Việc mở rộng thị trường XKLĐ là hướng phát triển kinh tế phù hợp với lộ trình hội nhập mở cửa, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động trong nước. XKLĐ đã góp phần xóa đói giảm nghèo và thu thêm ngoại tệ (xấp xỉ gần 2 tỷ USDnăm) cho gần nửa triệu lao động, bao gồm cả lao động kỹ thuật và lao động giản đơn hiện đang ở 40 nước và vùng lãnh thổ. Trong những năm qua XKLĐ đã gia tăng mạnh và đã góp phần tích cực vào chiến lược giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo sự ổn định và phát triển đất nước.
Trang 1Đề tài: Phân tích thực trạng thực hiện chính sách xuất khẩu lao động tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh
Phúc giai đoạn 2002-2007
Giáo viên hướng dẫn:
Trang 2Thành viên nhóm
Trang 3Cấu trúc đề tài
Trang 4đã góp phần tích cực vào chiến lược giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo sự ổn định và phát triển đất nước.
Trang 51.1.2: Khó khăn của vấn đề nghiên cứu ở Lập Thạch:
Đa số là nông dân:
Tiếp thu ngoại ngữ chậm
Thiếu nghề nghiệp chuyên môn
Không có tác phong công nghiệp
Công tác XKLĐ còn hạn chế:
Chi phí đưa người đi lao động còn quá lớn
Người lao động vẫn phải bỏ vốn chi phí ban đầu cho công việc mới
Trang 61.2 Mục tiêu nghiên cứu:
1.2.1 Mục tiêu chung:
Trong giai đoạn 2004-2006 phải xuất khẩu được 6000- 8000 lao động tập trung vào lao động
ở khu vực nông thôn và những người có khó khăn về kinh tế, thiếu việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho lao động nước nhà
Trang 71.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Toàn bộ người lao động của huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Phạm vi: Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 8II Tổng quan nghiên cứu
2 Cơ sở lý luận của đề tài:
2.1 Một số khái niệm:
Nguồn lao động: Là bộ phận dân cư gồm những người trong độ tuổi lao động (không kể những
nguời mất khả năng lao động) và những ngưòi ngoài tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động.
Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù
hợp với nhu cầu của con người
Hiện tại chưa có một khái niệm cụ thể, thống nhất nào về xuất khẩu lao động, tuỳ theo hướng tiếp cận, nghiên cứu mà người ta đưa ra những khái niệm khác nhau Theo thuật ngữ Lao động thương binh xã hội tập I – H1999 của Bộ Lao động- TB&XH thì: “xuất khẩu lao động là việc đưa người lao động đi làm việc thuê có thời hạn ở nước ngoài theo quy định của pháp luật”
Trang 92.2 Vai trò và đặc điểm:
XKLĐ làm tăng thu nhâp tăng thu nhập quốc dân
Cơ hội tốt để người lao động tích lũy vốn, cải thiện đời sống và điều kiện làm việc của bản thân
và gia đình họ
Góp phần giải quyết việc làm cho xã hội
Giúp Nhà nước giảm được khoản chi phí đầu tư đào tạo nghề và tạo chỗ làm việc mới cho người lao động
Người lao động nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ, tiếp thu được những công nghệ, tác phong sản xuất công nghiệp tiên tiến Do đó đáp ứng sự nghiệp CNH-HĐH của đất nước
Trang 102.3 Các hình thức xuất khẩu lao động:
Thông qua doanh nghiệp Việt Nam được phép cung ứng lao động theo hợp đồng ký kết với bên nước ngoài
Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình hoặc đầu tư ở nước ngoài
Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với người sử dụng lao động ở nước ngoài
Trang 112.4 Nội dung phân tích:
2.4.1 Quan điểm XKLĐ:
Quan điểm về XKLĐ cũng đã được thủ tướng Phan Văn Khải khẳng định trong một hội nghị
về XKLĐ quy tụ hơn 350 đại biểu của các bộ, các ngành trên cả nước và 5 đại sứ tại các nước có người Việt Nam ,rằng “XKLĐ là một chiến lược quan trọng trước mắt và lâu dài”
Qua những quan điểm như trên cho thấy rằng, mặc dù đây là một hoạt động còn rất non trẻ, nhưng trong tương lai với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng các cấp chính quyền ,hoạt động này sẽ mang lại nhiều thành tựu to lớn, góp phần đáng kể trong công cuộc công nghiệp hóa của đất nước
Trang 122.4.2 Chính sách XKLĐ:
Thông qua nghị định 81/2003/NĐ-CP, Chính phủ đã có quyết định về việc thành lập quỹ hỗ trợ XKLĐ, theo đó quỹ này sẽ hỗ trợ chi phí cho việc phát triển thị trường lao động mới, cho việc đào tạo người lao động , việc hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp giải quyết rủi ro cũng như việc thưởng cho các cơ quan, đơn vị có thành tích trong hoạt động XKLĐ.
Nhà nước cũng có những chính sách hỗ trợ cho vay đối với người lao động đi xuất khẩu, theo đó người lao động đi XKLĐ không thuộc diện chính sách được vay tối đa là 20 triệu đồng mà không yêu cầu thế chấp tài sản, điều này đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho người lao động, nhất là đối với những lao động nghèo ở nông thôn – lực lượng chính của XKLĐ, mà trước đây không có tiền để đóng góp chi phí XKLĐ hoặc không có tài sản để thế chấp Đồng thời với chính sách này, hồ sơ thủ tục xin đi XKLĐ cũng đó được giảm bớt và trở nên đơn giản thuận lợi hơn.
Trang 132.4.3 Quản lý hoạt động XKLĐ
Bộ lao động – thương binh và xã hội là cơ quan trực tiếp giúp Chính phủ quản lý hoạt động XKLĐ Tùy từng trường hợp mà một số cơ quan khác như Bộ tài chính, Bộ công an, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ thương mại, Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng như các đoàn thể liên quan đều chịu trách nhiệm liên đới trong việc quản lý hoạt động này
Trang 142.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến XKLĐ:
2.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến bên cung ứng lao động:
Yếu tố thuộc về cơ chế chính sách
Yếu tố thuộc về tổ chức xuất khẩu lao động
Yếu tố thuộc về bản thân người lao động
+Thể lực
+ Trí lực
+ sự am hiểu luật pháp
Trang 15
2.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng của bên tiếp nhận lao động:
Yếu tố thuộc về kinh tế, chính trị và xã hội.
Yếu tố thuộc về địa lý.
Yếu tố liên quan đến công việc.
Yếu tố thuộc về người sử dụng lao động.
Các yếu tố khác.
Trang 16III Giới thiệu chung về huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh
Phúc.
3.1 Đặc điểm tự nhiên:
Là một huyện miền núi, dân số đông tiềm năng đất đai và lao động rất dồi dào, tuy nhiên do bất lợi về vị trí địa lý lại nằm giữa 2 dòng sông Lô và sông Phó đáy Lập Thạch luôn phải chịu ảnh hưởng của thiên tai hàng năm như lũ lụt, hạn hán… gây nhiều khó khăn cho việc giao lưu và phát triển kinh tế, đặc biệt là thông tin liên lạc và giao thông
do đó có ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu lao động của huyện.
Trang 173.2 Đặc điểm về kinh tế:
Dân số chủ yếu sống ở nông thôn chiếm trên 95%, tốc độ tăng trưởng kinh
tế hàng năm cao 13,92% nhưng giá trị mang lại không lớn, thu nhập bình quân đầu người thấp năm 2007 mới đạt 4,71 triệu đồng, đời sống dân cư còn gặp rất nhiều khó khăn Lao động thiếu và không có việc làm tính bình quân mỗi năm
dư thừa 12000 lao động (chiếm tỷ lệ 9,6%) trong khi đó số lao động gia tăng hàng năm từ 3000 – 5000 lao động chủ yếu là học sinh PTTH vì vậy giải quyết việc làm là hết sức khó khăn hiện nay và phải đặt vào mục tiêu chiến lược lâu dài bằng nhiều chương trình trong đó có xuất khẩu lao động.
Trang 183.3 Đặc điểm về xã hội:
Lập Thạch là địa phương có truyền thống lịch sử, văn hoá cách mạng Nhân dân Lập Thạch dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong chiến đấu, cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, hơn nữa đây là nơi sinh sống của hơn 10 dân tộc anh em chủ yếu là Kinh, Cao lan, Sán dìu, Dao… do đó mà phong tục, tập quán và đời sống văn hoá rất đa dạng, phong phú…chính những đặc điểm này góp phần giúp cho lao động của huyện Lập Thạch đi xuất khẩu lao động nhanh chóng hoà nhập với môi trường làm việc, dễ thích nghi.
Trang 193.4 Hệ thống hóa chỉ tiêu nghiên cứu:
Thông qua chỉ tiêu về số người tham gia xuất khẩu lao động
Thông qua chỉ tiêu tổng thu nhập/thu nhập theo thị trường
Thông qua chỉ tiêu về giới tính và độ tuổi
Thông qua chỉ tiêu về trình độ chuyên môn và trình độ văn hóa
Thông qua chỉ tiêu về số lượng người đi xuất khẩu lao động chia theo tình trạng hôn nhân qua các năm
Thông qua chỉ tiêu về khu vực và tình trạng kinh tế
Trang 203.5 Quy trình tổ chức XKLĐ:
1
Trang 21IV Kết quả nghiên cứu và thảo luận:
4.1 Đánh giá thực trạng:
4.1.1 Kết quả XKLĐ:
Theo báo cáo của UBND huyện Lập Thạch tổng kết 5 năm công tác xuất khẩu lao động giai đoạn 2002-2007 thì hiện nay công tác xuất khẩu lao động đã trở thành phong trào ở địa phương, 100% số xã/thị trấn đã có người tham gia xuất khẩu lao động, đặc biệt có xã số người tham gia xuất khẩu lao động lên tới vài trăm người như: xã Quang Yên là 300 lao động, Hải Lựu trên 100 lao động,Đình Chu 130 lao động, Sơn Đông 195 lao động…
Trang 22Bảng tổng số người đi xuất khẩu lao động của huyện qua các năm từ 2002-2007.
STT NĂM Số người đi xuất khẩu lao động
Trang 23 Từ năm 2002 đến năm 2007 huyện Lập Thạch đã đưa tổng số 1560 người đi xuất khẩu lao động, hiện nay huyện đang có trên 700 lao động đang làm việc ở nước ngoài, trong đó có 38%
là lao động nữ, hàng năm gửi về huyện trên 10 tỷ đồng Thị tường lao động chủ yếu là: Malaisia chiếm 67,92%, Đài Loan 26,60% (đây là những thị trường có yêu cầu không cao, chi phí xuất khẩu lao động thấp nên rất phù hợp với lao động của huyện Lập Thạch), Hàn Quốc 3,03%, Nhật Bản 2,30% còn lại là thị trường Singapore, Trung quốc, Quatar, Arap xê út…
Trang 24 Trong 3 năm sau ( 2005-2007) số lượng nười đi xuất khẩu lao động giảm mạnh, đặc biệt là năm 2005 nguyên nhân chủ yếu là do đầu năm 2005 thị trường Malaysia thông báo ngưng tiếp nhận lao động nước ngoài trong đó có Việt Nam, thị trường Đài Loan ngưng tiếp nhận lao động giúp việc gia đình dẫn đến lao động không đăng ký tham gia xuất khẩu lao động hoặc đã dăng ký nhưng không thể xuất cảnh được Ngoài ra còn có nguyên nhân nữa là một số gia đình vay vốn đi xuất khẩu lao động không chịu trả nợ hoặc trả không đúng kỳ hạn nên ngân hàng không muốn cho vay, vì vậy chỉ những gia đình có điều kiện kinh tế mới có thể tham gia xuất khẩu lao động.
Trang 254.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến XKLĐ ở địa phương.
Các yếu tố khách quan:
- Xuất khẩu lao động là một lĩnh vực kinh tế đối ngoại đặc thù, mới chỉ bắt đầu được 5 năm nên huyện chưa có nhiều kinh nghiệm trong khi đó lại phải cạnh tranh với nhiều lao động trong cũng như ngoài tỉnh vốn có nhiều kinh nghiệm hơn và đã có các thị trường tiếp nhận lao động
- Xu hướng và chính sách tiếp nhận lao động của các nước có sự thay đổi nhanh chóng, trong khi đó chính sách của nhà nước và hoạt động nghiệp vụ của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng như khả năng của huyện không theo kịp, còn bị động phụ thuộc
- Các điều kiện tự nhiên không thuận lợi, kinh tế- xã hội còn chậm phát triển
Trang 26 Các yếu tố chủ quan:
- Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng với doanh nghiệp không thống nhất đẫn tới việc chậm chễ trong giải quyết các tranh chấp nảy sinh trong quan hệ lao động
và dân sự ở trong nước cũng như ở nước ngoài.
- Các doanh nghiệp được phép hoạt động xuất khẩu lao động ở huyện chưa đủ lực
kể cả con người và vốn để khai thác các thị trường mới, trong khi đó việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động phát triển còn chậm, chính sách hỗ trợ người lao động đi xuất khẩu lao động còn chưa phù hợp với địa phương, chưa đầy đủ, thủ tục còn rườm rà, số tiền hỗ trợ còn ít, cho nên không thu hút được nhiều người tham gia.
- Buông lỏng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động để cho các hiện tượng lừa đảo xuất khẩu lao động diễn ra thường xuyên gây ra tâm lý e ngại cho người
laođộng, gây mất uy tín cho các đơn vị làm ăn chân chính…
Trang 274.2 Định hướng và giải pháp
Trước hết cần củng cố và hoàn thiện hệ thống ban chỉ đạo từ tỉnh, huyện,xã nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về XKLĐ, trong đó ngành lao động là cơ quan thường trực của ban chỉ đạo giúp tỉnh chỉ đạo tốt công tác XKLĐ
Về công tác thông tin tuyên truyền,cần phải phổ biến sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác XKLĐ để người lao động
tự nguyện đến đăng ký, tuyển chọn đúng chỗ,tránh thông qua môi giới, đồng thời phổ biến cho người lao động hiểu ra về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia hoạt động XKLĐ.
Trang 28 Về công tác tuyển chọn người lao động đi XKLĐ, cần triển khai sâu rộng mô hình giữa các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp làm công tác XKLĐ, chính quyền các cấp ở địa phương, nhất là khu vực nông thôn nhằm tuyển chọn những lao động đủ tiêu chuẩn: lí lịch, sức khỏe tốt, đảm bảo yêu cầu về trình độ văn hóa, chuyên môn và tự nguyện đi làm việc ở nước ngoài.
Hơn nữa, cũng cần đa dạng hóa hình thức lao động, đẩy mạnh XKLĐ theo hình thức “xen ghộp” đưa lao động Việt Nam sang làm việc cùng với công nhân nước sở tại trong cùng một dây chuyền sản xuất
Đối với các trung tâm dạy nghề, cần tăng cường năng lực, cơ sở vật chất, củng cố đội ngũ cán
bộ quản lý , các cơ sở đào tạo nghề , đào tạo giáo dục định hướng , tích cực đẩy mạnh họat động đào tạo cho công nhân
Trang 29V Kết luận
5.1 Kết luận:
- Có thể thấy rằng xuất khẩu lao động là một mặt trận kinh tế góp phần không nhỏ cho công cuộc xây dựng quê hương Lập Thạch, làm cho nhà nhà, người người thêm giàu thêm mạnh Mặt khác “đi một ngày đàng học một sàng khôn” người đi xuất khẩu lao động trở về phần lớn họ có nghề, lại vừa có vốn và họ sẽ trở thành lực lượng đáng kể cho sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Trang 305.2 Kiến nghị:
Để giải quyết việc làm,ngày nay trong xu thế hội nhập, hoạt động XKLĐ đang được các quốc gia hết sức quan tâm, tạo nên những thị trường sôi động cho các quốc gia Hoạt động này cũng được nhà nước ta khuyến khích phát triển trong vòng 10 năm trở lại đây và đó thu được những thành tựu to lớn Do vậy, nhằm tạo sự phát triển mạnh hơn nữa trong hoạt động XKLĐ, cần thiết phải có những giải pháp cụ thể cho từng địa phương, đại diện là huyện Lập Thạch như đã trình bày, để có thể hoàn thiện công tác này, cho kết quả hoạt động ngày càng cao, góp phần đẩy nhanh sự phát triển của đất nước để tiến gần hơn với sự phát triển như vũ bão của các quốc gia trên thế giới