Thông qua công cụ thuế, chính phủ đã từng bước tạo lậpmôi trường kinh doanh ngày càng lành mạnh, thúc đẩy những ngành, nhữnglĩnh vực quan trọng của nền kinh tế phát triển, nâng cao năng
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS LÊ QUỐC LÝ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hiền
Trang 3Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH
1.2 Vai trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 20
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THUẾ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
2.1 Thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Phú Thọ 342.2 Thực trạng về vai trò của thuế với sự phát triển kinh tế - xã hội ở
2.3 Đánh giá mặt được và chưa được của ngành thuế Phú Thọ tác
động tới sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Phú Thọ 58
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI
TRÒ THUẾ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ -XÃ HỘI Ở
Trang 4Bảng 2.1: Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh
Bảng 2.2: Thu thuế qua các năm của Phú Thọ 44
Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng bình quân thu từ thuế của Phú Thọ 46
Bảng 2.4: Một số khoản chi ngân sách trên địa bản tỉnh Phú Thọ
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn thu ngân sách 45
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu kinh tế năm 2010 53
Biểu đồ 2.5: Tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Phú Thọ 2010 - 2014 55
Biểu đồ 2.6: Tổng kim ngạch nhập khẩu của Phú Thọ 2010 - 2014 56
Biểu đồ 2.7: Số lao động được giải quyết việc làm 57
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ 35
Hình 2.2: Phú Thọ trong mối liên hệ với Bắc Bộ 36
Hình 2.3: Vị trí tỉnh Phú Thọ trong hành lang và vành đai kinh tế 37
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đãtạo điều kiện cho nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ Qua gần 30 nămthực hiện đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, đời sốngnhân dân ngày một nâng cao, vị trí kinh tế - chính trị của Việt Nam trong khuvực và trên thế giới không ngừng được củng cố Cùng với sự phát triển củanền kinh tế, vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ nét.Thông qua những công cụ đắc lực của mình, Nhà nước, Chính phủ đã thựchiện khá thành công vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế trong từng giaiđoạn phát triển Một trong những công cụ đó là chính sách thuế
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh: Thuế ra đời làmột sự cần thiết khách quan gắn với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhànước Để có nguồn lực vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển Nhànước phải dùng quyền lực chính trị vốn có của mình để huy động một bộphận của cải của xã hội Việc huy động đó được thực hiện bằng nhiều cáchkhác nhau: đóng góp bắt buộc, vận động nhân dân tự nguyện đóng góp hoặcvay… Trong đó, biện pháp huy động tập trung, của cải có tính chất bắt buộcđối với mọi thành viên trong xã hội được gọi là thuế
Trước cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, cùng với nhiều bấtcập trong nội tại của nền kinh tế khiến chính sách tài khóa của Việt Nam đãbộc lộ nhiều bất cập như: thu ngân sách thiếu tính bền vững, còn phụ thuộcvào các khoản thu không tái tạo,…Cùng với tiến trình hội nhập sâu vào nềnkinh tế thế giới và cam kết gia nhập WTO, hàng rào thuế quan sẽ ngày càngthu hẹp, vì vậy khả năng thu từ hoạt động nhập khẩu sẽ giảm sút trong nhữngnăm tới Những sức ép về việc thâm hụt ngân sách và tập trung nhiều hơn cácbiện pháp kích cầu buộc Chính phủ Việt Nam nhìn nhận và quan tâm nhiềuhơn đến vấn đề thu ngân sách, chủ yếu thông qua nguồn thu từ thuế
Trang 6Trên thực tế, trong những năm qua nguồn thu cho ngân sách từ thuếngày càng lớn, góp phần quan trọng để Đảng và Nhà nước duy trì hoạt độngcủa bộ máy các cấp, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các chươngtrình an sinh xã hội Thông qua công cụ thuế, chính phủ đã từng bước tạo lậpmôi trường kinh doanh ngày càng lành mạnh, thúc đẩy những ngành, nhữnglĩnh vực quan trọng của nền kinh tế phát triển, nâng cao năng lực, cơ hội vàđiều kiện cho những vùng nghèo, khu vực nông thôn…Bằng các biện phápgiảm thuế hoặc miễn thuế và trong bối cảnh của nền kinh tế nước ta hiện naythì biện pháp giảm thuế hoặc miễn thuế được xem như là biện pháp ưu tiên.Như vậy, đối với một địa phương cấp tỉnh, thuế là nguồn thu chủ yếu để chínhquyền địa phương thực hiện thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội đề ra.Nguồn thu từ thuế không chỉ góp phần chủ yếu cân đối ngân sách, mà còn tácđộng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo các mục tiêu đã lựa chọn Nóicách khác thuế được sử dụng như một công cụ hữu hiệu sẽ phát huy vai tròđối với tiến trình phát triển kinh tế xã hội Và ngược lại, nó có thể kìm hãm sựphát triển, làm triệt tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh, kìm hãm tốc độ tăngtrưởng kinh tế…của địa phương
Trong những năm qua, cùng với cả nước Phú Thọ cũng đang chuyểnmình từng ngày Với đặc thù là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, đang cónhững bước phát triển mạnh mẽ cả về công nghiệp, nông nghiệp, thươngnghiệp và dịch vụ Những tác động và ảnh hưởng của chính sách thuế đối vớikinh tế xã hội của tỉnh luôn trực tiếp và rõ ràng Mặc dù đã được đổi mới cănbản về việc triển khai thực hiện chính sách, pháp luật, đến đổi mới quy trình,thủ tục, tổ chức bộ máy và quản lý thu thuế trên địa bàn Tuy nhiên, bên cạnhnhững kết quả đạt được vẫn còn nhiều bất cập làm giảm đi hiệu quả và trò củathuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Nếu những bất cập
ấy không sớm được giải quyết sẽ gây ra khó khăn cho quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới Những hạn chế, bất cập
Trang 7ấy đòi hỏi cần phải được phân tích, luận giải một cách có hệ thống để tìm racác giải pháp nhằm đổi mới và hoàn thiện công tác thuế trên địa bàn nhằmthúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hiện nay Đây là vấn đề
cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Xuất phát từ lí do trên nên đề tài: “Thuế
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Phú Thọ” được tác giả lựa chọn để
nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến thời điểm hiện nay, đã có một số công trình và bài viết đề cậpđến vấn đề vai trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nhưng đángchú ý hơn cả là một số công trình sau:
- Tạp trí cộng sản số 803 năm 2009, bài viết của tác giả Đặng Hạnh Thu
“Quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy giảm kinh tế trong nước và suy thoái kinh tế toàn cầu”
- Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Kim Quyến “Nâng cao vai trò của
thuế- công cụ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam ”
Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2009
- Bài viết của tiến sỹ Nguyễn Thị Thương Huyền “Luật quản lý thuế và
những vấn đề bàn thêm” năm 2013.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của PGS.TS Nguyễn Thị Bất làm
chủ nhiệm “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế ở Việt Nam trong
điều kiện hiện nay”
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Tạ Văn Nam “Thuế đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc” năm 2012
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Tiến Mạnh “Hoàn thiện công tácquản lý thuế đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”năm 2013
Các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã khái quát một số nộidung cơ bản của công tác thuế cũng như các quy trình quản lý thuế, tập trung
Trang 8nghiên cứu việc xây dựng và ban hành luật thuế, tổ chức thực hiện các luậtthuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế và đưa ra các nhóm giải pháp nghiên cứuhoàn thiện hệ thống luật pháp về thuế nhưng chưa đề cập sâu và có hệ thốngđến tác động của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương đặc biệt
là trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về thuế, vai trò của thuế đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, của địa phương và đánh giá thựctrạng thuế với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Phú Thọ Từ đó đề xuất một
số hệ thống giải pháp nhằm nâng cao vai trò và tác động tích cực của thuế đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết nhữngnhiệm vụ sau:
Một là, hệ thống hóa những nội dung lý luận cơ bản về thuế, làm rõ vai trò,
tác động của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hiện nay
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng công tác thuế và ảnh hưởng của
thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ giai đoạn hiện nay
Ba là, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò, tác động
tích cực của thuế đối với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ trong thờigian tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tác động của thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Phú Thọ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2010-2014
Trang 95 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, cáccông trình nghiên cứu của các tác giả đã công bố có nội dung liên quan đếnvấn đề mà luận văn đề cập
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong đó, chủ yếu sử dụng các phươngpháp: phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; cụ thể và trừu tượng; điềutra, so sánh, thống kê… cụ thể như sau:
Chương1: Hệ thống hóa, phân tích có bổ sung khái quát các vấn đề lý
luận chung về thuế
Chương 2: Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, kết hợp
sơ đồ, biểu đồ để minh họa
Chương 3: Khái quát kết quả nghiên cứu của chương 1 và chương 2 tổng
hợp đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của thuế đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội ở Phú Thọ
6 Đóng góp về khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn những nội dung liên quan đến vai trò củathuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung
Đánh giá được thực trạng tác động của thuế đối với phát triển kinh tế
-xã hội ở tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp phát huy vai trò của thuếđối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Phú Thọ
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương, 7 tiết
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc, bản chất, đặc trưng về thuế
1.1.1.1 Khái niệm về thuế
Khi Nhà nước ra đời, để có tiền chi tiêu cho sự tồn tại và hoạt động củamình, nhà nước đã đặt ra chế độ thuế khóa do dân cư đóng góp để hình thànhquỹ tiền tệ của mình Như vậy, thuế ra đời, tồn tại cùng với sự ra đời, tồn tại củaNhà nước là công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thựcthi chức năng nhiệm vụ của mình Tuy nhiên trong lịch sử, đứng trên các góc độtiếp cận khác nhau có rất nhiều khái niệm, quan điểm về thuế được đưa ra:
Dưới bất kỳ một hình thái kinh tế - xã hội nào khi còn Nhà nước là cònthuế Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà nước nào cũng sử dụng
để hoàn thành chức năng của mình Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều cáchnhìn nhận khác nhau và người ta vẫn chưa có quan điểm thống nhất về kháiniệm thuế cũng như nhìn chung chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung củaphạm trù thuế Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rấtđơn giản: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng gópcủa những người công dân của Nhà nước đó là thuế khóa…” [25]
Càng về sau, khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiệnhơn Trong cuốn sách “Economics” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkhell và Bruy-M.1993 cho rằng “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặcchuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ)”
Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế màtùy theo cách nhìn nhận ở các góc độ khác nhau, người ta có thể hiểu khácnhau về thuế:
Trang 11Theo từ điển Tiếng Việt (xuất bản năm 1977) thì thuế là phần tiền hoặcsản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước
Ở góc độ nghiên cứu về Pháp luật thì thuế được quan niệm là khoảnđóng góp theo quy định của Pháp luật mà Nhà nước bắt buộc với tính chất và
cá nhân phải nộp vào Ngân sách Nhà nước
Ở góc độ nghiên cứu về Kinh tế Chính trị học thì khái niệm về thuế làhình thức phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hìnhthành nên các quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chứcnăng của Nhà nước
Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp bắtbuộc theo nghĩa vụ do Pháp luật quy định Thuế là khoản thu không phải hoàntrả ngang giá và trực tiếp
Ở góc độ người nộp thuế thì hiểu thuế là khoản bắt buộc phải nộp choNhà nước theo quy định
Các quan niệm trên tuy cách diễn đạt khác nhau song đều thống nhấtnững nội dung chính của thuế là:
- (1) Thuế là biện pháp động viên của Nhà nước mang tính chất bắt buộcđối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lựcchính trị của Nhà nước
- (2) Thuế là khoản đóng góp nghĩa vụ, bắt buộc đối với các tổ chức vàmọi thành viên trong xã hội, gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước
- (3) Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vựccông nhằm trang trải những chi phí nhằm nuôi sống bộ máy Nhà nước vàtrang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng
- (4) Thuế là một hình thức phân phối thu nhập được Nhà nước sử dụng
để động viên một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vàongân sách Nhà nước
Từ các khái niệm trên đây có thể thấy rằng:
Trang 12Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các tập thể và cá nhân có nghĩa vụphải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật
do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và không hoàn trả trựctiếp cho đối tượng nộp thuế
Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội
do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật
1.1.1.2 Nguồn gốc của thuế
Cho tới nay, chưa xác định rõ ràng vùng lãnh thổ nào trên trái đất khaisinh ra thuế, song một điều không thể phủ nhận là Thuế gắn liền với sự tồn tại
và phát triển của Nhà nước
Thời nguyên thủy, con người liên kết với nhau một cách tự phát đểchung sống Sản phẩm do mỗi cá nhân làm ra chỉ vừa đủ thậm chí còn thiếu
so với nhu cầu tối thiểu của con người Trong quá trình sống và lao động, conngười đã tích lũy được kinh nghiệm, cải tiến công cụ lao động, một số người
đã bắt đầu tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết cho cuộc sống bình thường,rồi trở lên dư thừa và giàu có Họ thoát ly dần lao động và mướn người làmthay Họ trở lên có thế lực và được nhiều người kính nể, cử làm đại diện cho
bộ lạc - thị tộc Dần dần họ nắm quyền lực và cai trị bộ lạc Những “gia đình”danh giá và giàu có này tập hợp nhau lại bên ngoài thị tộc của họ, thành mộtgiai cấp riêng và đặc quyền Thực tế, nhóm người này trở thành người đứngđầu “chính quyền” công cộng, cuối cùng cũng phát triển thành Nhà nước
Ở khía cạnh phân công lao động xã hội, Nhà nước là một tổ chức bộmáy với nhiều hệ thống cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau để tổchức điều hành, cai quản xã hội Những người tham gia bộ máy nhà nước từtrung ương đến địa phương là những người không tham gia trực tiếp sản xuất.Phải có nguồn tài chính để nuôi bộ máy quản lý công việc của Nhà nước Phải
có nguồn tài chính để chi tiêu cho những công việc thuộc chức năng Nhànước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng,
Trang 13chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt
và lâu dài Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước càng lớn
về quy mô và phạm vi chi tiêu
Nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên chỉ có thể “lấy” từ việcđộng viên đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tầng lớp dân cư trong xãhội trực tiếp lao động ra
Từ trước đến nay, các Nhà nước thường có ba cách để động viên một
phần thu nhập xã hội cho nguồn ngân sách Nhà nước: quyên góp, vay và dùng
quyền lực để buộc dân phải đóng góp Hai hình thức đầu phụ thuộc vào tính
tự nguyện và tự giác của dân chúng, riêng hình thức dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước - đó là Thuế
Như vậy, thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà
nước Vậy thuế là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu và đầu tiên
là nhằm đảm bảo nguồn thu tài chính phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theochức năng của Nhà nước Cơ sở quan trọng khác cho sự ra đời của thuế là thunhập Nếu của cải làm ra chỉ đủ nuôi sống bản thân người lao động thì không
có gì để đóng góp cho Nhà nước Sự hình thành thu nhập trong xã hội là cơ sởvật chất tạo khả năng cho nguồn động viên về thuế Có thu nhập thì người dânmới có thể đóng góp cho Nhà nước và ngược lại
Vậy thuế xuất hiện trong xã hội loài người với hai điều kiện cần và đủ
-đó là sự xuất hiện của Nhà nước và sự xuất hiện thu nhập xã hội.
1.1.1.3 Bản chất của thuế
Thuế gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước và nềnkinh tế hàng hóa Nhà nước là người đại diện quyền lực cao nhất cho một giaicấp nhất định Do đó, thuế có bản chất kinh tế - chính trị - xã hội sâu sắc
a) Bản chất kinh tế của thuế:
Bản chất kinh tế của thuế thể hiện trước hết là một phần thu nhập của xãhội được tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Kinh tế là cơ sởcủa thuế Không có sản xuất và phát triển sản xuất và sản xuất không có hiệu
Trang 14quả thì nguồn thu từ thuế của Nhà nước không thể tăng nhiều và nhanh được.
Vì thế, qua thu thuế phải tác động tới sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuấtkinh doanh phát triển, thúc đẩy thực hành tiết kiệm mọi mặt trong sản xuất vàtiêu dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu ngày càng lớn cho Ngân sách.Mức động viên về thuế không hợp lý, chỉ nhằm đáp ứng đơn thuần nhu cầuchi tiêu của Nhà nước mà bỏ qua đảm bảo tăng trưởng về kinh tế thì thường làgặp thất bại, dễ dẫn đến hậu quả xấu nhiều mặt cả về kinh tế - chính trị.Ngược lại, mức động viên hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho Ngân Sách vàkích thích sản xuất phát triển
b) Về bản chất giai cấp của thuế:
Bản chất giai cấp của Nhà nước quyết định bản chất của thuế Cùng mộthiện tượng Ngân sách thu thuế của dân, nhưng với các Nhà nước khác nhauthì bản chất của thuế khác nhau Điều đó được thể hiện bên trong những nộidung chủ yếu của thuế là: Thuế thu vào ai? Thu như thế nào? Và thu để làmgì? Có thể nói mục đích của thuế - Thu để làm gì đã thể hiện rõ ràng nhất mụcđích của thuế Trong xã hội người bóc lột người, nhân dân lao động đóng thuếcho Nhà nước để nuôi bộ máy áp bức, bóc lột lại chính mình Còn dưới chế
độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân đóng thuế để chi tiêu cho những công việcnhằm phục vụ trở lại nhân dân lao động Đó là điều khác nhau cơ bản về bảnchất giai cấp, bản chất chính trị của thuế
c) Thuế còn thể hiện tính xã hội rộng rãi:
Trước hết, vì thuế thu vào toàn dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức,
cá nhân trong xã hội Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lạithu nhập xã hội giữa các tổ chức kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư
1.1.1.4 Đặc trưng của thuế
Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền
Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điềunày trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây
Trang 15+ Trước đây:
Thông thường là các hình thức nộp cho thuế đất Nhà Vua ban đất chogiới quý tộc, nên họ phải cống nạp cho triều đình bằng sự phục vụ của chínhbản thân và những sản phẩm do nông nô trong các trang trại sản xuất ra Đâycũng là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm quan trọng và là một trongnhững hình thức nộp thuế bằng hiện vật đầu tiên
Vào thế kỷ thứ XIII, các hình thức quản lý hành chính mới được hìnhthành Mỗi khu vực hành chính do một lãnh chúa đứng đầu Lãnh chúa giaođất cho nông dân và nông dân phải nộp thuế bằng nông sản
+ Hiện nay:
Cá nhân và doanh nghiệp có thể đến cơ quan thuế nộp trực tiếp bằng tiền:
- Nộp tiền thuế trực tiếp vào kho bạc Nhà nước hoặc thông qua ngân
hàng thương mại, tổ chức tín dụng và tổ chức dịch vụ khác theo quy định tạikhoản 13 Điều 1 Nghị định số 106/2010/NĐ-CP của Chính phủ
- Giao dịch điện tử để nộp thuế:
Theo quy định của Thông tư 180/2010/TT-BTC có hiệu lực từ 1/1/2011,người nộp thuế có thể thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế (trừtrường hợp nộp thuế qua giao dịch trực tiếp với ngân hàng mà ngân hàng cóquy định khác) Người nộp thuế sẽ có thể lựa chọn các hình thức nộp thuếđiện tử như: Giao dịch trực tiếp với ngân hàng nơi người nộp thuế mở tàikhoản thông qua các kênh giao dịch điện tử (Internet, Mobile, ATM) củangân hàng để thực hiện thủ tục nộp thuế, hoặc thông qua cổng thông tin điện
tử của cơ quan thuế
Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiệnbằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường Nhà nướcdùng nguồn tiền thu từ thuế tác động đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội nhưtiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, giá cả, thị trường, việc làm, thấtnghiệp, công bằng xã hội,…
Trang 16Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực:
- Tính bắt buộc của thuế xuất phát từ đặc tính của hàng hóa công cộng
Tính bắt buộc của thuế xuất phát từ đặc tính của hàng hóa công cộng là
có thể sử dụng chung và khó có thể loại trừ:
+ Có thể sử dụng chung:
Nghĩa là việc một cá nhân này đang sử dụng hàng hóa đó không ngăncản những người khác sử dụng nó
Ví dụ: con đường xây dựng nên thì tất cả mọi người đều được đi trên
nó, pháo hoa được bắn lên thì mọi người đều được nhìn thấy nó
+ Khó có thể loại trừ
Hàng hóa công cộng một khi đã được cung cấp tại một địa phương nhấtđịnh thì không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân khôngtrả tiền cho việc sử dụng hàng hóa của mình
Ví dụ: Quốc phòng là hàng hóa công cộng nhưng quân đội không chỉbảo vệ những người trả tiền mà không bảo vệ những người không trả tiền đó Mọi người đều có quyền thụ hưởng những hàng hóa công cộng nhưquốc phòng, môi trường pháp luật, phòng dịch bệnh, tu sửa đường xá, đê điều,
…song không ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng đó
Vì vậy để đảm bảo chi tiêu công, Nhà nước phải dùng quyền lực củamình để bắt buộc các thể nhân, pháp nhân phải nộp thuế cho Nhà nước
- Được thực hiện thông qua con đường quyền lực qua hệ thống pháp luật thuế Bao gồm:
+ Luật Quản lý Thuế
+ Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt
+ Luật thuế Thu nhập cá nhân
+ Luật thuế Giá trị gia tăng
+ Luật thế thu nhập doanh nghiệp
Trang 17Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.Trong luật quản lý thuế có quy định các biện pháp cưỡng chế xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực thuế là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực củaNhà nước phát sinh khi có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tựmình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấpthuận Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước cóthẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của phápluật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế Đây là đặc điểm bao trùmnhất của thuế
Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định
Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước,các cấp chính quyền địa phương Nhờ các căn cứ tính thuế mà đối tượng chịuthuế cũng như cơ quan thuế tính được số tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộpvào ngân sách Nhà nước Trong đó căn cứ tính thuế như là thuế suất áp dụngtrên từng đối tượng chịu thuế
Ví dụ như, đối với thuế GTGT, mức thuế suất 5% áp dụng với hàng hóa,dịch vụ tiêu dùng thiết yếu; đối với thuế thu nhập, doanh nghiệp mức thuếsuất khoảng 25% áp dụng với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp; thuế xuất khẩu, mức thuế suất 15% áp dụng với hàng quặngxuất khẩu,… Nhờ đó mà hàng năm có thể xác định được khoản tiền thuế thuvào ngân sách là bao nhiêu
Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không có tính hoàn trả trực tiếp
- Thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể
Nghĩa là, số tiền thu được từ thuế sẽ được nhà nước chi dùng cho nhiềumục tiêu khác nhau và việc định ra một loại thuế không nhằm đáp ứng mộtkhoản chi cụ thể của nhà nước Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi
Trang 18loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đềuđược sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quátrình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
- Không có tính hoàn trả trực tiếp
Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụnào cho người nộp thuế
Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào chongười nộp thuế Tuy nhiên một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho ngườinộp thuế thông qua các hàng hóa công cộng, bao gồm các khoản chi phát triểnkinh tế-xã hội, chi xây dựng cơ sở hạ tầng, và tòa án, viện kiểm soát, hệ thốngquân đội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm cuộc sống cho mọi người;chi cho hệ thống giáo dục, nghiên cứu khoa học công nghệ, y tế, văn hóa,nghệ thuật, thể dục thể thao; chi cho hệ thống an sinh xã hội, chi hỗ trợ đảmbảo công bằng cho mọi người
1.1.2 Các yêu cầu cơ bản của thuế
Trên thực tế, thường chỉ có thể vận dụng là: nếu các cá nhân có cùng địa
vị pháp lý và đều tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội như sản xuất,kinh doanh, chiếm hữu, tiêu dùng…thuộc các sự kiện làm phát sinh nghĩa vụnộp thuế được pháp luật quy định thì đều có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
Trang 19- Hệ thống được coi là công bằng theo chiều dọc, tức là: nếu người cókhả năng nộp thuế nhiều hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn những người khác.Trong thực tế, để áp dụng nguyên tắc này cần phải xác định nhiều hơn:+ Về tiêu thức: Phổ biến hiện nay người ta dùng tiêu thức thu nhập hoặctiêu dùng nhận được để đánh giá khả năng nộp thuế Mức độ nộp thuế caohơn hơn được hiểu là tỷ lệ thuế tính trên tổng thu nhập của người nộp thuếcao hơn nếu mức thu nhập mà họ nhận được cao hơn.
+ Về mức độ nộp thuế: một hệ thống thuế có tính công bằng theo chiều dọc
sẽ được hiểu là hệ thống thuế lũy tiến so với thu nhập nhằm hạn chế bớt khoảngcách giàu nghèo và đảm bảo công bằng giữa các thành viên trong xã hội
Sự công bằng ngang thông thường hiện diện ngay trong mỗi sắc thuế vàđược biểu hiện chủ yếu ở nội dung xác định phạm vi đối tượng nộp thuế, đốitượng chịu thuế của mỗi loại thuế Tuy nhiên, sự công bằng dọc ít khi thể hiệnđầy đủ ở góc độ toàn hệ thống mà không nên đánh giá riêng biệt đối với từngsắc thuế riêng lẻ
1.1.2.2 Đảm bảo tính hiệu quả về kinh tế
Hệ thống thuế phải đảm bảo tính hiệu quả xét trên các mặt sau đây:
Thứ nhất, thuế phải đảm bảo can thiệp một cách có hiệu quả vào nền
kinh tế theo những mục tiêu nhất định
Xét trên phương diện kinh tế, việc đánh thuế của Chính phủ bao giờcũng ảnh hưởng đến nguồn lực của xã hội và chịu sự chi phối của hai tác nhân
có xu hướng vận động không đồng nhất là: Nhà nước và các yếu tố thiịtrường Tính hiệu quả kinh tế của thuế phải được xem xét trên hai góc độ:
Một là, phải giảm thiểu những tác động tiêu cực của thuế trong phân bổ
nguồn lực kinh tế đã đạt được hiệu quả dưới tác động của yếu tố thị trường
Hai là, tăng cường vai trò của thuế đối với việc phân bố nguồn lực chưa
đạt được hiệu quả Chẳng hạn, thuế ô nhiễm môi trường vừa huy động thêmnguồn vốn cho Nhà nước vừa nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực
Trang 20Thứ hai, công tác tổ chức thu thuế phải đảm bảo chi phí hành chính
giảm đến mức tối thiểu
Trên thực tế, khi thu thuế bào giờ cũng phải phát sinh khoản chi phí, đó
là chi phí trực tiếp của cơ quan thuế (chi phí để thu thuế) và chi phí gián tiếp(chi phí tuân thủ của đối tượng nộp thuế) Tính hiệu quả của thu thuế thể hiện:thuế thu được nhiều nhất trên cơ sở chi phí hành chính là thấp nhất Cáckhoản chi phí hành chính này phụ thuộc vào: tính phức tạp của hệ thống thuế(các điều khoản miễn giảm; số lượng, mức độ phân biệt của thuế suất đối vớiđối tượng nộp thuế cũng như cơ sở tính thuế…) Muốn giảm bớt chi phí hànhchính, hệ thống thuế phải đơn giản dễ hiểu, dễ áp dụng Mặt khác, hệ thốngthuế có đơn giản, dễ hiểu, thì việc quản lý, kiểm tra, kiểm soát của Nhà nướcđối với người nộp thuế mới dễ dàng, thuận lợi
1.1.2.3 Bảo đảm phải đơn giản về thủ tục
Đối tượng thực hiện chính sách thuế thuộc mọi tầng lớp dân cư và mọicán bộ quản lý, thu thuế và một số cán bộ thuộc ngành khác (kho bạc, ngânhàng) Do đó việc ban hành các nguyên tắc, chế độ, biện pháp để thực hiệncác luật thuế phải đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng thông qua việc thể chế hóabằng những quy định cụ thể trong từng văn bản pháp quy Qua đó mọi ngườiđều được biết, hiểu và thực hiện một cách thống nhất, khắc phục được cáchhiểu thế nào cũng được, làm thế nào cũng đúng, dễ tạo tùy tiện, tiêu cực trongvận dụng
Để việc hiểu và thực hiện các luật thuế được thống nhất giữa người nộpthuế và thu thuế, giữa các địa phương, mỗi sắc thuế đều phải có quy định thật
rõ ràng, cụ thể, đầy đủ về đối tượng đánh thuế, đối tượng nộp thuế, căn cứtính thuế, thuế suất, thuế biểu, phương pháp thu, nghĩa vụ kê khai, nộp thuế,quyền hạn trách nhiệm của cơ quan thuế, cơ sở kinh doanh; điểm nào có thểphát sinh hiểu lầm, cần phải giải thích đầy đủ Với nội dung như trên mỗicông dân hoặc mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh có thể biết được chắc chắn
Trang 21mình phải nộp thuế gì, nộp bao nhiêu, nộp như thế nào và phải làm theo đúngquy định trong từng luật thuế, cách tính thuế ra sao và từng người từng đơn vị
có thể tự thực hiện được việc kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế đầy đủvào kho bạc Nhà nước theo đúng hướng dẫn, quy định của cơ quan thuế
1.1.2.4 Đảm bảo phải rõ ràng về đối tượng chịu thuế
Một hệ thống thuế rõ ràng và minh bạch trước hết phải chỉ rõ nghĩa vụ,trách nhiệm, quyền của đối tượng nộp thuế và các đối tượng có liên quan Đồngthời phương pháp xác định mức thuế phải nộp đơn giản, dễ hiểu, dễ tính toán
Sự minh bạch yêu cầu phải được xây dựng theo một trình tự pháp lýnghiêm ngặt, có cấu trúc nhất quán, khi thực hiện điều chỉnh, bổ sung sửa đổicác luật thuế phải có lộ trình được công bố rõ ràng, vừa đảm bảo logic vừa cótính kế thừa…có như vậy người thu thuế, người nộp thuế, người chịu thuếmới có đủ điều kiện đối chiếu, tham khảo và thực thi tốt nhất Người thực thiphải thấy rõ ràng nghĩa vụ cũng như quyền lợi về thuế của mình, có như vậymới đơn giản dễ hiểu, dễ làm, đơn giản trong quản lý và thu nộp thuế
Một chính sách thuế như vậy sẽ hạn chế được sự tùy tiện, kẽ hở trốn vàtránh thuế đồng thời giảm chi phí hành chính thuế Thực hiện đúng nguyêntắc này còn tránh được tình trạng cán bộ thu thuế lợi dụng “sự mập mờ” mànhũng nhiễu, tham ô, lạm thu…, qua đó đối tượng nộp thuế cũng yên tâmhoạt động kinh tế, phát huy tốt tính công bằng, hiệu quả
1.1.2.5 Đảm bảo tính linh hoạt trong áp dụng
Hệ thống thuế phải có tính linh hoạt, được thể hiện thông qua khả năngthích ứng một cách dễ dàng với những hoàn cảnh kinh tế thay đổi Một số.Một số chính sách thuế có cơ chế ổn định tự động rất hữu hiệu đó là thuế thunhập, mức thuế thu nhập sẽ tụ động thay đổi mà không cần thay đổi chính bảnthân chính sách thuế Thu nhập chịu thuế phụ thuộc vào thu nhập thực tế Khinền kinh tế suy thoái, thu nhập thực tế giảm dần đến mức thuế phải nộp giảm,tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ngược lại khi nền kinh tế tăng
Trang 22trưởng nhanh, thu nhập tăng nhiều thì thuế phải nộp cũng được tự động tănglên, nên có tác dụng hạn chế nguy cơ lạm phát.
Tuy nhiên tính tự động điều chỉnh chưa thực sự tỏ ra hữu hiệu, nó chưa
có tác động đủ mạnh trước sự biến động lớn của nền kinh tế Vì vậy, trongđiều kiện nhất định Chính phủ buộc phải chủ động điều chỉnh thuế và các loạilãi suất
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống thuế
1.1.3.1 Nhóm nhân tố kinh tế
Thuế là một phần thu nhập của nền kinh tế quốc dân được tập trung vàongân sách Nhà nước, thuế luôn gắn chặt với hoạt động sản xuất kinh doanh vànguồn thu từ thuế chỉ có thể ổn định trên cơ sở nền kinh tế được phát triển vàhiệu quả Do đó, kinh tế là cơ sở của thuế
Những yếu tố kinh tế thường tác động đến hệ thống thuế là mức độ tăngtrưởng của nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế, thu nhập bình quân đầu người,giá cả, quan hệ cung cầu trên thị trường, sự biến động của Ngân sách,…
Trước hết là thực trạng sản xuất kinh doanh đạt kết quả cao, khối lượnghàng hóa lưu thông lớn, thu nhập của doanh nghiệp và cư dân tăng lên thìkhối lượng thuế thu được cũng tăng theo, khi đó việc thu thuế thuận lợi hơn.Ngược lại, khi hoạt động sản xuất kinh doanh không đảm bảo hiệu quả, thunhập của doanh nghiệp và cư dân giảm sút, khối lượng hàng hóa lưu thônggiảm mạnh thì việc thu thuế sẽ gặp nhiều khó khăn, lượng thuế thu được vừa
ít vừa khó thu Trong khi đó, để kích cầu sản xuất và tiêu dùng, Nhà nước cầnphải tăng chi ngân sách nên xuất hiện tình trạng mất cân đối giữa thu và chi
Áp lực về Ngân sách càng làm cho cơ quan thuế tận thu một cách triệt để cácnguồn thu nhằm bù đắp lượng Ngân sách thiếu hụt gây tâm lý bức xúc trongcộng đồng
Tiếp theo đó là tiền năng thế mạnh của vùng, địa phương; cơ chế, chínhsách; tổ chức bộ máy…cũng có ảnh hưởng đáng kể đến việc thu thuế và vai
Trang 23trò của thuế đối với sự phát triển kinh tế xã hội Nếu địa phương có tiềmnăng, thế mạnh kinh tế lớn và việc tổ chức khai thác các tiềm năng đó tốt thìsản xuất phát triển và số lượng thuế thu được sẽ tăng, ngân sách địa phươngdồi dào, nhờ đó có thể tăng chi cho xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hộithúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Cùng với đó, cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy thu thuế thuận lợi, thủtục đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện sẽ có tác dụng khuyến khích các chủ thểtrong nền kinh tế hăng hái thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước…
1.1.3.2 Nhóm nhân tố phi kinh tế
- Yếu tố chính trị: Bản thân thuế là do Nhà nước đặt ra, Nhà nước là một
tổ chức chính trị, đại diện cho quyền lợi của giai cấp thống trị, thi hành cácchính sách do giai cấp thống trị đặt ra để cai trị xã hội, do đó hệ thống thuếtrước hết phải phục vụ cho mục tiêu do Nhà nước đặt ra và phục vụ cho y đồcủa giai cấp thống trị
Thể chế chính trị của Nhà nước có ý nghĩa quyết định đến hệ thống thuế.Nếu thể chế chính trị của Nhà nước tổ chức theo chế độ Nhà nước Liên bangthì trong cơ cấu hệ thống thuế bao gồm các loại thuế trung ương và thuế địaphương, thực hiện quản lý thuế theo cơ quan thu thuế trung ương và cơ quanthuế địa phương riêng biệt nhau Còn nếu thể chế chính trị của Nhà nước tổchức theo chế độ Nhà nước đơn nhất thì thường chỉ có một hệ thống thuếthống nhất cho cả nước, quản lý thuế theo hệ thống ngành dọc thống nhất từtrung ương đến địa phương
Yếu tố chính trị có tác động quyết định đến chính sách thuế và quản lýthuế cũng được thể hiện rõ nét trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Cácchính sách thuế cũng như thủ tục quản lý thuế phải sửa đổi lại cho phù hợpvới các cam kết quốc tế…
- Yếu tố xã hội: Tập quán, văn hóa, đặc điểm và điều kiện xã hội từng địa
phương…Hệ thống thuế được thực thi do các cơ quan quản lý và các tầng lớp
Trang 24dân cư trong xã hội Do đó các yếu tố xã hội như tâm lý tập quán của các tầnglớp dân cư, truyền thống văn hóa xã hội của dân tộc, kết cấu giai cấp trong xãhội…đều tác động và ảnh hưởng nhất định đến hệ thống thuế.
Về bản chất, thuế là một phần thu nhập xã hội được động viên vào ngânsách Nhà nước Tập quán, văn hóa, đặc điểm và điều kiện xã hội từng địaphương hình thành nên các lợi ích khác nhau, tuy nhiên mức đóng góp củacác lợi ích khác nhau Hơn nữa, nếu đóng thuế nhiều thì thu nhập để lại tiêudùng của tổ chức và cá nhân sẽ giảm, do đó các đối tượng phải nộp thuế đều
có động lực đấu tranh để giảm mức đóng góp của mình
Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ để thực thi chính sách xã hộinhư: miễn, giảm thuế cho vùng khó khăn; miễn, giảm thuế cho các nhà đầu tưnếu đầu tư vào các vùng khó khăn, các ngành nghề phục vụ cộng đồng hoặchưởng các chính sách trợ cấp xã hội; miễn giảm thuế thu nhập cá nhân chongười lao động,…
1.2 VAI TRÒ CỦA THUẾ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.2.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu và lâu dài của ngân sách quốc gia
Nhà nước có thể huy động phương tiện vật chất đáp ứng cho nhu cầu chitiêu của mình bằng nhiều phương thức khác nhau như: phát hành tiền, pháthành công trái, bán một phần tài sản quốc gia, hoạt động kinh tế, vận độngviện trợ từ nước ngoài, quyên góp của nhân dân và thu thuế Tuy nhiên, thuế
là nguồn vốn huy động chủ yếu, thường xuyên và hợp lý mà Nhà nước nàocũng áp dụng Biện pháp này có nhiều ưu điểm: Thuế là công cụ để phân phốilại có phạm vi bao quát rộng lớn hơn đối với toàn bộ thể nhân và pháp nhân,mọi hoạt động kinh tế; thuế sẽ góp phần đảm bảo sự công bằng trong san sẻchi tiêu công; đây là nguồn thu thường xuyên, ổn định, tập trung nhanh chóng
từ tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Hình thức cưỡng chế bằngpháp luật kết hợp với kích thích vật chất thông qua miễn, giảm có vai trò đẩymạnh năng suất, chất lượng hiệu quản, hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng Nguồn
Trang 25huy động tập trung thông qua thuế là một bộ phận chủ yếu của tổng sản phẩm
xã hội và thu nhập quốc dân trong nước tạo ra Nhờ đó một bộ phận đáng kểthu nhập của xã hội được tập trung vào trong tay Nhà nước để đảm bảo nhucầu chi tiêu, giúp Nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.Đảm bảo nguồn thu từ thuế là mục tiêu quan trọng hàng đầu của công tácquản lý thuế Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Nhà nước cần phải tăngthu thuế bằng mọi giá Một tỷ lệ thu thuế hợp lý và ổn định sẽ vừa kích thíchnền kinh tế phát triển, hiệu quả, vừa đảm bảo nguồn lực tài chính đáp ứng nhucầu chi tiêu của Nhà nước
Nguồn thu thuế có thể từ hai nguồn: Thu từ nội bộ nền kinh tế và thu từbên ngoài thông qua hệ thống thuế đảm bảo nhu cầu chi chủ yếu của Nhànước cho việc duy trì bộ máy Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố
an ninh, quốc phòng
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt độngđòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tậptrung nguồn tài chính vào Ngân sách Nhà nước từ đó đáp ứng được nhu cầuchi ngày càng tăng Để đạt được nguồn thu kịp thời dồi dào, bền vững cầnxem xét lại tỷ lệ hợp lý giữa thuế trực thu và thuế gián thu Các nước đangphát triển thường chú ý đến thuế gián thu do tính ổn định của nó vì sự tiêudùng của xã hội là không bao giờ mất đi dù nền kinh tế bị khủng hoảng Đồngthời thuế gián thu cũng dễ thu hơn thuế trực thu Hiện nay các nước phát triểnlại đánh vào thuế trực thu nhiều hơn với một hệ thống quản lý và hành thuchặt chẽ
Tuy nhiên khi nhấn mạnh vai trò thuế là công cụ tạo nguồn thu chủ yếucho Ngân sách Nhà nước, cần phải chú trọng quan điểm thu thuế trên cơ sởkhông ngừng bồi dưỡng và nâng cao nguồn thu
Mọi số tiền thu thuế của Nhà nước, nói cho cùng, chính là một phần thunhập của xã hội được trích vào tay Nhà nước bằng pháp luật, khi thu nhập xã
Trang 26hội tăng lên là cơ sở vững chắc nhất để ổn định và tăng cường cho nguồn thucủa Nhà nước từ thuế Nói cách khác, thông qua thuế, một phần tổng sảnphẩm xã hội được phân phối và tái phân phối và Ngân sách Nhà nước để Nhànước chi tiêu Phần này nhiều hay ít, tỷ lệ trích cao hay thấp có tác động ảnhhưởng đến thái độ làm việc của người dân Tác động này có thể tích cực hoặctiêu cực: nếu việc tái phân phối thu nhập quốc dân của Nhà nước thông quathuế hợp lý sẽ tạo động lực tăng cường cơ sở thu thuế, qua đó tiền thuế thuđược sẽ tăng và bền vững; ngược lại, nếu Nhà nước thu quá mức về phầnmình thì tác động thuế sẽ kìm hãm ham muốn tạo thu nhập của người dân.Đồng thời thuế bất hợp lý càng thôi thúc họ trốn thuế và hệ quả của nó làphần thuế thu được sẽ bị giảm sút Vì vậy, để thuế thực hiện tốt vai trò này,cần chú ý đến khả năng chịu thuế của người nộp thuế, có nghĩa là thuế khôngđược vượt quá phần giá trị mới được sáng tạo ra trong quá trình sản xuất C.Mác cho rằng: thuế khóa nặng nề và bộ máy hành chính cồng kềnh, kém hiệuquả là hai khái niệm đồng nghĩa.
1.2.2 Thuế tham gia vào việc điều tiết kinh tế vĩ mô
Thông qua các qui định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm
vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế…Nhà nước chủ động pháthuy vai trò điều tiết đối với nền kinh tế
Ngoài việc huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, pháp luậtthuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế.Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hóa
và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập vàtiêu dùng xã hội
Điều tiết kinh tế của thuế được thực hiện thông qua việc qui định cáchình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đốitượng nộp thuế, xây dựng chính xác các mức thuế phải nộp có tính đến khảnăng của người nộp thuế, sử dụng linh hoạt các ưu đãi và miễn, giảm thuế
Trang 27Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào quỹ đạochung, phù hợp lợi ích của xã hội Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi canthiệp trực tiếp của Nhà nước vào kinh tế ngày càng hạn chế thì việc sử dụngcông cụ thuế như một biện pháp điều chỉnh vĩ mô đem lại hiệu quả cao Vaotrò này xuất phát từ khả năng tái phân phối của cải làm thay đổi tương quanlực lượng vật chất của đối tượng điều chỉnh trong nền kinh tế Tác động vĩ mônền kinh tế có thể có thể biểu hiện ở những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, thuế có thể được sử dụng như một công cụ nhạy bén góp phần
kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thích đầu tư tạo nền tảng cho sự pháttriển bền vững
Theo các lý thuyết kinh tế, lậm phát có thể xuất phát từ nguyên nhân cầukéo hoặc chi phí đẩy Trường hợp lạm phát do nguyên nhân cầu kéo làm giá
cả tăng cao, Nhà nước có thể dùng biện pháp điều chỉnh tăng thuế tiêu dùnglàm giảm bớt áp lực tăng cầu giả tạo, trên cơ sở đó điều chỉnh lại cân bằngquan hệ cung cầu Trường hợp ngược lại, nếu lạm phát bắt đầu từ nguyênnhân chi phí đẩy thì việc giảm thuế đối với các yếu tố đầu vào là cần thiết làmgiảm nhẹ áp lực tăng chi phí và tạo điều kiện hạ giá bán sản phẩm, trên cơ sở
đó lập lại quan hệ cung cầu, ổn định giá cả thị trường
Cũng theo lý thuyết kinh tế hiện đại, tự thân của nền kinh tế thị trường
có xu hướng phát triển theo chu kỳ gây ra những cuộc khủng hoảng nặng nềsau mỗi chu kỳ phát triển Thuế được coi là công cụ nhạy cảm để hạn chế sựphát triển theo chu kỳ của nền kinh tế Trong bối cảnh nền kinh tế phát triểnquá nóng, Nhà nước có thể tăng thuế để giảm bớt đầu tư tư nhân Ngược lạitrong điều kiện nền kinh tế lâm vào trì trệ, việc giảm thuế đầu tư sẽ góp phầnkích thích đầu tư, kích cầu tiêu dùng làm cho nền kinh tế phục hồi nhanh hơn
Thứ hai, thuế là công cụ sắc bén được sử dụng nhằm mục tiêu bảo hộ sản
xuất nội địa và duy trì, tăng cường khả năng cạnh tranh của nền linh tế trongđiều kiện hội nhập quốc tế
Trang 28Việc mở của nền kinh tế đồng nghĩa với việc phải đối mặt với những rủi
ro cạnh tranh khốc liệt từ bên ngoài Vì vậy, bất cứ nước nào tham gia hộinhập đều phải thiết lập hàng rào bảo hộ hợp lý và hợp pháp nhằm hạn chếhoặc giảm bớt sự cạnh tranh bất lợi Trong các công cụ bảo hộ(thuế và phithuế quan) thì thuế được coi là hàng rào bảo hộ linh hoạt và hiệu quả nhấtnhằm điều hòa áp lực cạnh tranh Mức thuế cao đối với hàng nhập khẩu có tácdụng giảm bớt hoặc triệt tiêu lợi thế giá cả giữa hàng nhập khẩu và hàng sảnxuất trong nước Ngược lại mức thuế thấp hoặc bằng không đối với hàng nhậpkhẩu có tác dụng khuyến khích nhập khẩu những hàng hóa cần thiết bù đắpthiếu hụt cho nền kinh tế đồng thời gây áp lực cần thiết nhằ nâng cao sức cạnhtranh cho những ngành hàng nội địa tương tự
Khi nền kinh tế hội nhập sâu, các công cụ bảo hộ mới như thuế chốngbán phá giá, thuế chống trợ cấp và thuế đối kháng có thể sử dụng bổ sung chothuế trong việc bảo hộ nền sẳn xuất nội địa một cách hiệu quả Ở cấp độ caohơn, hệ thống thuế hợp lý với mức thu vừa phải sẽ góp phần nâng cao nănglực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế thông qua việc kích thích xuất khẩu vàthu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển kinh tế
1.2.3 Thuế tác động vào việc phân bổ nguồn lực trong xã hội
Áp dụng chính sách thuế phân biệt giừa các ngành, các lĩnh vực, cáckhu vực, các vùng lãnh thổ khác nhau có tác dụng phân bổ nguồn lực, tạo
ưu thế tương đối cho những vùng, khu vực ngành nghề cần ưu tiên pháttriển nhằm duy trì hoặc lặp lại trạng thái phát triển hài hòa, cân đối củatoàn bộ nền kinh tế
Với việc thiết kế và xây dựng hệ thống chính sách thuế có phân biệt theongành, vùng khác nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy phát triển nhiều ngànhnghề kinh tế mũi nhọn, then chốt và các vung kinh tế trọng điểm, góp phầnkhuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa
Trang 29Với hệ thống thuế rò ràng, ổn định, các nhà đầu tư có thể xác định đượchiệu quả đầu tư vốn của mình sau khi đà hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế choNhà nước Họ sẽ so sánh, tính toán và lựa chọn lĩnh vực đầu tư vào nhữngngành, những vùng có lợi nhất Một chính sách thuế nhiều ưu đãi sẽ thu hútcác nguồn vốn trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực cần ưu tiên, khuyếnkhích như: sản xuất hàng xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu cần thiết màtrong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đủ nhu cầu, đầu tư vàonhững vùng có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội không thuận lợi.
Việc áp dụng chính sách thuê phân biệt giữa các ngành, các khu vực cótác động mạnh mẽ đến việc phân bổ lại nguồn lực trong nền kinh tế(vốn, lựclượng lao động) song tác động đó chỉ có hiệu lực tốt nhất trong một thời hạnthích hợp nhất định, vì trong dài hạn, sự ưu đãi hay hạn chế của thuế đối vớingành, các khu vực sẽ bị san sẻ do sự chuyển dịch nhanh nhạy của vốn và lựclượng lao động trong thị trường Do đó, để phát huy được tốt vai trò của thuếtrong hướng dẫn đầu tư, phải xác định được thời gian ưu đãi, miễn giảm thuếthích hợp nhất Nếu thời gian ưu đãi quá ngắn, khó thu hút được vốn đầu tư
do các dự án chủa đủ thời gian vượt qua nhưng khó khăn phải đối đầu, hoạtđộng kinh doanh chưa đạt được tình trạng bình thường Trong bối cảnh đó,việc thực hiện nghĩa vụ thuế sẽ làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệptrở nên khó khăn Ngược lại, nếu thời gian ưu đãi thuế quá dài thì sự linh hoạttrong phân bổ nguồn lực của thị trường sẽ triệt tiêu sự ưu đãi đối với khu vựccần khuyến khích, do ưu đãi đã có san đều cho các khu vực khác trong nềnkinh tế Mỗi sắc thuế sẽ có tác động đến lợi ích của các chủ thể đầu tư ở cáckhía cạnh khác nhau Do đó, không thể đồng nhất một thời gian miễn giảmthuế như nhau đối với tất cả các sắc thuế, các loại đối tượng khác nhau.Thôngthường, các loại thuế trực thu có tác động thiết thực, nhanh, mạnh đến lợi íchđến các nhà đầu tư hơn thuế gián thu
Trang 30Trên cơ sở chiến lược và định hướng phát triển kinh tế, việc áp dụng cácsắc thuế với các mức thuế suất, thời gian ưu đãi thích hợp cùng những quiđịnh giám sát chặt chẽ, cụ thể, thuế luôn là cung cụ hữu hiệu trong việc phân
bổ và điều chỉnh lại nguồn lực trong nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế theo định hướng của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định
1.2.4 Thuế là công cụ để phân bổ lại thu nhập các cá nhân trong xã hội
Thuế là công cụ quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân theo đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta Hiện nay nguồn thu nước ngoài đã giảm nhiều,kinh tế đối ngoại trở thành co vay có trả Trước tiên, thuế là một công cụ quantrọng để góp phần ổn định trật tự xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề chophát triển lâu dài
Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho cácngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sựbình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thể nhân
Trang 31thống thuế, về thuế suất,…đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhậptrong xã hội.
Hệ thống thuế hiện tại ở các nước thường bao gồm thuế trực thu và thuếgián thu Phối hợp giữa chúng sẽ phân phối gánh nặng thuế ra toàn xã hội mộtcách khéo léo và bình đẳng Người có thu nhập càng cao thì thuế phải nộpcàng nhiều cả về số tiền thuế và thuế suất trung bình Cách đánh thuế này bảođảm không thu thuế vào người nghèo; thu thuế thấp đối với người có thu nhậptrung bình và thu thuế cao đối với người giàu.Vì vậy có tác dụng:
(1) Dù đánh thuế thấp nhưng số người có thu nhập trung bình nhiều nênvẫn đảm bảo thu thuế cho Nhà nước
(2) Không làm giảm động lực làm giàu của các cá nhân nhằm thúc đẩyđộng lực phát triển kinh tế
(3) Tạo được khả năng hiệu quả thu thuế cao
Cùng với đó là thông qua việc thực hiện chính sách an sinh xã hội, Nhànước lấy từ trong ngân sách ra một khối lượng nhất định để trợ cấp các đốitượng nghèo, các gia đình neo đơn, chính sách, các hộ gia đình sản xuất kinhdoanh gặp thiên tai, dịch bệnh hoặc thông qua các hình thức miền giảm thuếcho họ; thực hiện bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội…cho các đối tượng nghèo,xây dựng điện, đường, trường, trạm cho các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng
Trang 32Thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động canthiệp đến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai đoạn từ sản xuất đếnphân phối, trao đổi và tiêu dùng.
Để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước vàkhuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quyđịnh khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hànghóa Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế áp dụng
có tính chất phân biệt đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu
Trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thịtrường tất yếu dẫn đến tình trạng khó khăn về tài chính ở một số doanhnghiệp Đối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần khuyếnkhích, ngoài các quy định chung, pháp luật thuế còn có quy định ưu đãi, miễn,giảm thuế nhằm khắc phục những khó khăn về tài chính, tạo sự ổn định vàphát triển của các doanh nghiệp
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước đểđáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước
có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở tậndụng và sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn lực của đất nước trong việcđiều chỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế
Tóm lại: Tác động của thuế đối với sự phát triển kinh tế - xã hội là sự
biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế xã hộinhất định Trong điều kiện hiện nay, với sự thay đổi phương thức can thiệpcủa Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò và có tác động hết sứcquan trọng đối với quá trinh phát triển kinh tế - xã hội
1.3 KINH NGHIỆM CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG
1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 33Vĩnh Phúc thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm ở phía Tây Bắccủa Thủ đô Hà Nội được tái lập từ năm 1997 trên cơ sở tách tĩnh Vĩnh Phúthành hai tỉnh: Phú Thọ và Vĩnh Phúc
Sau gần 20 năm tái lập, theo báo cáo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ khitái lập tỉnh đến nay, kinh tế Vĩnh Phúc luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao và ổnđịnh Tổng sản phẩm (GDP) của Vĩnh Phúc giai đoạn 2006- 2010 tăng bìnhquân 17,4%, năm 2014, tăng 5,78%, GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt58,6 triệu đồng; Giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao Năm 2014 thu Ngânsách trên địa bàn tỉnh đạt 20.480 tỷ đồng
Đạt được kết quả đó là nhờ ngành thuế Vĩnh Phúc đã tích cực triển khai
và hoàn thiện các biện pháp, quy trình quản lý thuế, tăng cường công tácthanh tra, kểm tra đối tượng nộp thuế và nội bộ ngành, vừa đảm bảo chốngthất thu thuế , vừa giúp các đối tượng nộp thuế hiểu luật pháp để thực hiện vàhoàn thành tốt nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước
Ngành thuế tỉnh Vĩnh Phúc đã chủ động sáng tạo đề ra và thực thi đồng
bộ, quyết liệt các giải pháp triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sáchkinh tế vĩ mô của Chính phủ, trong đó các chủ trương, chính sách, pháp luậtmới về thuế, tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 732/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ ngày 17/5/2011 v/v phê duyệt chiến lược cải cách hệ thống thuếgiai đoạn 2011-2020 Đồng thời, đẩy mạnh tiến trình cải cách hiện đại hóangành thuế; Tăng cường kỷ cương, kỷ luật, đổi mới phương pháp làm việc vànâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Xây dựng ngành thuế vững mạnh toàndiện, phục vụ tốt yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới
Đi đôi với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, công tác tổ chức, đào tạocán bộ được ngành thuế tỉnh quan tâm đầu tư và rèn luyện qua thực tế thôngqua các lớp tập huấn, bồi dưỡng các nội dung như: chế độ kế toán, nghiệp vụthuế, quản lý Nhà nước, lý luận chính trị,…Ngành luôn coi trọng công tác đẩymạnh và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế,
Trang 34công tác tham mưu cho cấp ủy và chính quyền địa phương từ tỉnh đến cơ sởlàm tốt công tác quản lý kê khai, kế toán thuế, công tác quản lý nợ và cưỡngchế thuế, thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng với nhiều hình thứcphong phú, thưởng phạt kịp thời nghiêm minh nên chất lượng đội ngũ cán bộngày càng được nâng cao.
1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Yên Bái
Ngành thuế tỉnh Yên Bái đã góp phần lớn số thu cho Ngân sách nhànước và góp phần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương trongnhững năm vùa qua
Theo báo cáo kết quả tổng hợp của tỉnh thì từ năm 2010 đến năm 2014:Thu Ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng khá, từ 840 tỷ đồng năm 2010 lên 1.320
tỷ đồng năm 2014; Năm 2014, Tổng GDP trong tỉnh đạt 11,7% Trong đó thunội địađạt 1.205 tỷ đồng Tạo việc làm cho 18 - 20 nghìn lao động mỗi năm Đạt được những kết quả như trên, đó là do tỉnh Yến Bái đa áp dụng vàtập trung triển khai các nội dung:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật củaNhà nước về lĩnh vực thuế; Đặc biệt là chú trọng đến công tác tuyên truyền,triển khai các chính sách hỗ trợ về thuế theo Nghị quyết của Chính Phủ Tạomôi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng cho Người nộp thuế thuộc mọithành phần kinh tế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước, góp phầnthúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
- Tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra tính toán cụ thể và công bố côngkhai đến từng doanh nghiệp, số tiền từng loại thuế được giãn, miễn, giảm nộptheo Nghị quyết của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ tài chính mà đơn vị phảinộp vào Ngân sách theo qui định Thường xuyên đối chiếu số dư các tàikhoản tạm thu, tạm giữ của đơn vị đủ điều kiện phải nộp ngay vào Ngân sáchNhà nước Tăng cường công tác kiểm tra chống gian lân, chốn lậu thuế, thực
Trang 35hiện thu triệt để các khoản nợ đọng nộp ngân sách, xử lý kiên quyết, nghiêmminh các hành vi, vi phạm pháp luật về thuế; tiếp tục cải thiện môi trường đầu
tư kinh doanh, tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp và các
cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanhtăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
- Nắm bắt vào theo sát tình hình thu Ngân sách ở các lĩnh vực trọng điểmnhất là doanh nghiệp, Người nộp thuế có số thu lớn Động viên kịp thời cáckhoản thu Ngân sách; rà soát đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn thu trênđịa bàn để tham mưu kịp thời cho UBND tỉnh điều hành ngân sách địa phương
và đảm bảo khai thác triệt để mọi nguồn thu nộp Ngân sách Nhà nước
- Tăng cường đẩy mạnh cải cách thu tục hành chính liên quan đến sảnxuất kinh doanh, đầu tư nhất là thủ tục cấp giấy phép đầu tư, thủ tục về thuế,hải quan Phấn đấu giảm thấp nhất thời gian tiếp nhận hồ sơ, giải quyết thutục hành chính theo quy định
- Chủ động phối hợp với các ngành tham mưu kiph thời các biện phápnhằm khai thác nguồn thu, động viên kịp thời các nguồn lực vào ngân sáchhạn chế thấp nhất mức hụt thu so với dự toán giao
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với tỉnh Phú Thọ
Qua khảo sát kinh nghiệm một số tỉnh có đặc điểm địa lý cũng như tiềmnăng phát triển gần tương đồng với tỉnh Phú Thọ với mục đích tìm hiểu nhữngđổi mới trong phương thức quản lý thuế để tạo nguồn thu cho Ngân sách đápứng yêu cầu của địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội cho thấy:
Một là: cần phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HHĐND,
UBND và đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành liên quan trong côngtác thuế
Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc và Yên Bái, sự chỉ đạo sát sao, trực tiếp,thường xuyên của các cấp chính quyền, của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, huyện… có
Trang 36ý nghĩa đến việc quyết định đến việc triển khai kịp thời các chính sách thuếcủa Nhà nước Sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các đoàn thể cũng gópphần không nhỏ trong việc hoàn thành các chỉ tiêu của ngành thuế đặt ra Nỗlực của bản thân ngành thuế là rất quan trọng, tuy nhiên, nếu không có sự chỉđạo sát sao của các cấp chính quyền và sự chỉ đạo sát sao của các ban, ngành,đoàn thể liên quan thì sẽ khó có thể hoàn thành đạt và vượt mức chỉ tiêu đề ra.
Hai là: tận dụng các nguồn thu một cách triệt để nhằm tăng thu cho
Ngân sách mà vẫn đảm bảo nguyên tắc nuôi dưỡng nguồn thu, đáp ứng yêucầu phát triển bền vững và cần linh hoạt trong trong từng trường hợp cụ thể.Chính sách động viên về thuế cần có tác dụng bồi dưỡng nguồn thu vữngchắc, lâu dài cho Ngân sách Nhà nước Cơ cấu thuế suất không quá cao, quáphức tạp, quá khả năng đóng góp của Người nộp thuế
Ba là: thường xuyên đổi mới phương pháp thu và quản lý thuế Trong đó
chú trọng đến công tác cán bộ, cần đầu tư cho công tác đào tạo và đào tạo lạicán bộ để nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý và trình độ chuyênmôn nghiệp vụ nhằm tạo ra đội ngũ cán bộ công chức thuế đáp ứng được yêucầu hội nhập của địa phương nói riêng và của cả nước nói chung
Bốn là: đẩy mạnh tăng cường công tác tuyên truyền và kiểm tra giám
sát Cần chú trọng đến các yếu tố đặc thù, bản sắc riêng của từng địa bàn đểcông tác tuyên truyền thực sự đem lại hiệu quả trong việc nâng cao nhận thứccủa cộng đồng nói chung và của người nộp thuế nói riêng để họ hiểu đượcquyền lợi và nghĩa vụ nộp thuế, thấy các giá trị của mình khi có những đónggóp cho xã hội thông qua thuế, thấy trách nhiệm của mình khi đóng góp cho
sự phát triển chung của xã hội Từ đó họ sãn sàng nộp thuế và như vậy côngtác thu thuế sẽ có nhiều thuận lợi Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sátchặt chẽ quy trình thu và đối tượng thu, kết quả thu…cũng là bài học có giátrị đối với Cục thuế tỉnh Phú Thọ Việc tăng cường công tác kiểm tra, giámsát không chỉ đem lại hiệu quả về số thu mà còn góp phần nâng cao thái độ và
Trang 37trách nhiệm của chính những cán bộ làm công tác thuế đối với công việc vàvới đối tượng chịu thuế.
Tiểu kết chương 1
Những vấn đề lý luận về thuế đã chỉ ra bản chất và đặc trưng của thuế.Các yêu cầu cơ bản để xây dựng hệ thống thuế nhằm đảm bảo tính công bằng;tính hiệu quả về kinh tế; đảm bảo phải đơn giản về thủ tục; đảm bảo rõ ràng
về đối tượng chịu thuế và tính linh hoạt trong việc áp dụng Có nhiều nhân tốảnh hưởng đến hệ thống thuế, trong đó những nhân tố cơ bản có ảnh hưởngnhiều nhất là nhóm nhân tố về kinh tế; nhóm nhân tố phi kinh tế thể hiện quayếu tố chính trọ, yếu tố xã hội
Thuế đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, lànguồn thu chủ yếu và lâu dài của Ngân sách quốc gia; thuế tham gia vào việcđiều tiết kinh tế vĩ mô; là công cụ để tác động vào sự phân bổ nguồn lực trong
xã hội; là công cụ để phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội và
là công cụ để thực hiện kiểm tra giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh.Bên cạnh đó việc nghiên cứu kinh nghiệm về thuế với phát triển kinh tế
xã hội của một số địa phương như Vĩnh Phúc và Yên Bái cho thấy Phú Thọ
có thể khắc phục được những hạn chế đồng thời vận dụng hiệu quả mặt tíchcực trong công tác thuế của các địa phương này nhằm nâng cao hơn nữa hiệuquả công tác thu thuế Từ đó thấy được vai trò càng lớn của thuế đối với sựphát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THUẾ VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH PHÚ THỌ
2.1 THUẾ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH PHÚ THỌ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Phú Thọ là tỉnh miền núi, thuộc vùng Trung du Miền Bắc
Bộ, diện tích tự nhiên 3.528,4 km2 , có vị trí trung tâm vùng, là cửa ngõ TâyBắc của thủ đô Hà Nội, trên trục hành lang kinh tế Hải Phòng - Hà Nội - LàoCai- Côn Minh (Trung Quốc), là cầu nối giữa các tỉnh vùng Tây - Đông Bắcvới cả nước và quốc tế Phú Thọ cách thủ đô Hà Nội 80 km, cách sân bayQuốc tế Nội Bài 60 km, cách cửa khẩu Hà Khẩu (Lào Cai) và cửa khẩu ThanhThuỷ (Hà Giang) khoảng 200 km, cách cảng Hải Phòng 170 km và cảng CáiLân (Quảng Ninh) 200 km, là nơi hợp lưu của 3 con sông lớn ở Miền BắcViệt Nam là sông Hồng, sông Đà và sông Lô Đây là lợi thế để Phú Thọ cóthể giao lưu kinh tế - văn hoá với bên ngoài, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tếcủa tỉnh
- Khí hậu: Phú Thọ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ
rệt: Mùa hè thời tiết nóng nực, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa đông
ít mưa và lạnh, kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bìnhtrong năm là 23 độ C, lượng mưa trung bình khoảng 23 độ C, độ ẩm trungbình 85%- 87% Nhìn chung, khí hậu của Phú Thọ bên cạnh việc tạo điềukiện thuận lợi cho việc phát triển cây trồng, vật nuôi đa dạng, tạo môi trườngkhí hậu trong lành, còn là những tiềm ẩn thiên tai, gây trở ngại cho sản xuấtnông, lâm nghiệp và đời sống
Trang 39- Đất: Phú Thọ có 22 loại đất, hợp thành 12 loại chủ yếu và phân thành 4
nhóm: Nhóm đất feralit đỏ vàng, với diện tích lớn 33% tổng diện tích đất tựnhiên toàn tỉnh, có độ phì khá, phù hợp với cho phát triển cây công nghiệp lâunăm Nhóm đất feralit trên núi, chiếm gần 30% tổng diện tích tự nhiên, chủyếu thích hợp cho phát triển trồng rừng và tái sinh rừng Đất phù sa cổ: Loạiđất này chiếm tỷ lệ nhỏ 9,2%, thường là đồi bát úp, thích hợp với trồng rừng,cây ăn quả lâu năm, thích hợp với xây dựng các khu, cụm công nghiệp Cònlại là đất phù sa bồi và đất dốc tụ: thích hợp với việc gieo trồng các cây lươngthực, cây lúa, cây màu ngắn ngày
Ho Chi MInh Highway
Ha Noi- Lao Cai Highway
Trang 40có tác dụng điều hoà khí hậu và có một số hồ có cảnh quan đẹp còn trở thànhđiểm tham quan, du lịch cho khách thập phương.
Hình 2.2: Phú Thọ trong mối liên hệ với Bắc Bộ
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ.
Thanh Thuy ((200 km)
Ha Khau ((200 km)
Cai Lan Port (200 km)
Hai Phong Port
170 km)