thủ công vì vậykhông đòi hỏi tay nghề cao, công nghệ đơn giản, có thể bố trí xưởng sản xuất liền vớinhà ở Mức độ ô nhiễm môi trường tuy không nghiêm trọng nhưng có 1 số yếu tố bịảnh hưởng như bụi bông làm ô nhiễm nguồn nước và không khí
7.4.4 Sản xuất vật liệu xây dựng và xây dựng dân dụng
Bao gồm khai thác đá, cát, sỏi và gạch ngói phục vụ nhân dân Nghề này tậptrung ở những vùng có điều kiện thiên nhiên ưu đãi như khai thác đá Granít ởvùng Kỳ Anh, núi Hồng Lĩnh, núi Nam Giới; cát sỏi ở Kẻ Gỗ, Nam Kỳ Anh, Sông
Trang 27Ngàn Sâu và Ngàn Phố, ven Hồng Lĩnh; gạch ngói ở Thuận Lộc, Ðức Giang, KỳHoa Các mỏ phần lớn là lộ thiên, dễ khai thác bằng thủ công.
Nghề xây dựng dân dụng phát triển ở hầu khắp cả tỉnh, chủ yếu là lao độngtận dụng (trừ một số chủ thầu thoát ly nông nghiệp) Tổ chức sản xuất theo hìnhthức tổ hợp, một số đã thành lập doanh nghiệp tư nhân nhưng quy mô nhỏ
7.4.5 Các ngành nghề dịch vụ
Các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn trong những năm qua đã phát triểnmạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nổi bật nhất là các dịch vụ vận tải nhỏ, cơkhí sửa chữa, cung ứng vật tư phân bón, làm đất và thu hoạch lúa được phát triển
ở hầu khắp các địa phương trong tỉnh
Mạng lưới dịch vụ thương nghiệp cũng phát triển đa dạng và phong phúnhư: Tạp hoá, ăn uống giải khát
7.4.6 Một số ngành nghề mới du nhập
Đã phát triển được một số nghề như trồng nấm rơm, nấm linh chi, làmhương ở một số địa phương trong tỉnh Tuy nhiên quy mô sản xuất còn nhỏ, chủyếu là mô hình thí điểm chưa nhân ra diện rộng, số lượng lao động tham gia cònkhiêm tốn
7.5 Thực trạng các làng nghề
7.5.1 Các làng nghề truyền thống
Hà Tĩnh có 30 làng nghề truyền thống, tập trung vào các ngành chính gồm:Sản xuất đồ gỗ, hàng kim khí, chế biến lương thực, chế biến thuỷ hải sản, sản xuấthàng mây tre đan, chiếu cói, nón lá Các làng nghề truyền thống Hà Tĩnh vẫnthường xuyên được duy trì và phát triển Một số làng nghề đã đầu tư vốn để đổimới thiết bị, công nghệ sản xuất và cải tiến mẫu mã sản phẩm nên đã mở rộngđược quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ như: Làng mộc Thái Yên, kim khíTrung Lương, chăn nệm Thạch Ðồng, nước mắm Cẩm Nhượng
Tuy nhiên một số làng nghề có nguy cơ mai một do thiếu nguyên liệu, thịtrường tiêu thụ giảm do có các sản phẩm thay thế từ ngành khác như nghề mây tređan, chiếu cói, lá nón, dệt thảm
7.5.2 Các làng nghề mới phát triển
Các làng nghề phát triển phần lớn là du nhập từ các làng nghề truyền thống.Ngoài ra có một số nghề mới hình thành nhưng có tốc độ phát triển nhanh nhưnghề sản xuất vật liệu xây dựng ở Thị xã Hồng Lĩnh, Kỳ Anh, Ðức Thọ, làng Cu
đơ Ðại Nài Tổng số làng nghề mới phát triển có 30 làng
Hiện nay một số làng nghề đã được khôi phục và phát triển tốt như Kỳ Ninh,
Kỳ Thư, Kỳ Tiến (Kỳ Anh), Thạch Kim (Lộc Hà), Trường Sơn, Thái Yên (ĐứcThọ), Trung Lương (TX Hồng Lĩnh) Ngoài ra, tỉnh đã chỉ đạo các huyện quyhoạch các cụm TTCN-Làng nghề, với tổng diện tích 40 ha; một số nơi hoạt động
có hiệu quả như Thái Yên (Đức Thọ), Trung Lương (TX Hồng Lĩnh), Yên Lộc(Can Lộc) Các làng nghề, cụm CN-TTCN đã thu hút 44 ngàn lao động chuyên
và 138,6 ngàn lao động thời vụ, góp phần chuyển dịch lao động nông thôn
Trang 288 Về Phát triển nông thôn
8.1 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
8.1.1 Giao thông nông thôn
Theo thống kê, đến năm 2007 đã có 241 xã có đường giao thông đến trụ sởUBND (đạt 100%), trong đó 200 xã được nhựa và bê tông hoá, chiếm 82,99%.Bên cạnh đó, các tuyến đường liên thôn ngày càng được mở rộng và nâng cấp Đãnhựa và bê tông hóa được 3.243 km/7.389 km, đạt 43,9 %, một số xã đã có hệthống đường GTNT được nhựa, bê tông hoá 100% như: Trường Sơn, Tùng Ảnh,Yên Hồ (Đức Thọ); Gia Phố (Hương khê); Đậu Liêu (TX Hồng Lĩnh)
8.1.2 Điện nông thôn
Đến nay đã có 2.544 thôn có điện lưới, chiếm 99,7% Đến cuối năm 2008 có100% số xã và 99,3% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia
8.1.3 Hạ tầng dịch vụ, thương mại
Đến nay có 165 chợ, trong đó có 1 chợ loại 1; 9 chợ loại 2; 73 chợ loại 3 và
82 chợ tạm Cả tỉnh có 12 thị trấn, trong đó 9 thị trấn là trung tâm chính trị, kinh tế
- văn hoá và thương mại của huyện và nhiều thị tứ khác và góp phần không nhỏthúc đẩy các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống nông thôn
8.2 Về thu nhập, đời sống, việc làm và xây dựng nông thôn mới
8.2.2 Công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm
Công tác xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế được các tổ chức như Hộiphụ nữ, Hội nông dân và các đoàn thể khác triển khai tích cực, đã thu được nhiềukết quả Tỷ lệ hộ nghèo năm 2001 là 24,7% xuống còn 10% năm 2007 (chuẩn cũ),31,86% theo chuẩn mới, năm 2008 chỉ còn 26,76%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo ởthành thị 10,14%, nông thôn 32,56%
Mỗi năm giải quyết việc làm và chuyển sang khu vực phi nông nghiệp trên10.000 ngàn lao động (bao gồm cả xuất khẩu lao động)
8.2.3 Phong trào xây dựng nông thôn mới
Đến nay cả tỉnh đã có 8 xã đạt các tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 1 và có30% số xã đạt từ 15-17 tiêu chí Xã Tùng Ảnh năm 2008 được công nhận là xãhoàn thành 33 tiêu chí giai đoạn 2 về đích trước 2 năm Xã Gia Phố đang đượcTrung ương chọn làm điểm xây dựng nông thôn mới của cả nước
Trang 298.3 Các loại hình tổ chức sản xuất ở nông thôn
8.3.1 Doanh nghiệp, HTX
Năm 2007 có 296 doanh nghiệp ở nông thôn, trong đó có 158 DN hoạt độngtrên lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp; có 50 tổ hợp tác đang hoạt động với 386thành viên tham gia; trong đó số tổ hợp tác nông lâm nghiệp là 10, thuỷ sản là 35;
có 429 HTX đang hoạt động, trong đó có 154 HTX nông, lâm nghiệp, 13 HTXthuỷ sản, 38 HTX tiểu thủ công nghiệp Các HTX sau khi chuyển đổi và thành lậpmới chất lượng hoạt động sản xuất, kinh doanh được nâng lên, số HTX làm ăn cólãi năm sau cao hơn năm trước
8.3.2 Trang trại
Đến cuối năm 2008 có 478 trang trại (tăng 431 trang trại so với năm 2001);loại hình sản xuất của trang trại ngày càng đa dạng và có sự chuyển dịch về cơ cấutheo hướng giảm tỷ trọng các trang trại cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả vàtăng tỷ trọng các loại trang trại lâm nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, sảnxuất kinh doanh tổng hợp
8.3.3 Hộ gia đình
Toàn tỉnh có khoảng 280.000 số hộ nông thôn, trong đó 207.410 hộ sản xuấtnông nghiệp, chiếm 74,08%; 832 hộ sản xuất lâm nghiệp, chiếm 0,3%; 8.539 hộsản xuất thuỷ sản, chiếm 3,05%; số hộ còn lại hoạt động ở các lĩnh vực khác Tổng
số hộ tăng 7.891 (tăng 2,9%), trong đó hộ xây dựng tăng 3.047 hộ, hộ thươngnghiệp tăng 5.075 hộ, hộ vận tải tăng 750 hộ, hộ nông nghiệp giảm 10.324 hộ và
xa Trong những năm qua, đã thực hiện định canh định cư được 10 bản (HươngKhê 5 bản và Hương Sơn 5 bản) Vấn đề định canh định cư về cơ bản đã được giảiquyết, đến nay chỉ còn bản Rào Tre và bản Giàng II có nguy cơ du canh du cư
8.4.2 Di dân xây dựng kinh tế mới
Kết quả thực hiện quy hoạch, bố trí dân cư theo các chương trình mục tiêuQuốc gia từ năm 1990 đến nay gồm:
a- Chương trình di dân KTM: Đã di chuyển đến vùng quy hoạch ổn định sản
xuất lâu dài cho 9.050 hộ, 39.439 nhân khẩu, hình thành nhiều điểm dân cư mới;tạo công ăn việc làm cho 19.367 lao động; khai hoang mở rộng diện tích 7.163 hađất sản xuất nông nghiệp, tăng thêm 18.135 ha đất rừng và xây dựng cơ sở vậtchất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân vùng KTM
b- Chương trình 327: Trong 6 năm triển khai thực hiện (từ 1993-1998), đã
xây dựng 20 dự án theo các loại hình: Lâm - nông - công, nông - lâm và định canh
- định cư Kết quả đã định canh, định cư cho 80 hộ, điều chuyển 1.998 hộ, tạo việc
Trang 3070.027 ha rừng, xây dựng 368 vườn hộ với 1.030 ha Xây dựng một số công trình
hạ tầng: đường nội vùng (93km), đập thuỷ lợi, công trình điện (34,5 km đường 0,4
KV và 9 trạm biến áp) Ngoài ra còn có trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt…
c- Chương trình 773: Toàn tỉnh có 5 dự án: Đông Hồng Lĩnh Rào Mỹ dương
huyện Nghi Xuân, Bắc Khe lang huyện Đức Thọ, Trà Sơn huyện Can Lộc, TràSơn huyện Thạch Hà, Tây Yên huyện Kỳ Anh Kết quả điều chuyển được 806 hộ,khai hoang mở rộng diện tích 300 ha Nâng cấp 6 hồ chứa nước, sửa chữa 9 cốngtiêu nước, xây dựng mới 2 trạm bơm, nhờ đó tăng diện tích tưới cho cây trồng,tăng năng suất và sản lượng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày ở cácvùng dự án Sửa chữa và làm mới 27,2 km đường giao thông, 7 cầu qua đường,
d- Định canh định cư xã nghèo: Từ năm 1991 đến nay đã nâng cấp, sửa
chữa được 70 km đường giao thông và 15 cầu cống Xây dựng 15 trường, lớp học,
lợi phục vụ tưới cho 64 ha ruộng nước Xây dựng 6 tuyến đường điện 0,4 KVphục vụ điện cho gần 300 hộ Làm mới hệ thống nước tự chảy và giếng nước phục
vụ nước sinh hoạt cho nhân dân Sắp xếp dân cư theo quy hoạch 127 hộ, khaihoang phục hóa 55,7 ha và cải tạo đồng ruộng 8,5 ha Lập vườn trồng cây ăn quả,cây dược liệu 35 ha Bảo vệ khoanh nuôi rừng đầu nguồn 19.400 ha, trồng mới
232 ha rừng Trợ cấp sản xuất và đời sống cho nhân dân khi gặp thiên tai, đói giáphạt và phòng chống dịch bệnh
e- Chương trình 135: Sau khi có Quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ,
từ năm 2001 trở đi diện đầu tư của chương trình 135 là 25 xã và 10 trung tâm cụm
xã miền núi Kết quả thực hiện đã đầu tư xây dựng 366 công trình các loại, trongđó: 111 CT đường giao thông, 39 CT điện sinh hoạt, 13 phòng khám đa khoa vàtrạm y tế xã, 21 CT thuỷ lợi, 10 chợ nông thôn, 164 trường học, 2 trạm phát lạitruyền hình, 1 trung tâm văn hoá và 5 trụ sở UBND xã
g- Đánh giá hiệu quả đầu tư các chương trình: Nhờ có đầu tư của các
chương trình bộ mặt nông thôn miền núi thay đổi căn bản Điều kiện kinh tế từngbước được nâng cao, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Nhiều tuyếnđường giao thông ngày càng được mở ra, nhiều tuyến được nâng cấp, sửa chữaphục vụ nhân dân đi lại thuận tiện Các công trình thuỷ lợi phát huy tác dụng tốt,nhiều vùng đã chủ động tưới tiêu góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sản xuấtnông nghiệp miền núi ngày càng phát triển, năng suất cây trồng ngày càng đượcnâng cao Cơ sở vật chất ngành giáo dục và y tế được củng cố
8.4.3 Di dân tái định cư
Công tác di dân tái định cư để giải phóng mặt bằng cho các công trình trọngđiểm của tỉnh đã được quan tâm xây dựng quy hoạch, tìm địa điểm thích hợp đểchuyển dân tái định cư đảm bảo ổn định và đời sống cho người dân khi đến nơi ởmới Tuy nhiên việc thực hiện di dân tái định cư đến nay chưa đáng kể, chủ yếuđang trong giai đoạn chuẩn bị là chính
Trang 319 Nguyên nhân tồn tại yếu kém và bài học kinh nghiệm
9.1 Nguyên nhân tồn tại yếu kém
9.1.1 Về khách quan
- Điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, bão lụt, dịch bệnh xẩy ra thườngxuyên, giá cả vật tư đầu vào cao, bấp bênh, thị trường tiêu thụ hạn chế, ảnh hưởnglớn đến sản xuất và cuộc sống của người dân
- Địa hình có độ dốc lớn, đất bị bào mòn, rửa trôi do vậy, đất cơ bản xấu,nghèo dinh dưỡng, địa hình chia cắt, phức tạp tạo nên sự manh mún cho sản xuất
- Xa các trung tâm kinh tế động lực; công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển,thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản khó khăn; lợi nhuận trong nông nghiệp thấp,rủi ro cao
- Điểm xuất phát thấp, nguồn lực của tỉnh hạn chế
- Người nông dân đã trải qua thời gian dài sống trong cơ chế tập trung, quanliêu, bao cấp, khi chuyển sang cơ chế thị trường, nhất là trong quá trình hội nhậptrở nên thụ động, lúng túng và gặp khó khăn trong việc định hướng sản xuất
9.1.2 Về chủ quan
- Quản lý Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn một số mặt còn nhiều bấtcập, hạn chế
- Đội ngũ cán bộ làm quản lý Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn còn thiếu
và yếu, nhất là ở cấp xã Hiện nay đội ngũ cán bộ ở cấp xã có 22 định biên, nhưngkhông có định biên nào cho cán bộ nông nghiệp Hầu hết cán bộ cấp xã có trình độchuyên môn nghiệp vụ yếu Tư duy cũ, bao cấp, mệnh lệnh hành chính, quan liêu,
xa dân đang tồn tại trong đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, nhận thức chưa theokịp trong thời kỳ mới Công tác cải cách hành chính hiệu quả thấp
- Đầu tư cho khu vực nông thôn giảm dần, năm 2001 chiếm 55% đầu tư toàn
xã hội, thì đến năm 2007 chỉ chiếm 40% (bình quân hàng năm giảm 3%)
- Hệ thống chính sách khuyến khích của tỉnh còn thiếu đồng bộ, chưa đủmạnh để kích thích phát triển nông nghiệp, nông thôn; nguồn lực tài chính khôngđảm bảo cho việc thực hiện các chính sách đã ban hành và một số chính sách cầnthiết nhưng chưa được ban hành như: chính sách tích tụ đất đai; khuyến khích sảnxuất tập trung hàng hoá lớn; đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tiêu thụ nông,lâm, thuỷ sản; khuyến khích phát triển các doanh nghiệp ở nông thôn; thu hút cán
bộ về công tác tại xã
- Tư tưởng, trình độ của nông dân còn bất cập, tự ty, ỷ lại, chưa theo kịp vớiyêu cầu của sản xuất hàng hoá và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; chất lượnglao động nông thôn thấp, xu hướng "nữ hóa nông nghiệp và lão hóa dân cư nôngthôn" đang xảy ra ngày càng tăng
9.2 Bài học kinh nghiệm
Một là, phải luôn nêu cao vai trò trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyềncác cấp trong chỉ đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sốngnông dân, đồng thời phát huy vai trò làm chủ của nông dân
Trang 32Hai là, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, với phương châm dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra, lấy sức dân lo cuộc sống cho dân, Nhà nước điều hànhchỉ đạo và hỗ trợ những việc mà dân không làm được.
Ba là, tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn,nhất là hệ thống đường giao thông, thuỷ lợi và điện nông thôn, đây là yếu tố thúcđẩy nhanh phát triển sản xuất hàng hoá, cải thiện điều kiện sống của nhân dân
Bốn là, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, chú trọng chuyển giao ứng dụngcác tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, từ đó nâng cao năng suất, chấtlượng, hiệu quả của sản xuất
Năm là, phát triển mạnh công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ nông thôn sẽnhanh chóng thúc đẩy nông thôn phát triển và cải thiện nhanh đời sống nhân dân
Sáu là, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, nhất là cấp cơ sở; chỉ đạo quyết liệt và triển khai có hiệu quả các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, kịp thời phát hiện, xử lý các vấn đềphát sinh trên địa bàn, kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội,giữ vững ổn định chính trị và an ninh trật tự - xã hội ở nông thôn là nền tảng chophát triển
Phần thứ ba ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH ĐẾN NĂM 2010
VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
I CĂN CỨ ĐỂ RÀ SOÁT, ĐIỀU CHỈNH VÀ BỔ SUNG QUY HOẠCH
- Nghị quyết Ðại hội XVI Ðảng bộ tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 2006 - 2010;
- Nghị quyết số 21- NQ/TU ngày 22/11/2005 của Ban chấp hành Ðảng bộtỉnh về công tác Quy hoạch đến năm 2020 và những năm tiếp theo;
- Nghị quyết số 08 - NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban chấp hành Ðảng bộtỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009-2015 và địnhhướng đến năm 2020;
- Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010, định hướng đến 2020;
- Quy hoạch phát triển Nông nghiệp - Nông thôn tỉnh Hà Tĩnh đến năm2010;
- Đề án xuất khẩu tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2007-2010, định hướng đến 2020;
- Quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Hà Tĩnh;
- Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2009 - 2020;
- Quy hoạch vùng sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu giai đoạn2007-2010, định hướng đến 2020;
- Chiến lược phát triển thuỷ lợi tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2006 - 2020
- Chiến lược phát triển chăn nuôi cả nước đến năm 2020
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020;
Trang 33- Đề án Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009-2020.
II DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN
1 Dự báo về dân số và lao động
Dân số Hà Tĩnh năm 2008 là 1,281 triệu người; dự báo đến năm 2010 là1,312 triệu người, năm 2020 là 1,425 triệu người Ðến năm 2020, cơ cấu lao động
dự kiến: Nông nghiệp 46%, Công nghiệp + xây dựng 24%, Dịch vụ 30% Cơ cấudân số của tỉnh sẽ có những thay đổi đáng kể, dân số vùng nông thôn sẽ giảm,vùng thành thị sẽ tăng do quá trình đô thị hoá (Theo tài liệu Quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020)
2 Dự báo về thu nhập
Thu nhập quốc dân sẽ chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng Công nghiệp,Xây dựng và Dịch vụ, giảm tỷ trọng Nông-Lâm-Thuỷ sản Ðến năm 2020 có cơcấu kinh tế giữa các ngành phù hợp với cơ cấu chung của cả nước
3 Dự báo nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản trong tỉnh
Căn cứ vào dự báo dân số và các nhu cầu của xã hội, dự báo nhu cầu tiêuthụ trong tỉnh qua các giai đoạn như sau:
I Nhu cầu lương thực (ngàn tấn) 531 530
1 Cho người (ngàn tấn) 334 315 220-250 kg/người/năm
2 Cho chăn nuôi (ngàn tấn) 80 110 15-20% tổng sản lượng
5 Hao hụt sau thu hoạch (ngàn tấn) 35 30 7-8% tổng sản lượng
6 Chế biến và nhu cầu # (ngàn tấn) 25 30
II Thực phẩm
1 Thịt hơi các loại (ngàn tấn) 27 29 20-25 kg/người/năm
2 Cá các loại (ngàn tấn) 16 21 12-15 kg/người/năm
3 Rau xanh các loại (ngàn tấn) 107 143 80-100 kg/người/năm
4 Quả các loại (ngàn tấn) 107 172 80-120 kg/người/năm
III Gỗ các loại (ngàn m3 ) 575 703
1, Gỗ XD và dân dụng (ngàn m 3 ) 55 63 0,04-0,05 m 3 /ng/năm
2, Gỗ NL và ván nhân tạo (ng m 3 ) 20 40
3, Gỗ NL giấy, dăm (ngàn m 3 ) 500 600
4 Dự báo thị trường tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản trong và ngoài nước
Một số mặt hàng nông sản của tỉnh như cam Bù, bưởi Phúc Trạch, lạc, rất
có ưu thế cạnh tranh trên thị trường trong nước, hiện nay nguồn cung chưa đápứng được cầu Ðây là điều kiện thuận lợi để Hà Tĩnh đẩy mạnh sản xuất các mặthàng mang tính đặc sản của địa phương
Trang 34Các sản phẩm chất lượng cao (gạo chất lượng cao, rau an toàn, quả chấtlượng cao, ) sẽ có nhu cầu tiêu dùng ngày một gia tăng mạnh, nhất là ở đô thị,các khu công nghiệp.
Các mặt hàng nông, lâm, thủy sản có khả năng xuất khẩu của tỉnh ta như:
mủ cao su, sản phẩm từ gỗ, lạc nhân, chè, trầm hương và tinh dầu trầm, thuỷ hảisản, quả các loại là những mặt hàng xuất khẩu có triển vọng của Hà Tĩnh trongtương lai
5 Dự báo về phát triển khoa học công nghệ
Thế kỷ 21 là thế kỷ của công nghệ sinh học và công nghệ thông tin Các tiến
bộ khoa học kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi đi theo hướng năng suất và chấtlượng cao; hệ thống canh tác tiên tiến không ngừng được phát triển và áp dụngrộng rãi trong sản xuất Công nghệ thông tin sẽ thúc đẩy công tác quản lý, tiếp cậnthị trường và điều chỉnh quá trình sản xuất, đây là động lực quan trọng để pháttriển sản xuất theo hướng hàng hoá và bền vững
- Sẽ áp dụng mạnh mẽ công nghệ nuôi cấy mô, vi ghép để tạo giống gốc,loại trừ một số bệnh virus nguy hiểm, tạo cơ hội tốt cho ra đời các loại giống câyđặc sản, quý hiếm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của thị trường và thị hiếu
- Việc gia nhập WTO và xóa bỏ hàng rào thuế quan sẽ tạo cơ hội hội nhậpquốc tế, các tiến bộ kỹ thuật của các nước tiên tiến có điều kiện để chúng ta đượctiếp cận và ứng dụng vào sản xuất
- Trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn,việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản và chế biến sảnphẩm sau thu hoạch sẽ liên tục được cải thiện, góp phần đẩy mạnh sản xuất, tăng
vụ, tăng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích canh tác và đảm bảo tính ổn định bền vững
Cơ giới hoá, điện khí hoá sẽ thúc đẩy nhanh việc tăng năng suất lao động,làm chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn
- Các hệ thống canh tác bền vững sẽ được nghiên cứu đưa vào sản xuất, làmgiảm giá thành, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm
III ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ, THÁCH THỨC
1 Lợi thế
- Việt Nam đã gia nhập WTO, APTA, đã tạo ra khu vực thị trường rộng lớn,đây là cơ hội để tỉnh ta đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá nông -lâm- thuỷ sản của tỉnh
và tiếp cận với nhiều nguồn vốn đầu tư, từ các dự án ODA, FDI, NGO
- Trung ương Ðảng đã có Nghị quyết 26, Tỉnh uỷ có Nghị quyết 08 về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng với vấn đềlớn này, là cơ hội để đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nôngthôn
- Hà Tĩnh có vị trí địa lý kinh tế khá thuận lợi để giao lưu kinh tế với 2 miềnNam -Bắc và các nước trong khu vực; có bờ biển dài, với nhiều cửa sông, cửalạch, ngư trường rộng; tài nguyên rừng phong phú, quỹ đất sản xuất lâm nghiệp
Trang 35nhiều, có hệ sinh thái đa dạng, phù hợp với nhiều loài cây trồng, vật nuôi là điềukiện để phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú.
- Có nhiều dự án trọng điểm đang triển khai, các khu công nghiệp, các nhàmáy đã và sẽ được xây dựng trên địa bàn tỉnh, là cơ hội để đẩy nhanh quá trìnhchuyển dịch cơ cấu lao động và mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá
- Có lực lượng lao động tại chổ dồi dào, cần cù chịu khó, có lực lượng laođộng người Hà Tĩnh làm việc, học tập, nghiên cứu ở ngoài nước và các tỉnh bạnkhá lớn là một nguồn lực đóng góp vào tiến trình đi lên của tỉnh
- Có một số sản phẩm đặc sản, truyền thống và có nhiều tiềm năng như:Bưởi Phúc Trạch, Cam bù, Cao su, Trầm hương, Hươu sao, Tôm, Cua, Mực
2 Hạn chế, thách thức
- Phần lớn diện tích của tỉnh có địa hình dốc, đất bạc màu, giữ nước kém
Khí hậu, thời tiết đã khắc nghiệt lại cộng thêm biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ dẫn
đến các biến động về thời tiết như hạn hán, lụt lội, bão to và nước biển dâng sâubệnh, dịch hại ở cây trồng, vật nuôi xẩy ra liên tục đe doạ đến sản xuất và đời sốngcủa nông dân
- Lạm phát tăng cao, suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ xuất hiện nhiều vấn đềmới khó lường, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển nông nghiệp và kinh tế nôngthôn
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn còn thấp kém, bất cậpnhư: giao thông, thủy lợi, điện không đáp ứng được trong thời kỳ mới, thời kỳsản xuất hàng hóa quy mô lớn; đặc biệt hạ tầng ở các khu tái định cư đang đặt ranhiều vấn đề cần có nguồn lực để giải quyết Yêu cầu phát triển nhanh, nhưngngân sách của tỉnh còn eo hẹp, dân nghèo huy động nội lực hạn chế, kiến thức vềphát triển bền vững còn non yếu
- Công nghiệp và dịch vụ của tỉnh quy mô còn nhỏ, chưa thu hút được nhiềulao động nông thôn Các doanh nghiệp hoạt động trong nông nghiệp, nông thônvừa thiếu về số lượng, vừa yếu về năng lực tài chính và đặc biệt là chưa gắn kếtđược tiêu thụ, chế biến sản phẩm của nông nghiệp sản xuất ra và chưa góp phầnchuyển dịch lao động nông thôn
- Ruộng đất manh mún, phân tán, quy mô sản xuất nhỏ bé, kinh tế tư nhân,trang trại, kinh tế HTX chậm phát triển Sản phẩm sản xuất ra hàm lượng khoa họcthấp, giá thành cao, chất lượng thấp, phân tán khó tiêu thụ trên thị trường trongnước và thế giới; hệ thống xúc tiến thương mại yếu, chưa dự báo được cho sảnxuất
- Cấp ủy, chính quyền một số nơi chưa thực sự quan tâm đúng mức đối vớinông nghiệp, nông thôn, còn hình thức, hành chính, phong trào, thiếu tính chiềusâu, chiến lược Ðội ngũ cán bộ cấp xã đặc biệt là cán bộ KHKT nông nghiệp,nông thôn còn thiếu, yếu và chế độ không đảm bảo Đời sống và việc làm củangười tái định cư còn đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Lao động nông thôn phầnlớn chưa được đào tạo, nhận thức của nông dân không theo kịp với tình hình mới,
có tư tưởng trông chờ, ỷ lại, tự ty, không mạnh dạn đầu tư
Trang 36- Hội nhập kinh tế Quốc tế sẽ tạo sự cạnh tranh gay gắt, trong khi chấtlượng hàng hoá nông lâm sản của tỉnh chưa cao, trước mắt sẽ phải cạnh tranh vớicác tỉnh bạn và các nước như Thái Lan, Trung Quốc
- Thiếu các doanh nghiệp và doanh nhân kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp,thiếu kiến thức kinh tế và thông tin về thị trường, hệ thống xúc tiến thương mạiyếu
IV QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
1 Quan điểm phát triển
- Phát triển Nông nghiệp - Nông thôn toàn diện theo hướng sản xuất hànghóa quy mô lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranhcao Gắn sản xuất với chế biến, đa dạng hoá sản phẩm, từng bước thực hiện CNH -HÐH nông nghiệp - nông thôn
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, mùa vụ phù hợp với từng vùngsinh thái, ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao,tăng nhanh sản phẩm hàng hóa xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biếntrên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia
- Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa Phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế nhằm thu hút mọinguồn lực đầu tư vào phát triển Nông nghiệp - Nông thôn
- Gắn tăng trưởng kinh tế với xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vậtchất, tinh thần và nâng cao dân trí của người nông dân, thực hiện các chính sách
xã hội, xây dựng văn hoá làng bản, bài trừ các tệ nạn xã hội góp phần xây dựngnông thôn mới
2 Định hướng phát triển
- Tập trung khai thác tốt mọi tiềm năng về đất đai, lao động để phát triểnNông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hóa với tốc độnhanh, bền vững Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nôngnghiệp - nông thôn, mở rộng ngành nghề dịch vụ, đa dạng hoá các loại hình sảnxuất trong nông nghiệp - nông thôn
- Xây dựng và phát triển các vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, côngnghệ cao nhằm cung cấp sản phẩm cho xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp chế
xuất lương thực phù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất đi đôivới nâng cao chất lượng, bảo đảm an ninh lương thực trong mọi tình huống
- Ðẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất nhất
là công nghệ sinh học, giống cây con, kỹ thuật thâm canh, kỹ thuật tưới tiêu,BVTV, thú y nhằm tăng năng suất cây trồng vật nuôi, nâng cao chất lượng và hạgiá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường
- Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp - nông thôn như giaothông, thuỷ lợi Trước hết phải đảm bảo nước tưới ổn định cho diện tích lúa,đồng thời ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi tưới cho các vùng cây
Trang 37công nghiệp tập trung Ðầu tư phát triển hệ thống giao thông nông thôn, giaothông cho các vùng nguyên liệu
- Ðào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp - nông thôn, nhất là đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở; tăng cường tập huấn kỹ thuật canh tác, bảo quản, chế biến Nông,Lâm, Thuỷ sản và ngành nghề cho nông dân
- Khuyến khích phát triển các loại hình kinh tế với những hình thức hợp tác
đa dạng, tự nguyện, đáp ứng nhu cầu của các thành viên, phù hợp ngành nghề trênđịa bàn
- Tiếp tục thực hiện việc chuyển đổi, tích tụ ruộng đất góp phần thực hiệnthành công CNH - HÐH nông nghiệp, nông thôn
- Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đảm bảo đáp ứng nhucầu của quá trình phát triển Nông nghiệp - Nông thôn và xây dựng nông thôn mới
V MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1 Mục tiêu tổng quát
- Tiếp tục xây dựng nền Nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, sảnxuất hàng hoá lớn, đa dạng, bền vững, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khảnăng cạnh tranh cao; đảm bảo vững chắc an ninh lương thực Quốc gia, giải quyếtviệc làm và ổn định cuộc sống của nông dân
- Nhanh chóng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân nôngthôn, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùngmiền; nông dân có trình độ sản xuất ngày càng cao, có bản lĩnh chính trị vữngvàng, đủ khả năng làm chủ nông thôn mới
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơcấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; xã hội nông thôn ổn định;môi trường sinh thái được bảo vệ Nâng cao năng lực phòng chống giảm nhẹ thiêntai, hoàn chỉnh hệ thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ ven biển, đáp ứng yêucầu phòng chống lụt bão, ngăn mặn và chống nước biển dâng Ngăn chặn, xử lýtình trạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nôngthôn
2 Mục tiêu đến năm 2010 (điều chỉnh các mục tiêu đã được phê duyệt)
Tập trung đẩy mạnh phát triển Nông nghiệp, đảm bảo tốc độ tăng trưởngGTSX nông, lâm, thuỷ sản đạt trên 3%/năm; kim ngạch xuất khẩu đạt 42 triệuUSD; sản lượng lương thực có hạt đạt 53 vạn tấn; thịt hơi các loại 6,8 vạn tấn; mủcao su khô 2,1 ngàn tấn; chè búp khô 1,1 ngàn tấn; sản lượng gỗ rừng tự nhiên và
trồng 1,8 vạn tấn; muối 3,6 vạn tấn; 15% lao động nông nghiệp được đào tạonghề; tỷ lệ hộ nghèo dưới 22%; 40% kênh mương nội đồng được cứng hoá, 35%đường giao thông nông thôn được rải nhựa và bê tông
3 Mục tiêu định hướng đến năm 2020
Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5-4%/năm; tỷ trọng giá trị sảnxuất chăn nuôi trong nông nghiệp chiếm 50%; duy trì ổn định 55.000 ha diện tíchđất trồng lúa, tổng sản lượng lương thực đạt trên 55 vạn tấn, đảm bảo vững chắc
Trang 38an ninh lương thực; giá trị xuất khẩu đạt 90 - 100 triệu USD; thịt hơi các loại 9,8vạn tấn; mủ cao su khô 15,1 ngàn tấn; chè búp khô 4,7 ngàn tấn; sản lượng gỗ
lượng thuỷ sản nuôi trồng 2,9 vạn tấn; muối 3,6 vạn tấn; kiên cố hoá 100% kênhmương thuỷ lợi cấp 1 và cấp 2, đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tíchđất lúa 2 vụ, mở rộng diện tích tưới cho cây công nghiệp, cấp thoát nước chủ độngcho diện tích nuôi trồng thuỷ sản; 80% đường giao thông nông thôn đạt chuẩn;xây dựng hạ tầng nghề cá đồng bộ; 50% lao động nông nghiệp được đào tạo nghề;giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống 4-5%; phấn đấu 50% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới;
Cơ bản nhà ở của dân được xây dựng kiên cố và bán kiên cố; 100% hộ đượcdùng nước, hố xí, nhà tắm hợp vệ sinh; 100% người dân sử dụng nước sạch đạttiêu chuẩn quốc gia
VI ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG QUY HOẠCH CHO CÁC LĨNH VỰC
Quy hoạch 2010
Cơ cấu (%)
Ðịnh hướng 2020
Cơ cấu (%) Tổng DT tự nhiên 602.650 100,00 602.650 100,00 602.650 100,00 A- Ðất Nông nghiệp 486.978 80,81 497.508 82,55 497.045 82,48
I- Ðất sản xuất nông nghiệp 117.801 19,55 124.466 20,65 131.978 21,90
1- Ðất trồng cây hàng năm 85.891 14,25 84.582 14,04 81.724 13,56
II- Ðất sản xuất lâm nghiệp 364.468 60,48 364.248 60,44 355.248 58,95
bệnh, chất lượng cao, tạo được thương hiệu Quy hoạch sản xuất một số cây trồng
chính như sau:
Trang 392.1.1 Cây lương thực
a- Cây lúa: Khai thác tối đa quỹ đất trồng lúa để đạt 95.726 ha diện tích gieo
trồng vào năm 2010 (11.500 ha chất lượng cao), trong đó vụ Ðông xuân 51.185
ha, Hè thu và Mùa 44.541 ha, sản lượng đạt 48,8 vạn tấn; định hướng bố trí 91.735
ha vào năm 2020 (17.100 ha chất lượng cao), trong đó vụ Ðông xuân 48.456 ha,
Hè thu và Mùa 43.280 ha, sản lượng đạt 50 vạn tấn Bố trí các vùng sau:
- Vùng phía Bắc (gồm Ðức Thọ, Can Lộc, Lộc Hà, Nghi Xuân và TX HồngLĩnh): Quy hoạch 37.853 ha vào năm 2010 và 36.590 ha vào năm 2020
- Vùng Giữa (gồm TP Hà Tĩnh, Thạch Hà và Cẩm Xuyên): Quy hoạch29.853 ha vào năm 2010 và 29.087 ha vào năm 2020
- Vùng phía Nam (gồm Kỳ Anh và 4 xã của Cẩm Xuyên): Quy hoạch14.025 ha vào năm 2010 và 12.183 ha vào năm 2020
- Vùng phía Tây (gồm Hương Khê, Hương Sơn và Vũ Quang): Quy hoạch13.994 ha vào năm 2010 và 13.875 ha vào năm 2020
b- Cây ngô: Mở rộng diện tích ngô nhằm đảm bảo an ninh lương thực và
phục vụ chăn nuôi, trong đó chú trọng phát triển ngô vụ Đông Quy hoạch 11.400
ha vào năm 2010, trong đó vụ Xuân 1.874 ha, Hè thu 955 ha và vụ Đông 8.571 ha,sản lượng 4,2 vạn tấn; định hướng phát triển lên 13.800 ha vào năm 2020, trong
đó vụ Xuân 2.800 ha, Hè thu 993 ha và vụ Đông 10.007 ha, sản lượng 5,7 vạn tấn
- Vùng dọc QL IA và ven biển (thuộc Nghi Xuân, Lộc Hà, Can Lộc, Thạch
Hà, TP Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh): Quy hoạch 3.849 ha vào năm 2010 và5.487 ha vào năm 2020
c- Cây khoai lang: Cây khoai lang truyền thống chủ yếu trồng xen vụ và để
phục vụ chăn nuôi Trong thời gian tới cần đưa giống khoai lang Nhật Bản vàotrồng thử nghiệm ở vùng đất đồi, nếu có hiệu quả thì đưa và quy hoạch phát triểnsau năm 2010
2.1.2 Cây công nghiệp ngắn ngày
a- Cây lạc: Quy hoạch 22.700 ha vào năm 2010, trong đó vụ Xuân 21.000
ha, Hè thu + Đông 1.700 ha, sản lượng 44,4 ngàn tấn; đến năm 2020 định hướngphát triển lên 26.000 ha, trong đó vụ Xuân 22.900 ha, Hè thu + Đông 3.100 ha, sảnlượng 61,3 ngàn tấn Bố trí các vùng sau:
- Vùng ven sông La (thuộc Ðức Thọ và Thị xã Hồng Lĩnh): Quy hoạch1.750 ha năm 2010, phát triển lên 2.323 ha vào năm 2020
- Vùng ven sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố (thuộc Hương Khê, Vũ Quang vàHương Sơn): Quy hoạch 6.531 ha năm 2010 và 7.607 ha vào năm 2020
Trang 40- Vùng dọc QL IA và ven biển (thuộc Nghi Xuân, Lộc Hà, Can Lộc, Thạch
Hà, Cẩm Xuyên, TP Hà Tĩnh và Kỳ Anh): Quy hoạch 14.419 ha vào năm 2010;phát triển lên 16.071 ha vào năm 2020
b- Cây sắn nguyên liệu: Quy hoạch diện tích tập trung khoảng 3.600 ha để
cung cấp cho nhà máy chế biến tinh bột của Công ty VEDAN Việt Nam tại KỳAnh Dự kiến bố trí tại các huyện: Kỳ Anh 2.550 ha, Cẩm Xuyên 550 ha vàHương Khê 500 ha Sau năm 2010 có thể tăng diện tích lên 4.000 ha
2.1.3 Cây ngắn ngày khác
a- Cây đậu: Quy hoạch 13.368 ha vào năm 2010, sản lượng 13,1 ngàn tấn;
đến năm 2020 định hướng phát triển lên 15.273 ha, sản lượng 16,3 ngàn tấn trong
đó chủ yếu bố trí trồng vụ Hè thu Bố trí các vùng như sau:
- Vùng ven sông La (thuộc Ðức Thọ và Thị xã Hồng Lĩnh): Quy hoạch1.755 ha vào năm 2010; phát triển lên 2.013 ha vào năm 2020
- Vùng ven Ngàn Sâu, Ngàn Phố (thuộc Hương Khê, Vũ Quang và HươngSơn): Quy hoạch 7.339 ha và năm 2010; phát triển lên 7.369 ha vào năm 2020
- Vùng dọc QL IA và ven biển (thuộc Nghi Xuân, Lộc Hà, Can Lộc, Thạch
Hà, TP Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh): Quy hoạch 4.212 ha vào năm 2010;phát triển lên 5.864 ha vào năm 2020
b- Cây rau đậu thực phẩm: Quy hoạch 11.232 ha, sản lượng 80,3 ngàn tấn
năm 2010 và định hướng phát triển lên 14.015 ha, sản lượng 112,1 ngàn tấn Chútrọng phát triển một số loại rau cao cấp và rau sạch như xu hào, cải bắp, dưachuộtớtco ve, cô bơ, hành, tỏi, ớt phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của cư dân đôthị và các khu công nghiệp
c- Hoa, cây cảnh: Phát triển nghề trồng hoa, cây cảnh để cung cấp cho thị
trường trong tỉnh khi nhu cầu ngày càng tăng cao Bố trí ở những vùng đã có kinhnghiệm và truyền thống như Thạch Quý, Thạch Yên (TP Hà Tĩnh), Thị trấn ĐứcThọ, Thị trấn Kỳ Anh, Thạch Tân (Thạch Hà) với quy mô 20 - 40 ha
2.1.4 Cây công nghiệp dài ngày
a- Cây cao su: Quy hoạch 10.000 ha vào năm 2010 (trong đó tập trung
9.500 ha và tiểu điền 500 ha), sản lượng 2.118 tấn mủ khô; định hướng đến năm
2020 phát triển lên 20.000 ha (trong đó tập trung 17.000 ha và tiểu điền 3.000 ha),sản lượng 15.148 tấn mủ khô Bố trí trồng ở các huyện theo các giai đoạn: HươngKhê 6.342 và 11.640 ha, Kỳ Anh 2.219 và 2.450 ha, Hương Sơn 200 và 1.840 ha,Can Lộc 150 và 340 ha, Thạch Hà 127 và 460 ha, Vũ Quang 562 và 1.800 ha, ÐứcThọ 400 và 890 ha, Cẩm Xuyên 600 ha (bố trí sau năm 2010)
b- Cây chè công nghiệp: Năm 2010 quy hoạch 1.180 ha, sản lượng 5.781 tấn
búp tươi; định hướng đến năm 2020 phát triển lên 2.479 ha, sản lượng 24.790 tấnbúp tươi Bố trí ở các huyện theo giai đoạn: Hương Khê 213 và 250 ha, Kỳ Anh
391 và 835 ha, Hương Sơn 359 và 869 ha, Vũ Quang 217 và 525 ha
2.1.5 Cây ăn quả
a- Cây bưởi: Năm 2010 quy hoạch 2.150 ha (trong đó bưởi Phúc Trạch
2.000 ha, bưởi đường Hương Sơn 150 ha) sản lượng 12.431 tấn; đến năm 2020