TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI KHOA VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HOÁ CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ MƯỜNG Ở QUÝ HÒA, LẠC SƠN, HÒA BÌ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI KHOA
VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN VĂN HOÁ
CHUYÊN NGÀNH VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ MƯỜNG Ở QUÝ HÒA, LẠC SƠN, HÒA
BÌNH VỚI NGHỀ LÀM Y PHỤC
TRUYỀN THỐNG
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện Lớp
HÀ NỘI -
PGS.TS TRẦN BÌNH BÙI THỊ THANH THỦY VHDT
Trang 2Do khả năng có hạn, chăc chắn khóa luận sẽ không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, em mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ Thầy cô và những người quan tâm tới Khóa luận.
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2015.
Bùi Thị Thanh Thủy
Trang 31.1.
Trang 41.2 Vai trò của phụ nữ Mường trong trang trí y phục
1.2.1 1.2.2
4
Trang 51.2.3 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
1.2.4 PHỤ LỤC ẢNH 70
Trang 61.2.5. MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.2.6. Sự biến đoi văn hóa luôn là vấn đề nóng và được nhiều nhà nghiên cứu cũng như giới truyền thông quan tâm sâu sắc bởi biến đổi văn hóa không chỉ ảnh hưởng đến cả một nền văn hóa đất nước mà còn tác động tới cả một nền kinh tế hiện đại, đặc biệt là kinh tế du lịch Quan trọng hơn, nó còn có một sự ảnh hưởng không nhỏ tới cả một hệ thống con người về mặt nhân cách, ứng xử
1.2.7. Trong đó, y phục dân tộc Mường là một thành tố văn hóa vật thể quan trọng nhất Không chỉ có chức năng bảo vệ, che đậy cơ thể con người về thể chất mà
y phục còn phản ánh một nền văn hóa, nếp sống tộc người, quan điểm thẩm mĩ của tộc người và trình độ phát triển thủ công nghiệp của tộc người đó Thông qua y phục chúng ta còn có thể đoán biết được môi trường sinh sống của họ ở đồng bằng hay miền núi, thậm chí có thể đoán biết được họ sinh sống xen kẽ với những tộc người nào rồi nhận diện được tộc người này với tộc người khác Chính vì vậy, y phục hay trang phục là một trong những đối tượng nghiên cứu phổ biến của nhân học văn hóa.
1.2.8. Bên cạnh đó, y phục Mường hiện nay ở xã Quý Hòa mặc dù vẫn còn khá phổ biến nhưng đã thay đổi nhiều về hình thức, cách thức sử dụng và tác động lớn
nhất đến sự thay đổi này là sự biến đổi về vai trò của phụ nữ
1.2.9. Mường đối với việc làm và sử dụng y phục.
1.2.10 Chính vì những lí do trên chúng tôi lựa chọn: Vai trò của phụ
nữ Mường ở Quý Hòa, Lạc Sơn, Hòa Bình với nghề làm y phục truyền thống làm đề
tài Khóa luận Tốt nghiệp cử nhân ngành Văn hóa Dân tộc Thiểu số.
2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
1.2.11 Mục đích: Khẳng định vai trò của phụ nữ Mường ở Quý Hòa đối với
bải tồn văn hóa Mường truyền thống
1.2.12 Nhiệm vụ:
1.2.13.Khái quát về người Mường ở Quý Hòa, văn hóa Mường ở Quý Hòa 1.2.14.Tìm hiếu các đặc điếm y phục Mường truyền thống, và thay đoi của nó
Trang 7hiện nay.
1.2.15.Tìm hiếu vai trò của phụ nữ Mường ở Quý Hòa đối với việc sáng tạo
và sử dụng y phục truyền thồng.
1.2.16.Tìm kiếm một số giải pháp bước đầu, với mong muốn góp phần bảo
tồn y phục truyền thống Mường ở xã Quý Hòa.
3 Lịch sử nghiên cứu
1.2.17.Trang phục của người Mường đã được rất nhiều nhà nghiên cứu nổi
tiếng đề cập đến trong các công trình của mình như Người Mường - Địa lí nhân văn
và xã hội của Jean Cusinier (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người của Nguyễn Từ Chi (1995), Người Mường ở Hòa Bình của Trần Từ (1996), Người Mường ở Việt Nam của Vũ Tuyết Mai và Bùi Đức Tân (1999), Tang lễ của người Mường ở Hòa Bình của Nguyễn Thị Song Hà (2009) Tuy nhiên những tác phẩm này mới chỉ đề cập đến các khía cạnh khác nhau của trang phục Mường mà chưa nêu được
rõ nhất vai trò của phụ nữ trong làm trang phục cũng như sử dụng và bảo tồn trang phục truyền thống của dân tộc.
1.2.18. Bên cạnh đó, tôi còn muốn thế hiên rõ hơn sự biến đổi vai trò của phụ nữ làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn trang phục dân tộc như thế nào đế từ đó có phương pháp giải quyết hoặc hạn chế sự mai một văn hóa trang phục
1.2.19.Mường ở xã Quý Hòa.
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.2.20.Đối tượng nghiên cứu : Vai trò của phụ nữ Mường trong việc làm y
phục truyền thống Trong đó, trọng tâm nghiên cứu là y phục phụ nữ.
1.2.21.Phạm vi thời gian: Truyền thống từ năm 1990 trở về trước và hiện tại
là đầu năm 2015.
1.2.22.Phạm vi không gian : Xã Quý Hòa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
Trong đó tập chung nghiên cứu chủ yếu ở Xóm Khả 1, Xóm Cốc, Xóm Cáo và xóm Thung 1, Thung 2 là những thôn điển hình về dệt tho cẩm và có nhiều nghệ nhân giỏi
Trang 8dệt may trang phục truyền thống.
5 Phương pháp nghiên cứu
1.2.23.Trong quá trình hoàn thành khóa luận, phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sẽ được tuyệt đối tuân thủ Đó là sự nhìn nhận y phục Mường ở Quý Hào và vai trò của phụ nữ Mường ở đây đối với việc sản xuất và sử dụng y phục truyền thống, trong sự tương tác tất yếu của của các yếu tố: tộc người (phong tục tập quán); đặc điếm môi trường cư trú, giao tiếp văn hóa; cũng như các chương trình kinh tế - xã hội khác, muốn bảo tồn y phục truyền thống Mường ở Quý Hòa buộc phải thỏa mãn các mối quan hệ trên.
- Nghiên cứu thực địa là phương pháp tiếp cận chủ đạo của bài khóa luận này Các kỹ thuật chủ yếu bao gồm: Tham dự, quan sát, phỏng vấn, hỏi chuyện, ghi chép, được
sử dụng trong quá trình điều tra, nghiên cứu thu thập tư liệu ở các xóm Mường Quý Hòa Đế thu thập tư liệu, tác giả đã nghiên cứu thực địa ở Quý Hòa nhiều đợt Trong thời gian trên, tôi gặp gỡ các vị lãnh đạo, cán bộ các ban ngành, các cụ bà người cao tuoi, các cán bộ chi hội phụ nữ, các thợ dệt may giỏi và phụ nữ ở Quý Hòa, cũng như huyện Lạc Sơn, Kết quả thu được từ các đợt nghiên cứu thực địa là nguồn tư liệu chính, đế xem xét nghiên cứu, thực hiện khóa luận này.
- Đế bổ sung tư liệu, nghiên cứu tài liệu thứ cấp, trong các tài liệu đã công bố, cũng được chú trọng thực hiện Đó là những công trình nghiên cứu về trang phục, y phục,
tổ chức xã hội, ma chay, cưới xin, tín ngưỡng, thờ cúng, cách thức tổ chức sản xuất, tổ chức cộng đồng, của người Mường và Quý Hòa nói riêng và ở Lạc Sơn nói chung; Những tài liệu liên quan đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động của các chi hội phụ nữ ở địa phương;
1.2.24. - Đe xử lý, phân tích các dữ liệu, phương pháp thống kê, so sánh, đã được sử dụng trong quá trình thực hiện trong báo cáo này.
6 Đóng góp của Khóa luận
1.2.25. Khóa luận sẽ góp phần bo sung tài liệu về trang phục Mường
Trang 9truyền thống, và vai trò của phụ nữ Mường trong dệt may trang phục truyền thống, ở Quý Hòa nói riêng và cuả người Mường ở Hòa Bình nói chung.
1.2.26. Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích đối với các
cơ quan, cá nhân đang thực hiện công tác bảo tồn trang phục, văn hóa truyền thống Mường ở Quý Hóa, Lạc Sơn và ở Hòa Bình.
7 Nội dung và bố cục của Khóa luận
1.2.27 Ngoài phần Mở Đầu, Kết Luận và Phụ lục ảnh Khóa luận
được trình bày trong 3 chương chính:
1.2.28 Chương 1: Khái quát về người Mường ở Quý Hòa.
1.2.29 Chương 2: Phụ nữ Mường ở Quý Hòa với việc sản xuất và sử dụng y phục trong xã hội truyền thống.
1.2.30 Chương 3: Phụ nữ Mường ở Quý Hòa với sản xuất và sử dụng
y phục dân tộc hiện nay ở Quý Hòa
Trang 101.1 Đặc điểm địa bàn cư trú.
1.2.36.Xã Quý Hòa được thành lập vào năm 1956, là xã đặc biệt khó khăn (xã 135 giai đoạn II theo Quyết định của
Thủ tướng Chính phủ) Xã Quý Hòa nằm ở phía Bắc của huyện Lạc Sơn, là xã vùng cao của Huyện, cách trung tâm huyện 20 km.
về vị trí địa lý
1.2.37.Phía Đông của xã tiếp giáp với xã Cuối Hạ của huyện Kim Bôi, xã Mỹ Thành, xã Văn Nghĩa của huyện Lạc
Sơn;
1.2.38.Phía Tây tiếp giáp xã Thượng Tiến của huyện Kim Bôi, và xã Miền Đồi của huyện Lạc Sơn;
1.2.39.Phía Bắc giáp xã Kim Tiến của huyện Kim Bôi;
1.2.40.Phía Nam giáp xã Tuân Đạo huyện Lạc Sơn.
Khí hậu
1.2.41.Xã Quý Hòa cũng như các xã khác trong toàn huyện nằm ở đới khí hậu nhiệt đới gió mùa, chính vì vậy có phân
thành mùa mưa và mùa khô rõ rệt Mùa mưa lượng mưa trung bình hàng năm là 1.900 mm, nhiệt độ bình quân tháng từ 23 - 250c, ngày nóng lên đến 36-400c, mùa đông ngày rét xuống đến dưới 100c Độ ẩm không khí trung bình 84%, cao nhất 100%, thấp nhất 24% Chế độ gió, hướng gió thịnh hành theo hai hướng Đông Nam và Đông Bắc Số giờ nắng trung bình mùa hè 6- 7giờ/ngày, mùa đông 3- 4giờ/ngày.
về thổ nhưỡng
1.2.42. Quý Hòa có nhiều loại đất, phù hợp với nhiều loại cây trồng, trong đó chủ yếu là đất đỏ vàng phát trien trên
đá phiến thạch sét, loại đất này phân bố chủ yếu ở vùng đồi, phù hợp với cây ăn quả,cây công nghiệp,
1.2.43.trồng lúa, bao gồm đất đồng ruộng, đất ven suối, đất thung lũng, đất đồi núi.
Tài nguyên nước
Trang 111.2.44. Xã Quý Hòa hiện nay sử dụng nguồn nước chính từ hồ trữ nước ( Hồ Khả ) thuộc địa phận của xã,
hồ trữ nước này có diện tích rất lớn khoảng 30 nghìn mét vuông, điểm sâu nhất tới gần 20m Nguồn nước
này chịu trách
1.2.45.nhiệm cho toàn bộ dân số trong khu vực xã sinh hoạt và sử dụng làm nguồn tới tiêu cho các loại cây lương thực, hoa
màu hay chăn nuôi.
1.2.46.Ngoài ra do địa hình chia cắt, gồ ghề nên xã Quý Hoà còn có hệ thống suối nhỏ cũng góp phần vào nguồn cung
cấp nước sinh hoạt, nước tưới cho phát triển nông nghiệp.
Hạ tầng giao thông
1.2.47.Nhìn chung giao thông trên địa bàn xã Quý Hòa đã được quy hoạch cụ thể và thuận tiện, đã có đường đo bê
tông từ trung tâm xã đến các thôn, làng Tuy nhiên, còn rất nhiều các con đường liên thôn hoặc đường nằm trên các thôn vùng cao hơn gần như còn rất khó khăn, nhiều đá mấp mô lởm chởm, đường lại dốc và trơn trượt vào ngày mưa nên gây nhiều nguy hiểm cho người qua lại, cũng gây khó khăn trong việc giao lưu, trao đổi buôn bán.
1.2.48. Đặc biệt đoạn đường dẫn lên thôn Thung 1 và Thung 2 dài 8km, hay thôn Rọi 1, Rọi 2 và Xóm
1.2.49.cùng khó khăn khi di chuyển Có lẽ cũng vì sự khó khăn về mặt giao thông mà văn hóa Mường ở các thôn Thung 1 và
Thung 2 còn rất đậm nét, nơi đây giống như một thế giới Mường cổ xưa độc lập vậy.
1.2 Nguồn gốc, tên gọi tộc người
1.2.50. Tài liệu về ngôn ngữ học, nhân chủng học, dân tộc học, khảo cổ
1.2.51.học chứng minh rằng người Mường ở Việt Nam có nguồn gốc là người
1.2.52.Việt cố, hay nói cách khác người Mường và người Việt hiện nay có cùng nguồn gốc.
1.2.53. Các nhà ngôn ngữ học xếp người Mường vào nhóm các dân tộc có tiếng nói thuộc ngôn ngữ Việt - Mường (Việt, Mường, Thố và Chứt) Tộc danh Mường nay đã được sử dụng phố biến vàrộng rãi Tuy
vậy, một số
1.2.54.nhóm địa phương còn có tên tự gọi là: Mon, Moi và Ao Tá Cùng với người Việt (Kinh), cộng đồng người Mường thuộc
khối cư dân Lạc - Việt cố, có mặt sớm nhất ở Việt Nam Trong quá trình phát triển, do những điều kiện lịch sử nhất định, vào khoảng thế kỷ IX- X, cộng đồng Việt - Mường cố đã tách ra thành hai tộc người riêng biệt như ngày nay Trong khi tộc người Việt cư trú tập trung ở đồng bằng châu thố và vùng duyên hải ven biển, thì cộng đồng người Mường cư trú tập trung ở vùng núi Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ và một số khu vực miền núi, trung du khác.
Trang 121.2.55.Người Mường tự nhận là Mol, Mual, Mon, Muan, Mó có nghĩa là “người” Ngày nay, Mường là tên gọi chính
thức được Nhà nước công nhận, và sử dụng trong các văn bản hành chính Hiện nay, Hòa Bình với bốn mường cố: Bi, Vang, Thành, Động, vẫn được coi là cái nôi gìn giữ văn hóa truyền thống của dân tộc Mường.
1.3 Đặc điểm mưu sinh, xã hội truyền thống
1.2.56.Xã Quý Hoà có 1.300 hộ với 6.015 nhân khẩu Trong đó, người Mường chiếm 99,8% Toàn xã có 17 xóm, được
phân chia thành hai vùng khác nhau, có 8 xóm ở vùng cao và 9 xóm ở vùng thấp hơn Cao nhất là hai xóm Đồi Thung 1 và Đồi Thung 2, có độ cao 1.070m so với mực nước biển, cách trung tâm xã 9km về phía Bắc.
1.2.57.• Đặc điểm mưu sinh
1.2.58.Trong hoạt động kinh tế, từ bao đời nay người Mường sống dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, khai thác
ruộng nương để trồng trọt và chăn nuôi Sống ở khu vực miền núi, họ đã biết khai thác tự nhiên để có đất canh
1.2.59. tác, tận dụng những khu đất có bề mặt tương đối bằng phang trong thung
1.2.60.lũng và ở khắp mọi nơi để làm ruộng Với kinh nghiệm làm thủy lợi được tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác, dựa
vào những nguồn nước ven sông và suối, họ đã thiết lập hệ thống mương, phai, xe nước, ống dẫn nước tự tạo chạy ngang dọc trên các cánh đồng, nhằm đưa nước đến các chân ruộng cao, phục vụ cho việc trồng lúa nước.
1.2.61.Hiện nay người Mường ở Quý Hòa trồng lúa là loại cây nông nghiệp chính, bên cạnh đó thì ngô và sắn là hai
loại cây trồng chiếm vị trí thứ hai trong đời sống kinh tế người Mường Ngoài ra thì còn có các loại cây trồng như Vừng, lạc, đậu, dưa chuột và các loại cây rau ăn thường ngày Có hai loại cây ăn quả rất phố biến trong mỗi gia đình người Mường đó là Cau và Bưởi, có thể có thêm Na, Mít nhưng số lượng ít, chỉ nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình Ở một số khu vực như thôn Thung một, Thung hai các hộ dân còn trồng và buôn bán măng đắng, măng bương - loại hình kinh tế này dần dần trở thành nguồn thu nhập lớn nhất trong các nghề của họ.
1.2.62.Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng là một nguồn thu nhập đáng kể Ngoài các con vật nuôi truyền thống như
trâu, bò, gà, lợn thì ngày nay nhiều hộ gia đình người Mường đã nuôi dê, bò lai, bò sữa, ong Họ biết tận dụng cây cỏ tự nhiên
để kết hợp cả hình thức nuôi thả rông lẫn nuôi nhốt trong chuồng trại.
1.2.63.Ngoài sản xuất nông nghiệp, người Mường hiện nay còn có hàng loạt các nghề khác cũng chiếm một vị trí kinh
tế nhất định trong mỗi gia đình Đó là các nghề thủ công như dệt thố cam, đan lát, bốc thuốc Nam, hay buôn bán các loại hàng hóa như bánh kẹo, các đồ dùng sinh hoạt.
1.2.64.• Đặc điểm xã hội
1.2.65. Người Mường từ xưa sinh sống trong một lãnh địa riêng, ranh giới mang tính ước lệ được đánh dấu bằng các
Trang 13gốc cây, tảng đá, con sông, con suối ranh giới ấy không chỉ để phân chia giữa khu vực sinh
sốngcủa người Mường với các dân tộc khác mà còn phân chia giữa các Bản Mường với nhau.
1.2.66.về to chức xã hội người Mường truyền thống ở Quý Hòa nói riêng, cũng như nhiều nơi ở Hòa Bình nói chung,
thiết chế xã hội tự quản, có nguồn gốc sinh sống từ lâu đời theo chế độ Hương quản, tương đương với chức vụ trưởng thôn như trong làng, bản bây giờ, thực hiện việc quán xuyến, quản lý mọi việc trong thôn về kinh tế, trật tự xã hội, văn hóa chính chế
độ Hương quản ấy là “chất keo dính” ràng buộc tất cả các gia đình, các cá nhân từng người có những mối quan hệ nhất định với nhau, tạo nên sự cố kết cộng đồng vô cùng chặt chẽ nếu không muốn nói rằng đôi khi trở nên bảo thủ.
1.2.67.Nhân tố để tạo nên “chất keo dính” cộng đồng ấy không chỉ có chế độ Hương quản là được, bởi còn một yếu tố
quan trọng không kém là mối quan hệ huyết thống gia đình, dòng họ Người Mường theo chế độ phụ hệ, mỗi gia đình, dòng họ đều có một người đàn ông lớn tuoi, có vai vế nhất đứng đầu và quyết định mọi vấn đề quan trọng của gia tộc Mỗi gia tộc cũng đều có những gia quy riêng mà mọi thành viên đều phải tuân thủ nghiêm ngặt Chính vì thế, trong các làng bản, các thôn xóm của người Mường luôn luôn có sự kết nối vô cùng chặt chẽ giữa lớp này chồng lên lớp khác, tỉ lệ cơ bản cho sự kết nối chung này vào khoảng 3 trong 1 Sự kết nối thứ ba ở đây là dựa trên quan hệ hợp tác trong các to chức hoạt động về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, các Chi hội phụ nữ trong các thôn, Hội phụ nữ Xã Quý Hòa.hiện nay.
1.2.68.Hiện nay ranh giới, địa phận các thôn, làng, xã đều được phân chia theo địa giới hành chính, lấy số lượng dân số
và diện tích đất đai làm căn cứ phân chia.
chảy xuốnggần hết cửa so Cửa so thường được
1.2.71.thiết kế ở đầu hồi và vách phía sau Đối với người Mường ở Quý Hòa, cửa sổ ở gian thờ tổ tiên (voóng tông) rất linh
thiêng, thường ngày họ kiêng đưa đồ vật và ngồi dựa vào cửa sổ này Tại hai đầu hồi người ta đặt hai cầu thang lên, xuống, có
số bậc lẻ, bằng gỗ hoặc tre Cầu thang phía gian ngoài (voóng tôông) dành cho nam giới, cầu thang phía gian trong (voóng khựa) dành cho nữ giới Cách bố trí nơi ăn ở trong nhà của họ tương đối thống nhất Nửa sàn phía trên (giáp voóng tôông)
Trang 14thường dùng để làm nơi ngủ, nghỉ, nửa phía dưới đặt bếp, là nơi sinh hoạt của gia đình Nếu tính theo chiều ngang sàn nhà,
phần bên ngoài (voóng tôông) dành cho nam giới, phần bên trong (voóng khựa) là khu vực của phụ nữ Bên ngoài, liền với
phần dành cho phụ nữ là sàn phơi và để nước ăn.
1.2.72.Xưa kia gầm sàn nhà người Mường ở Quý Hòa thường được dàng phần lớn làm nơi nhốt trâu, bò, lợn và các
loại gia cầm khác Phần còn lại là nơi đặt các loại cối giã, để nông cụ, và các đồ dùng khác Xung quanh khuôn viên cư trú của
họ thường bao bọc bằng hàng rào tre, nứa hoặc các loại cây gai (dứa, xương rồng, găng, ), có cổng ra vào Trong khuôn viên
cư trú của người Mường ở Quý Hòa, ngoài nhà ở thường là vườn trồng các loại cây ăn quả lưu niên, chè, mía, và các loại rau, đậu khác.
1.2.73. Ngày nay, làng xóm và nhà ở của người Mường ở Quý Hòa đã thay đổi rất nhiều Đa số các gia
đình người Mường ở Quý Hòa ở gần đường giao thông chính, các thị trấn, thị xã, đều
đã ở trong các ngôi nhà xây lợp ngói, hoặc mái bê tông To hợp kiến trúc nhà ở của họ có nhiều thay đoi Nhà ở, nhà bếp và chuồng trại gia súc dược thiết kế, xây dựng thành khu riêng biệt Khuôn viên cư trú đều được thu hẹp lại, đa số được xây hàng rào bao quanh Cổng ra vào được xây dựng chắc chắn, có cánh để khóa Làng xóm của họ cũng được bố trí, quy hoạch lại theo kiểu nông thôn mới, đường đi trong làng, xóm phần lớn đã dược làm bằng bê tông, lát đá hoặc gạch.
1.2.74.Tôi cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy có tới hơn 70% số ngôi nhà ở xã mang tổng thể vẫn là dạng nhà sàn
truyền thống Trong đó một số chi tiết có thay đoi theo chiều hướng tích cực hơn để thích nghi với sự biến đoi của môi trường
tự nhiên cũng như môi trường xã hội như dùng sơn để làm đẹp hơn cho ngôi nhà; nhiều gia đình thường tận dụng luôn không gian gầm sàn để dựng thêm phòng bếp, phòng ngủ; hay một số gia đình đã chuyển đổi từ dạng thức nhà sàn gỗ sang nhà sàn bê tông cốt thép bởi phải phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và các chính sách hạn chế khai thác rừng hiện nay.
1.2.75.• Y phục, trang sức
1.2.76. Y phục và trang sức của người Mường ở Quý Hòa cũng có nhiều nét độc đáo Nữ phục thường bảo lưu được nhiều nét truyền thống của dân tộc hơn y phục nam giới Một bộ y phục cổ truyền của phụ nữ Mường
thường bao gồm: khăn đội đầu (mu), áo cánh (ạo pắn), áo dài (ạo chụng), khăn thắt áo (đẹt ạo), yếm (yệm/áo báng),
1.2.77.ngày hội, ngày lễ, ngày tết phụ nữ Mường mặc áo chùng (ạo chụng) Ngày cưới cô dâu Mường thường mặc áo chùng
màu xanh, phù dâu mặc áo dài màu trắng Tất cả đều đội khăn trắng, đeo xà tích, vòng và nhẫn bằng bạc.
1.2.78 Bộ tang phục (đo tem) của phụ nữ Mường bao gồm: mũ mấn (như chiếc phễu úp), áo cánh ngắn (ạo pắn)
màu trắng, váy không cạp, thắt lưng trắng bằng vải mộc Tất cả đều may theo kiểu lộn trái, sổ gấu.
Trang 15Tang phục
1.2.79.của các nàng dâu trong đám tang bố mẹ chồng thường là váy đen mới, bên trong là áo pắn, áo báng, ngoài vận thêm áo gấm màu đỏ, có đính nhiều hạt cườm (tem quạt ma), cài khuy nách phải Người Mường ở Quý Hòa có câu ví: Diện như nàng dâu đi quạt (quạt ma là nghi thức trong tám tang do các nàng dâu thực hiện) Bố mẹ đẻ còn sống, nàng dâu mang tang phục như trên, trừ áo pắn màu trắng; nếu bố mẹ đẻ đã qua đời thì mặc đồ tem như bình thường.
1.2.80.Xét về nhiều mặt, cũng như đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu văn hóa thì chiếc váy của phụ nữ Mường thực
sự đóng vai trò trung tâm của hệ thống trang phục dân tộc Nó phủ không chỉ từ thắt lung trở xuống mà còn che cả phần ngực Hơn thế nữa trên phần cạp váy che ngực là nơi duy nhất phụ nữ Mường dụng công trang trí, là một mảng quan trọng còn lại của nghệ thuật tạo hình co truyền dân tộc.
1.2.81.Y phục truyền thống của nam giới người Mường ở Quý Hòa chủ yếu gồm áo cánh và quần, gần giống y phục
truyền thống của nam giới người Việt Áo cánh nam giới Mường may bằng vải mộc trắng, theo kiểu áo bà ba, bốn thân, hai thân sau ghép lại với nhau thành sống ở giữa lưng, co đứng tròn cao khoảng 1,5cm, thân dài trùm mông, hai vai có miếng vải
đệm hình bán nguyệt (lá môn) Phía dưới hai thân trước có túi, ở ngực phía thân trái may một túi, tay áo dài Quần truyền
thống của nam giới Mường may bằng vải mộc trắng, hoặc nhuộm nâu, chàm Đũng và ống quần rộng, không may cạp, khi mặc
người ta thắt dây lưng (tênh) bên ngoài Gần đây, loại quần này được may cạp to và luồn dây rút để thắt cho chặt khi vận Cổ xưa, nam giới người Mường ở Quý Hòa thường để tóc dài, búi tó và quấn khăn ba trồng trên đầu Cũng có người quấn khăn kiểu búi tó củ hành (đầu rìu) như người Việt xưa kia Tang phục của nam giới Mường gồm quần, áo chùng, khăn vải mộc
trắng, lộn sống và sổ gấu Con trai cả của người quá cố khi chịu tang bố mẹ phải đeo thêm một con dao.
1.2.82. Trong truyềnthống, phụ nữ cũng như đàn ông Mườngở Quý Hòa
1.2.83.không đi giầy, dép mà đi chân đất Bởi vốn họ cũng không thể tự tạo ra được giày dép cho mình, vậy nên họ luôn có
nước ở trên sân sàn sau nhà để làm sạch chân trước khi bước vào không gian trong nhà.
1.2.84. Đối với trẻ em, người Mường cho rằng trẻ sơ sinh sẽ ốm đau nếu như chúng được mặc quần áo, vì vậy người ta sẽ không mặc quần áo cho nó cho tới sáu, bảy tuổi Quátuổi đó, và cho tới lúc lớn lên, người
ta mặc cho trẻ
1.2.85.con là gái một chiếc váy theo tầm vóc của nó, giống hệt chiếc váy của những người đàn bà và một chiếc áo ngắn cho
trẻ con trai.
1.2.86.Trong các gia đình giàu có, người ta bắt đầu cho trẻ sơ sinh ăn mặc chút ít, và người ta mua cho nó đồ tã lót,
không bao giờ tìm chọn những thứ che phần dưới thân thể đứa bé.
Trang 161.2.87.Ở nhà nghèo hơn, người ta không nghĩ đến việc sẽ bỏ tiền ra may quần áo cho đứa trẻ mà sẽ dùng tiền đó để
mua cho nó một cái vòng bạc hoặc vòng đồng.
1.2.88.Đối với trẻ con là nam, khi chúng mặc chiếc quần đầu tiên, thông thường có nghĩa là từ bỏ không đeo vòng cổ
nữa.
1.2.89.• Trang phục ngày cưới
1.2.90.Trang phục trong ngày cưới của cô dâu là một bộ trang phục mới và đẹp nhất, do chính tay cô dâu làm ra Trên
đầu cô dâu chùm một chiếc khăn vuông trắng khổ 30 x 30 cm, được buộc thắt nút sau gáy Váy mặc dài chấm mắt cá chân, thắt
lưng lụa màu xanh lá cây Cạp váy ( tlôốk wặl; Cại wặl ) được dệt công phu hình rồng, hoa sen, nổi bật những màu sắc tươi
sáng.
1.2.91. Trang phục của chú rể Mường thường là áo chùng trắng mặc trong, áo chùng đen mặc ngoài,
Cả hai áo đều dài quá đầu gối - kiểu “mớ hai” hay
1.2.92. còn gọi là đóng đôi. Các phù rể mặc quầnlụa tơ tằm, đầu đội nón lá dứa,
1.2.93.chân đi giầy Gia Định.
1.2.94.Ngày nay hầu như không còn kiểu trang phục này, chàng rể và các chàng trai Mường đều mặc quần âu, áo trắng
và áo com lê giống như người Kinh.
1.2.95.• Trang phục trong đám tang ( đám Hiếu)
1.2.96.Tang phục của người Mường gọi chung là đồ tem Toàn bộ thân nhân của người quá cố đều phải mặc đồ tang 1.2.97 Với phụ nữ: váy không có cạp hoa, áo cánh, áo chùng, khăn, thắt lưng, tất cả những thứ đó đều bằng vải bông tự
dệt, màu trắng, may kiểu lộn trái ra ngoài Việc mặc đồ tang của người Mường còn tùy thuộc vào hoàn cảnh từng gia đình, từng gia tộc Nếu con dâu mà bố mẹ đẻ của mình còn sống thì chỉ mặc váy, tênh và khăn trắng để tang bố mẹ chồng Nếu một trong hai bố mẹ đẻ đã mất thì mặc thêm áo cánh trắng, còn đã mất cả thì mặc đủ tang phục như đã nêu trên.
1.2.98.Trong tang lễ Mường có người phải đóng vai trò quạt ma, những người này có trang phục riêng trong khi thầy
mo làm lễ mời mời cơm, mời bánh cho hồn người quá cố Người được chọn mặc đồ tang quạt ma thường là em dâu, con dâu, cháu dâu thuộc bên nội hay bên ngoại Bộ tang phục này thường rất đẹp, lộng lẫy Váy đen có cạp hoa đẹp, yếm đỏ, áo cánh mới, áo chùng trắng bên ngoài, khoác thêm áo thụng may bằng vải màu đỏ, cài kuy cúc ở bên trái Trên tay đeo nhiều vòng, nhẫn đẹp, tay phải cầm quạt múa, tay trái cầm một cành cây vót tròn, trên treo chiếc kéo và mảnh lá hình bàn tay gọi là “bàn tay ma”.
1.2.99. Người quạt ma đội khăn bên trong và mũ ở bên ngoài, các góc mũ có treo những dây tua rủ thấp,
Trang 17trên đó treo những mảnh vải nhiều màu, hạt
1.2.100. cườm bộ tang phụcnày đẹp tới mức mà phương ngôn Mườngcó câu
1.2.101. “Diện như nàng dâu đi quạt” Đây cũng là hình ảnh tương phản với bộ tang phục bình thường toàn màu trắng, không trang trí và lộn trái ra ngoài.
1.2.102 Tang phục của nam giới, Gồm: Quần, áo cánh ngắn, áo chùng, khăn bịt đầu, được làm bằng vải bông màu
trắng, may kiểu lộn trái ra ngoài để mặc Các con ttrai của người quá cố phải mặc đầy đủ bộ tang phục, riêng con trai cả thì phải đeo thêm vỏ dao Những người khác chỉ phải mặc một vài bộ phận như em trai, con rể, cháu trai chỉ phải mặc quần và chit khăn tang Những người họ hàng thân thích tới dự cũng được phát khăn tang để đội.
1.2.103. Sau đám tang, thường thì người Mường sẽ không giữ lại bộ tang phục để dự các đám tang sau này, mà thay vào đó họ đợi sau một trăm ngày rồi đem quần áo trắng đi nhuộm đen để có thể sử dụng làm trang phục khác, trừ có cái Yếm của phụ nữ Tuy nhiên ở Quý Hòa cũng có nhiều trường hợp phụ nữ sau khi dự tang lễ vẫn giữ lại váy tang để dùng cho các lần sau để tiết kiệm vải và tiện sử dụng.
1.2.104. Ngoài số vải làm đồ tang, còn dùng khâm liệm cho người chết Người Mường có tục quấn rất nhiều lớp vải cho người chết Khi bố mẹ qua đời, mỗi người con phải có 6 mét vải để bọc ngoài quan tài, lượt vải ngoài cùng là của người con út, dùng vải bọc như vậy còn gọi là áo quan tài (áo tròn) Tất cả số vải được dùng làm áo quan tài đó hầu hết đều là của các con gái, con dâu tự dệt Số vải này gần như đã được họ chuẩn bị từ trước để dành cho bất những trường hợp tang ma
có thể xảy ra.
1.2.105. Trong đám tang, thầy mo giữ vai trò rất quan trọng và có trang phục riêng Thầy mo mặc áo chùng xanh, may kiểu cài cúc bên nách phải, gấu áo phủ gót, gấu đáp thêm vải đỏ phía trong, tay rộng, áo may rộng, không xẻ tà, đội mũ xanh hình chóp Còn có loại mũ khung cứng, phía trước và sau trang trí hình hai nửa vòng tròn khép lại Tay trái cầm quạt lông hay quạt giấy vẽ hình rồng, tay phải cầm chuông nhỏ, lắc điểm nhịp cho bài mo đưa hồn Khi đưa ma, thầy mo đi trước tay cầm kiếm, dẫn hồn người quá cố đi tới huyệt, chỉ cho hồn ở đó, rồi cởi tang phục, quay về bản theo con đường khác.
1.2.107. Người Mường ở Quý Hòa xưa, nay vẫn tự hào về am thực của họ Các loại đồ ăn truyền thống chế biến
từ lương thực của họ gồm: cơm nếp (cơm đếp/ cơm rếp) đồ chín bằng chõ (hông); cơm tẻ (cơm tưởi) xưa kia cũng được đồ bằng hông, nay họ dùng xoong để nấu; củ mài (cú đếp/cú dãng) đồ Ngoài làm cơm họ còn dùng các loại lương thực chế biến các loại bánh Đáng chú ý nhất là bánh chưng (pẻng chưng), loại bánh to dùng để cúng tổ tiên, các loại thần linh, vua mỡi, vua bếp vào dịp tết, loại nhỏ (bánh bò, bánh trâu) dùng để cúng vía trâu, vía các loại nông cụ; bánh uôi dùng trong các tang lễ;
Trang 18bánh bắng dùng trong cưới xin; bánh chì (gần giống bánh dày của người Việt); bánh chay dùng trong lễ cầu mát hàng năm trong các gia đình, lễ cúng vía cho người ốm; bánh ống (pẻng tồng khiu) có hình dáng tương tự chiếc bánh tày, bánh tét (hình trụ), dùng trong lễ ăn hỏi (ti nòm), hoặc làm quà khi đi thăm thân.
1.2.108. Đồ ăn chế biến từ các loại thịt của người Mường ở Quý Hòa khá phong phú Chế từ thịt lợn có: giò lụa
(gio lua) làm bằng thịt nạc, giò đầu (gio trlốc) làm bằng thịt thủ, giò chân (gio bỏi) làm bằng thịt nạc ở chân lợn, chả thịt nạc
(chá nạc), chả lá bưởi, chả sườn (chá khành), chả rang (chá 1.2.109 rang), mọc luộc (rác moọc), mọc đồ (moọc tồ), Chế từ thịt gà có: gà luộc, gà nấu gừng, gà nấu măng chua, gà gói lá chuối nướng, Chế từ thịt trâu có: trâu xào tiêu rừng, thịt và da chân trâu hầm lá lồm (lá chua)/món ăn nổi tiếng
ở vùng Mường Chế từ các loại thủy sản có: cua xiên que nướng (cua náng) chấm với muối xả, ớt; cua luộc (cua
luốc), ăn cùng khế chua, rau thơm,
1.2.110 vừng; cua rán (cua rản); cá rán; cá nướng (cá náng); cá đồ (cá ốch) ăn trong dịp tết, hoặc biếu bố vợ; ruột cá
nấu rau đắng; ếch rán, nấu măng chua, băm viên gói lá lốt và rán, ướp gia vị gói lá nướng qua rồi mang đồ; nòng nọc đồ lẫn
với nõn khoai môn; ốc vặn chặt đuôi, để cả vỏ nấu với lá lốt (chố hoi nổ tắc lốt); ốc nấu với lá môn rừng, măng chua.
1.2.111. Đồ ăn chế biến từ các loại rau, măng của họ cũng không kém phong phú về chủng loại Trước tiên
phải kể tới món măng vầu hoặc măng bương luộc; sau đó là các món măng đắng đồ (măng mu, măng lènh enh, măng
1.2.112 chảu), hỗn hợp các loại rau pheo, móng nai, tai rề, khìu, bò, dốm, chuối, bẹ, téng tẻ, tèng gai, lá mít non, lá sung non, lá ắn, lá đu đủ non, quả cà gai, lá sắn non, đồ chín bằng chõ (tắc đồ); rau éo (rau ấp bợ) luộc với măng vầu; rau sắng
nấu canh,
1.2.113. Để cất trữ thực phẩm, theo tập quán cổ truyền họ thường phơi khô
1.2.114 (khổ khưa) các loại thịt bò, thịt trâu, thịt lợn,thịt chuột và các loại măng,
1.2.115. mộc nhĩ, nấm Phương pháp cất trữ khá nổi tiếng của họ là muối chua các loại thịt, cá, tiết trâu, tiết bò, măng, rau cải (muối dưa), làm mắm tôm tép.
1.2.116. Đồ uống nổi tiếng của họ có rượu trắng (rảo chai) và rượu cần (rảo
1.2.117 khỏe) Các loại rượu này họ thường dùng vào các dịp lễ tết, cưới xin, ma chay hoặc thết khách Thường
ngày, theo tập quán người Mường ở Quý
1.2.118 Hòa uống nước nấu bằng lá hoặc rễ pạng Hiện nay hàng ngày họ cũng uống nước chè tươi, chè khô, và các loại
nước giải khát có ga khác.
Trang 191.2.119. Cổ truyền người Mường ở Quý Hòa đã có tập quán hút thuốc lào Không chỉ nam giới mà phụ nữ người
Mường ở Quý Hòa cũng nghiện thuốc lào Điếu cày hút thuốc lào của họ làm bằng ống bương, ống nứa dài tới 60-70 cm, lõ
dài tới 15- 20 cm Loại điếu này to, dài nên khi hút phải kéo vài hơi mới được Phụ nữ Mường thường hút thuốc lào ở cạnh bếp
và dùng loại điếu to (tiểu khuổng) Họ hay hút theo kiểu chuyền tay nhau, dùng than hồng hoặc củi cháy dở để châm thuốc.
1.2.120. Cung cách ứng xử trong ăn, uống và hút của họ cũng có nhiều nét đặc biệt Nấu nướng và lo bữa ăn hàng ngày trong các gia đình do phụ nữ đảm trách Chế biến và chuẩn bị cỗ bàn trong các đám lớn do nam
giới đảm
1.2.121 nhiệm Hàng ngày họ thường ăn ba bữa, bữa phụ (cơm ngày) ăn vào buổi sáng sớm, bữa chính thứ nhất ăn vào buổi trưa (cơm trưa), bữa chính thứ hai ăn vào buổi tối (cơm hôm) Bình thường họ ăn cơm tại gian giữa nhà, khi ăn họ dùng tay nắm cơm đồ, theo thói quen họ thường rửa tay trước khi ăn Khi thết khách, cỗ thường đặt ở vóng tông, người cao niên nhất
trong nhà và khách sẽ ngồi gần cửa voóng, sau đó là người ít tuổi hơn Theo phong tục
1.2.122 Mường, khi mổ gà, phao câu nhất thiết phải dành cho cụ già, đùi (tỏi) dành cho trẻ nhỏ Khi ăn cỗ đám cưới,
đám ma, theo tập quán Mường, đàn ông và đàn bà không ngồi ăn chung mâm với nhau, mà ngồi thành mâm riêng Cỗ đám
cưới bao giờ cũng có mâm riêng dành tiếp thông gia (tiếp khỏa) Họ có tập quán uống rượu cần (rảo khòe) sau khi ăn cỗ họ
hoặc uống rượu trắng.
1.2.123. Đối với người Mường ở Quý Hòa, ăn uống cũng có một số kiêng kỵ nhất định Ví dụ, sau khi sinh
1.2.124. thịt vịt, thịt trâu, trứng gà, vì sợ bị hậu sản; nhà đang còn gạo thì kiêng ăn củ mài, vì sợ vía lúa tự ái bỏ đi; trẻ
con không ăn mề, phao câu gà vịt (côi ca, côi wít), sợ ăn sẽ tối dạ và mồ côi cha mẹ;
1.4.2 Văn hóa tinh thần
1.2.125 • Phong tục, tập quán
1.2.126 - Sinh đẻ, nuôi con
1.2.127. Theo tập quán của người Mường ở Quý Hòa, con gái đã có chồng nghiêm cấm sinh nở ở nhà bố mẹ đẻ Trường hợp bất khả kháng họ chỉ được phép sinh con ở gầm sàn nhà bố mẹ đẻ Trong thời gian mang thai phụ nữ Mường tuyệt đối không được tham gia vào các nghi lễ mang tính tôn giáo, đặc biệt là các lễ hội của làng xóm; kiêng không tham gia và chứng kiến những sự việc không hay như đánh cãi nhau, tai nạn, cháy nhà; Đối với họ, thai phụ kiêng đánh rắn, sợ sau này lúc nào con họ cũng thè lưỡi dài như rắn; kiêng dẫm chân lên vỏ cây làm quan tài, sợ sẩy thai; không bước qua thừng buộc trâu,
Về ăn uống, thời gian mang thai họ kiêng ăn các loại quả sinh đôi,sợ đẻ sinh đôi; kiêng ăn ốc, kiêng ăn các
Trang 20con vật bị chết, kiêng ăn
1.2.128. cá nướng, cá nấu canh, kiêng uống nước đựng trong ống bương, Cũng trong thời gian vợ mang thai, các ông chồng kiêng khiêng quan tài trong các đám ma, kiêng lợp phần nóc nhà,
1.2.129. Theo tập quán, thai phụ Mường Quý Hòa đẻ cạnh bếp lửa, ở tư thế ngồi, hai tay đu bám vào dây thừng
buộc từ xà nhà thõng xuống Mẹ chồng sẽ là người đỡ đẻ cho con dâu, nếu đẻ khó họ mời bà đỡ vườn đến giúp thai
1.2.130. phụ vượt cạn Xưa kia, người ta dùng dao làm bằng cật nứa lấy trên mái nhà để cắt rốn cho hài nhi Con trai thì lấy nứa ở mái phía trước nhà, con gái lấy nứa ở mái phía sau Sau khi cắt rốn cho trẻ, họ giắt dao cật nứa lên mái nhà Sau khi cắt rốn, hài nhi được tắm rửa, đặt tong chiếc nia lót lá chuối tươi đã hơ lửa (rùng cúm) Tiếp theo, nếu là con trai
1.2.131 xuống sàn nhà và gọi vài lần: con trai yêu quý ơi, hãy mau dậy mà đi đánh chài kiếm cá, ; nếu là con gái lấy chiếc hông đồ xôi dập xuống sàn nhà và gọi: con gái quý ơi, hãy mau lớn mà đi chăn tằm, kéo tơ, dệt lụa, Sau đó họ quấn tã, mặc áo cho hài nhi và trao đứa trẻ cho mẹ nó Nhau thai, cho vào ống bương, hoặc chiếc giỏ (ớp) nút kín, mang treo lên cây
trong rừng hoặc ven suối Khi treo tuyệt đối không được để cho người khác nhìn thấy Khi cuống rốn đứa trẻ rụng, cho vào ống nứa đựng cuống rốn của anh chị của nó, giắt trên mái gianh, phía trên cầu thang lên sàn.
1.2.132. Sau khi sinh nở, sản phụ Mường được nằm cạnh bếp lửa vài ba chục ngày liền Sản phụ được uống nước
nấu với lá trầm, lá thánh mẫu, rễ khúc khắc, củ lù lù, củ lục chạc Một vài nơi, khi nhà có người sinh nở, người Mường ở Quý Hòa thường rào cầu thang chính bằng phên nứa, chỉ để một lối nhỏ lên sàn; các cửa voóng đều đóng kín Thời gian cữ của sản phụ là bảy hoặc chín ngày, tùy theo sinh con trai hay gái Hết cữ, họ làm lễ thả ổ tạ ơn vua bếp và bà mụ Trẻ được một tháng,
họ làm lễ mừng xóm (mừng quêỉ) Đối với người Mường ở Quý Hòa, đây là một trong những nghi lễ được to chức khá khá thịnh soạn để thết xóm Tất cả những người tới mừng quêl đều cầu chúc cho đứa trẻ thốt như cách, mách như đác (tốt như cát, mắt như nước) và không quên mang theo gà, vải làm quà tặng cho đứa trẻ Sau khi làm lễ mừng quêl họ chọn tên không trùng
với tên ông bà, tổ tiên nội ngoại, đặt cho đứa trẻ.
1.2.133. Việc nuôi con của người Mường ở Quý Hòa cũng có nhiều tập quán lý thú Khi trẻ còn nhỏ các bà mẹ Mường đều lấy sợi hoặc sợi vải ở váy của mình buộc vào cố tay của con, để ngăn ma tà Khi có việc phải đưa con ra khỏi nhà,
họ lấy nhọ nồi bôi lên trán đứa trẻ để đánh dấu (tanh dâu) Nếu trẻ quấy, khóc, không chịu ăn, họ mang cơm nếp, trứng gà luộc, vợt xúc cá ra ngã ba đường làm lễ gọi vía (hóc wía) Trẻ hay khóc đêm, họ lấy áo của nó chùm lên hông đồ cơm, mang đặt ở gian trong (voóng khựa), dùng trứng gà, cơm, đũa, bát nước, trầu cau, làm lễ cầu vía Các cặp vợ chồng muộn con thường lập bàn thờ bà mụ (trúc đài) ở vườn Khi con được đủ một giáp (12 tuối), họ làm lễ trả ơn mụ và hạ trúc đài.
Trang 211.2.134. - Cưới xin
1.2.135. Cưới xin của người Mường ở Quý Hòa phải thực hiện đầy đủ các nghi thức theo trình tự: chọn mối (chọn mờ), ướm hỏi (kháo tiếng), dạm ngõ (mờ miệng), ăn hỏi (ti nòm / ti nòm bánh), nhận rể, đón dâu (ti cháu / ti du), lại mặt (ti môộng).
1.2.136. Người làm mối (mờ) đứng ra giao dịch với nhà gái, lo liệu xắp xếp việc tiến hành tố chức các nghi thức cưới xin cho đôi trẻ Mối thường là
1.2.137. người nhiều phúc đức, con cháu đông đúc, thạo đường ăn nói, giao tiếp Xưa kia ở MườngVang, quan
1.2.138. chồng họ làm mối ăn ở không hòa thuận.
1.2.139. Ướm hỏi (kháo tiếng): ngày cây trong (theo lịch Mường, ngày cây là những ngày tốt), vào buối tối, mối thay mặt nhà trai sang thưa chuyện, đánh tiếng ướm hỏi với nhà gái Thông thường, ngày kháo tiếng nhà gái không trả lời ngay, mà xin nhà trai đợi vài hôm Ước chừng vài hôm sau đó, nhà trai nhờ mối sang thụ nhận hối ý của nhà gái.
1.2.140. Dạm ngõ (mờ miệng): Mối thay mặt nhà trai mang trầu cau, chè, rượu, bánh, sang nhà gái chính thức ngỏ lời với nhà gái Nhà gái đồng thuận, hai bên cùng nhau trọn giờ, ngày chính thức làm lễ ăn hỏi (ti nòm bánh) cho đôi con trẻ.
1.2.144. Lễ cưới lần thứ nhất (còn gọi là nòm cả hoặc ti cháu): Xưa kia, sau 3 năm khi nào nhà trai chuẩn bị đầy
đủ, bà con nội ngoại đồng ý, lễ cưới sẽ được tiến hành Lễ vật nhà trai phải mang sang nhà gái gồm: gạo (120 đấu/100 kg), lợn vào trồ 1 con (20-25kg), thịt lợn (40-50 kg), rượu (20 chai), cơm nếp đồ (3 chón) một buồng cau, trầu không (100 lá), 2-4 cây mía, Chàng rể trang phục đẹp, thắt khăn trắng, gùi một chón cơm nếp bên trên đặt hai con gà sống thiến đã luộc chín Hai phù rể (ti piềng) mỗi người giù một chón cơm nếp đồ.
Trang 221.2.145. Theo lệ Mường, nhà trai chỉ được vào nhà gái khi trời đã tối Mối thay mặt nhà trai trao đồ
1.2.146. rượu cần (rảo cậy) Cuộc thi rượu kết thúc, hai họ cùng nhau ăn bữa cơm mừng, mối được nhà gái thết một mân riêng Trước khi các thành viên nhà trai ra về, nhà gài mời họ uống rượu chao mang Khi nhà trai xuống thang, các cô gái dùng
bã rượu cần ném vào họ cho có nhiều phúc Chàng rể và hai phù rể ở lại nhà gái để tiếp khách Sang tối thứ ba, nhà gái làm cỗ tiếp rể (chụ cháu) Sáng sớm ngày thứ tư, rể và phù rể quay trở về nhà trai Từ đây cho đến hết thời hạn 3 năm, chàng rể tương lai phải phục dịch ăn côông con (ăn công nuôi con), đối với gia đình nhà vợ Tất cả các lễ tết hàng năm chàng rể phải mang lễ đến biếu bố mẹ vợ (ti cơm non) Tết Nguyên đán rể phải biếu bố vợ con lợn, thúng xôi, vài chục bánh mật, vài chai rượu, trầu cau Tết Đoan ngọ và Rằm tháng Bảy, chàng rể phải biếu bố mẹ vợ đôi gà, vài gói cá, vài chai rượu Thành ngữ Mường nói rằng: Tháng Mười không đi mất chồng, tháng sáu không đi mất vợ.
1.2.147. Lễ cưới chính thức (lễ đón dâu / ti du): Sau 3 năm thử thách, tìm hiếu, nếu mọi chuyện tốt đẹp, nhà trai cử ông mối mang gà, cá, rượu, trầu cau sang nhà gái xin làm lễ cưới đế đón dâu (ti du) Cùng đi với mối có các anh chị em của chú rế Xưa kia, nhà gái thường thách cưới: một con trâu dực đã biết cày bừa (hoặc một co bò), dăm thúng gạo, 2 con lợn (30kg/con), 5-6 thúng xôi, một buồngcau, trên trăm lá trầu không, 20 ống rượu trắng
1.2.148. (khoảng 3-5 lít/ống) Khoảng hai, ba ngày trước khi đón dâu, họ hàng nhà trai tập trung chuẩn bị rất nhộn nhịp Trai gái nội ngoại tập trung làm gạo, lấy củi, lấy nước; các cụ ông chỉ đạo việc chọn trâu, chọn lợn, nấu rượu; các cụ bà chuẩn
bị trầu cau Người đi đón dâu mang trang phục truyền thống, mới và đẹp Chú rế và hai phù rế (piềng cháu) mang trang phục giống nhau, bên trong mặc áo trắng, ngoài khoác áo dài thâm (mặc kiếu đóng đôi), quần lụa hoặc nhiễu, đầu đội nón lá dứa Nay trang phục dự cưới của người Mường ở Quý Hòa cũng gần tương tự như người Việt, họ mặc âu phục cả.
1.2.149. Đến giờ đi dón dâu, sau một hồi cồng chiêng gióng lên, đi đầu là mối, tiếp đó là các cụ, cồng chiêng, sau cùng là bạn bè và anh em chú rế Theo phong tục của họ, đón và đưa dâu phải đi theo đường chính, qua ngã ba ngã tư phải đặt trầu, cau; những người tham gia phải đi đến nơi, về đến chốn, không tự ý bỏ dở, hoặc rẽ ngang Tiếng cồng theo đoàn đón dâu vang trên đường, báo việc hỷ với xóm xa xóm gần, họ hàng bên cô dâu nghe âm cồng đế tề tựu, thịnh soạn đón họ hàng nhà trai.
1.2.150. Tới nhà gái, họ cử người nhận đồ dẫn cưới Sau nghi thức giao nhận đồ dẫn cưới là cuộc hát đối đáp mở lối và tung bã rượu đế cầu phúc cho mọi người Khi họ nhà trai lên sàn, hai họ chứng kiến nghi thức lễ to tiên và vái
1.2.151. sống các bậc ông bà, cha chú bên vợ của chú rể Sau khi hai họ ăn cỗ, thi uống rượu cần, mừng dâu rể, đến giờ tốt đã chọn, mối thay mặt nhà trai xin đón dâu Theo tục lệ, dâu và phù dâu (piềng du) mang trang phục truyền thống Cô dâu khấn to
Trang 23tiên trên ban thờ rồi vái sống ông bà, cha mẹ trước khi về nhà chồng Theo tục lệ, cô dâu đội nón, tay cầm theo một con dao nhỏ để giữ vía, không được quay mặt nhìn lại phía sau Của hồi môn gồm chăn, gối, màn, vải, được họ hàng nhà gái cử người mang theo Trên đường đón dâu về mối là người lo liệu mọi chuyện, nhất là khi bị
chăng dây, ngăn
1.2.152. đường.
1.2.153. Về tới chân cầu thang nhà chồng, dâu được cô em chồng giúp rửa chân, trước khi bước qua bó củi để lên cầu thang Vào nhà, dâu đến lạy vua bếp, sau đó lễ to tiên và các bậc cha chú của chồng Tại gian giữa sàn, đôi vợ chồng trẻ được mối làm lễ tơ hồng (cơm quel) Sau tiệc cưới, những người đưa dâu thường ra về ngay, nếu ở xa họ phải ngủ lại qua đêm Phù dâu (piềng du) thường ngủ bạn với cô dâu khoảng ba đêm sau ngày cưới Sau đó dâu, rể và phù dâu quay về nhà gái làm lễ lại mặt (ti môộng) Xưa kia, sau lễ lại mặt, đôi vợ chồng trẻ phải trải qua thời kỳ thử thách (bù ma ruộng) mới được chung chăn gối.
1.2.154. - Tang ma (đám hiếu)
1.2.155 Khi có người lâm chung, họ gióng chiêng chỏm báo hiệu cho anh em, bà con gần xa Người chết được dặt
ở gian giữa, sau khi thực hiện nghi thức chia vải vóc, người ta dựng cọc, mắc màn, lấy vải trắng quây xung quanh, lấy mặt chăn (phà) che phía trên Người quá cố được khâm liện, mặc quần áo mới, quấn vải trắng, trước khi làm lễ
nhập quan (pao khăng / ke) Bên
1.2.156 ngoài quan tài người ta quấn vải trắng áo quan (ạo tròn), trong cùng là vải của con út, ngoài cùng là vải của con trưởng Trên áo quan, họ phủ vải trắng và gọi đó là áo tội (ạo đội) Khi quàn linh cữu trong nhà, phía trên quan tài là cây sào vắt quần áo của con cái Bên ngoài sàn, ở chỗ cửa voóng tôông, người quá cố có bao nhiêu con trai thì họ treo bấy nhiêu mảnh vải trắng Sau lễ nhập quan, các nàng dâu làm lễ quạt ma.
1.2.157 Nghi thức quan trọng hàng đầu trong các đám tang người Mường ở Quý Hòa xưa kia là mo tang Thông thường mo tang phải kéo dài hàng tuần Đêm thứ nhất, mo dẫn hồn lên gặp Chạo Hẹ để xin hầu kiện Đêm thứ hai, mo dần hồn tới nhà ông nội (tá keo heng) để mượn tiền, đến nhà thiêng mư mượn quần áo Đêm thứ ba, mo dẫn hồn hầu kiện Đêm thứ tư,
mo dẫn hồn đi bán bông trả nợ, chuộc khổ, xin nhập sổ ma và xin cấp phương tiện đi lại Đêm thứ năm, mo dẫnhồn
xuống sông Tỵ, ra thác Bờ, xuống Bôi, sắm đồ
1.2.158 dạc về ở thế giới ma (tôống) Đêm thứ sáu, sau khi đã làm nhà táng (nhà xe) và tế rước nhà xe, tế quạt ma ở ngoài đồng, đêm đến mo tế Hằng Nga kể về quá trình tìm nhà xe và chuyện Vườn Hoa núi Cối (đang wần wa) Trước khi mo đêm thứ bảy, vào buổi sáng sớm mo dẫn hồn về thăm lại nhà (nhìn lược nhà), mời hồn ăn bánh (nhiêngpánh), buổi chiều mo
Trang 24mời hồn ăn bữa cơm cuối cùng ở nhà (cơm đi / nược ti) trước khi đưa ma đi mai táng Ban đêm mo hướng dẫn hồn dọn đồ đạc con cháu chia cho về mộ địa (ton đồ wềl tôống) Ba ngày sau khi mai táng, con cháu ra mộ làm lễ mời hồn về (lại wải wềl) để
thờ cúng ở nhà.
1.2.159. • Văn nghệ dân gian
1.2.160. Tuy chỉ thông qua truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhưng người Mường Quý Hòa có kho
tàng văn học, nghệ thuật dân gian đồ sộ và phong phú Đáng chú ý nhất phải kể tới các truyền thuyết về Ải Lậc Cậc, Ông Tùng, ; Sự tích chimpángpángpỏipỏi, Sự tích ve sầu, Con côi, Các thầy mo là những nghệ nhân dân gian hát mo tuyệt vời nhất của cộng đồng Sách Đoi được làm bằng 12 mảnh tre, trên đó khắc vạch, đánh dấu tiết thời, hoặc những hiện tượng thời
của họ chỉ diễn ra vào các ngày tết cổ truyền, các dịp gia đình tiến hành các nghi lễ thuộc chu kỳ vòng đời cho các thành viên,
hoặc khi dựng nhà mới Ngoài việc thờ cúng tổ tiên, họ còn thờ đá, cúng bí đỏ (lễ lên nhà mới), thờ cây si (chu dồng), thờ mỏ mước, thờ vật tổ dòng họ (tô tem), thờ thổ công, thờ các nhân vật huyền thoại, người anh hùng (Thánh Tản Viên, ông Tùng, ông Keo Heng, ải Lý, ải Lo, ông Chàng Vàng, ).
1.2.165 Người Mường ở Quý Hòa có các lễ hội nông nghiệp: lễ hội xuống đồng (khuống mùa), từ mồng Bảy đến mồng Mười tháng Giêng hàng năm, mà có người còn gọi là lễ Khai Hạ; Lễ hội cầu mưa, đánh thức ma khú dậy để làm mưa,
Trang 25lấy nước cho dân làm ruộng, vào đầu tháng Tư hàng năm; Lễ hội rửa lá lúa, vào lúc lúa mùa chuẩn bị làm đòng (tháng Bảy
hoặc tháng
1.2.166. Tám), đan sọt tre, cắm lông gà vào rồi mang đặt quanh ruộng, buộc lông gà vào đầu cọc mang cắm vào ruộng,
cầu khấn cho lúa tro đòng nhanh, không bị sâu bệnh; Hội sắc bùa (séc bùa), gióng chiêng, đánh cồng chúc phúc cho các gia đình vào dịp đầu xuân mới; Lễ hội cơm mới, cúng tổ tiên vào tháng Mười, sau khi thu hoạch mùa.
1.2.167. Ngoài ra, hiện nay người Mường ở một số các thôn vùng thấp ở Quý Hòa cũng như ở nhiều nơi khác đang có chiều hướng tham gia nhiều hơn vào các tôn giáo lớn đặc biệt là Phật giáo và Thiên chúa giáo Điều này làm thay đổi nhiều những quy chuẩn văn hóa trong truyền thống, đặc biệt về tín ngưỡng, tang ma, cưới xin.
1.2.168. Ví dụ : những gia đình theo Thiên chúa giáo thì gần như không thờ Thổ địa nữa, phần đa vẫn thờ tổ tiên nhưng không sâu đậm như trước, họ tổ chức hôn lễ tại thánh đường và lễ tang theo kiểu của phương Tây - những người theo Thiên chúa.
1.2.169. Tiểu kết chương 1
1.2.170. Quý Hòa là địa điểm có các điều kiện tự nhiên: có nhiều rừng núi bao bọc, đường xá di chuyển khó khăn Bên cạnh đó, xã còn bị chia cắt nhỏ lẻ, các thôn xóm ở cách xa nhau và nằm rải rác trên các núi cao, các thung lũng Điều này mặc dù làm hạn chế sự phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa với các khu vực khác nhưng bù lại, nó lại tạo ra một màng bảo vệ cho hệ thống văn hóa truyền thống tộc người Bởi thế, văn hóa Mường nơi đây vẫn bảo tồn được khá nhiều yếu tố truyền thống Trong đó có y phục Mường.
1.2.171. Ngày nay, Quý Hòa đang từng bước một được đay mạnh phát triển về kinh tế, bảo lưu về văn hóa tộc người bởi các chính sách văn hóa của chính quyền địa phương Điều này tạo nên ở quý hòa những thách thức
1.2.172. tồn/thích ứng văn hóa đáng lưu ý Giải quyết thách thức này chính là tạo điều kiện phát triển văn hóa mà vẫn bảo tồn được truyền thống tộc người nói cách khác, đó chính là sự lựa chọn thích hợp nhất trong bối cảnh hiện nay ở Quý Hòa.
Trang 261.2.174. CHƯƠNG 2.
1.2.175. PHỤ NỮ MƯỜNG Ở QUÝ HÒA VỚI SẢN XUẤT
VÀ SỬ DỤNG Y PHỤC TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG
1.2.176. Từ thời kỳ nguyên thủy, dựa trên những khác nhau về đặc điếm sinh thể (sinh lý và thế lực) của con người mà xã hội đã có sự phân công lao động theo giới như một điều hiến nhiên Nam giới thì làm những công việc đòi hỏi thế lực cao như săn bắt, xây dựng, làm mộc, rèn
1.2.177. Còn nữ giới có trách nhiệm phần nhiều trong sinh đẻ, chăm sóc con cái, chăn nuôi, trồng trọt và chăm lo các hoạt động sinh hoạt thường ngày.
1.2.178. Chính vì thế, dựa trên đòi hỏi của công việc phải khéo léo, bền bỉ, tỉ mỉ mà hoạt động tìm kiếm, cắt may, thêu dệt các loại y phục, chăn, màn dường như trở thành một vai trò, chức năng hiến nhiên mà xã hội đã giao phó cho giới nữ Chức năng này cũng dần dần trở thành chuẩn mực xã hội đế đánh giá phẩm chất của phụ nữ Mường trong truyền thống, trong
hệ thống tục ngữ dân tộc Mường có câu:
1.2.179 “Con đừa chăng hay khăn bành là con đừa trải,
1.2.180 Con cài chăng hay mấn bôông bải là con cài hư.”
1.2.181. Dịch nghĩa
1.2.182 “Con trai không biết săn bắn là con trai lười,
1.2.183 Con gái không biết dệt cửi là con gái hư.”
1.2.184. Tùy theo từng điều kiện môi trường tự nhiên nhất định, con người dùng vỏ cây, đay gai, tơ.dệt thành quần áo mặc, không chỉ đế bảo vệ cơ thế, chống lại những điều kiện bất lợi của môi trường, mà ngay từ thời nguyên thủy, trang phục còn là vật trang trí, làm đẹp cho cơ thế Do vậy, ở loại vật dụng thường xuyên như áo quần ấy, mỗi dân tộc thường có những cách thức may, trang trí riêng, thế hiện tâm lí, truyền thống thẩm mỹ của mình, có ý thức rõ rệt là thông qua quần áo phân biệt mình với các dân tộc khác Do vậy ở mỗi dân tộc sớm có quy cách riêng về ăn mặc, phù hợp với giới tính, lứa tuổi, địa vị xã hội , có khi rất nghiêm ngặt khiến mọi người phải nhất nhất tuân theo Một nhà nghiên cứu đã nói rằng “Trong xã hội tiền công nghiệp, quần áo mặc trên người là cách làm cho mọi người biết rõ tôi là người dân tộc nào, vùng nào, theo tôn giáo gì, địa vị xã hội ra sao.”
1.2.185. Hơn thế nữa, ở hầu hết các dân tộc trên hành tinh này, trang phục vốn còn là sáng tạo văn hóa của phụ
nữ, từ việc tìm kiếm, trồng trọt để tạo ra nguyên liệu, đến chế biến, làm sợi và dệt vải, may cắt, thêu thùa hầu như là công
Trang 27việc “ thiên tinh” của phụ nữ những người chị, người vợ, người mẹ có thể hoàn toàn tự hào, trong kho tàng vô cùng phong phú của văn hóa nhân loại, có nhiều phần mà trang phục chỉ là một khía cạnh, là cống hiến chính của bàn tay và trí tuệ của phụ nữ.
2.1 Phụ nữ với việc làm sợi, nhuộm và dệt.
1.2.189. Cây bông là loại cây có bộ rễ phát triển nên có sức chịu hạn rất tốt, vì vậy, công sức bỏ ra để chăm sóc nương bông trong quá trình sinh trưởng là không nhiều.
1.2.190. Đến thời điểm thu hoạch, phụ nữ đóng vai trò chính và một số thành viên trong gia đình như người già
và trẻ con thường sẽ cùng tham gia công tác thu hái do công việc này không cần sử dụng quá nhiều sức khỏe.
1.2.191. Bông sau khi được phơi từ một đến hai nắng thì bắt đầu vào tới công đoạn chế biến Từ bông muốn trở thành vải phải trải qua một quy trình với nhiều công đoạn như: Cán bông, bật bông, quấn cúi bông, kéo sợi và nhuộm sợi (hoặc không).
1.2.192. Trước hết quả bông phải được tách hạt sau đó bật cho tơi, tiếp đến bông phải được quấn thành các cúi bông, từ đó người phụ nữ tiến hành xe sợi, đây là khâu khó nhất trong quá trình chế biến sợi Muốn xe sợi săn, tốt, người đàn
bà Mường phải phối hợp nhịp nhàng giữa tay quay và tay ve bông thành sợi
1.2.193. Quá trình này người làm chỉ cần ngồi một chỗ và quay cần bật bông để tách bông ra, công việc này có mất khá nhiều thời gian lại không cần dùng nhiều sức lực vì vậy thường thì những phụ nữ lớn tuổi hoặc con gái mới lớn có thể làm dễ dàng.
1.2.194 • Nuôi tằm, ươm tơ
1.2.195. Đối với giai đoạn nuôi tằm lấy tơ thì thời gian ngắn hơn trồng bông rất nhiều, nhưng ngược lại cần phải rất tỉ mỉ, sát sao và bỏ nhiều công sức để có thể có được mẻ tơ tằm lên màu, bền đẹp.
1.2.196. Việc lấy lá dâu nuôi tằm thì người Mường Quý Hòa trước nay ít trồng theo nương hay ruộng mà thường
Trang 28chỉ trồng trong vườn hoặc bờ rào bởi số lượng tơ cần sử dụng không quá nhiều khi dệt cạp váy hay mặt phà đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong gia đình, vậy nên cũng không cần quá nhiều lá dâu để nuôi tằm.
1.2.197. Thời gian nuôi tằm và được tơ thay đoi theo khí hậu các mùa trong năm Vào mùa hè hoặc mùa thu thời gian bắt đầu nuôi tằm và được tơ trong khoảng từ 20 đến 25 ngày Vào mùa Xuân và mùa Đông, thời tiết lạnh, tằm nhả tơ chậm thì thời gian khoảng 1 tháng đến 1 tháng 15 ngày Trong khoảng thời gian này, phụ nữ trong nhà phải liên tục để ý đến tằm vì lo sợ kiến vàng lên đốt sẽ chết tằm, hoặc tránh các con bướm đen, các con bọ khác bò vào kén tằm sẽ làm cho mẻ tằm không được tốt và màu xấu.
1.2.198. Qui trình chế biến từ kén thành sợi có phức tạp hơn chế biến sợi bông Sau khi được kén Công việc đầu tiên
là phải đưa vào kéo sợi nếu không kén sẽ bị hỏng Trước hết kén được ngâm vào nước trong khoảng 3 giờ, sau đó vắt sạch
nước, bỏ vào nồi đun sôi, nếu thấy kén thâm lại là được Khi kén
1.2.199. chín, người đàn bà bắt đầu kéo tơ Theo kinh nghiệm dân gian Mường cũng như một số dân tộc khác, kén chín vừa thì kéo sợi trơn và nhẹ tay, kén sống kéo nặng tay, kén chín quá thì sợi nẫu không kéo được Người phụ nữ kéo tơ ngồi trên một cái ghế, trước mặt là nồi ươm Khi kéo tơ người ta dùng đũa khoắng đều trong nồi, lấy một đầu tơ ra rồi mắc qua cần kéo
tơ, quấn vào guồng Sau đó đặt lên một tấm phản nhẵn rồi quay vào thành từng con sợi.
1.2.200. Sau khi quay sợi xong phụ nữ Mường đem phơi trên sào tre Thông thường, cứ khoảng 20 cân kén thì thu được
1 cân tơ.
1.2.201. Không ai khác ngoài người đàn bà trong gia đình sẽ trực tiếp thực hiện các thao tác chế biến trên để cho
ra loạt tơ tằm sạch sẽ và thành sợi gọn gàng Sợi tơ tằm do phụ nữ Mường làm ra khác xa so với trong tưởng tượng của tôi với một chất liệu mềm mượt thì ngược lại, tơ tằm ở đây hơi thô ráp và óng ánh màu vàng nhạt Tuy vậy chúng sẽ tạo thành những chiếc cạp váy hoặc khăn quấn rất bền, có thể truyền qua vài đời sử dụng.
2.1.2 Công cụ chế biến nguyên liệu và dệt
1.2.202 • Đối với kéo sợi bông
1.2.203. Hệ thống công cụ kéo sợi bông bao gồm:
1.2.204 Máy cán bông: việc cán bông được tiến hành bằng một bàn cán nhỏ bằng gỗ Bàn cán là một cái khung
gỗ rộng 30 cm, cao 50 cm Nối giữa hai thanh gỗ đó là hai trục cán bông nằm sát nhau có độ dài 60cm và 80cm Một phía đầu hai trục đó xếp bằng nhau bởi hai bánh răng cưa hay còn gọi là múi khế tạo ra từ hai đầu trục Các múi khế có tác dụng giữ cho trục quay đều không bị tuột khi có bông đi qua giữa hai trục Một phía đầu trục kia được gắn một tay quay bằng gỗ Dụng cụ cán bông này tương tự như dụng cụ cán bông của người Thái.
Trang 291.2.205 Cần bật bông: Bông muốn tới xốp phải được bật bằng một công cụ gọi là cần bật bông và que bật bông
Cần bật bông có hai bộ phận: Thân và dây Thân cần là một thanh gỗ hình tròn dài 50cm, rộng 4cm Chỗ rộng nhất là chỗ thân cần dày 1cm, hai đầu cần nhỏ, thon dần Cần là một dây cung bằng thép hoặc bằng sợi gai.
1.2.206 Que và bàn quấn cúi bông: Que được làm bằng tre hoặc gỗ vót tròn như chiếc đũa Bông được rải trên
một chiếc bàn bằng gỗ hình chữ nhật có kích thước khoảng 15cm chiều rộng và dài 25cm Muốn quấn bông thành các cúi, người ta đặt que lên mặt bàn gỗ đã rải bông, một tay cầm qua, một tay lăn cho bông quấn quanh que Khi được một cúi bông lại rút ra làm tiếp.
1.2.207 Guồng xe sợi: Từ cúi bông muốn thành sợi phải dùng guồng xe sợi, hay còn gọi là xa kéo sợi Guồng
xe sợi gồm hai trục quay được đặt trên một giá gỗ dài 60cm đến 70cm Một đầu trục quay được gắn với guồng quay (4 cánh hoặc 6 cánh) đặt trên giá đỡ làm bằng hai thanh gỗ cao khoảng 40cm Đường kính của guồng quay khoảng 50cm Đầu trục quay bên kia ở vị trí thấp hơn, không có guồng mà chỉ có một chiếc kim giữ sợi Khi kéo
là sự biểu hiện của sự sáng tạo lớn lao trong lịch sử, kinh tế, văn
1.2.211. hóa của cộng đồng tộc người, điều này phù hợp với nhận định của Ăng ghen trong tác phẩm kinh điển:
Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước Trong đó đã khẳng định “Từ thời đại dã man sang thời đại văn
1.2.212 minh được đánh dấu bởi hai thành tựu có ý nghĩa đăch biệt quan trọng,
1.2.213 mang tính cách mạng trong kịch sử nhân loại, thành tựu thứ nhất là khung dệt, thành tựu thứ hai là nấu quặng
và chế tạo đồ kim loại” điều này chứng minh cho ta thấy sáng tạo ra nghề dệt và khung cửi dệt là một thành công vô cùng lớn
thể hiện được tài năng và sự sáng tạo của loài người nói chung và người dân tộc Việt Nam co xưa nói riêng Đối
với khung dệt của người
1.2.214. Mường:
1.2.215. Có hai loại khung cửi: khung cửi dệt vải và khung cửi dệt cạp váy Cả hai đều được tạo nên bởi các thao tác và hình dạng giống nhau Chỉ khác ở chỗ khung cửi dệt cạp váy dùng nhiều co hơn Trước khi thực hiện dệt cạp váy, người
Trang 30phụ nữ Mường phải phải vớt co (sắp xếp các co để tạo hoa văn khi dệt), hoa văn càng phức tạp thì số co càng lớn.
1.2.216. Khung cửi dệt vải truyền thống của người Mường ( theo Jean Cusrinier) khá giống của người Thái cả về kích thước, duy chỉ khác một điều đó là ở khung cửi của người Mường thì hình thức của bộ phận sợi của vòng cung có hình một con chim, và có tên gọi là “kon ak” (con quạ) Tuy vậy, trong thực tế còn tùy thuộc vào kinh tế và điều kiện của mỗi hộ gia đình mà công cụ dệt có hình dáng và kích thước to nhỏ khác nhau.
1.2.217. Công cụ dệt được gọi là khung cửi bao gồm các bộ phận: Khung gỗ, con thoi, con ác, bàn đạp (để điều khiển co thay đoi lên xuống tạo thành các hoa văn khác nhau).
1.2.218. Để làm một chiếc khung cửi trong truyền thống thì người đàn ông trong gia đình phải là người thực hiện việc này Cũng có khi người đàn ông không biết làm hay trong nhà không có đàn ông thì sẽ phải nhờ một người thợ mộc trong làng đóng giúp rồi trả công bằng lúa, gạo hay các vật phấm nông nghiệp khác.
1.2.219. Sau khi đã đóng xong khung cửi, người đàn bà sẽ tự làm nốt các thao tác còn lại để tạo nên một chiếc khung cửi hoàn thiện như mắc thoi, xỏ dây, vớt co công đoạn này đối với người chưa có nhiều kinh nghiệm thì vô cùng khó bởi
cần phải có sự tỉ mỉ, và kinh nghiệm của người đàn bà trong
1.2.220. gia đình mới không bị nhầm lẫn.
2.1.3 Kỹ thuật dệt vải
1.2.221. Vai trò của người đàn ông đã hoàn toàn không còn hiện hữu trong các khâu từ sau khi thu lượm bông về, người phụ nữ sẽ hoàn toàn đảm nhận tất cả các khâu còn lại từ dệt váy, dệt áo, dệt cạp hay nhuộm và trang trí Đối với việc dệt vải, các kỹ năng mà người phụ nữ Mường cần sử dụng không
1.2.222. quá nhiều hay quá khó như khi dệt tho cấm.
1.2.223. Lúc dệt vải, sau khi đưa sợi lên khung là có thể dệt ngay được, kỹ thuật dệt đơn giản lại không chú trọng đến tạo hoa văn nên phụ nữ nào cũng có thể thao tác thành thục Đặc biệt ở công đoạn này, các bà, các mẹ thường hay để cho các cô con gái, cháu gái của mình tập luyện kỹ năng dệt.
1.2.224. Với những phụ nữ khéo tay và có kỹ thuật cao thì thời gian để dệt xong một chiếc váy khoảng 3 đến 5 ngày tùy thuộc vào các công việc sinh hoạt trong gia đình nhiều hay ít Hay đúng hơn, là tùy thuộc vào thời gian mà họ dành
để dệt là ít hay nhiều.
1.2.226. Mường còn dệt rất nhiều các loại vải khác, đặc biệt là vỏ chăn, vỏ gối Chưa kể đến mặt ngoài của chăn gối
là dạng tho cấm, mặt trong (hoặc mặt dưới) của vỏ chăn và vỏ gối đều là loại vải thường không có hoa văn được phụ nữ
Trang 31Mường tự tay dệt rồi khâu lại tạo thành một chiếc vỏ chăn, vỏ gối hoàn
1.2.227. chỉnh Kỹ thuật sử dụng để dệt vỏ chăn và vỏ gối cũng tương tự như dùng để dệt áo, váy, nhưng không cần quá coi trọng sự tỉ mỉ và tính thấm mĩ cao như khi dệt trang phục.
2.1.4 Kỹ thuật dệt cạp váy
1.2.228. Thông thường phụ nữ Mường dệt cạp váy từ loại sợi tơ tằm đã nhuộm màu và phải dệt trên một khung dệt riêng khung dệt vải với nhiều go, mỗi go dành một loại sợi màu Với bàn tay của phụ nữ Mường, các go màu trên khung dệt đan cài, biến hóa thành hình hài các hoa văn như sao tám cánh với nhiều biến thể, con rồng uốn khúc, các loại hoa rừng, các con vật, cành lá,
1.2.229. Dệt cạp váy là công việc rất khó và tỉ mỉ Không chỉ đòi hỏi về mặt kỹ thuật mà còn yêu cầu người dệt về mặt thấm mỹ, tính sáng tạo, sự kiên trì, nhẫn nại cao Do vậy, muốn dệt nên một chiếc cạp váy
1.2.230. người phụ nữ phải thành thạo dệt vải, luyện tập dệt cạp váy từ trình độ thấp đến cao Dệt từ lọai ít go dần dần đến loại nhiều go, đạt tới khoảng 50 go là đã chạm tới trình độ cao nhất của kỹ thuật dệt cạp váy.
1.2.231. Trong bản mường nếu như nhà nào cũng có khung dệt vải thô, thì số người dệt cạp váy không nhiều,
1.2.232. thường những phụ nữ thuộc gia đình giàu có, quý tộc, có nhiều thời gian nhàn rỗi, lại giao tiếp rộng nên họ có điều kiện nâng cao và hoàn thiện
1.2.233. những mẫu thêu dệt hoa văn cạp váy.
1.2.234. Tuy tuân thủ những lề luật dệt hoa văn, cạp váy chung được truyền từ đời này sang đời khác, nhưng mỗi người, mỗi vùng đều có những biến cải, dần tạo ra những phong cách riêng Phụ nữ Mường Vang ( huyện Lạc Sơn) từ xưa tới nay vẫn luôn noi tiếng là những người khéo tay nhất trong việc dệt hoa văn cạp váy Truyền thống
1.2.235. cấm, đặc biệt là dệt cạp váy ở Quý Hòa còn được bảo lưu và phát triển trong xã hội hiện đại.
2.1.5 Lựa chọn hoa văn dệt.
1.2.236. Như chúng tôi đã nêu ở phần trên, trong bộ y phục dân tộc truyền thống của người Mường, gần như chỉ
có duy nhất phần cạp váy là phụ nữ Mường dụng công trang trí bằng các hoa văn dệt tho cẩm Trong đó, ba phần tạo nên cạp
váy là Rang trên, Rang dưới và Cao đều mang những đặc điếm hoa văn khác nhau, tạo nên một chiếc cạp váy đa dạng mà
thống nhất.