1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phân tích thực trạng thực hiện chính sách xuất khẩu lao động

27 429 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 70,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn lao động: Là bộ phận dân cư gồm những người trong độ tuổi lao động (không kể những nguời mất khả năng lao động) và những ngưòi ngoài tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động. Nguồn lao động bao gồm những người từ độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi). Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người.Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trong nền kinh tế hàng hoá sức lao động là một hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị sử dụng các hàng hoá khác, ngoài ra hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm có tư duy, có đời sống tinh thần. Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cả. Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo quy luật cung – cầu của thị trường. Mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động (tiền công) thấp, ngược lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động, giá cả sức lao động sữ trở nên cao hơn. Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường lao đông. Trong nền kinh tế thị trường, người lao đông muốn tìm việc phải thông qua thị trường lao động. Về mặt thuật ngữ, Thị trưòng lao đông thực chất phải được hiểu là Thị trường sức lao động để phù hợp với khái niệm của tổ chức lao động quốc tế: Thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế, nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi và thuê mướn sức lao động. Trên thị trường lao động, mối quan hệ được thiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động. Qua đó, cungcầu về lao đọng ảnh hưởng tới tiền công lao động và mức tiền công lao động cũng ảnh hưởng tới cung cầu lao động. + Cầu lao động: là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có thể chấp nhận được. Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể mua được hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra.Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động, khi giá cả tăng hoặc giảm sẽ làm cho cầu về lao động giảm hoặc tăng.

Trang 1

Đề tài: Phân tích thực trạng thực hiện chính sách xuất khẩu Lao động tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2002 – 2007.

Giáo viên hướng dẫn:

Nhóm thực hiện đề tài:

Trang 2

I Mục lục

II.

III.

Trang 3

vụ, vốn, công nghệ là lực lượng lao động người Việt Nam ra nước ngoài làm việc và ngược lại Trong những năm qua, thế giới đã chứng kiến sự phục hồi của các nước bị khủng hoảng tài chính giai đoạn 2007 – 2012 Nền kinh tế thế giới đang trên đà phục hồi

và phát triển Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp trên toàn cầu vẫn còn tràn lan tạo ra sức ép mạnh mẽ về lao động và việc làm, do đó di cư lao động quốc tế tiếp tục trở thành thành tố quan trọng trong thời gian tới Thời gian qua Việt Nam đã đưa ra những chính sách, giải pháp cụ thể để mở rộng thêm một số thị trường lao động mới Đặc biệt XKLĐ và chuyên gia được Đảng và nhà nước ta xác định là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại quan trọng, một

bộ phận của chính sách giải quyết việc làm được Quốc Hội đưa vào chỉ tiêu kế hoạch hàng năm Việc mở rộng thị trường XKLĐ là hướng phát triển kinh tế phù hợp với lộ trình hội nhập mở cửa, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nước XKLĐ đã góp phần xóa đói giảm nghèo và thu thêm ngoại tệ (xấp xỉ gần 2 tỷ USD/năm) cho gần nửa triệu lao động, bao gồm cả lao động kỹ thuật và lao động giản đơn hiện đang

ở 40 nước và vùng lãnh thổ Trong những năm qua XKLĐ đã gia tăng mạnh và đã góp phần tích cực vào chiến lược giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo sự ổn định và phát triển đất nước

Để giải quyết tốt vấn đề trên không hề dễ dàng, đòi hỏi sự nhập cuộc của nhà nước, các doanh nghiệp cũng như những người lao động đang quan tâm tới XKLĐ… Trên ý nghĩa đó, nhóm đã chọn đề tài: “phân tích thực trạng thực hiện chính sách XKLĐ tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.”

VII. 1.1.2: Khó khăn của vấn đề nghiên cứu ở Lập Thạch:

VIII. Đa số người dân của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc đi lao động nước ngoài là

nông dân.

IX. Tiếp thu ngoại ngữ chậm, lại được đào tạo trong thời gian quá ngắn, vì vậy vốn kiến

thức họ được trang bị cũng như học hỏi được là rất ít và không đồng bộ Ưu điểm của

số lao động này là sức khỏe nhưng lại thiếu nghề nghiệp chuyên môn và chưa quen

với tác phong công nghiệp trong nền sản xuất của nước bạn.

X. Mặt khác, công tác xuất khẩu lao động (viết tắt: XKLĐ) còn bị hạn chế trong quá

trình tiến hành, mặc dù Nhà nước có nhiều chủ trương khuyến khích, nhưng người

lao động vẫn là người phải bỏ vốn như là chi phí ban đầu cho công việc mới của họ

Phí ban đầu này là quá lớn đối với người lao động, đặc biệt là đối với lao động nông thôn không có việc làm phải đi XKLĐ

X.1Mục tiêu nghiên cứu:

Trang 4

X.1.1 1.2.1 Mục tiêu chung:

XI. Căn cứ vào thành tích đã đạt được những năm trước, ban chỉ đạo thực hiện công tác XKLĐ của tỉnh đề ra mục tiêu chung trong giai đoạn 2004-2006 phải xuất khẩu được 6000- 8000 lao động tập trung vào lao động ở khu vực nông thôn và những người có khó khăn về kinh tế, thiếu việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho lao động nước nhà

XIII.1 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

XIV. - Đối tượng: Toàn bộ người lao động của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

XV. - Phạm vi: Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

XVI. Tổng quan nghiên cứu:

XVI.1 2 Cơ sơ lý luận của vấn đề nghiên cứu:

XVI.1.12.1 Một số khái niệm :

XVII. Trong khoảng 20 năm trở lại đây việc đưa lao động của một quốc gia ra khỏi phạm vi của nước đó để làm việc đã trở nên quen thuộc với số lượng ngày càng tăng.Đó

là do sự phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang có những chuyển biến về chất và không đoòng đều giữa các nước dựa trên cơ sở phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật.Thực tế cho thấy, sức lao động của các quốc gia có dư thừa lao động đến giai đoạn hiện nay đã được xem như là một loại hàng hoá có thể mang lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho ngân sách quốc gia

XVIII. Do vậy để nghiên cứu về xuất khẩu lao động trước hết cần phải tìm hiểu và làm rõ các khái niệm có liên quan:

XIX. - Nguồn lao động: Là bộ phận dân cư gồm những người trong độ tuổi lao động

(không kể những nguời mất khả năng lao động) và những ngưòi ngoài tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động Nguồn lao động bao gồm những người từ độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi)

XX. - Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các

vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình

Trang 5

kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người.Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.

XXI. - Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong

quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội Trong nền kinh tế hàng hoá sức lao động là một hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị sử dụng các hàng hoá khác, ngoài

ra hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm có tư duy, có đời sống tinh thần Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cả Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo quy luật cung – cầu của thị trường Mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động (tiền công) thấp, ngược lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động, giá cả sức lao động sữ trở nên cao hơn

XXII. - Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử dụng lao

động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường lao đông Trong nền kinh tế thị trường, người lao đông muốn tìm việc phải thông qua thị trường lao động

Về mặt thuật ngữ, "Thị trưòng lao đông" thực chất phải được hiểu là "Thị trường sức lao động" để phù hợp với khái niệm của tổ chức lao động quốc tế: Thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế, nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi và thuê mướn sức lao động Trên thị trường lao động, mối quan hệ được thiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động Qua đó, cung-cầu về lao đọng ảnh hưởng tới tiền công lao động và mức tiền công lao động cũng ảnh hưởng tới cung- cầu lao động

XXIII. + Cầu lao động: là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá có

thể chấp nhận được Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể mua được hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra.Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động, khi giá cả tăng hoặc giảm sẽ làm cho cầu về lao động giảm hoặc tăng

XXIV. + Cung lao động: là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận được ở

mỗi mức giá nhất định Giống như cầu và lượng cầu, đường cung lao động mô tả toàn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giá đặt ra Cung lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với giá cả Khi giá cả tăng thì lượng cung lao động tăng và ngược lại

XXV. Xuất khẩu lao động trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủ yếu dựa vào quan hệ cung - cầu lao động Nó chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật kinh tế thị trường Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc nhập khẩu lao động từ đod cần phải xác định chặt chẽ số lượng, cơ cấu, chất lượng lao động hợp lý Mặt khác, bên cung

có mong muốn xuất khẩu càng nhiều lao động càng tốt Do vậy, muốn cho loại hàng hoá đặc biệt này chiếm đựơc ưu thế trên thị trường lao động, bển cung phải có sự chuẩn bị và

Trang 6

đầu tư để được thị trường chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời các yêu cầu về số lượng, cơ cấu và chất lượng lao động cao.

XXVI. Hiện tại chưa có một khái niệm cụ thể, thống nhất nào về xuất khẩu lao động, tuỳ theo hướng tiếp cận, nghiên cứu mà người ta đưa ra những khái niệm khác nhau Theo thuật ngữ Lao động thương binh xã hội tập I – H1999 của Bộ Lao động- TB&XH thì:

“xuất khẩu lao động là việc đưa người lao động đi làm việc thuê có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật”, còn theo Luật người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 thì “xuất khẩu lao động là hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo HĐLĐ” Như vậy cả hai khái niệm trên đều chỉ ra rằng xuất khẩu lao động chính là việc đưa người lao động Việt Nam có đủ tiêu chuẩn theo quy định đi làm việc ở nước ngoài

XXVI.1.1 2.2 Vai trò:

XXVII. XKLĐ thời gian qua cũng mang lại hiệu quả kinh tế đáng khích lệ, góp phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước

XXVIII. Bảng 2.1 : Kết quả hoạt động XKLĐ giai đoạn 1991-1999

Trang 7

LXXV. Bên cạnh đó, XKLĐ thời gian qua cũng đã tạo việc làm cho một bộ phận người lao động, góp phần tích cực vào việc giải quyết việc làm cho xã hội Bình quân trong 10 năm 1980 – 1990 theo hiệp định Chính phủ, hàng năm Việt Nam đưa đi được khoảng 26.000 lao động, chiếm khoảng gần 3% lực lượng lao động tăng hàng năm Từ năm 2001 đến nay đã đưa đi được trên 157.000 người, nghĩa là đã giải quyết việc làm tạm thời cho

họ cùng với hàng ngàn người khác qua các tổ chức kinh tế làm dịch vụ XKLĐ

LXXVI.Mặt khác, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài giúp Nhà nước giảm được khoản chi phí đầu tư đào tạo nghề và tạo chỗ làm việc mới cho người lao động Ngoài ra, thông qua lao động ở nước ngoài, người lao động đã nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật,ngoại ngữ, tiếp thu được những công nghệ và tác phong sản xuất công nghiệp tiên tiến, do đó từng bước đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước khi họ trở về

LXXVII. Như vậy, hoạt động XKLĐ nước ta đã đem lại lợi ích kinh tế, xã hội không nhỏ, góp phần trực tiếp và gián tiếp vào việc tăng tích lũy vốn cho công nghiệp hóa

LXXVII.1.1 2.3 Đặc điểm:

LXXVIII. Các hình thức xuất khẩu lao động:

Trang 8

LXXIX.Xuất khẩu lao động thực tế đem lại lợi ích thiết thực cho cả người lao động và phía Nhà nước Nhận thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đưa ra những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội đi làm việc ở nước ngoài Ngày 17 tháng 7 năm 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2003/NĐ-CP quy định chi tiết về việc đưa người Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Tại điều 3 khoản 2 Nghị định này quy định rõ các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, trong đó bao gồm các hình thức cơ bản sau:

LXXIX.1.1.1 2.3.1 Thông qua doanh nghiệp Việt Nam được phép cung ứng lao động theo hợp đồng ký kết với bên nước ngoài:

LXXX. - Đối tác nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đưa ra những yêu cầu cụ thể về

số lượng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế của Việt Nam sau khi nhận được đơn đặt hàng của bên nước ngoài sẽ tiến hành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí có sẵn Để đảm bảo đúng yêu cầu của mình, bên nước ngoài thực hiện kiểm tra lại một lần nữa trước khi lao động sang làm việc

LXXX.1.1.1 2.3.2 Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài:

LXXXI.- Bên nước ngoài đặt hành cho các công trình xây dựng, do vậy phải đưa đi đồng

bộ các đối tượng lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công và lao động trực tiếp sang nước ngoài làm việc Sau khi công trình kết thúc thì cũng chấm dứt hợp đồng đối với người lao động, vì thế xuất khẩu lao động theo hình thức khoán khối lượng công việc thường không ổn định, tâm lý của người lao động dễ bị chán nản, không tận tâm với công việc

LXXXI.1.1.1 2.3.4 Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với người sử dụng lao động ở nước ngoài (sau đây gọi là hợp đồng cá nhân):

LXXXII. - Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối tượng lao động đa dạng tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc Có những yêu cầu của người nước ngoài đòi hỏi người có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm tổ chức quản lý, cũng có những yêu cầu chỉ cần người lao động có trình độ giản đơn

LXXXIII. Ngoài những hình thức đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ cũng đã trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam Thông qua các tổ chức kinh tế của ta, người lao động được cung ứng cho các tổ chức kinh tế nước ngoài dưới những hình thức:

LXXXIV. - Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

LXXXV. - Các khu chế xuất, khu công nghiệp

LXXXVI. - Các tổ chức, cơ quan ngoại giao tại Việt Nam

Trang 9

LXXXVI.1.1 2.4 Nội dung phân tích:

LXXXVI.1.1.12.4.1 Quan điểm XKLĐ:

LXXXVII. Đảng và Nhà nước ta luôn cho rằng, phát triển hợp tác quốc tế trong việc

tổ chức đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một hoạt động kinh tế - xã hội nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu cho đất nước

và tăng cường quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới Song song với quan điểm này, Chính phủ cũng đó ban hành nhiều văn bản quy định cụ thể về hoạt động XKLĐ như bộ luật lao động, nghị định, thông tư hay các công văn hướng dẫn thi hành…

LXXXVIII. Quan điểm về XKLĐ cũng đã được thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định trong một hội nghị về XKLĐ quy tụ hơn 350 đại biểu của các bộ, các ngành trên cả nước

và 5 đại sứ tại các nước có người Việt Nam ,rằng “XKLĐ là một chiến lược quan trọng trước mắt và lâu dài”

LXXXIX. Qua những quan điểm như trên cho thấy rằng, mặc dù đây là một hoạt động còn rất non trẻ, nhưng trong tương lai với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng các cấp chính quyền ,hoạt động này sẽ mang lại nhiều thành tựu to lớn, góp phần đáng kể trong công cuộc công nghiệp hóa của đất nước

LXXXIX.1.1.1 2.4.2 Chính sách XKLĐ:

XC. Nhằm đưa những quan điểm trên vào thực tiễn, Chính phủ đã sử dụng rất nhiều cụm cụ cũng như chính sách khuyến khích nhằm tạo cho hoạt động XKLĐ những con đường phát triển thuận lợi nhất Mới đây, thông qua nghị định 81/2003/NĐ-CP, Chính phủ đã có quyết định về việc thành lập quỹ hỗ trợ XKLĐ, theo đó quỹ này sẽ hỗ trợ chi phí cho việc phát triển thị trường lao động mới, cho việc đào tạo người lao động , việc hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp giải quyết rủi ro cũng như việc thưởng cho các cơ quan, đơn vị có thành tích trong hoạt động XKLĐ Như vậy, quỹ này ra đời sẽ góp phần phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, đồng thời hỗ trợ rủi ro cho người lao động và doanh nghiệp trong hoạt động này

XCI. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có những chính sách hỗ trợ cho vay đối với người lao động đi xuất khẩu, theo đó người lao động đi XKLĐ không thuộc diện chính sách được vay tối đa là 20 triệu đồng mà không yêu cầu thế chấp tài sản, điều này đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho người lao động, nhất là đối với những lao động nghèo ở nông thôn – lực lượng chính của XKLĐ, mà trước đây không có tiền để đóng góp chi phí XKLĐ hoặc không có tài sản để thế chấp Đồng thời với chính sách này, hồ sơ thủ tục xin đi XKLĐ cũng đó được giảm bớt và trở nên đơn giản thuận lợi hơn

Trang 10

XCII. Mặc dù chủ trương chính sách đã được ban hành tương đối đồng bộ và từng bước hoàn thiện, nhưng vẫn còn chậm để triển khai vào cuộc sống, vẫn còn tình trạng một số ngành, địa phương đứng ngoài hoạt động XKLĐ hoặc có tham gia nhưng thiếu triệt để Ở một số địa phương, cán bộ còn quan liêu, sách nhiễu… trong việc giải quyết thủ tục đi XKLĐ Bên cạnh đó, còn nhiều khoản mục khác cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước nhưng vẫn còn vắng bóng Ví dụ như chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với vấn đề tạo lập , giữ vững và phát triển thị trường XKLĐ, vấn đề tư pháp quốc tế, vấn đề bảo hộ họat động XKLĐ khi tham gia vào thị trường mới …

XCII.1.1.1 2.4.3 Quản lý hoạt động XKLĐ:

XCIII. Bộ lao động – thương binh và xã hội là cơ quan trực tiếp giúp Chính phủ quản lý hoạt động XKLĐ Tùy từng trường hợp mà một số cơ quan khác như Bộ tài chính, Bộ công an, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ thương mại, Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng như các đoàn thể liên quan đều chịu trách nhiệm liên đới trong việc quản lý hoạt động này

XCIV. Nhằm thực hiện một cách có hiệu quả nhất, công tác quản lý đó được tăng cường nhằm hạn chế những vi phạm của các doanh nghiệp XKLĐ cũng như góp phần tích cực ngăn ngừa các hành vi lừa đảo của các tổ chức cá nhân ngoài xã hội Trên thực tế, các cơ quan chức năng đã tiến hành 140 cuộc kiểm tra và 37 cuộc thanh tra đối với các doanh nghiệp XKLĐ trong đó thu hồi giấy phép của 8 doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, đình chỉ có thời hạn 10 doanh nghiệp do cú vi phạm đặc biệt là vi phạm trong buông lỏng quản lý hoặc có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao , buộc ngưng hoạt động vô thời hạn đối với 7 đơn vị đóng trên địa bàn thành phố Hồ Chớ Minh Việc xử lý các hành vi vi phạm của doanh nghiệp và cả những người lao động từng bước góp phần lập lại kỷ cương trong hoạt động XKLĐ, ổn định và giữ vững uy tín cho doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế

XCV. Mặc dù vậy, công tác quản lý lao động xuất khẩu vẫn còn nhiều yếu kém, đội ngũ cán bộ mỏng, năng lực chưa đáp ứng được yêu cầu đẩy mạnh phát triển thị trường XKLĐ, không thể bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động trên thị trường XKLĐ cũng như xử phạt nghiêm minh những hành vi vi phạm của doanh nghiệp và người lao động Hiện nay mới chỉ có 6 ban quản lý lao động ở nước ngoài trong khi thị trường XKLĐ Việt Nam đã trải rộng trên hơn 40 nước, dẫn đến tình trạng quá tải trong công tác điều hành, nhất là điều hành từng thị trường Mặt khác, đối với từng doanh nghiệp , việc quản lý lao động xuất khẩu chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp ở các vấn đề như: quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp và người lao động khi ký kết hợp đồng XKLĐ, giữa người lao động Việt Nam với chủ sử dụng lao động ở nước ngoài hoặc người môi giới, còn những quan hệ khác thì không thể quản lý nổi

XCV.1.1 2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động:

XCVI. 2.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bên cung ứng lao động:

Trang 11

Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách:

XCVII. Cơ chế, chính sách được hiểu là toàn bộ những quy định của nhà nước đối với một lĩnh vực cụ thể nhằm điều chỉnh mọi hoạt động của lĩnh vực đó theo pháp luật và

nó mang tính chất định hướng có tính bắt buộc, cưỡng chế

XCVIII. Xuất khẩu lao động được xem là một lĩnh vực hoạt động do đó nó phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật thông qua các cơ chế, chính sách cụ thể hay nói cách khác hoạt động xuất khẩu lao động chịu ảnh hưởng của yếu tố thuộc về cơ chế, chính sách Các cơ chế, chính sách của nhà nước nó sẽ tác động trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu lao động và nó mang tính quy định được hay không được thực hiện Mặt khác nó còn giúp cho hoạt động xuất khẩu lao động theo đúng pháp luật và các điều ước quốc tế, ngoài ra nó còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đi xuất khẩu lao động

XCIX. Sự tác động của cơ chế, chính sách đến hoạt động xuất khẩu lao động được xem xét ở hai khía cạnh sau:

C. Có tác động tích cực: nhờ sự quy định cụ thể, rõ ràng đã giúp cho hoạt động xuất

khẩu lao động được thực hiện thống nhất, có tư cách pháp nhân và được pháp luật bảo vệ, người lao động có điều kiện đi xuất khẩu lao động nhờ các chính sách hỗ trợ kịp thời, nói chung là tạo điều kiện thuận lợi nhất để hoạt động xuất khẩu lao động được diễn ra bình thường, có hiệu quả nhất

CI. Hạn chế: nếu cơ chế, chính sách quy định chung chung thiếu sự thống nhất,

không đầy đủ, không rõ ràng có sự chồng chéo và bộc lộ sự quan liêu, không phù hợp với tình hình thực tế hiện tại, không cập nhật thì nó có tác động làm kìm hãm, hạn chế đến kết quả hoạt động xuất khẩu lao động, từ đó nó tạo kẽ hở cho hoạt động xuất khẩu lao động bất hợp pháp phát triển làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân người lao động, cũng như ý nghĩa chính trị quốc gia Để khắc phục hạn chế trên hiện tại

từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 người đi xuất khẩu lao động sẽ chịu sự điều chỉnh của

“Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”,đây là cơ sở pháp lý duy nhất điều chỉnh mọi hoạt động xuất khẩu lao động hiện tại ở Việt Nam

Yếu tố thuộc về tổ chức xuất khẩu lao động:

CII. Theo Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/08/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc

ở nước ngoài theo hợp đồng thì tham gia vào hoạt động xuất khẩu lao động bao gồm các

tổ chức:

CIII. Các cơ quan quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động gồm các Bộ, ngành, UBND

các cấp và ban chỉ đạo ( viết tắt: BCĐ) xuất khẩu lao động các cấp.

CIV. Các doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu lao động

Trang 12

CV. Các tổ chức sự nghiệp của nhà nước đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

CVI. Hoạt động xuất khẩu lao động phải chịu sự quản lý trực tiếp của các cơ quan quản

lý nhà nước về xuất khẩu lao động theo sự phân cấp và do các doanh nghiệp được phép hoạt động xuất khẩu lao động thực hiện, các tổ chức sự nghiệp của nhà nước tiến hành

Do đó hoạt động xuất khẩu lao động phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của các tổ chức này Các yếu tố thuộc về tổ chức xuất khẩu lao động cũng được xem xét ở cả hai khía cạnh sau:

CVII.Có tác động tích cực: sự chỉ đạo xát xao từ TW đến địa phương, đặc biệt là việc

thành lập BCĐ xuất khẩu lao động các cấp với đầy đủ các thành phần đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu lao động Mặt khác sự nhanh nhạy, dễ thích ứng của các doanh nghiệp được phép tham gia xuất khẩu lao động trong việc tìm kiếm khai thác thị trường đã tạo cho hoạt động xuất khẩu lao động diễn ra thuận lợi và mang lại hiệu quả cao

CVIII. Hạn chế: đó là sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về xuất

khẩu lao động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và các hoạt động khác trong quá trình xuất khẩu lao động, đặc biệt là thời gian người lao động ở nước ngoài và sau khi hết hạn hợp đồng về nước chưa được coi trọng tạo tâm lý không tốt cho người lao động điều này làm giảm lòng tin của người lao động đẫn đến số người tham gia xuất khẩu lao động giảm; các doanh nghiệp xuất khẩu lao động do chạy theo lợi nhuận đưa người lao động đi theo kiểu “mang con bỏ chợ” hoặc cố tình gây khó dễ trong việc xuất khẩu lao động để đòi thêm lệ phí của người lao động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động xuất khẩu lao động hoặc các doanh nghiệp tuy có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động nhưng do năng lực tài chính, quản lý yếu, đội ngũ cán bộ không

có năng lực, không am hiểu quy định của luật pháp quốc tế dẫn đến làm ăn không có hiệu quả hoặc bị phá sản, ngoài ra còn có rất nhiều doanh nghiệp lừa đảo người đi xuất khẩu lao động để trục lợi gây mất lòng tin cho người lao động dẫn đến hoạt động xuất khẩu lao động kém hiệu quả gây thiệt hại về kinh tế và tổn hại về mặt xã hội Hiện tại việc cử cán

bộ quản lý tại các nước, khu vực mà doanh nghiệp xuất khẩu lao động đưa người lao động sang làm việc trong việc giám sát theo dõi thực hiện HĐLĐ, giải quyết kịp thời các phát sinh vượt quá khả năng tự giải quyết của người lao động hoặc khi người lao động yêu cầu trợ giúp còn rất yếu hoặc các tổ chức này không thông tin, hoặc thông tin không đầy đủ các chính sách, các quy định đối với người lao động gây thiệt thòi cho người lao động, điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu lao động

Yếu tố thuộc về bản thân người lao động:

CIX. Bản thân người lao động đóng vai trò quyết định đến kết quả của hoạt động xuất khẩu lao động, ngoài việc có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam thì

Trang 13

người lao động còn phải có các yếu tố khác thuộc bản thân người lao động mà các yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu lao động Bao gồm:

CX. Yếu tố thuộc về thể lực: thể lực chính là trạng thái sức khoẻ của người lao động

biểu hiện thông qua chiều cao, cân nặng và các giác quan nội tại… làm việc trong môi trường công nghiệp tư bản đòi hỏi người lao động Việt Nam phải có một sức khoẻ tốt, khả năng thích ứng cao nếu không sẽ không đáp ứng được yêu cầu công việc dẫn đến hàng loạt vấn đề phát sinh gây bất lợi cho lao động Việt Nam, đặc biệt trong việc thích nghi với môi trường sống

CXI. Các yếu tố thuộc về trí lực:

CXII.Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn: đây là trạng thái hiểu biết của người lao

động đối với những kiến thức phổ thông và khả năng thực hành về một chuyên môn nghề nghiệp biểu hiện qua các cấp học, qua đào tạo hoặc không qua đào tạo Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn của người lao động có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu lao động, nếu người lao động không có trình độ chuyên môn sẽ không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng từ đó dẫn đến hệ quả là người lao động thì thừa nhiều nhưng không đủ tiêu chuẩn để tham gia xuất khẩu lao động

CXIII. Trình độ ngoại ngữ: do xuất khẩu lao động là ngành đặc thù nên việc yêu

cầu về mặt ngoại ngữ đối với người lao động là cần thiết tuy chỉ ở mức giao tiếp thông thường Nếu người lao động Việt Nam tham gia xuất khẩu lao động bị hạn chế về mặt ngoại ngữ sẽ dẫn đến quan hệ chủ - thợ có nhiều bất đồng, không nắm hết các quy định

dễ phát sinh các tranh chấp không đáng có gây bất lợi cho người lao độngViệt Nam

CXIV. Sự am hiểu luật pháp: đặc biệt là pháp luật về lao động của Việt Nam và

nước sở tại, bất kỳ ở đâu có quan hệ lao động thì không thể tránh khỏi các tranh chấp xảy

ra và đều bị giàng buộc về mặt pháp lý Nếu bản thân người lao động không am hiểu pháp luật trong quá trình hoạt động lao động nhất là ở nước sở tại thì phần thiệt thòi bao giờ cũng thuộc về người lao động Việt Nam

CXV.Ngoài các yếu tố thuộc về thể lực và trí lực người ta còn quan tâm đến các yếu tố nội tâm (tâm lực) như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, sự thông minh cần cù sáng tạo, khả năng thích ứng, truyền thống gia đình, phong tục tập quán, sự trung thành, tình trạng hôn nhân… đây không phải là những yếu tố mang tính quyết định nhưng nó sẽ có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực thì còn phụ thuộc vào bản thân của mỗi người lao động Nếu các yếu tố trên mang tính bất lợi sẽ dẫn đến việc phá vỡ HĐLĐ, vi phạm pháp luật của nước sở tại, cư trú bất hợp pháp… sẽ làm mất uy tín đối với lao động Việt Nam, gây ảnh hưởng đến việc giữ vững và phát triển thị trường lao động Điều này không chỉ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động, cho người lao động mà còn ảnh hưởng đến uy tín quốc gia, làm cho người lao động và gia đình không tin tưởng không dám tham gia xuất khẩu lao động

Ngày đăng: 21/06/2016, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w