1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TU QUAN DIEM GIAO DUC CUA LEV TOLSTOI BAN VE BAI HOC KINH NGHIEM CHO GDVN

9 501 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 99,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lev Tolstoi không chỉ là nhà nghệ sĩ, nhà tư tưởng vĩ đại mà còn là một nhà sư phạm lỗi lạc. Ông đã xây dựng nên và thực hành triết lí giáo dục tự do và triết lí ấy có giá trị trường cữu. Trong bài viết này, chúng tôi không nhằm khẳng định tính tối ưu của một quan điểm giáo dục, mà chỉ nhằm đề xuất một vài kinh nghiệm từ thực tiễn giáo dục Việt Nam qua việc đánh giá triết lý giáo dục của Lev Tolstoi, ngỏ hầu góp phần vào việc luận bàn, đánh giá và định hướng có thể áp dụng trong thực tiễn giáo dục nước nhà.

Trang 1

TỪ QUAN NIỆM GIÁO DỤC CỦA LEV TOLSTOI BÀN VỀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Đồng Thủy Thảo, Trần Thị Nâu

1 Đặt vấn đề

Giáo dục là một hiện tượng xã hội được nảy sinh, biến đổi và phát triển cùng với sự hình thành, phát triển của xã hội loài người Cùng với thực tiễn giáo dục ngày càng đa dạng, phong phú thì những tư tưởng, quan điểm, lí luận giáo dục cũng ngày càng phát triển phong phú và đa dạng Có thể điểm qua những tư tưởng giáo dục vĩ đại của nhân loại qua các thời kì lịch sử như: Khổng Tử, J.Locke, J.A.Comenxki, Lev Tolstoi, Petxtalogi, Rutxô, Mác – Ăngghen – Lênin, J.Dewey… Trong những tư tưởng giáo dục vĩ đại đó, chúng tôi đặc biệt ấn tượng với quan điểm giáo dục của Lev

Tolstoi: triết lí giáo dục tự do - triết lý giáo dục của lòng yêu thương Bởi lẽ, chúng tôi

nhận thấy ở quan điểm của Lev Tolstoi có những nội dung khá thiết thực, phù hợp với truyền thống đạo đức của người Việt Nam và mục tiêu, triết lí giáo dục của Việt Nam thời hội nhập

Trong nhiều năm qua, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu Nhà nước

và xã hội đã quan tâm đầu tư để phát triển giáo dục và đem lại được một số thành quả nhất định Nhưng nhìn chung, giáo dục Việt Nam vẫn chưa kiến tạo ra được những con người Việt Nam đủ sức phát triển đất nước và hội nhập Việc vận dụng quan điểm giáo dục của các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đã được tiến hành ở nước ta từ nhiều thập kỉ trước Hàng loạt các mô hình giáo dục của Nga (Liên Xô cũ),

Hà Lan, Singapore, Mỹ…được áp dụng nhưng có vẻ kết quả vẫn còn nhiều bất cập Chúng tôi thiết nghĩ, với đặc điểm một quốc gia còn đang phát triển như ở Việt Nam, tuy đổi mới là rất cần thiết nhưng phải có mục tiêu, chiến lược phù hợp, thiết thực hơn Việc vận dụng một quan điểm giáo dục nào cho phù hợp cần có cả một quá trình nghiên cứu, khảo nghiệm Trong bài viết này, chúng tôi không nhằm khẳng định tính tối ưu của một quan điểm giáo dục, mà chỉ nhằm đề xuất một vài kinh nghiệm từ thực tiễn giáo dục Việt Nam qua việc đánh giá triết lý giáo dục của Lev Tolstoi, ngỏ hầu góp phần vào việc luận bàn, đánh giá và định hướng có thể áp dụng trong thực tiễn giáo dục

2 Nội dung triết lý giáo dục của Lev Tolstoi – triết lý giáo dục tự do, triết lí giáo dục của lòng yêu thương.

Lev Nikolaivich Tolstoi (1828-1910) không chỉ là nhà văn, nhà tư tưởng vĩ đại

mà còn là một nhà sư phạm lỗi lạc Triết lý giáo dục tự do đầy nhân bản của Tolstoi được xây dựng trên nền tảng những tư tưởng xã hội, tôn giáo, đạo đức đầy tính nhân văn được thể hiện trong toàn bộ di sản của ông L Tolstoi cống hiến cho hoạt động giáo dục gần 61 năm, từ lần thử nghiệm đầu tiên vào đứng lớp năm 1849 đến cuối đời Trong 61 năm đó, ông liên tục viết các bài lý luận giáo dục, biên soạn sách giáo khoa, xây dựng và điều hành hơn 20 trường phổ thông, mở các lớp huấn luyện phương pháp

sư phạm cho giáo viên, đích thân giảng dạy nhiều thế hệ con em nông dân Chính ông, cũng tự đánh giá rằng đóng góp lớn nhất của ông cho đời không phải là văn chương

mà là sự nghiệp giáo dục Triết lí giáo dục của ông có tác động đến “việc phát triển giáo dục học chẳng những ở Nga, mà còn trên toàn thế giới” ” [4, Tr 48] Tuy nhiên,

ở Việt Nam đa số độc giả đều chỉ biết L.Tolstoi với tư cách là một nhà văn, nhà tư

Trang 2

tưởng chứ ít ai biết ông trong cương vị một nhà sư phạm, cũng như càng ít biết hơn về

quan điểm giáo dục tự do lỗi lạc của ông.

2.1 Triết lý giáo dục tự do.

2.1.1 Giáo dục tự do là gì?

Cội nguồn của “Giáo dục tự do” được tìm thấy trong tư tưởng nhân văn của các

triết gia Hy Lạp cổ đại Được hình thành và phát triển như một phong trào sư phạm độc lập từ cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX Khảo lược qua nhiều khái niệm khác nhau

từ Socrates (469 - 399 tr CN) với quan niệm là sự tự ý thức, tự hoàn thiện [2, Tr 55]; Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778) với quan niệm mục tiêu giáo dục trẻ phải thuận theo tự nhiên (theo Rousseau tôn trọng tự nhiên của trẻ bao hàm sự tự do) [2, Tr 111]; Jonh Dewey (1859 – 1952) nhấn mạnh hành động của cá nhân, nhấn mạnh giá trị tự do cá nhân [2, Tr 176]…, nhà nghiên cứu Phạm Thị Phương định nghĩa khái niệm “Giáo dục tự do là một khuynh hướng trong lí thuyết và thực tiễn giáo dục, nhìn nhận giáo dục như sự trợ giúp năng lực cho trẻ em, để chúng được phát triển tự nhiên trong quá trình mở mang hiểu biết về thế giới xung quanh, được tự do quyết định trong thế giới ấy” [4 ; 101].

Theo Vũ Thế Khôi, mô hình giáo dục tự do đã được L Tolstoi xây dựng và tiến

hành thành công cách đây hơn 150 năm Mô hình này được cho là “bước dự cảm của học thuyết tâm lý giáo dục nhân cách – nhằm hình thành những nhân cách phát triển toàn diện, hài hòa tâm hồn và trí tuệ, biết tư duy độc lập, sáng tạo và tự mình xử lí mọi tình huống” [3, Tr 41].

2.2.2 Triết lý giáo dục tự do của L.Tolstoi.

Giáo dục tự do của L Tolstoi thực chất là sự đối nghịch với xu hướng “Giáo

dục áp chế” Từ việc chống lại mọi hình thức cưỡng bức, phương châm của L.Tolstoi

là giáo dục phải đem lại lợi ích thiết thực cho chính người được hưởng thụ nó Với

mục đích được đóng góp lâu dài cho sự nghiệp giáo dục, L.Tolstoi đã làm chuyến du khảo các trường phổ thông Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Anh, Bỉ…Tuy nhiên, sau chuyến trực tiếp mục sở thị môi trường giáo dục Tây Âu, ông thất vọng về nền giáo dục áp chế mà ông gọi là “giáo dục trại lính”, “lỗ mảng” L.Tolstoi quyết tâm xây dựng một triết lý giáo dục nhân bản và dân chủ hơn Với cái nhìn thông tuệ của một nhà sư phạm xuất chúng, L.Tolstoi xác định mục tiêu của giáo dục là giải quyết hàng loạt vấn đề phức

tạp liên quan đến cá tính, đạo đức và năng lực con người – những phương diện chưa

được chú trọng trong các nền giáo dục trước đó Trên cơ sở đó, ông xác lập triết lí giáo dục của mình – “Nguyên lý tự do”

Trên cơ sở nguyên lý tự do trong giáo dục, L.Tolstoi đã xây dựng một hệ thống

các nguyên tắc giáo dục học với phương châm xem người học là trung tâm của quá trình đào tạo và giáo dục Các nguyên tắc đó là:

(1) Nguyên tắc tính ý thức và tính tích cực.

Theo Tolstoi, giáo dục là quá trình đa phương, chứ không phải chỉ là sự tác động đơn phương lên trí tuệ đứa trẻ; đó là quá trình hoạt động tích cực, chứ không phải là sự thụ động tiêu hóa những kiến thức mà người ta thông tin tới nó Học tập đối với đứa trẻ là quá trình năng động có kiến tạo Ông nhấn mạnh đến sự phát triển tự chủ, tư duy sáng tạo của học sinh và tầm quan trọng của chúng trong sự trưởng thành của trẻ Bởi vì theo ông, nếu học sinh ở trường mà không học tự sáng tạo, thì vào đời

nó sẽ chỉ luôn luôn bắt chước, sao chép…Trong mỗi đứa trẻ hiện hữu cái khát khao

Trang 3

được độc lập, cái khát vọng mà sẽ dễ bị tiêu diệt trong mọi hình thức truyền thụ kiểu sao chép các mẫu có sẵn

(2) Nguyên tắc gắn liền giáo dục với cuộc sống

Từ việc phân tích hệ thống giáo dục nhà trường kiểu cũ vốn mang nặng tính hàn lâm, giáo điều và thiếu tính thực tiễn L.Tolstoi đã chỉ ra rằng kinh nghiệm sống càng phong phú và đa dạng, thì người học càng có nhiều cơ hội thành công, càng dễ dàng hơn trong việc thiết lập và kết nối tri thức liên ngành và tăng động lực học tập

Chính vì thế, trong dạy học ông thường đặt ra nhiều tình huống, kể lại những

sự kiện xảy ra trong ngày để trẻ tập trao đổi, bình luận về cách ứng xử; ông lập ra những lớp học nghề và dạy trẻ trồng cây trái, tự thu hoạch trên mảnh đất dành riêng cho nhà trường; ông chú trọng tạo không gian học tập một cách linh hoạt và tự nhiên, học như chơi, nhiều tiết diễn ra ở ngoài trời

(3) Nguyên tắc phù hợp với khả năng tiếp cận

Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc giáo dục gắn liền với thực tiễn cuộc sống Sự phù hợp thể hiện ở chỗ, việc truyền tải thông tin giáo khoa phức tạp phải trong một hình thức vừa tầm nhận thức của đối tượng Tolstoi không tán đồng việc truyền thụ cơ học những định nghĩa, định lí, khái niệm trừu tượng vào đầu đứa trẻ, nhất là những kiến thức khái quát, khó hiểu hoặc chưa được thực tế kiểm chứng, theo Tolstoi, là điều tai hại, phá vỡ quá trình tự nhiên của tư duy

(4) Nguyên tắc kiến thức chắc chắn

Tính vững chắc của kiến thức là sự hiểu biết thực chất vấn đề, khả năng biết liên hệ với kiến thức trong một hệ thống, nhìn ra được mối quan hệ nhân – quả của các hiện tượng ấy cũng như khả năng ứng dụng chúng

Để ngăn chặn việc học một cách hình thức, L.Tolstoi đặt ra một loạt yêu cầu sau:

- Cung cấp cho trẻ em cơ hội tự học và tự nhận thức, dưới sự hướng dẫn kín đáo của giáo viên

- Tạo ra một môi trường giáo dục tự nhiên, lành mạnh, vui vẻ và thân thiện, đáp ứng được bản chất tự nhiên, tính tò mò của trẻ và nhu cầu tự do phát triển

- Linh hoạt sử dụng một loạt các phương pháp, biện pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm của tâm lý trẻ em Kết nối giữa các hoạt động nhận thức trong giờ học với giờ ngoại khóa của trẻ em; Hệ thống hóa kiến thức bằng thao tác lặp lại, khái quát những kiến thức đã học

(5) Nguyên tắc phát triển tự nhiên và hài hòa

Có thể xem đây là nguyên tắc chủ đạo bởi nó chi phối và có liên quan đến bốn nguyên tắc vừa nêu Tất cả tri thức, kĩ năng, ý thức học tập là bắt nguồn từ mong muốn phát triển tự nhiên và hài hòa với thế giới xung quanh

Là một trong những trí thức uyên bác nhất của châu Âu thế kỷ XIX, L.Tolstoi hiểu về con người và quy luật của tự nhiên, quy luật của quá trình giáo dục: con người sinh ra là một cá thể tự do với thiện tính bản năng (“Nhân chi sơ tính bản thiện” -Khổng Tử) và một năng lực sống hài hòa Vậy nên, mục tiêu giáo dục là tạo ra những điều kiện thuận lợi và phù hợp để con người phát huy toàn bộ những phẩm chất ấy

Tóm lại, triết lí Giáo dục tự do của Tolstoi được xây dựng trên cở sở thức tỉnh

lòng yêu thương bẩm sinh ở trẻ, giúp nó phát triển hài hòa các năng lực trí tuệ Đó là nền tảng vững chắc nhất, nhân bản nhất, một thứ “tôn giáo” của tâm hồn giúp nuôi dưỡng và tôn tạo những giá trị bền vững trong hành trình giáo dục con người

Trang 4

2.2 Bài học kinh nghiệm cho giáo dục Việt Nam trong quá trình đổi mới

2.2.1 Thành tựu, hạn chế của nền giáo dục Việt Nam

Từ năm 1945 đến nay Việt Nam đã tiến hành 4 cuộc cải cách và đổi mới giáo dục vào những mốc thời gian: đầu những năm 1950, 1956, 1979, 2002 Tất cả các cuộc cải cách và đổi mới này đều xuất phát từ những chuyển biến lớn về xã hội, chính trị Mỗi lần cải cách và đổi mới giáo dục cũng có những kết quả nhất định

Có thể đánh giá khái quát về thành tựu và yếu kém của giáo dục đào tạo nước ta:

Về thành tựu: quy mô giáo dục phát triển mạnh, đáp ứng được nhu cầu học tập

của nhân dân Xây dựng được một hệ thống giáo dục đa dạng về cấp học, hệ đào tạo, đối tượng và trường lớp Giáo dục được Nhà nước và xã hội đầu tư nhiều hơn, cơ sở vật chất tốt hơn và hiện đại hơn Chất lượng giáo dục cũng được cải thiện, có những điểm sáng nhất định Công tác quản lý giáo dục cũng có những chuyển biến tích cực: dân chủ hơn, tôn trọng cơ sở đào tạo hơn và tôn trọng người học hơn Nguồn nhân lực

mà nhà trường Việt Nam đào tạo ra đã góp phần quan trọng khắc phục cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vào những năm 1980, và vào đầu những năm 2000 đã kịp đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng nước nghèo

Về những hạn chế yếu kém: mặc dù chất lượng giáo dục đã có chuyển biến

nhưng nhìn chung còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước và hội nhập Quản lý giáo dục còn lúng túng, thiếu tầm nhìn tổng quát, thiếu triết lý giáo dục chủ đạo phù hợp với giai đoạn phát triển mới Đầu tư cho giáo dục còn mang tính chất cào bằng, không hợp lý, chưa đồng đều giữa các vùng miền Đào tạo nhân lực thì chạy theo số lượng, sự sàng lọc qua các cấp học rất hạn chế, trình độ số đông không tương xứng với bằng cấp Giáo dục không phát huy được thế mạnh của kinh tế thị trường là cạnh tranh, trong khi đó lại chịu nhiều tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, để những hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây mất niềm tin trong xã hội

Mặc dù đổi mới giáo dục được lựa chọn là quốc sách hàng đầu và công cuộc đổi mới đã bắt đầu từ lâu nhưng vẫn chưa thành công như mong đợi Có thể thấy nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ người dạy, người học, người quản lý giáo dục và cả xã hội Lãnh đạo Nhà nước vẫn luôn nói giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhưng thực tế giáo dục có được coi trọng như vậy không? Chúng ta thử so sánh xem mỗi năm một thành phố/tỉnh cấp đất cho bao nhiêu doanh nghiệp, nhà hàng, khách sạn, sân gôn và bao nhiêu trường học thì biết ngay giáo dục ở thứ hạng nào Vì vậy, để giáo dục – đào tạo thực sự là quốc sách, thì cần có sự quan tâm thật sự của các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương tới cơ sở Phải xác định khâu đột phá của giáo dục đào tạo

là gì để xác lập hành động cho nhiệm vụ đổi mới, cải cách Điều quan trọng nhất trong giáo dục là phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên Thầy có giỏi thì mới dạy ra được những học trò giỏi Đồng thời, cần áp dụng một triết lý giáo dục cho phù hợp với nền giáo dục, với đặc điểm kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn mới để có thể phát triển, đổi mới và hội nhập

2.2.2 Bài học kinh nghiệm từ triết lí giáo dục của L Tolstoi

Có thể thấy quan niệm Giáo dục tự do của L.Tolstoi có những ưu điểm có thể

vận dụng tốt trong điều kiện cải cách giáo dục Việt Nam hiện nay Đó là một triết lý giáo dục có tính chất định hướng cho một nền giáo dục tiên tiến, hội nhập Thiết nghĩ,

dù ở cương vị nào trong ngành giáo dục nhưng nếu nghiêm túc nghiên cứu triết lí giáo dục của Tolstoi, mỗi người trong chúng ta đều có thể suy ngẫm và đúc kết những bài học kinh nghiệm bổ ích Dưới đây, chúng tôi lần lượt phân tích một số bài học kinh

Trang 5

nghiệm, dựa trên 5 nguyên tắc giáo dục của Tolstoi và một số biểu hiện của giáo dục nước ta:

- Thứ nhất, cần xác định được giáo dục là quá trình đa phương, chứ không phải chỉ là sự tác động đơn phương lên trí tuệ của đứa trẻ; là quá trình hoạt động tích cực, chứ không phải là sự thụ động tiêu hóa những kiến thức mà người ta thông tin tới nó

Nhìn lại phương pháp dạy học tồn tại ở Việt Nam từ mấy thập niên, chúng ta đễ dàng nhận thấy vì sao đổi mới nhiều lần mà nền giáo dục nước nhà vẫn không thể phát triển hội nhập với nền giáo dục thế giới Phương pháp dạy học truyền thống được duy trì qua nhiều thế hệ Phương pháp dạy học này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm, giáo viên là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo; giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể, là quỹ đạo Chính cách dạy đó đã tiêu diệt dần cái khát khao được độc lập, được sáng tạo của người học Những năm gần đây, việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực từng bước được vận dụng trong giảng dạy, nhằm góp phần thay đổi chất lượng giáo dục Thế nhưng, đó chỉ là sự đổi mới mang tính hình thức vì phần lớn người dạy vẫn còn bị áp lực bởi hàng loạt các vấn đề: thời lượng kiến thức, nội dung chương trình, yêu cầu đầu ra, vấn đề kiểm tra đánh giá…nên phương pháp truyền thống vẫn tiếp tục phổ biến

Trước yêu cầu chung của thời đại, cần thay đổi phương pháp dạy học sao cho đảm bảo phát huy được ý thức và tính tích cực của người học Dù vận dụng phương pháp dạy học nào cũng cần tránh lối dạy thụ động một chiều, cần tạo cho học sinh có điều kiện phát huy tích cực, ý thức tự học và sự sáng tạo Có như vậy, việc học của học sinh mới thực sự là niềm hứng thú say mê Và một khi tạo được tâm lý hứng khởi, các em sẽ có niềm tin vào cuộc sống, có sự yêu thích việc học, kết quả học tập sẽ mang lại lợi ích thực sự cho bản thân người học

- Thứ hai, cần gắn liền giáo dục với cuộc sống

Giáo dục Việt Nam cần xác định mục tiêu của giáo dục là con người phải được đào tạo để chuẩn bị cho cuộc sống, cho lao động, đặc biệt là kĩ năng sống, kĩ năng ứng

xử với mọi người và kĩ năng giải quyết vấn đề

Nhìn vào thực tế, có thể thấy giáo dục Việt Nam đang chú trọng tính hình thức

và mang nặng tính hàn lâm, chỉ tập trung dạy những điều triết lý, trừu tượng, xa rời cuộc sống thực tế của trẻ Các em phải học quá nhiều những định nghĩa, những tư tưởng giáo điều mà ít được trang bị những kiến thức thực tế cần thiết cho cuộc sống sau này Trong khi đó, sống giữa một thế giới phẳng như hiện nay, con người không chỉ cần có kiến thức mà còn phải có kĩ năng sống phù hợp Nhận thức được điều này nên việc chú ý dạy học “Kĩ năng sống” cho học sinh ở nước ta những năm gần đây bắt đầu được vận dụng Tuy nhiên, việc triển khai cũng chưa hiệu quả vì phần lớn cũng là giáo dục kỹ năng trên tính lý thuyết Giờ học quá nhiều, học sinh phải chạy theo chương trình, kì thi, điểm số, các em gần như phải chạy sô, vật lộn với con chữ, kĩ năng sống trở thành một điều gì xa lạ Nội dung học tập còn nặng nề về kiến thức, thiếu tính thực hành Còn nhiều trường học trên toàn quốc chỉ dạy học lý thuyết chứ chưa có điều kiện để tạo cho người học có thể thực nghiệm Những thuyết lý, công thức trừu tượng, xa rời thực tế càng lúc càng tăng cao theo cấp học Môi trường giáo dục Việt Nam, biến người học thành một công cụ ghi nhớ máy móc

Trang 6

Hiện tượng sinh viên ra trường có bằng cấp giỏi, khá nhưng khi xin việc lại không được thu nhận dù chỉ ở công việc phổ thông, nhất là ở các công ty nước ngoài, ngày càng trở nên phổ biến Vì thực tế các em thiếu kĩ năng thực hành, kĩ năng sống, cho nên, hầu hết các cơ sở tuyển dụng ngại phải đào tạo lại kĩ năng lao động cho họ Hoặc đơn thuần, có thể thấy, chương trình giáo dục phổ thông mặc dù mục tiêu là giáo dục cho người học những kiến thức phổ thông Thế nhưng, rất ít học sinh đã học xong THPT có thể thực hiện được những vấn đề được học vào thực tế đời sống hàng ngày

dù chỉ là những kiến thức đơn giản: nối một bóng đèn, một dây điện, phân biệt một cây

cỏ và một cây lúa, hay đơn giản là trồng được một cây rau, cây hoa, thậm chí nấu một bữa cơm, vá lại một đường sứt chỉ…cái gì các em cũng không biết Vậy thì các em học được điều gì? Học để làm gì? Có lẽ chúng ta cần phải nhận thức rõ hơn vấn đề này Trong khi đó, cách xa chúng ta hơn 150 năm, L.Tolstoi đã nhận thức rõ vai trò của giáo dục kĩ năng sống cho trẻ Ông đã tạo ra môi trường học thật linh hoạt và tự nhiên Trẻ không chỉ được tự do phát triển ý thức, sáng tạo mà còn được tự do trao đổi, luyện tập ứng xử từ những tình huống thực tế; ông lập ra những lớp học nghề và dạy trẻ trồng cây trái, tự thu hoạch; trẻ được học trực tiếp từ trong cuộc sống và trong công việc Đó là bài học hết sức thiết thực cho sự phát triển kĩ năng sống của người học mà chúng ta cần quan tâm

- Thứ ba, cần xây dựng một chương trình học phù hợp với khả năng tiếp cận của người học Tránh việc truyền thụ cơ học những định nghĩa, định lí, khái niệm trừu

tượng vào đầu đứa trẻ, nhất là những kiến thức khái quát khó hiểu hoặc chưa được thực tế kiểm chứng vì đây chính là điều tai hại, phá vỡ quá trình tự nhiên của tư duy

Ở Việt Nam, chương trình giáo dục phổ thông hiện hành chưa được xây dựng như một chỉnh thể xuyên suốt từ tiểu học đến THPT, từ chương trình cấp học đến chương trình từng môn học; không có một tổng chủ biên chương trình SGK từ lớp 1 đến lớp 12 Việc thực hiện chương trình SGK ở các địa phương nặng tính hành chính (giám sát theo phân phối chương trình, không theo chuẩn kiến thức, kỹ năng) nặng tính hàn lâm, thiếu thực tiễn Chương trình chưa chú trọng đến tính liên thông giữa giáo dục phổ thông với giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học

Chính từ thực trạng đó, để có thể đổi mới được giáo dục cần đổi mới căn bản từ chương trình sách giáo khoa hiện hành Đây cũng là điều đang được Nhà nước quan tâm và tiến hành thay đổi Việc xây dựng một chương trình sách giáo khoa mới cho công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay liệu có khả thi hay không chúng ta chưa thể kết luận Tuy nhiên, những người biên soạn bộ sách mới có lẽ cần chú ý nhiều hơn đến nội dung chất lượng của chương trình Cần xây dựng được một chương trình phù hợp với khả năng tiếp cận của người học; một chương trình cho phép cả trò lẫn thầy tự do lựa chọn những tri thức phù hợp để phát triển năng lực, trí tuệ, bồi đắp sự hài hòa tinh thần của người học Muốn vậy, những điều đem dạy học sinh phải vừa sức, tạo được hứng thú và tự do sáng tạo của người học, kích thích ý thức tự học cho học sinh

- Thứ tư, cần xây dựng kiến thức chắc chắc Tính chắc chắn của kiến thức thể

hiện ở tính chính xác, độ tin cậy trong thiết kế nội dung từng bài; sự liên kết, tích hợp những kiến thức trong nội môn, liên môn và khả năng ứng dụng trong thực tiễn

Để ngăn chặn việc học một cách hình thức, đuổi theo kiến thức hời hợt cần thực hiện các yêu cầu sau:

Một là, cung cấp cho người học cơ hội tự học và tự nhận thức, dưới sự hướng

dẫn kín đáo của giáo viên Người thầy chịu trách nhiệm chính cho quá trình giáo dục,

Trang 7

có nhiệm vụ cung cấp một môi trường thuận lợi học tập, nhưng không can thiệp vào quá trình nhận thức của người học Không can thiệp không có nghĩa là gạt bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của người thầy Có điều, sự ảnh hưởng ấy giống như sự trợ giúp, sự tương tác tự nhiên mà ở đó trò được đóng vai trò chủ động và thầy là “bạn đồng hành”

Hai là, tạo ra một môi trường giáo dục tự nhiên, lành mạnh, vui vẻ và thân

thiện, đáp ứng được bản chất tự nhiên, tính tò mò của trẻ và nhu cầu tự do phát triển Điều này đòi hỏi ở người thầy lòng yêu trẻ và ý thức tự hoàn thiện Yêu trẻ là phẩm chất hàng đầu của nhà sư phạm, thậm chí quan trọng hơn kiến thức và lòng nhiệt tình

Từ thực tế của nền giáo dục Việt Nam trong những năm gần đây, với hàng loạt những vấn đề liên quan đến bạo hành trẻ em ở các trường mầm non, những hành động xâm hại, xúc phạm con trẻ ngày càng trở nên phổ biến Quan điểm giáo điều, thương cho roi cho vọt, đã biến trường học thành một nơi áp chế với những hình thức kỉ luật, roi đòn đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt Nam từ xưa và nó vẫn còn âm ỉ tồn tại trong môi trường giáo dục Trường trở thành “thiết chế” đối với trẻ em, nhà trường không phải là nơi trẻ em thoải mái học tập mà là nơi để thầy giáo thuận tiện giảng dạy Chúng ta với những nội quy, quy định hà khắc bó buộc trẻ theo một quy tắc ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức của người lớn mà quên rằng tâm lý lứa tuổi của chúng hoàn toàn khác với chúng ta Chúng ta cấm chúng đùa nghịch, nói chuyện, bắt chúng ngồi im như một ông cụ…lâu dần, chúng trở nên trì trệ, năng lực trí tuệ chậm phát triển, và quen dần với thói đạo đức giả, chúng mất dần đi chính kiến, tư tưởng, và chỉ biết rập khuôn theo những gì người khác truyền thụ…Kết quả là bao thế hệ học trò khi

ra trường thiếu tính năng động, sáng tạo, thiếu cả sự tự tin, tự chủ…Và đây chính là vấn đề mà cả xã hội đều quan ngại khi hội nhập quốc tế Bởi lẽ, cái mà xã hội cần là nguồn nhân lực, nhưng đó không chỉ đơn thuần là con người với vốn kiến thức lý thuyết giáo điều mà là những con người thích nghi với điều kiện sống của xã hội có thể năng động, sáng tạo, hội nhập với thế giới

Muốn đào tạo được lớp người như thế, có lẽ phải thay đổi từ phía người thầy Muốn vậy, trước hết Nhà nước cần chú ý hơn ở khâu đào tạo, chuẩn hóa, thay đổi từ cách nghĩ, cách làm của cả bộ phận cán bộ giáo viên, nhân viên ngành giáo dục Điều này không thể chỉ ngày một ngày hai có thể thấy được kết quả Tuy nhiên, có thể chú ý

đầu tư vào đối tượng sinh ngành sư phạm, những con người sẽ trực tiếp gánh vác vai

trò trọng trách trong sự nghiệp đổi mới sắp tới của nước nhà

Ba là, linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để người

học có thể học tập bằng phương pháp học tập chủ động Phương pháp dạy học phải phù hợp tâm lý học sinh Kết hợp giữa các biện pháp thảo luận, tương tác, trao đổi, phản hồi, bài tập dự án…làm thế nào để có thể phát huy được tính tự học của người học, kích thích được hứng thú tìm hiểu, học tập Một khi học sinh yêu thích việc học, kiến thức sẽ dần được hình thành và khắc sâu vào trí não, chứ không chỉ là cách học vẹt, học tủ như hiện nay

- Thứ năm, giáo dục phải dựa trên sự phát triển tự nhiên và hài hòa.

L Tolstoi xem đây là nguyên tắc chủ đạo và bao trùm vì mục đích sau cùng của giáo dục là đào tạo những con người hội tụ đủ tố chất tốt đẹp: có kiến thức, kĩ năng và quan trọng là có đạo đức Trong mỗi con người đều chứa đựng một bản năng sống, một nhân cách thiện tâm, và giáo dục là môi trường giúp phát triển tốt các bản năng

ấy Hồ Chí Minh từng nói “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn – Phần nhiều do giáo dục mà

Trang 8

nên” Điều đó cũng khẳng định, nếu môi trường giáo dục tốt chắc chắn sẽ tạo ra được những nhân cách tốt và ngược lại

Vì sao chúng ta cứ hay than phiền, học sinh bây giờ thiếu đạo đức? Hay cứ day dứt vì sao bạo lực học đường cứ diễn ra khắp nơi với chiều hướng ngày càng gia tăng?

Vì sao học sinh lại mất đi ý thức cá nhân trong cuộc sống trong ứng xử, trong giao tiếp? Có lẽ, chúng ta phải tự nhìn lại phải chăng chính chúng ta đã góp phần tạo nên những điều thay đổi như thế Với một môi trường giáo dục chỉ chạy đua với kiến thức, thiếu những sân chơi lành mạnh, thiếu môi trường sinh hoạt phù hợp, trẻ chỉ biết đến trường học, và học Thầy thì phải chạy theo nội dung quá tải, phân phối chương trình chưa phù hợp, thời lượng lên lớp phải đảm bảo cho các bước hợp lý…nên cũng chẳng còn giờ đâu mà tích hợp, mà giáo dục đạo đức Hơn thế cả mấy thế hệ nhà giáo ra đời trong hoàn cảnh kinh tế thị trường của thời mở cửa, bản thân họ ít nhiều cũng bị tác động, ảnh hưởng với lối sống thực dụng thiếu tình người, sống chạy theo lợi nhuận, vật chất ít chú ý tự rèn luyện phẩm chất, đạo đức, nhân cách…Thì thử hỏi, thầy như thế, sẽ dạy trò ra sao? Người ta vốn hay nói thầy nào trò nấy đấy thôi…

Chúng tôi thiết nghĩ, để trẻ phát triển tự nhiên và hài hòa chính là cách tốt nhất

để hình thành những nhân cách tốt đẹp ở người học Mang tình yêu thương con người vạn vật, giúp cho trẻ cảm nhận bằng cảm xúc nhân văn, đánh thức ở trẻ bản năng thiện

mỹ đó mới là môi trường giáo dục cần thiết trong hoàn cảnh đổi mới, hội nhập hiện nay Và khi nền tảng giáo dục được xây dựng vững chắc thì càng lên cao, “ngôi nhà giáo dục” chắc chắn sẽ vững bền

Ngày nay nhìn lại, có thể nói rằng từ giữa thế kỷ XIX nhà sư phạm L Tolstoi

đã xây dựng triết lí giáo dục giàu tính nhân văn với 5 nguyên tắc phù hợp; các nguyên tắc đó tiếp tục được kế thừa, bổ sung qua nhiều thế hệ các nhà giáo dục thế giới Như một quy luật mang tính ngẫu nhiên nhưng tất yếu, hơn một trăm năm sau vào thập niên cuối thế kỉ XX, Chủ tịch Hội đồng quốc tế về Giáo dục của UNESCO Jacque Delors – một nhà giáo dục có uy tín, đã tổng kết thành 4 cột trụ (Four Pillar) nổi tiếng cho nền giáo dục của thế kỉ XXI: 1) Học để biết (Learning to know), 2) Học để làm việc (Learning to do), 3) Học để làm người (Learning to be) và 4) Học để biết cách cùng chung sống (Learning to live together) Bốn trụ cột giáo dục này, thực ra, đã có nền móng từ trong triết lí giáo dục của L Tolstoi

3 Kết luận

Mặc dù được hình thành cách chúng ta hơn 150 năm, nhưng những gì L.Tolstoi tâm huyết, gửi gắm trong triết lý giáo dục của mình vẫn luôn luôn là thiết thực, nhất là trong giai đoạn đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay Chúng ta có thể thấy, quan

điểm triết lí giáo dục tự do- giáo dục của lòng yêu thương mà L Tolstoi sáng lập đã và

đang được vận dụng và phát huy ở nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới Các phương pháp và phương châm giáo dục tưởng như mới: lấy người học làm trung tâm, đào tạo con người có năng lực, phát triển kĩ năng sống cho học sinh, nguyên tắc về sự hài hòa…đã được ông tiến hành từ hơn hai thế kỉ trước và đạt được thành công hết sức

to lớn Điều đó, khiến chúng tôi tin, với một đất nước có truyền thống nhân đạo như Việt Nam, thì phương pháp giáo dục của L.Tolstoi hoàn toàn phù hợp có thể cho chúng ta vận dụng được trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong hoàn cảnh hội nhập hiện nay Một khi giáo dục đi đúng hướng thì nó không chỉ cung cấp điều kiện để thế hệ trẻ thích nghi với xã hội, mà còn cung cấp cho họ phương tiện để biến cải xã hội theo hướng tốt đẹp hơn Đó chính là điều chúng ta đều mong chờ, kì vọng và tin tưởng vào

Trang 9

viễn cảnh tươi sáng của nền giáo dục nước nhà trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Minh Hạc (2003), Về giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

2 Bùi Minh Hiền (2013), Lịch sử giáo dục thế giới, NXB Đại học Sư phạm.

3 Vũ Thế Khôi (2010), “Triết lí giáo dục của lòng yêu thương”, in trong Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12

4 Phạm Thị Phương (2014), Nguyên lý tự do của L Tolstoi như một đổi mới cho giáo dục Việt Nam; Kỷ yếu hội thảo khoa học Dạy học Ngữ văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông, Trường Đại học Sư phạm Tp.

Hồ Chí Minh (12/2014), (trang 100-112).

5 L.Tolstoi (2010), “Về giáo dục quốc dân”, in trong Đường sống, NXB Tri thức,

Hà Nội

Tóm tắt:

Lev Tolstoi không chỉ là nhà nghệ sĩ, nhà tư tưởng vĩ đại mà còn là một nhà sư phạm lỗi lạc Ông đã xây dựng nên và thực hành triết lí giáo dục tự do và triết lí ấy có giá trị trường cữu Trong bài viết này, chúng tôi không nhằm khẳng định tính tối ưu của một quan điểm giáo dục, mà chỉ nhằm đề xuất một vài kinh nghiệm từ thực tiễn giáo dục Việt Nam qua việc đánh giá triết lý giáo dục của Lev Tolstoi, ngỏ hầu góp phần vào việc luận bàn, đánh giá và định hướng có thể áp dụng trong thực tiễn giáo dục nước nhà.

Tác giả:

Đồng Thủy Thảo – Giáo viên trường THPT Vĩnh Thuận, Thị trấn Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh

Thuận, tỉnh Kiên Giang; Học viên cao học ngành Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn Văn và Tiếng Việt (Khóa 2015-2017).

Email: thaom1515015@gstudent.ctu.edu.vn ĐT: 0919718794

Trần Thị Nâu – Bộ môn SP Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ.

Ngày đăng: 21/06/2016, 10:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w