1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay

142 457 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với quan điểm về tích tụ đất đai trong sản xuất nôngnghiệp của hộ nông dân và nông trại, một số tác giả khác lại đưa ra những cảnh bảo về những nguy cơ trong chính sách hoạc

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau gần 30 năm đổi mới, kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã có bước chuyểnbiến mang tính đột phá, từ nước thiếu về nguồn lương thực đến nay nước ta khôngnhững đảm bảo nguồn an ninh lương thực ở trong nước mà còn cung cấp mộtlượng lớn nguồn lương thực, thực phẩm cho nhu cầu xuất khẩu, là nước đứng trongtốp đầu có trữ lượng gạo xuất khẩu trong khu vực và thế giới Đạt được những kếtquả như vậy có sự đóng góp rất lớn từ các hộ nông dân, họ không chỉ đóng vai tròquan trọng trong sản xuất nông nghiệp mà còn là lực lượng chính trong phát triểnkinh tế đất nước

Trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương chínhsách quan trọng để tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nông thôn,

nông dân phát huy vai trò của mình như: Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Liên kết 4 nhà; Chương trình xây dựng nông thôn mới

Lâm Thao là huyện đồng bằng, nằm trong tam giác phát triển của tỉnh PhúThọ, gồm thành phố Việt Trì - Lâm Thao - Phù Ninh, nhiều năm nay, Lâm Thao đãtập trung khai thác lợi thế về sản xuất nông nghiệp, thủy sản, tận dụng ảnh hưởnglan tỏa của các khu công nghiệp để phát triển kinh tế truyền thống, hình thành cụmcông nghiệp, làng nghề, cơ sở dịch vụ tạo sự chuyển dịch tích cực trong phát triểnkinh tế

Trên địa bàn huyện Lâm Thao, kinh tế hộ nông dân giữ vai trò quan trọngtrong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Hộ nông dân đã áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất tạo ra những nông sản có giá trị kinh tế, cơbản đáp ứng nhu cầu thị trường trong huyện và vùng lân cận

Tuy nhiên, sản xuất các hộ nông dân vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu sự liênkết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chế biến sâu chưa phát triển, số lượng sản

Trang 2

phẩm hàng hóa còn khiêm tốn, chưa đáp ứng được một số yêu cầu của doanhnghiệp, do đó khó hình thành lợi thế theo quy mô tập trung khu vực và lợi thế theoquy mô doanh nghiệp Vấn đề liên kết phát triển các khu vực với nhau, trong đócó liên kết của hộ nông dân đóng vai trò then chốt để giải quyết những vấn đề nêutrên Một số hộ nông dân đã tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

nhưng ở mức độ thấp, Với những lý do trên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

* Nghiên cứu về liên kết kinh tế,

Perroux (1955) tiếp cận khái niệm liên kết về mặt không gian với lý thuyết

về “cực tăng trưởng” Ý tưởng chủ yếu của ông là chiến lược thiết lập các khu vực

trong đó có ngành (hoặc doanh nghiệp lớn) có sức hút mạnh, nghĩa là tập trung cáchoạt động kinh tế năng động nhất vào một cực tăng trưởng của vùng Từ đó, sựphát triển của các khu vực và ngành khác sẽ được thúc đẩy trong một hệ thốngkhông gian các mối liên kết và mạng lưới buôn bán, hình thành nên một tập hợpcác liên kết kinh tế giữa cực tăng trưởng và các vùng xung quanh, với mỗi nơi cómột vai trò nhất định

Tuy nhiên, không gian kinh tế và không gian địa lý của Perroux đôi khikhông trùng khớp Vì thế Boudeville (1966) đã cố gắng nhấn mạnh yếu tố địa lýtrong lý thuyết cực tăng trưởng bằng cách đưa ra các ranh giới rõ ràng về mặt địa lýcủa các hiệu ứng phát triển tích cực Từ đây, yếu tố then chốt trong phát triểnkhông chỉ là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành mà để có sự phát triển kinh tếvùng phải có sự tập trung về mặt không gian của các hoạt động sản xuất; Nhiều nhànghiên cứu vùng hiện đại cho rằng sự tập trung đó có thể là các cực tăng trưởng(vùng, đô thị) Các liên kết trong phát triển vùng ở đây nằm ở sự tương tác giữa cực

Trang 3

tăng trưởng/đô thị và các vùng nằm trong ảnh hưởng qua lại của các vùng cung ứng

và vùng sản xuất, chế biến, vùng vành đai nông nghiệp và vùng công nghiệp

Một cách tiếp cận về liên kết không gian trong phát triển vùng tương đốigiống lý thuyết cực tăng trưởng là mô hình trung tâm - ngoại vi của Friedmann(1966) Trong đó vùng trung tâm là nơi tương đối dồi dào vốn và là nơi phát sinhđổi mới, do đó là nơi sự phát triển diễn ra; còn các vùng ngoại vi tương đối dư thừalao động và sự phát triển của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào vùng trung tâm, vàphải phục vụ cho các nhu cầu của vùng trung tâm Kiểu liên kết này tạo ra các dònglao động và tài nguyên chảy về vùng trung tâm; còn vùng ngoại vi, sau khi vùngtrung tâm phát triển mạnh, sẽ nhận được các luồng thu nhập chảy về, và cuối cùng

sự bất cân bằng về nhân tố sản xuất ban đầu sẽ được san lấp

Fujita & Mori (2005) cho rằng, có hai loại liên kết chủ yếu, tạo ra xung lựctrong tương tác giữa các ngành Loại thứ nhất gọi là liên kết kinh tế (E-linkages),liên quan tới các hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ; loại thứ hai làliên kết kiến thức (K-linkages), bao gồm các hoạt động của con người trong sángtạo và chuyển giao kiến thức, từ đó tạo ra hiệu ứng lan tỏa kiến thức (knowledgespillover effects) Ohlin (Mỹ) đã tập trung nghiên cứu vấn đề quan hệ liên vùng và

đưa ra lý thuyết về “trao đổi hàng hoá liên vùng” Nội dung cơ bản của lý thuyết

này là “mọi vật đều tuỳ thuộc lẫn nhau” Các vùng khác nhau có những nguồn tàinguyên thiên nhiên và nguồn lực con người khác nhau Do những khác biệt về lịch

sử phát triển kinh tế, nên các vùng cũng có những cơ sở sản xuất và thiết bị sảnxuất trên thực tế không giống nhau Những khác biệt trên đây gây ra những chi phísản xuất khác nhau, cũng như nhu cầu khác nhau cho từng chủng loại hàng hoá,dịch vụ cụ thể, dẫn đến giá cả cũng thay đổi Tuy vậy, những chênh lệch ấy còn tạo

ra những khác biệt về vùng và chu chuyển hàng hoá và dịch vụ giữa các vùng.Trạng thái cân bằng sẽ được thiết lập khi cùng tham gia trao đổi lẫn nhau trên mộtđịa bàn Từ những ý tưởng của lý thuyết này, hiện nay người ta quan tâm đến các

Trang 4

dòng luân chuyển, trao đổi liên vùng về công nghệ, kiến thức khoa học, năng lựcnghiên cứu, thông tin và năng lực sản xuất kinh doanh

Còn có nhiều nhà khoa học khác cũng đã đưa ra những mô hình lý thuyết khácsong tựu chung lại có thể thấy tồn tại hai mô hình phát triển không gian khác nhauliên quan đến việc xây dựng mô hình phát triển kinh tế liên vùng Đó là mô hìnhphát triển cân bằng và mô hình phát triển không cân bằng Những mô hình nàycũng đã được các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu phân vùng và điều hành pháttriển các vùng Nói một cách chính xác hơn là mô hình liên vùng được xét ở 2 trạngthái cân bằng và không cân bằng

Việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất, ở kinh tế hộ nông dân thường rất hạnchế; Hộ nông dân thường gặp khó khăn trong tiếp cận về vốn và các dịch vụ khác;Thị trường sản phẩm của kinh tế hộ nông dân, thường chỉ mang tính địa phương.Vì vậy, các liên kết trước và sau của kinh tế hộ thường hẹp do trình độ chuyên mônhóa sản xuất thấp, đặc biệt đối với các nhà cung cấp các dịch vụ đầu vào và côngnghiệp chế biến

* Nghiên cứu về bản chất liên kết kinh tế

Key, N và Runsten, D (1999), nhìn nhận bản chất liên kết kinh tế là một thể

chế kinh tế (economic institution) [34] Theo từ điển mở Wikipedia tiếng Anh thể chế là bất kỳ cấu trúc(structure) hoặc cơ chế(mechanism) nào của trật tự xã hội và

điều chỉnh hành vi của một tập hợp các cá nhân trong một cộng đồng người nhất

định còn cơ chế là một bộ qui tắc được thiết kế để mang lại một kết quả nhất định.

Theo các kinh tế thuộc trường phái "Kinh tế học thể chế mới (NewInstitutional Economics - NIE)", thể chế là "những nguyên tắc của cuộc chơi" trongxã hội; trong đó có người chơi, luật chơi và sân chơi Người chơi trong mối quan hệcủa nó tạo thành cấu trúc tổ chức của thể chế; luật chơi là cơ chế, qui tắc ràng buộccủa thể chế và sân chơi là cơ sở vật chất, phương tiện gắn liền với một lĩnh vựchoạt động cụ thể của thể chế Luật chơi hay cơ chế, qui tắc là “phầm mềm” của thểchế; hai thành tố còn lại: người chơi và sân chơi là “phần cứng của thể chế”

Trang 5

Về mối quan hệ giữa cơ chế và tổ chức trong một thể chế kinh tế, DouglassC.North (1998) đã cho rằng việc những tổ chức hình thành và phát triển như thếnào phụ thuộc vào cơ chế bên trong nó và ngược lại tổ chức sẽ lại ảnh hưởng đến

sự vận động của cơ chế [28]

Williamson (1985) mô tả 3 loại thể chế quản lý nhằm thay đổi mức độ phụ

thuộc lẫn nhau giữa các đối tác mậu dịch: thị trường giao ngay, hợp đồng dài hạn

và quan hệ thứ bậc (Hierarchies) [39]

Michael S and P Joseph (2003) đã khái quát quản trị thị trường thành 5 thể

chế: Hợp đồng giao ngay (Hợp đồng cổ điển), Hợp đồng đặt hàng chi tiết kỹ thuật (Hợp đồng tân cổ điển), đồng minh chiến lược (Hợp đồng tân cổ điển), hợp tác chính thức(Quan hệ song phương), hợp nhất dọc đầy đủ (Quan hệ hợp nhất) [36].

Minot N (2007), đã tổng kết 4 loại quan hệ quản lý: Quan hệ thị trường,

quan hệ thứ bậc (hay quan hệ quyền lực), quan hệ mạng lưới (network) và quan hệ

xã hội [37].

Gina Porter và Kenvin Phillips-Howardb (2007) đã đưa ra 5 loại quản trị thị

trườngchuỗi giá trị toàn cầu: Tự do, chìa khóa trao tay, liên kết, ràng buộc và hợp

nhất theo chiều dọc [31]

Prowse M (2012) đề xuất rằng bất kỳ hoạt động kinh tế nào cũng có thể

được tổ chức bởi một sự tiệm cận của kết cấu quản trị ở giữa thị trường mở và sự

hợp nhất dọc đầy đủ và mỗi cấu trúc này có thể được biểu hiện bởi một số hìnhthức hợp đồng [35]

Tóm lại, có thể có 4 cách tiếp cận khác nhau về bản chất của liên kết kinh tế:

(i)Xem liên kết kinh tế là một cơ chế kinh tế;(ii) Xem liên kết kinh tế là một hìnhthức tổ chức sản xuất;(iii) Xem liên kết kinh tế vừa là cơ chế kinh tế vừa là hìnhthức tổ chức sản xuất và đều này đồng nghĩa với việc xem liên kết kinh tế là một

thể chế kinh tế;(iv) Xem liên kết kinh tế là một quá trình kinh tế [38] Dưới giác độ kinh tế - chính trị, luận văn này lựa chọn cách tiếp cận xem liên kết kinh tế là một thể chế kinh tế.

Trang 6

Có thể thấy, nếu như đã có nhiều học giả nghiên cứu về liên kết kinh tế vùng,thì ngược lại còn thiếu vắng những nghiên cứu về liên kết kinh tế của hộ nông dântrong nền kinh tế thị trường Đây là khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu nhất là ởnhững nước có nền kinh tế nông dân chưa phát triển như Việt Nam

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

a Những quan niệm cơ bản về kinh tế hộ nông dân

Về phương diện lý luận, khái niệm kinh tế hộ và kinh tế hộ nông dân đãđược nghiên cứu một cách rõ ràng và không phải bàn luận thêm Theo đó, kinh tếhộ là các hoạt động kinh tế của hộ gia đình và những lợi ích kinh tế mà hoạt độngđó mang lại [25] Trong bối cảnh nghiên cứu của thời kỳ đầu đổi mới, khi Nghịquyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 ra đời, kinh tế hộ đồng nghĩa với kinh tế hộnông nghiệp, bởi số lượng hộ gia đình nông thôn vẫn rất đông đảo Kinh tế hộ nôngdân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp, được hình thành

và tồn tại khách quan, lâu dài dựa trên cơ sở sử dụng lao động, đất đai và tư liệusản xuất khác của gia đình là chính Kinh tế hộ khu vực thành thị có được đề cậptrong các nghiên cứu điều tra của Vũ Tuấn Anh (1995) [1], và trong những nghiêncứu gần đây nhất về kinh tế hộ như Chu Tiến Quang (2007), Lê Xuân Đình (2008) ,nhưng về cơ bản Kinh tế hộ nông dân vẫn là đối tượng nghiên cứu chủ yếu Do tồntại khác biệt lớn về số lượng cũng như về đặc tính hộ giữa khu vực nông thôn vàthành thị, nên kinh tế hộ ở thành thị thường được nghiên cứu riêng rẽ

Về vai trò của kinh tế hộ nông dân Các nghiên cứu đều thống nhất về tínhphổ biến và vai trò của kinh tế hộ nông dân ở cả Việt Nam và trên thế giới Nó cóvai trò rất quan trọng trong đời sống và phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong pháttriển nông nghiệp Ở Việt Nam, kinh tế hộ nông dân lại càng có ý nghĩa to lớn hơn,bởi Việt Nam bước vào nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơchế thị trường trên nền tảng hơn 80% dân số sinh sống ở nông thôn, điểm xuất phát

để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào sảnxuất nông nghiệp, quản lý theo cơ chế tập trung, bao cấp [12], [13]

Trang 7

Mặc dù không phải là một thành phần kinh tế, nhưng kinh tế hộ nông dân làmột loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác Một trong cácthành viên của kinh tế hộ nông dân đồng thời lại là chủ hộ gia đình Trong hoạtđộng kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và táisản xuất Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất, kinh doanh và chịutrách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động đó [13] Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình pháttriển chủ yếu ở nông thôn, thường được gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân Trongkhu vực nông thôn Việt Nam, có thể nói hoạt động của kinh tế hộ nông dân gắnliền với sự hiện diện của hộ gia đình Mặt khác, do sự song trùng vừa là đơn vị kinhtế, vừa là đơn vị xã hội cơ bản, nên trong các hoạt động kinh tế của hộ gia đìnhnông dân, ngoài chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, còn phải chịu sự chi phốicủa các yếu tố xã hội (như nhân khẩu, giới tính, sức khỏe, trình độ học vấn ) [5].Thực tiễn đó, một mặt đã và đang quy định tính đa dạng, phong phú, không đồngnhất của các hoạt động kinh tế diễn ra ở hộ gia đình nông dân.

b Những khó khăn, thách thức hiện nay của kinh tế hộ nông dân

Đánh giá sau gần 30 năm đổi mới đất nước, chúng ta có thể khẳng định vấn

đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, trong đó đặc biệt vấn đề kinh tế hộ nôngdân đã có nhiều thay đổi lớn [1] Các mô hình sản xuất nông nghiệp kết hợp theohình thức hộ sản xuất hàng hóa đã xuất hiện và phát triển ở nhiều nơi Tuy nhiên,những khó khăn của kinh tế hộ nông dân cũng xuất hiện, nằm ở quy mô đất đai,nguồn tài chính, nhân lực, khả năng quản trị, khả năng kết nối và khả năng chốngchịu rủi ro Theo Lê Xuân Đình (2008) thì những khó khăn và thách thức lớn đốivới nông dân nước ta nói chung và kinh tế hộ nói riêng, trong tiến trình hội nhậpngày một sâu vào kinh tế thế giới, là chênh lệch lớn về năng suất lao động giữacông nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp Hộ nông dân thường rất dễ bị tổn thươngtrước sự chi phối khắc nghiệt của quy luật thị trường Vốn tích lũy của các hộ giađình cũng có sự phân biệt khá rõ giữa các loại hình sản xuất [15]

Trang 8

Mặc dù công nhận tính tích cực của kinh tế hộ nông dân, nhưng một số họcgiả như Nguyễn Thế Trường (2002), đã đưa ra những số liệu và bằng chứng đểkhẳng định rằng, kinh tế hộ nông dân không còn đủ khả năng tiến xa hơn do có sựràng buộc bởi nhiều điều kiện như quy mô, tiềm lực kinh tế, khả năng thâm nhậpthị trường Ngoài ra, do diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp để phát triển đô thị vàcông nghiệp, nền sản xuất hàng hóa đã phát triển đến một mức độ nhất định và hộinhập kinh tế sâu rộng hơn, kinh tế hộ đã tận dụng hết tiềm năng của mình và khôngcòn là động lực để đưa nông nghiệp phát triển lên sản xuất lớn hay công nghiệp hóa

và hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn [7]

c Về xu hướng phát triển của kinh tế hộ nông dân

Về xu hướng phát triển của kinh tế hộ nông dân ở Việt Nam hiện nay, cũngcó nhiều nhận định khác nhau Nhiều nghiên cứu đều cho rằng cần phải phát triểnkinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá, tích tụ ruộng đất, phát triển theo

mô hình kinh tế trang trại gia đình với việc đa dạng hóa loại hình, đa dạng hóa sảnxuất kinh doanh theo hướng tập trung hóa, chuyên môn hóa và phát huy lợi thế sosánh của từng địa phương Hiện nay chính sách dồn điền đổi thửa đang được thựchiện ở nhiều nơi, nhất là ở khu vực đồng bằng [15] Vấn đề tích tụ ruộng đất thực racũng đã được đề cập từ trước đó, trong các nghiên cứu như của Trần Đức (1995),ông cho rằng đất đai cho sản xuất của nông nghiệp theo mô hình trang trại phải lớn,còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Tuân (1999), lại đưa ra nhận định quá trình “tích tụruộng đất” để hình thành phát triển các nông trại lớn trong bối cảnh nông nghiệp ởnước ta là khó thực hiện Cùng với quan điểm về tích tụ đất đai trong sản xuất nôngnghiệp của hộ nông dân và nông trại, một số tác giả khác lại đưa ra những cảnh bảo

về những nguy cơ trong chính sách hoạch định phát triển loại hình kinh tế này, đó

là việc tích tụ ruộng đất thiếu kiểm soát sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng laođộng còn lớn ở nông thôn hiện nay của Việt Nam, dẫn đến nguy cơ nông dân bịthất nghiệp càng cao, theo đó sẽ gây ra những hậu quả xấu về mặt xã hội [16]

Trang 9

Trong khi đó, quy định hạn điền để hướng tới sự công bằng tương đối lại mâuthuẫn với việc tập trung đất đai cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn [10]

Một khía cạnh nghiên cứu khác mà nhiều tác giả đã xem xét và phân tích, đó

là mối liên hệ giữa kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại, như của các tác giả(Nguyễn Xuân Sanh 1998, Trần Trác 1998, Nguyễn Ngọc Tuân 1999, Nguyễn ThếTrường 2002) Các tác giả đã cho rằng sự chuyển hóa từ kinh tế hộ đến kinh tếtrang trại là quy luật chung của nền nông nghiệp thế giới và đến kinh tế trang trại là

xu hướng phát triển tất yếu của nông thôn Tuy vậy, theo tác giả Nguyễn NgọcTuân (1999) lại cho rằng trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay, phát triểnkinh tế hộ vẫn là nền tảng của kinh tế nông thôn, nhưng phát triển theo hướng phâncông hóa, chuyên môn hóa, xã hội hóa và nhất thể hóa cao độ Ông cho rằng, bằngcách phân công hóa lao động kinh tế hộ theo cả chiều ngang và chiều dọc, đồngthời tạo liên kết giữa các khâu bằng cách nhất thể hóa, phát triển kinh tế hộ sẽ làcon đường hàng hóa hóa và hiện đại hóa nông nghiệp khả thi Còn tác giả NguyễnThế Trường (2002) lại đề xuất nhiều hướng phát triển khác cho kinh tế hộ như việcchuyển dịch cơ cấu sản xuất và mặt hàng, tạo khung thể chế chính sách để tăngcường hoạt động của kinh tế hộ, kinh tế hộ như một hình thức duy trì an ninh lươngthực và sinh kế quy mô nhỏ Tác giả Trần Văn Dư (2002) thì cho rằng cần pháttriển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa, dựa trên những điều kiện

về kinh tế - văn hóa – xã hội tại địa phương

d, Những nghiên cứu về liên kết kinh tế

Trần Đức Thịnh(1984) cho rằng liên kết kinh tế là sự quan hệ kinh tế giữa các tổ chức, các ngành, các địa phương và các đơn vị kinh tế Liên kết kinh tế vừa

là hình thức tổ chức sản xuất vừa là cơ chế quản lý [23]

Vũ Minh trai (1993) cho rằng Liên kết kinh tế là những quan hệ phối hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác [24].

Quyết định số 38/HĐBT ngày 10 tháng 4 năm 1989 về “Liên kết kinh tế

trong sản xuất, lưu thông, dịch vụ” của nhà nước đã nêu liên kết kinh tế là những

Trang 10

hình thức phối hợp hoạt động, do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng

nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sảnxuất, kinh doanh của mình, nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển theo hướng có lợinhất [17]

Nguyễn Đình Phan (1992) đã đưa ra khỏi khái niệm liên kết kinh tế những

hình thức quan hệ kinh tế thông thường như: Mua bán trao đổi hàng hóa thông

thường, thuê mướn đất đai, nhà xưởng, địa điểm kinh doanh, cho vay vốn [19]

Hoàng kim Giao (1989) theo một cách tiếp cận khác đã cho rằng đặc trưng

của liên kết kinh tế cũng là quan hệ kinh tế , nhưng không phải là mọi loại quan hệ kinh tế mà chỉ những quan hệ kinh tế diễn ra trong các hình thức tổ chức sản xuất đặc thù của liên kết kinh tế như hợp tác, liên doanh, liên hợp trong lĩnh vực sản

xuất kinh doanh [7]

Dương Bá Phượng (1995) là người tổng kết và phát triển các khái niệm trước

đó khi cho rằng liên kết kinh tế là những hình thức hay những biểu hiện của sự phối hợp hoạt động giữa các thành viên liên kết không chỉ để thực hiện quan hệ kinh tế bất kỳ mà là nhằm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết, đi đến thống nhất

để đạt đến trình độ gắn bó chặc chẽ, ổn định, thường xuyên, lâu dài, thông qua những thoả thuận hợp đồng từ trước giữa các bên và là khâu trung gian đi đến sát

nhập, kết hợp, hợp nhất hình thành một doanh nghiệp mới, có qui mô lớn hơn và

theo đó thực chất của liên kết kinh tế là quá trình xã hội hóa sản xuất”[18].

Bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa liên kết kinh tế là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các hoạt động do các đơn vị tự nguyện tiến hành để

cùng đề ra và thực hiện các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản

xuất kinh doanh của các bên tham gia nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia và trong khuôn khổ

pháp luật của nhà nước [4]

Trang 11

e, Những nghiên cứu về liên kết kinh tế vùng

Trong thời gian qua, liên kết vùng đã thu hút được một số nhà nghiên cứu

Các tác giả Nguyễn Đức Tuấn, Nguyễn Viết Thịnh và Đỗ Thị Minh Đức đã tập

trung nghiên cứu khoa học về phân vùng để phân nhóm các tỉnh/thành phố theotrình độ phát triển Từ đó, giúp nhà nước có chính sách phát triển riêng cho từngvùng, từng địa bàn theo trình độ phát triển tương ứng Các nghiên cứu này chưa đềcập nhiều tới tới liên kết vùng và giải pháp để các vùng phát triển bền vững [21]

Cơ chế liên kết vùng và việc hình thành các tổ chức điều phối vùng đã được các tác giả Lê Thế Giới, Đinh Sơn Hùng và cộng sự, Trần Hữu Hiệp (Văn phòng

Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ) đề cập nhiều Đặc biệt, tác giả Đinh Sơn Hùng và cộng

sự đã đề cập tới Mô hình xây dựng cơ chế liên kết kinh tế tổng quát – mô hìnhđược nhiều nước trên thế giới áp dụng (như Đức, Phần Lan, ) [22] Tuy nhiên, khi

đề xuất mô hình liên kết cho Việt Nam, tác giả Đinh Sơn Hùng và cộng sự lại đề

xuất mô hình tương đối giống với mô hình đang được áp dụng hiện nay Mô hìnhnày mang tính chất mệnh lệnh từ trên xuống (up – down) nên chưa tạo ra sự bìnhđẳng giữa các thành viên liên kết và chưa phát huy được tính chủ động của ngườidân và chính quyền địa phương; chưa làm rõ lợi ích của người dân trong liên kếtvùng; chưa có cơ chế thu hút tài chính để có thể thực hiện những công việc củavùng [9]

Để bổ sung cho các nghiên cứu trong nước, nhóm tác giả Nguyễn Xuân

Cường (Viện Nghiên cứu Trung Quốc) đã có các báo cáo về hợp tác Vùng ChuGiang mở rộng (Trung Quốc), Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đãkhảo sát liên kết vùng ở Cộng hòa Liên bang Đức… Đây là những gợi ý quan trọng

về thực tiễn giúp cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam có điều kiện sosánh, cân nhắc trong chính sách phát triển liên kết vùng của Việt Nam [8]

Đối với vùng KTTĐ Bắc Bộ, nhóm tác giả Ngô Doãn Vịnh, Lê Văn Nắp vàcộng sự, Vũ Thành Hưởng đã có những nghiên cứu về tiềm năng, thế mạnh và mốiquan hệ giữa vùng KTTĐ Bắc Bộ với các vùng xung quanh Đặc biệt, tác giả Vũ

Trang 12

Thành Hưởng đã đề cập tới việc phát triển bền vững của các khu công nghiệp trongvùng KTTĐ Bắc Bộ Tuy nhiên, các đề tài này chưa gắn được mối liên kết giữavùng KTTĐ Bắc Bộ với khu vực, và quốc tế, chưa đưa ra được mô hình liên kếtmới cũng như chưa xác định được vai trò của nhà nước trong việc thúc đẩy liên kết,đưa vùng KTTĐ Bắc Bộ phát triển bền vững [9].

Như vậy, trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu vềcách phân vùng lãnh thổ - kinh tế và liên kết vùng, đặc biệt là liên kết kinh tế Tất

cả các tác giả đều chỉ ra sự cần thiết phải liên kết vùng, tưởng chừng như khôngcần phải nghiên cứu thêm nữa Tuy nhiên, thực tế liên kết vùng ở Việt Nam đếnnay không giống bất cứ quốc gia nào trên thế giới ở hai lý do: Thứ nhất, liên kếtvùng áp dụng đại trà trên toàn quốc; Thứ hai, các công việc cụ thể của liên kết vùngthường được bàn thảo nhiều mà ít được triển khai thành kết quả cụ thể Như vậy,đâu là nguyên nhân của tình trạng này và có giải pháp nào khắc phục được tìnhtrạng trên, đưa lý thuyết, mô hình liên kết vùng vào thực tiễn, góp phần đưa cácvùng kinh tế trọng điểm phát triển bền vững?

Trong luận văn này chúng tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đếnliên kết của hộ nông dân trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản với các hộnông dân khác, trang trại, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, doanh nghiệp Nhữngkết quả của luận văn hy vọng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạchđịnh cơ sở phát triển kinh tế xã hội ở các huyện miền núi nói chung và huyện LâmThao nói riêng trong việc phát triển liên kết kinh tế hộ nông dân nhằm mang lại lợiích cho người nông dân, nâng cao hiệu quả kinh tế mang tính bền vững và ổn định;có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu giảng dạy ở các chuyên

đề kinh tế liên quan Đồng thời xác lập những phương hướng và giải pháp có tínhkhả thi cho công tác liên kết phát triển kinh tế hộ ở các huyện, các tỉnh miền núitheo hướng CNH – HĐH và từng bước đưa kinh tế hộ tiến tới kinh tế tập thể kiểumới

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 13

3.1.Mục tiêu chung

Làm rõ thực trạng và giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế của hộ nông dânhuyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Làm rõ cơ sở lý luận về liên kết kinh tế của hộ nông dân

- Làm rõ thực trạng liên kết kinh tế của hộ nông dân với doanh nghiệp, hộnông dân với hộ nông dân, với trang trại, những mặt được và hạn chế; nguyên nhânhạn chế từ 2012 - 2015

- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế của hộ nông dân huyên LâmThao, tỉnh Phú Thọ đến 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là liên kết kinh tế của hộ nông dân huyệnLâm Thao, tỉnh Phú Thọ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Phạm vi nội dung

Liên kết kinh tế của hộ nông dân là một đề tài có nội dung rất rộng và phứctạp Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liênquan đến liên kết của hộ nông dân trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản vớicác hộ nông dân khác, trang trại, hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, doanh nghiệp

4.2.2 Phạm vi không gian

Về không gian: đề tài nghiên cứu liên kết kinh tế của các hộ nông dân trênđịa bản huyện Lâm Thao Liên kết kinh tế của hộ nông dân không chỉ được nghiêncứu trong pham vi huyện Lâm Thao mà còn nghiên cứu liên kết kinh tế của hộnông dân với các chủ thể bên ngoài phạm vi huyện Lâm Thao

4.2.3 Thời gian nghiên cứu đề tài

Trang 14

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng liên kết kinh tế của hộ nông dân từnăm 2012 đến 2015 và các giải pháp thúc đẩy liên kết của hộ nông dân đến năm 2020.

4.2.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực tế có tồn tại và phát triển các hình thức liên kết kinh tế của hộ nôngdân huyện Lâm Thao?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự liên kết kinh tế của hộ nông dân huyệnLâm Thao với các chủ thể khác?

- Những tồn tại, hạn chế trong liên kết kinh tế của hộ nông dân huyên LâmThao?

- Những giải pháp để thúc đẩy sự liên kết kinh tế của hộ nông dân với với cácchủ thể khác?

4.2.5 Giả thuyết nghiên cứu

Trong thời gian gần đây, liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nôngsản của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ với các chủthể khác ở trong và bên ngoài huyện đã phát triển, mang lại nhiều lợi ích cho nôngdân Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập trong liên kết kinh tế hộnông dân với các chủ thể khác: tỷ lệ hộ nông dân tham gia liên kết thấp, liên kếtthiếu bền vững, hiệu quả liên kết thấp

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Nguồn số liệu luận văn thu thập gồm có nguồn số liệu thứ cấp và số liệu điềutra

5.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu, tài liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu, báo cáo của UBND tỉnh PhúThọ, UBND huyên Lâm Thao, UBND các xã khảo sát, các phòng ban có liên quancủa huyện Lâm Thao như Phòng Nông nghiệp – Nông thôn, Phòng Tài nguyên vàmôi trường, Phòng khuyến nông, Bảo vệ thực vật, Hội Nông dân, Hội phụ nữ, …

Trang 15

5.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Để thu thập số liệu mới luận văn tiến hành điều tra thực địa tại một số xã, thịtrấn và các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Lâm Thao Trong đợt điều tra thực địa,luận văn sử dụng hai phương pháp chính: phương pháp phỏng vấn sâu và phươngpháp điều tra bằng bảng hỏi

* Chọn điểm nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu phải đại diện chovùng nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường, văn hóa

Đối với từng điểm, luận văn lựa chọn những sản phẩm có sự phát triển tươngđối tốt của vùng đó, để qua đó bên cạnh việc phân tích, đánh giá thực trạng liên kếtcòn hướng tới việc đưa ra những bài học, khuyến nghị nhằm tăng cường mối liênkết giữa các chủ thể trong sản xuất, tiêu thụ nông sản trên địa bàn nghiên cứu Cụthể như sau:

- Sản phẩm lúa, rau màu: Xã Xuân Huy (với Trung tâm giống cây trồng Phú Thọ)

- Các Sản phẩm làng nghề như: bánh truyền thống ở Xã Xuân Lũng (với Công tyTNHH Làng Dòng), Tương Dục Mỹ, Làng nghề nuôi Rắn ở Cao Xá, Làng nghềGạch và vật liệu xây dựng ở Xuân Huy,…

- Sản phẩm giống vật nuôi: lợn con giống ở Hợp Hải, Tôm, cá ở Thạch Sơn

* Phương pháp điều tra bảng hỏi:

Để thu thập số liệu mới tôi sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi đối vớicác cán bộ chủ chốt ở huyện, xã, các chủ doanh nghiệp, tiểu thương, chủ trang trại,

…ở những điểm nghiên cứu Cụ thể điều tra các nhóm đối tượng:

Đối với nhóm cán bộ huyện, xã, thị trấn: điều tra bảng hỏi đối với 22 cán bộ

hiện là phó chủ tịch huyện, chủ tịch các xã, chủ tịch hội nông dân, hội phụ nữ, tíndụng các xã

Chúng tôi tiến hành thiết kế bảng hỏi dựa trên các câu hỏi:

- Diện tích gieo trồng các loại cây trồng của huyện, xã từ 2012 đên nay?

Trang 16

- Năng suất của cây trồng, vật nuôi chính trên địa bàn huyện, xã từ 2012 đếnnay?

- Chi phí sản xuất cho cây trồng, vật nuôi của huyện, xã?

- Sản lượng tiêu thụ các mặt hàng nông sản của huyện, xã?

- Các tác nhân ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng tiêu thụ nông sản củahuyện, xã?

- Thu nhập từ sản xuất – kinh doanh cây trồng, vật nuôi của huyện, xã?

- Tại Lâm thao có tồn tại và phát triển các hình thức liên kết kinh tế của hộnông dân? Thực tế có bao nhiêu xã đã thực hiện mô hình này?Các hình thức liênkết đã có trong huyện, xã?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự liên kết kinh tế của hộ nông dân huyệnLâm Thao với các chủ thể khác?

- Những tồn tại, hạn chế trong liên kết kinh tế của hộ nông dân ở huyên LâmThao?

- Những giải pháp để thúc đẩy sự liên kết kinh tế của hộ nông dân với với cácchủ thể khác?

 Đối với nhóm Doanh nghiệp: chúng tôi tiến hành điều tra bảng hỏi ở 8 doanhnghiệp tiêu biểu trong liên kết kinh tế với hộ nông dân: Công ty Cổ phẩn ủ ấm Sơn

Vy, Công ty TNHH Làng Dòng (Xuân Lũng), Công ty TNHH thương mại và thủysản Hà Anh (Xuân Lũng), Công ty Cp Gạch và vật liệu cao cấp Xuân Huy, Công tyTNHH Giống cây trồng Phú Thọ (Xuân Huy), Hội chăn nuôi và chế biến Rắn CaoXá, Công ty TNHH chế biến thực phẩm GOC (Kinh Kệ), Công ty CP mộc và đồ

gỗ mỹ nghệ Việt Tiến (Tứ Xã)

Với nhóm doanh nghiệp, chúng tôi thiết kế bảng hỏi dựa trên các câu hỏi?

- Tình hình chung về doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp?

- Quy mô doanh nghiệp?Ngành nghề sản xuất chính? Tổng số lao động củadoanh nghiệp?Doanh thu? Lợi nhuận của doanh nghiệp?

- Hiện tại doanh nghiệp có tồn tại và phát triển các hình thức liên kết kinh tế

Trang 17

với hộ nông dân? Liên kết trong những nội dung nào? thời điểm, giai đoạnliên kết?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp vớihộ nông dân?

- Mức độ liên kết?

- Tác động của liên kết đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp? Tích cựchay hạn chế ra sao?

- Nhu cầu liên kết?

- Các giải pháp quý doanh nghiệp đưa ra nhằm để thúc đẩy sự liên kết kinh tếvới hộ nông dân?

 Nhà nông ở 14 xã, thị trấn thuộc huyện Lâm Thao: 500 chủ hộ, chủ trang trạitrong huyện Với nhóm Nông dân chúng tôi thiết kế bảng hỏi dựa trên các câu hỏi:

- Thông tin chung về hộ và chủ hộ:

Giới tính? Tuổi trung bình của chủ hộ/trang trại?

Trình độ học vấn của chủ hộ/trang trại

Trình độ chuyên môn của chủ hộ/trang trại

Nghề nghiệp chính của chủ hộ/trang trại

Bình quân lao động/hộ, trang trại

Diện tích đất nông nghiệp, đất sản xuất sản phẩm /hộ, trang trại

Thu nhập, tỷ lệ thu nhập từ sản phẩm của hộ/trang trại

- Hiện tại hộ/trang trai có tồn tại và phát triển mối liên kết kinh tế với các hộkhác hoặc các doanh nghiệp, HTX, trong sản xuất và tiêu thụ nông sảnphẩm của gia đình không?

- Liên kết của hộ với các chủ thể khác ở những nội dung nào (sản xuất, chếbiến, tiêu thụ)? Tại những thời điểm, giai đoạn nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự liên kết kinh tế của hộ với chủ thể khác?

- Mức độ liên kết (chặt chẽ/ lỏng lẻo)? Nhu cầu liên kết (giống, phân bón, thức

ăn, vốn, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm)?

Trang 18

- Tác động của liên kết đến kết quả, hiệu quả sản xuất của hộ? Tích cực hayhạn chế ra sao?

ra ý kiến chủ quan của mình về mối liên kết kinh tế đang diễn ra giữa họ với cácchủ thể khác Từ đó tìm hiểu thực trạng, tác động và nhu cầu thực đồng thời đưa rađược các giải pháp giúp tăng cường mối liên kết kinh tế giữa hộ nông dân với cácchủ thể khác trên địa bàn Một số câu hỏi và gợi ý đưa ra phỏng vấn các hộ nôngdân:

- Hình thức tham gia trong liên kết?

- Nhận xét của hộ tham gia liên kết về chất lượng giống: đảm bảo, không đảmbảo…?

- Nhận xét của hộ tham gia liên kết về giá thực hiện khi liên kết: có thỏa thuận,chấp nhận giá…?

- Lượng vốn vay trong liên kết: có đáp ứng đủ, không đáp ứng đủ…?

- Mức lãi suất vay vốn khi liên kết: cao, ưu đãi, bình thường…?

- Thời hạn vay vốn khi liên kết: có kỳ hạn, không kỳ hạn…?

- Hình thức vay vốn khi liên kết: góp vốn, vay vốn…?

- Thủ tục vay vốn khi liên kết: rườm ra, thuận lợi?

- Thời điểm liên kết: giai đoạn đầu sản xuất, giai đoạn cuối sản xuất, suốt cả giaiđoạn sản xuất…?

- Mức độ phù hợp về nội dung liên kết: rất phù hợp, phù hợp, không phù hợp…

- Mức độ liên kết: lỏng lẻo, bình thường, chặt chẽ…

Trang 19

- Tác động của liên kết đến kết quả và hiệu quả sản xuất – kinh doanh: chi phí,doanh thu, thu nhập hỗn hợp, lợi nhuận …

- Nhận xét về tác động của liên kết đến các nội dung trong liên kết:

+ Tác động của liên kết đến nội dung về cung ứng giống, thức ăn, phân bón: sốlượng đáp ứng đủ, giá cả rẻ, chất lượng đảm bảo, thời gian cung ứng kịp thời, đượcmua giống chịu, hỗ trợ vận chuyển…

+ Tác động của liên kết đến nội dung về cung ứng vốn: huy động được vốn lớnhơn, lãi suất vay vốn lớn hơn, đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn…

+ Tác động của liên kết đến nội dung về phòng trừ dịch bệnh: nắm bắt thông tin

về phòng trừ dịch bệnh sớm hơn, hiểu biết tốt hơn về phòng trừ dịch bệnh, trừ bệnhkịp thời…

+ Tác động của liên kết đến nội dung chuyển giao kỹ thuật: nâng cao kiến thứckỹ năng sản xuất, nhân rộng mô hình sản xuất, năng suất tăng lên…

+ Tác động của liên kết đến nội dung tiêu thụ: lượng tiêu thụ ổn đinh, giá đầu raổn định, tiếp cận thông tin thị trường tốt hơn, thanh toán kịp thời, sản phẩm bao tiêuđược đảm bảo…

- Nhu cầu của các hộ về nội dung trong liên kết như : giống, phân bón, thức ăn,vốn, kỹ thuật, tiêu thụ:

5.2 Phương pháp phân tích số liệu

5 Kết cấu của luận văn

Trang 20

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, luận văn được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về liên kết kinh tế của hộnông dân

Chương 2: Thực trạng liên kết kinh tế của hộ nông dân huyện Lâm Thao từ

2012 đến nay

Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường liên kết của hộnông dân ở huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT KINH

TẾ CỦA HỘ NÔNG DÂN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

a, Khái niệm về liên kết kinh tế

Liên kết nói chung, liên kết trong nông nghiệp và liên kết trong sản xuấtnông nghiệp nói riêng đều có bản chất chung là liên kết

Khái niệm liên kết xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thốngthuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sát nhập của nhiều bộ

Trang 21

phận thành một chỉnh thể Trước đây khái niệm này được biết đến với tên gọi lànhất thể hóa và gần đây mới gọi là liên kết (Nguyễn Như Ý, 1999).

Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học của Viện nghiên cứu và phổ biến tri thứcbách khoa thì “Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác, phối hợp hoạt ñộng do các đơn

vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theohướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước Mục tiêu là tạo ra mốiliên kết kinh tế ổn định thông qua các hoạt ñộng kinh tế hoặc các quy chế hoạtđộng ñể tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt tiềm năng của các đơn vị thamgia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ chung, bảo vệ lợi ích cho nhau”

Theo David (1999) “Liên kết kinh tế chỉ các tình huống khi mà các khu vựckhác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạtđộng phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tốcủa quá trình phát triển Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bềnvững”

Điều 1 quyết định số 38/1989/QĐ-HĐBT ngày10/04/1989 của Hội đồng bộtrưởng về liên kết kinh tế trong SX lưu thông và dịch vụ: “Liên kết kinh tế là nhữnghình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc

và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc SX kinh doanh củamình nhằm thúc đẩy SX theo hướng có lợi nhất”

Theo Trần Văn Hiếu (2005) thì “Liên kết kinh tế là quá trình xâm nhập, phốihợp với nhau trong SX kinh doanh của các chủ thể kinh tế dưới các hình thức tựnguyện nhằm thúc đẩy SX kinh doanh theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ luậtpháp, thông qua hợp đồng kinh tế để khai thác tốt các tiềm năng của các chủ thểtham gia liên kết Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo chiều dọc hoặc chiềungang, trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành, trong một quốc gia hay nhiều quốcgia, trên phạm vi khu vực và quốc tế”

Theo Phạm Thị Minh Nguyệt (2006) cho rằng: “Liên kết kinh tế chính lànhững phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên kết kinh tế

Trang 22

phát triển ngày càng phong phù, đa dạng theo sự phát triển của hợp tác kinh tế; tất

cả các mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau dựatrên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định được gọi là liên kếtkinh tế”

Theo Hồ Quế Hậu (2012), Liên kết kinh tế trong kinh tế thị trường và hộinhập kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quangiữa các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phâncông và hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội chung

Qua đó, chúng tôi cho rằng: Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quanphản ánh những quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm thờigian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh nông sản,tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở ra những thịtrường mới Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu hụtcủa mình từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho cácbên

b, Liên kết trong sản xuất – kinh doanh nông nghiệp

Khác với các ngành sản xuất – kinh doanh khác, sản xuất – kinh doanh nôngnghiệp có những đặc thù riêng do có đặc điểm riêng của ngành nông nghiệp, chẳnghạn như: các sản phẩm nông nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh rất khác nhau(kể cả trong cùng một sản phẩm cũng có những điểm đặc thù như: có cây trồng chu

kỳ thay giống mới kéo dài vài năm mới thay giống một lần…, khác với các khâukhác như kỹ thuật, chăm sóc, tiêu thụ… lại diễn ra thường xuyên); các tác nhân (tổchức, cá nhân) tham gia sản xuất – kinh doanh cũng rất đa dạng, đặc biệt là các hộcá thể… Do vậy, liên kết trong sản xuất – kinh doanh nông nghiệp cũng có nhữngđiểm khác biệt, và có thể được định nghĩa như sau:

“Liên kết trong sản xuất – kinh doanh nông nghiệp là hình thức phối hợp, hợp tác thường xuyên các hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành để cùng nhau đề ra và thực hiện các công việc sản xuất kinh doanh của các bên tham gia

Trang 23

nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất Liên kết kinh tế được xây dựng trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi thông qua hợp đồng kinh tế ký kết giữa các bên tham gia dưới hai hình thức chủ yếu là hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng chính thống) trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và hợp đồng phi chính thống (thỏa thuận miệng) Mục tiêu của liên kết kinh

tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định, hoặc các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa, hợp tác hóa, nhằm khai thác tốt tiềm năng của mỗi đơn vị tham gia liên kết, hoặc để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đợn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm, nhằm bảo vệ lợi ích của nhau và cùng có lợi Trong liên kết các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ và không đầy đủ, không phân biệt hình thức sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý Nhà nước, ngành kinh tế - kỹ thuật hay lãnh thổ Trong khi tham gia liên kết, không một đơn vị thành viên nào bị mất quyền tự chủ của mình, không được miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối với Nhà nước theo pháp luật hoặc nghĩa vụ hợp đồng đã ký với các đơn vị khác.

1.1.2 Các khái niệm liên quan đến kinh tế hộ nông dân

1.1.2.1 Khái niệm hộ

Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triến Trải qua mỗithời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau song vẫn có bản chất chung đó là:“Sự hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất đếnuôi sống và tăng thêm tích luỹ cho gia đình và xã hội”

Theo Martin (1988) thì hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sảnxuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác Theo Harris, ở viện nghiên cứuphát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Lon Don- Anh) cho rằng: “Hộ là mộtđơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động” Theo Raul Iturna, giáo sư trường đại học tổnghợp Liôbon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một sốnước châu Á đã chứng minh “Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc

Trang 24

có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chínhbản thân họ và cộng đồng”Qua các quan điểm khác nhau về khái niệm hộ trên, cóthể rút ra một số đặc trưng về hộ Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc haykhông cùng huyết tộc Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung một máinhà Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung Cùng tiến hành sản xuất chung.

Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:

- Theo từ điển chuyên ngành kinh tế và từ điển ngôn ngữ "Hộ là tất cả nhữngngười cũng sổng chung trong một mủi nhà Nhóm người đó bao gồm những ngườicùng chung huyết tộc và những người làm công"

- Theo Liên hợp quốc "Hộ là những người cùng sổng chung dưới một máinhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ"

1.1.2.2 Kinh tế hộ nông dân

GS Frank Ellis (1988) cho rằng kinh tế nông hộ khác những người làm kinhtế khác trong nền kinh tế thị trường ở 3 yếu tố: đất đai, lao động, vốn “Kinh tế nônghộ là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền kinh tế xã hội Các nguồn lực đấtđai, tư liệu sản xuất, vốn, lao động được góp chung, chung một ngân sách, ngủchung một mái nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đờisống đều do chủ hộ phát ra” Từ khái niệm trên đã thống nhất những vấn đề cơ bảncủa kinh tế nông hộ đó là: Kinh tế hộ nông dân là đơn vị hoạt động của xã hội, làm

cơ sở cho phân tích kinh tế Các nguồn lực cùng được góp vào thành nguồn vốnchung của mọi thành viên trong gia đình và cùng chung một ngân sách Cùng sốngchung dưới một mái nhà

Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế có qui mô hộ gia đình, trong đó cáchoạt động chủ yếu là dựa vào lao động gia đình

Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong mộtthời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và tiến bộmọi mặt của xã hội hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý

Trang 25

1.1.2.3 Đặc điểm của kinh tế hộ nông dân

Dựa vào các khái niệm và các đặc trưng của kinh tế hộ nông dân ta có thểthấy các đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân là:

- Hoạt động của kinh tế hộ nông dân chủ yếu là dựa vào lao động gia đìnhhay là lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài Các thành viên tham gia hoạtđộng kinh tế hộ có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống

- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuấtkinh tế hộ nông dân

- Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất trực tiếp tácđộng vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian,

họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ

- Kinh tế nông hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ cónhiều loại lao động vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất

cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó

- Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinhtế hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất, và nó tác động trực tiếp lên lao độngtrong hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động

1.1.2.4 Vai trò của kinh tế hộ nông dân đối với phát triển kinh tế - xã hội

* Kinh tế hộ nông dân với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông thôn.

Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và với cảnước nói chung Đặc biệt nước ta có tới 80% dân sống ở nông thôn Nếu chỉ trôngchờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà nước hoặc sự thu hút lao động ở cácthành phố lớn thì khả năng giải quyết việc làm ở nước ta còn rất hạn chế Lao động

là nguồn lực dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và là động lực của nềnkinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực vẫn đang ở mứcthấp

Trang 26

Hiện nay ở nước ta còn khoảng 10 triệu lao động chưa được sử dụng, chiếmkhoảng 25% lao động và chỉ có 40% quỹ thời gian của người lao động ở nông thôn

là được sử dụng Còn các yếu tố sản xuất chỉ mang lại hiệu quả thấp do có sự mấtcân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông thôn Kinh tế hộ sản xuất có ưuthế là mức đầu tư cho một lao động thấp, đặc biệt là trong nông nghiệp, kết quảnghiên cứu ở Việt Nam cho thấy:

- Vốn đầu tư cho một hộ gia đình: 1,3 triệu đồng/1 lao động/ 1 việc làm

- Vốn đầu tư cho một xí nghiệp tư nhân: 3 triệu/ 1 lao động / 1 việc làm

- Vốn đầu tư cho kinh tế quốc doanh địa phương: 12 triệu/1 lao động/ 1 việclàm (Đây chỉ là vốn tài sản cố định, chưa kể vốn lưu động)

Như vậy, chi phí cho một lao động ở nông thôn ít tốn kém nhất Đây là một điềukiện thuận lợi khi nền kinh tế nước ta còn nghèo, ít vốn tích luỹ Mặt khác, là kinhtế độc lập trong sản xuất kinh doanh hộ sản xuất đồng thời vừa là lao động chính,vừa là lao động phụ thực hiện những công việc không nặng nhọc nhưng tất yếuphải làm

Xen canh gối vụ là rất quan trọng đối với hộ sản xuất trong sản xuất nôngnghiệp để có khả năng cao, khai thác được mọi tiềm năng của đất đai ở các nướctiên tiến, thâm canh là quá trình cải tiến lao động sống, chuyển dịch lao động vàocác ngành nghề hiện đại hoá nông nghiệp Còn ở Việt Nam do trang bị kỹ thuật cholao động cho nên thâm canh là quá trình thu hút thêm lao động sống, tạo thêm công

ăn việc làm từ những khâu hầu như còn làm thủ công: cày bừa, phòng trừ sâu bệnh,làm cỏ

Do việc gắn trực tiếp lợi ích cá nhân với quyền sử dụng, quản lý, lâu dài đấtđai, tài nguyên nên việc sử dụng của hộ sản xuất hết sức tiết kiệm và khoa học,không làm giảm độ mầu mỡ của đất đai, hay cạn kiệt nguồn tài nguyên vì họ hiểuđó chính là lợi ích lâu dài của họ trên mảnh đất mà họ sở hữu Mặt khác, đối với hộsản xuất, việc khai hoang phục hoá cũng được khuyến khích tăng cường thông qua

Trang 27

việc tính toán chi li từng loại cây trồng vật nuôi để từng bước thay đổi bộ mặt kinhtế ở nông thôn, nâng cao đời sống nông dân

Tóm lại, khi hộ sản xuất được tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu trách

nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình Đất đai, tài nguyên và các công cụlao động cũng được giao khoán Chính họ sẽ dùng mọi cách thức, biện pháp sửdụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâu dài Họ cũng biết tựđặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi tiềm năng kỹ thuật vừa tạo

ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm cho tiêu dùng của chính mình vàcho toàn xã hội

* Kinh tế hộ nông dân có khả năng thích ứng được thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển

Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá Là đơn vịkinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất và quátrình sản xuất Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị trường họ có thể tínhtoán sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất tự bản thân mình có thểgiải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất mà không phải qua nhiềucấp trung gian chờ quyết định Với quy mô nhỏ hộ sản xuất có thể dễ dàng loại bỏnhững dự án sản xuất, những sản phẩm không còn khả năng đáp ứng nhu cầu thịtrường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần mà không sợ ảnh hưởng đến kếhoạch chi tiêu do cấp trên quy định

Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hoà nhập với thịtrường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đã từng bước tựcải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường Để theo đuổi mục đích lợinhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện chế độ hạch toán kinh tế

để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất đến một hình thức phát triểncao hơn

Như vậy, kinh tế hộ sản xuất có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầucủa thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã hội

Trang 28

Hộ sản xuất cũng là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta pháttriển cao hơn.

* Đóng góp của hộ nông dân đối với xã hội

Như trên đã nói, hộ sản xuất đã đứng ở cương vị là người tự chủ trong sảnxuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong sự pháttriển của nền kinh tế

Tốc độ tăng về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp từ năm 1988 đến naytrung bình hàng năm đạt 4%, nổi bật là sản lượng lương thực Gần 70% rau quả,thịt trứng, cá, 20% đến 30% quỹ lương thực và một phần hàng tiêu dùng hàng xuấtkhẩu là do lực lượng kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp tạo ra Từ chỗ nước ta chưa

tự túc được lương thực thì đến nay đã là một trong những nước xuất khẩu gạo đứnghàng đầu thế giới, công lao đó cũng thuộc về người nông dân sản xuất nông nghiệp

Bên cạnh sản xuất lương thực, sản xuất nông sản hàng hoá khác cũng cóbước phát triển, đã hình thành một số vùng chuyên canh có năng suất cao như: chè,

cà phê, cao su, dâu tằm

Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển theo chiều hướng sản xuất hàng hoá(thịt, sữa tươi ), tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi chiếm 24,7% giá trị nông nghiệp

Tóm lại, với hơn 80% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộ sảnxuất có vai trò hết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụng đất đai, tàinguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụng nguồn lao động, tậndụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường ngày càngthể hiện rõ nét Người lao động có toàn quyền tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụsản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất của mình, có trách nhiệm hơntrong hoạt động sản xuất kinh doanh

Ở một khía cạnh khác, kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an ninhtrật tự, ổn định chính trị xã hội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành vi "nhàn

cư vi bất thiện" gây ra

1.1.3 Tính tất yếu của liên kết

Trang 29

Liên kết kinh tế như đã phân tích ở phần trên, đó là sự hợp tác cùng pháttriển của hai hay nhiều bên không kể quy mô hay loại hình sở hữu Mối quan hệliên kết chính là bảo đảm về lợi ích của các bên tham gia liên kết kinh tế Do đó cácbên tất yếu sẽ liên kết với nhau nhằm đảm bảo, nâng cao lợi ích của mình Điều đóđược thể hiện:

- Chủ thể sản xuất, kinh doanh cá ngành, lĩnh vực (các doanh nghiệp, hợp tácxã, hộ gia đình, trang trại ) có quy mô nhỏ và vừa thường bị các chủ thể lớn cạnhtranh và mang lại bất lợi về lợi ích cho các chủ thể vừa và nhỏ Trong hoạt độngsản xuất kinh doanh, mỗi chủ thể đều có một hoặc vài lĩnh vực chủ đạo, mang tínhđặc thù, chuyên biệt, hoặc có những sản phẩm đặc thù riêng; bên cạnh đó, là mộtloạt các hoạt động phụ mà bản thân chủ thể không thể tự mình sản xuất ra thànhphẩm, hoặc tự thực hiện tiêu thụ được mà phải nhờ đến các chủ thể khác mới đảm

bảo sản xuất và tiêu thụ được sản phẩm ấy Muốn vậy, phải có sự hợp tác giữa các chủ thể với doanh nghiệp khác để tạo ra sản phẩm với quy mô lớn hơn và tiêu thụ được trên thị trường; giảm thiểu được bất lợi trong hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh.

- Liên kết kinh tế còn giúp cho các chủ thể phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường, tạo cơ hội đứng vững khi thị trường có những biến đổi bất lợi.

Điều đó thể hiện trong những trường hợp sau:

+ Nhu cầu của thị trường là luôn thay đổi, điều đó buộc các chủ thể sản xuất vừa phải luôn thay đổi các mẫu mã của các sản phẩm hiện có, vừa phải tìm cách

đa dạng hóa sản phẩm Chính sự liên kết kinh tế mới có thể giúp cho các chủ thể

đạt được điều mong muốn là thích ứng với thị trường

+ Liên kết kinh tế giúp cho các chủ thể sản xuất kinh doanh tiêu thụ sản phẩm của mình được nhanh hơn Trong xu thế toàn cầu hóa các hình thức liên kết

được thực hiện với quy mô “xuyên quốc gia”; những sản phẩm hàng hóa do bảnthân từng doanh nghiệp khó tiêu thụ, nhưng nếu đặt trong vị trí liên kết thì dễ tiêuthụ được, từ đó thúc sản xuất phát triển

Trang 30

+ Liên kết kinh tế còn giúp các chủ thể có thể tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhờ có sự phối hợp với các nhà nghiên cứu ở

các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước

+ Liên kết kinh tế còn thúc đẩy liên kết, hỗ trợ nhau về vốn trước những thay đổi của thị trường mà vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của doanhh nghiệp, buộc

các chủ thể ấy phải tìm cách liên kết, hỗ trợ về vốn và công nghệ để hoàn thành rasản phẩm hoàn chỉnh cung cấp cho thị trường

- Liên kết kinh tế giúp các chủ thể giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh sản phẩm Để tránh được rủi ro, nhiều nhà sản xuất đã biết phân tán sự rủi ro

bằng cách mời gọi các chủ thể khác cùng tham gia thực hiện và triển khai dự án.Thậm chí mỗi doanh nghiệp phải đảm bảo một phần công việc tùy theo năng lựccủa từng chủ thể Như vậy mỗi chủ thể tham gia dự án sẽ chịu một phần rủi ro (nếucó xảy ra)

1.1.4 Đặc trưng của liên kết

- Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát từ những lợi ích kinh tế khác nhau của những chủ thể kinh tế cũng như quá

trình vận động phát triển tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ vàphạm vi của phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh

- Liên kết kinh tế là những quan hệ kinh tế tới trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn định, thường xuyên, lâu dài thông qua những thỏa thuận, hợp đồng từ trước giữa các bên tham gia liên kết Không phải tất cả những quan hệ kinh tế nào cũng là liên

kết kinh tế Những quan hệ kinh tế nhất thời, những trao đổi ngẫu nhiên khôngthường xuyên giữa các chủ thể kinh tế không phải là liên kết kinh tế

- Liên kết kinh tế là một quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết với nhau trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết Quá trình này vận

động, phát triển qua những nấc thang từ quan hệ hợp tác, liên doanh đến liên hợp,liên minh, hợp nhất lại Như vậy phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuấtkinh doanh là điều kiện hình thành các liên kết kinh tế; còn hợp tác hóa, liên hợp

Trang 31

hóa là những hình thức biểu hiện của những nấc thang, những bước phát triển củaliên kết kinh tế

- Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động giữa các chủ thể liên kết thông qua những thỏa thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp định, điều lệ…nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả những lĩnh

vực khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh) Tùy theo gócđộ xem xét, quá trình liên kết có thể diễn ra liên kết theo ngành, liên kết giữa cácthành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ

- Kết quả, hiệu quả liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ yếu, bên cạnh đó còn phải kể đến đó là yếu tố rủi ro từ

thời tiết, khí hậu

- Cũng như liên kết đối với các ngành sản xuất kinh doanh khác, liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp có sự xuất hiện của các tác nhân tham gia Tuy nhiên, điểm khác biệt đáng quan tâm là các tác nhân đó có sự khác biệt rõ nét

về trình độ, nhận thức, năng lực của họ.

1.1.5 Các nguyên tắc cơ bản của liên kết

Để các chủ thể tham gia liên kết đạt được mục tiêu phát triển bền vững, cácliên kết phải đảm bảo một số nguyên tắc sau:

Thứ nhất, liên kết kinh tế phải đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh

của các chủ thể tham gia không ngừng phát triển và đạt hiệu quả ngày càng cao.

Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu xuyên suốt của mọi liên kết kinh tế Dùđược tiến hành dưới hình thức và mức độ nào thì các quan hệ kinh tế cũng phải đápứng được yêu cầu phát triển bền vững của các bên tham gia

Thứ hai, liên kết kinh tế phải được hình thành trên tinh thần tự nguyện tham

gia của các bên Các liên kết chỉ thành công và hiệu quả khi được xây dựng dựa

trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia để giải quyết những khó khăn hoặc tìmkiếm lợi ích cao hơn thông qua liên kết Chỉ khi tự nguyện tham gia các chủ thểliên kết mới phát huy hết năng lực nội tại của mình, xây dựng nên mối quan hệ hiệu

Trang 32

quả, bền chặt, vì lợi ích chung, đồng thời đem hết khả năng cùng chịu trách nhiệm

về những thất bại hay rủi ro trong liên kết Mọi liên kết kinh tế được thiết lập mangtính hình thức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽkhông thể tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia

Thứ ba, các bên tham gia được dân chủ, bình đẳng trong các quyết định của

liên kết Do các nguồn lực của liên kết được hình thành dựa trên sự đóng góp của

các chủ thể tham gia, mặt khác các liên kết có liên quan chặt chẽ đến lợi ích của cácchủ thể tham gia nên hoạt động quản lý, điều hành, giám sát và phân phối lợi íchtrong liên kết phải đảm bảo dân chủ, bình đẳng Dân chủ và bình đẳng trong liênkết không có nghĩa là cào bằng quyền lợi và trách nhiệm mà trên cơ sở những đónggóp của mỗi bên Để có sự bình đẳng và dân chủ, các quyết định liên kết phải đảmbảo tính công khai, minh bạch và được thực hiện thông qua một cơ chế điều phốichung được thống nhất giữa các bên ngay từ đầu

Thứ tư, kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia Trong liên kết

kinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo gắn kết lâu dài các bêntham gia Việc chia sẻ hài hòa lợi ích có tầm quan trọng đặc biệt quyết định sự bềnvững của các liên kết nên đòi hòi phải tìm ra một cơ chế giải quyết thích hợp Cơchế đó phải tập trung vào các yêu cầu cơ bản và cấp thiết nhất Trong từng mối liênkết, từng mặt hàng mà có hình thức và phương pháp giải quyết lợi ích khác nhau.Ngoài ra cơ chế đó cần đảm bảo cho các bên tham gia được bình đẳng với nhau cả

về quyền lợi cũng như trách nhiệm

Thứ năm, các mối liên kết phải được pháp lý hóa Trong cơ chế thị trường

hiện nay nhiều quan hệ kinh tế được phát triển dựa trên cơ sở tin cậy lẫn nhau củacác bên tham gia Liên kết giữa họ thường xuyên và bền chặt vì các bên đều đạtđược lợi ích của mình khi than gia Tuy nhiên với mục tiêu hướng đến một nền sảnxuất hiện đại thì mọi quan hệ kinh tế cần phải được thể chế hóa bằng luật pháp dướihình thức hợp đồng kinh tế, điều lệ, hiệp ước của tổ chức liên kết Khi các mối liênkết được pháp lý hóa một mặt nâng cao vị thế cho các bên tham gia, đồng thời là cơ

Trang 33

sở quan trọng để ràng buộc trách nhiệm của họ cũng như tạo điều kiện thuận lợicho việc giải quyết khi có tranh chấp phát sinh.

Tóm lại, các nguyên tắc của liên kết kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi

vận dụng vào thực tiễn cần phải được coi trọng và kết hợp hài hòa, bất cứ nguyên tắc nào nếu bị vi phạm đều có thể làm cho liên kết không đạt hiệu quả mong muốn Tuy nhiên, không phải liên kết kinh tế nào cũng đều phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc trên.

1.1.6 Các hình thức, phương thức và mô hình liên kết

1.1.6.1 Các hình thức liên kết

Các hình thức liên kết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữacác tác nhân là những pháp nhân độc lập rất đa dạng, chủ yếu bao gồm các hìnhthức với các nội dung cơ bản sau:

Hợp đồng bằng văn bản (Hợp đồng chính thống)

Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữacác tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm Hợp đồng là “sự thỏathuận giữa nông dân và các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ sản phẩm nông sản về việctiêu thụ sản phẩm trong tương lai và thường với giá đặt trước” Đây là hình thứckinh tế hợp tác trực tiếp, quan hệ giữa hai bên bị ràng buộc bởi hợp đồng, do đó nócó tính ổn định hơn Quan hệ hợp tác trên cơ sở hợp đồng được thực hiện dưới haihình thức:

- Hợp đồng trên cơ sở cá nhân

Là quan hệ trực tiếp giữa người sản xuất (như nông hộ, trang trại) với cơ sởchế biến được thực hiện thông qua hợp đồng ký kết với hai bên Các chủ thể cótrách nhiệm giao nộp sản phẩm đúng thời hạn, địa điểm, số và chất lượng cho cơ sởchế biến Ngược lại cơ sở chế biến có trách nhiệm nhận sản phẩm (nông sản) vàtranh toán hợp đồng cho bên kia Bên nào vi phạm sẽ chịu trách nhiệm bồi thườngthiệt hại theo thỏa thuận

- Hợp đồng trên cơ sở nhóm: Có hai dạng

Trang 34

Dạng thứ nhất: Hợp tác thông qua hiệp hội Hiệp hội là tập hợp các nhà sản

xuất có cùng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của quá trình sản xuất trên thị trường Hiệphội thay mặt các nhà sản xuất ký hợp đồng chung với cơ sở chế biến về thời giangiao nộp sản phẩm, địa điểm, số và chất lượng, giá cả cũng như phương thức thanhtoán

Dạng thứ hai: Hợp tác thông qua hợp tác xã dịch vụ Người sản xuất có quan

hệ gián tiếp với cơ sở chế biến và quan hệ trực tiếp với hợp tác xã dịch vụ Hợp tácxã thay mặt người sản xuất đứng ra ký hợp đồng với cơ sở chế biến, trực tiếp thanhtoán, nhận, trả với cơ sở chế biến sau đó thanh toán cho từng cơ sở sản xuất (hoặctừng hộ nông dân)

Đối với mối liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với người sản xuất (nôngdân) thì chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội khácnhau Về mặt kinh tế, nhân tố quy định mạnh mẽ nhất là chế độ kinh tế - xã hội, tứcchế độ sở hữu và cơ chế vận hành nền kinh tế, bởi trình độ phát triển của lực lượngsản xuất, đặc điểm nghành nghề, sản phẩm nguyên liệu cụ thể, nhân tố chính trị -xã hội cũng có tác động nhất định đến liên kết

Hợp đồng miệng (Thỏa thuận miệng)

Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữacác tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó Hợpđồng miệng cũng được các bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn

và địa điểm giao nhận hàng Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tín nhiệm,trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng Hợp đồngmiệng thường được thực hiện giữa các tác nhân có quan hệ thân thiết (họ hàng, bàn

bè, anh em ruột, ) hoặc giữa các tác nhân đã có quá trình hợp tác, liên kết sản xuất

- kinh doanh với nhau mà trong suốt thời gian hợp tác luôn thể hiện được nguồn lựctài chính, khả năng tổ chức và trách nhiệm giữ chữ tín với các đối tác Tuy nhiên,hợp đồng miệng trong thực tế thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về sốlượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa

Trang 35

1.1.6.2 Phương thức liên kết

Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo các phương thức chiều dọc (liên kếtdọc) hoặc chiều ngang (liên kết ngang), trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành,trong một quốc gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc tế Cụ thể:

- Liên kết dọc

Là liên kết được thực hiện theo trật tự các khâu của quá trình sản xuất kinhdoanh (theo dòng vận động của sản phẩm) Kiểu liên kết theo chiều dọc là toàndiện nhất bao gồm từ sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân phối thành phẩm.Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia vừa có vai trò là kháchhàng của tác nhân trước đó đồng thời bán sản phẩm cho tác nhân tiếp theo của quátrình sản xuất kinh doanh Kết quả của liên kết dọc là hình thành nên chuỗi giá trịcủa một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí chokhâu trung gian

- Liên kết ngang

Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia là mộtđơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông qua một bộ máy kiểmsoát chung Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụcạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từngthành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế theo quy mô của tổ chức liên kết Kếtquả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như Hợptác xã, liên minh, hiệp hội và có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhấtđịnh

1.1.6.3 Mô hình liên kết trong sản xuất – kinh doanh nông nghiệp

a, Đặc điểm mô hình liên kết kinh tế

Đặc điểm cơ bản của quan hệ liên kết kinh tế là: Xuất phát từ mối quan tâm

“cùng có lợi ích kinh tế” mà các bên tham gia tự nguyện thiết lập các mối quan hệphối hợp Các chủ thể liên kết kinh tế có sự phối hơpj lẫn nhau khá chặt chẽ và cótrách nhiệm cao trong tổ chức thực hiện các hoạt động phối hợp Các chủ thể (đối

Trang 36

tác) tham gia hoạt động liên kết kinh tế có thể là: Doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh, các tổ chức kinh tế -xã hội, chính quyền địa phương, cơ quan quản lý nhànước, các đơn vị tập thể, các hộ gia đình

Trong hoạt động liên kết kinh tế, có thể thiết lập mối quan hệ liên kết kinh tếvới nội dung khá phong phú với tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng,như khâu chuẩn bị các yếu tố cho sản xuất, sản xuất, phục vụ cho sản xuất, nghiêncứu ứng dụng khoa học, công nghệ, đào tạo, tổ chức khai thác thị trường, quá trìnhlưu thông tiêu thụ sản phẩm

Liên kết kinh tế có thể diễn ra trong một phạm vi không gian hẹp như: Liênkết giữa các bên trong khu công nghiệp, một địa phương, một vùng kinh tế, phạm

vi các doanh nghiệp với các chủ nông hộ Nhưng cũng có thể ở phạm vi rộng như:Toàn quốc, các quốc gia Hoạt động liên kết có thể thực hiện trong thời gian ngắnhoặc dài do yêu cầu của hoạt động liên kết quy định

Liên kết kinh tế được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng liên kết giữacác chủ thể kinh tế độc lập, đồng thời quan hệ liên kết kinh tế cũng có thể hìnhthành tổ chức mới, làm nhiệm vụ điều phối hoạt động các bên tham gia Liên doanh

là hoạt động biểu hiện cụ thể của hoạt động liên kết kinh tế

Cần phân biệt rõ liên kết kinh tế với quan hệ kinh tế nói chung, mọi quan hệkinh tế nói chung đều là những quan hệ kinh tế nhưng ngược lại thì không nhấtthiết Quan hệ kinh tế bao gồm cả các hoạt động kinh tế như: mua, bán, trao đổi,vay mượn, tổ chức sản xuất của các chủ thể kinh tế Nhưng chỉ những quan hệ kinhtế nào phản ánh sự phối hợp mang tính chất cộng đồng, trách nhiệm của các chủ thểkinh tế thìư mới được coi là quan hệ liên kết kinh tế

Hoạt động liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế bao gồm những hoạt độngkinh tế được pháp luật cho phép, khuyến khích, bảo trợ Đó là các hoạt động liênkết kinh tế đúng pháp luật, hiện nay thực tế vẫn đang tồn tại mối quan hệ kinh tế

mà pháp luật không cho phép đó là quan hệ kinh tế ngầm

Trang 37

b, Các mô hình liên kết kinh tế

Mô hình liên kết tập trung tập trung: Xuất phát từ nhu cầu của các doanhnghiệp chế biến Chủ thể tham gia hợp đồng chủ yếu là doanh nghiệp và nông dân

* Mô hình liên kết phi chính thức

Chủ yếu là mối quan hệ giữa nông dân và thương lái Nông dân tham giatrong mô hình phần lớn là những nông nghèo không đủ khả năng đảm bảo các yếu

tố cầu vào cần thiết cho sản xuất nông nghiệp, do đó họ phải thực hiện sản xuất hợpñồng với thương lái Tuy nhiên, mô hình này không phát triển trong phạm vi lớn,vượt quá giới hạn cộng đồng

Mô hình trang trại hạt nhân: Hình thức khoán trong các nông, lâm trườngquốc doanh chính là mô hình trang trại hạt nhân Các hình thức khoán này đượchình thành theo Nghị định của Chính phủ số 01/CP ngày 04/01/1995 về việc “giaokhoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷsản trong các doanh nghiệp nhà nước” và nay theo nghị định số 135/2005/NĐ-CPngày 08/11/2005 về giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặtnước nuôi trồng thuỷ sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốcdoanh Trong mô hình này, giữa người sản xuất và người mua ký một hợp đồng gọi

là “hợp đồng khoán” Mô hình này hình thành dựa trên cơ sở doanh nghiệp quy môlớn, có nhà máy chế biến, đủ tiềm lực tài chính và kỹ thuật để cung cấp cho nôngdân, làm dịch vụ đầu vào - đầu ra cho các trang trại gia mình tham gia ký hợp ñồngvới doanh nghiệp, họ thực hiện các quá trình sản xuất gắn với cây trồng, vật nuôi

Để hợp đồng đã ký được thực hiện nghiêm chỉnh thì doanh nghiệp phải làm đủ vàđúng chức năng của mình đối với những hộ gia mình nhận khoán

Mô hình liên kết “hai nhà”: Liên kết hai nhà thường chỉ có nhà nông (ngườisản xuất) và nhà doanh nghiệp chế biến liên kết, hợp tác với nhau trong việc sảnxuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Doanh nghiệp tiêu thụ nông sản cho nông dânthông qua trung gian như hợp tác xã thì được coi là mô hình trung gian

Trang 38

Mô hình liên kết “ba nhà”: Đã xuất hiện từ những năm 1985, sau khi có chủtrương hỗ trợ nông dân thông qua việc cung ứng trước vốn, vật tư để phát triển diệntích nông nghiệp với quy mô lớn, nhất là phát triển vùng nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến Trong mối quan hệ này thường có các mô hình liên kết giữa nhànông - Doanh nghiệp chế biến hàng để cung ứng vốn đầu tư cho phát triển nguyênliệu; liên kết hợp tác giữa nhà nông - nhà khoa học và doanh nghiệp chế biến để sảnxuất ra sản phẩm hàng hóa cho thị trường

Mô hình Liên kết “bốn nhà”: Mô hình đa chủ thể tham gia hợp đồng sản xuấtnông nghiệp thường gọi là mô hình “liên kết bốn nhà”, đã hình thành và phát triển

từ những năm 1996, nhất là sau khi có quyết định 80/2002/QĐ-TTg về “chính sáchkhuyến khích tiêu thụ hàng hóa thông qua hợp đồng” ñến nay Mô hình này chưaphát huy hiệu quả vì chưa xác ñịnh ñược vai trò hạt nhân của các chủ thể trongquan hệ hợp đồng Phần lớn các mô hình đa chủ thể chưa gắn liền với thị trườngtiêu thụ vì những chủ thể chính của mô hình chủ yếu nằm ở khâu sản xuất

Tóm lại, mô hình liên kết có thể chia thành năm mô hình và được tóm tắt thành bảng

sau:

Bảng 1.1 Các loại mô hình liên kết trong sản xuất – kinh doanh nông nghiệp

- Sự liên kết giữa các chủ thể được ràng buộc thông qua thỏa thuận miệng, dựa vào sự tin tưởng Không có sự ràng buộc bằng văn bản

- Hình thức liên kết này kém bền vững

- Nhiều chủ thể tham gia: Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, HTX, hộ nông dân, ngân hàng,…

- Doanh nghiệp đóng vai trò là hạt nhân gắn kết các chủ thể.

Mô hình trung gian - Doanh nghiệp ký hợp đồng thu mua

Trang 39

Mô hình Phân loại Đặc điểm

(Intermediary Model)

nông sản thông qua các đầu mối trung gian như HTX, tổ hợp tác, nhóm nông dân, hoặc người đại diện cho một số hộ nông dân.

Mô hình tập trung (centralized model)

- Doanh nghiệp ký trực tiếp hợp đồng thu mua sản phẩm với các hộ nông dân; đồng thời là người cung cấp hầu hết yếu tố đầu vào (giống, phân bón,…), hướng dẫn quy trình kỹ thuật và giám sát toàn bộ quá trình sản xuất.

- Nông dân chịu trách nhiệm cung cấp nguồn lực đầu vào là đất đai, chuồng trại, công lao động để sản xuất sản phẩm, sau đó bán lại sản phẩm cho doanh nghiệp.

Mô hình trang trại hạt nhân (Nucleus Estate

1.1.7 Nội dung liên kết trong sản xuất nông nghiệp

Nội dung liên kết trong sản xuất nông nghiệp gồm:

- Liên kết trong việc cung ứng nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất(giống, vốn, thức ăn, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh): Đây là hình thức liên kếtthường được tiến hành giữa các cửa hàng, đại lý, công ty, doanh nghiệp, nhà khoahọc với người sản xuất (nông dân), bên cạnh đó còn có hình thức liên kết giữa

Trang 40

các doanh nghiệp, giữa các nhà khoa học hay giữa các người sản xuất với nhau chủyếu là cung ứng nguyên liệu đầu vào mà họ cùng sản xuất Người sản xuất có tưliệu sản xuất (đất đai, sức lao động ), họ cần các nguyên liệu đầu vào là giống,phân bón, thức ăn Khi thực hiện mối liên kết này, các cửa hàng, đại lý, công ty,doanh nghiệp, nhà khoa học sẽ đứng ra ký kết các hợp đồng hoặc thỏa thuận trựctiếp với người sản xuất hoặc thông qua địa phương Qua hình thức này các nhàcung ứng đầu vào sẽ cung cấp các đầu vào để người sản xuất có vật tư đầu vào và

họ sản xuất Như vậy, thông qua mối liên kết này, các nhà cung ứng nguyên liệuđầu vào sẽ bán được sản phẩm mình sản xuất ra và thu lại lợi nhuận cho cơ sở, tổchức, đơn vị mình Đồng thời người sản xuất lại có đầu vào để sản xuất với cam kếtđảm bảo số lượng, chất lượng vật tư đầu vào Khi liên kết này được thực hiện đềumang lại lợi ích cho các bên tham gia Từ đó người sản xuất sẽ chủ động về cácnguồn nguyên liệu đầu vào và sẽ yên tâm sản xuất hơn Có các dạng chủ yếu sau:

+ Ứng trước vật tư, vốn, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ, mua bán lại nông sản + Bán vật tư, mua lại sản phẩm

- Liên kết trong quá trình sản xuất (trong chuyển giao khoa học kỹ thuật,trong phòng trừ dịch bệnh)

+ Liên kết trong chuyển giao khoa học kỹ thuật

Đây là một hình thức liên kết thường được tiến hành giữa nhà khoa học (cơ

sở trường đại học, viện nghiên cứu, cán bộ kỹ thuật ở doanh nghiệp hay địaphương ) đối với người sản xuất (nông dân) Theo hình thức liên kết này, thôngqua đó nhà khoa học sẽ chuyển giao những tiến bộ KHKT cho người nông dân Khiđã được chuyển giao KHKT người nông dân tiếp nhận nó và đưa vào sản xuấtnhằm tạo ra những sản phẩm nông nghiệp có chất lượng tốt hơn Trong liên kết đóngười ta ký trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua địa phương ký kết các hợp đồng hoặcbằng thỏa thuận miệng với nhau để chuyển giao các tiến bộ KHKT Khi liên kếttheo hình thức này người nông dân sẽ tiếp nhận các tiến bộ KHKT mới để áp dụng

Ngày đăng: 27/12/2023, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tiến Anh (1997) - Kinh tế hộ - lịch sử và triển vọng phát triển, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ - lịch sử và triển vọng phát triển
Nhà XB: NXB KHXH
4. Bách khoa thư Việt Nam, Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam
8. Hồ Quế Hậu (2008), “Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân”, Tạp chí Công nghiệp, kỳ 1, tháng 3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến với nông dân"”
Tác giả: Hồ Quế Hậu
Năm: 2008
9. Hồ Quế Hậu (2010), “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam
Tác giả: Hồ Quế Hậu
Năm: 2010
15. Nguyễn Thị Bích Hồng (2008), Lợi ích của mối liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp qua hợp đồng, Hội thảo: Sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng trường hợp điển hình, Trung tâm tư vấn chính sách Nông nghiệp Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp-nông thôn- Ngân hàng phát triển Châu Á, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợi ích của mối liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp qua hợp đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hồng
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2005), Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ Nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ, Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kinh tế Thương mại (ICTC), Bộ Thương mại – Viện nghiên cứu thương mại, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ Nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Năm: 2005
17. Hội đồng bộ trưởng (1984), Quyết định số 162/HĐBT ngày 14-12-1984 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức hoạt động liên kết trong kinh tế, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 162/HĐBT ngày 14-12-1984 của Hội đồng bộ trưởng về tổ chức hoạt động liên kết trong kinh tế
Tác giả: Hội đồng bộ trưởng
Năm: 1984
18. Dương Bá Phượng (1995), Liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, NXBKhoa học xã hội, , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế giữa sản xuất và thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường
Tác giả: Dương Bá Phượng
Nhà XB: NXBKhoa học xã hội
Năm: 1995
19. Nguyễn Đình Phan (1992), Phát triển và hoàn thiện cơ chế hoạt động, các hình thức liên kết kinh tế giữa các thành phần kinh tế trong sản xuất-kinh doanh công nghiệp, đề tài khoa học cấp bộ, Đại học kinh tế quốc dân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và hoàn thiện cơ chế hoạt động, các hình thức liên kết kinh tế giữa các thành phần kinh tế trong sản xuất-kinh doanh công nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đình Phan
Năm: 1992
20. Trần Việt Phương(2004), Bài giới thiệu sách Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng ứng dụng cho Việt Nam của Đặng Kim Sơn, NXB Chính trị quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giới thiệu sách Ba cơ chế thị trường, nhà nước và cộng đồng ứng dụng cho Việt Nam của Đặng Kim Sơn
Tác giả: Trần Việt Phương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
21. Nguyễn Hữu Tài (2002), Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn, Tài liệu cá nhân của tác giả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn
Tác giả: Nguyễn Hữu Tài
Năm: 2002
22. Nguyễn Hữu Tài (2006), Mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản thực phẩm của nông dân với các doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng- Thực trạng và giải pháp, Tài liệu cá nhân của tác giả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản thực phẩm của nông dân với các doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng- Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Hữu Tài
Năm: 2006
23. Trần Đức Thịnh (1984), Liên kết kinh tế trong ngành nuôi ong, LATS, Đại học kinh tế quốc dân, Hà nội.Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 2, trang 706; Từ điển bách khoa nông nghiệp Việt Nam, trang 757 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế trong ngành nuôi ong
Tác giả: Trần Đức Thịnh
Năm: 1984
24. Vũ Minh Trai (1993), Phát triển và hoàn thiện liên kết kinh tế của các doanh nghiệp công nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay, LATS.Đại học kinh tế quốc dân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và hoàn thiện liên kết kinh tế của các doanh nghiệp công nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay
Tác giả: Vũ Minh Trai
Năm: 1993
2. Báo cáo tổng kết các năm 2012, 2013, 2014 của Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lâm Thao Khác
3. Báo cáo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của UBND huyện Lâm Thao các năm 2012, 2013, 2014 Khác
5. Cao Đông và các cộng sự (1995), Đề tài cấp bộ 94-98-084/ĐT, Phát triển các hình thức liên kết kinh tế nông thôn ở các tỉnh phía Bắc trong nền kinh tế thị trường hiện nay Khác
6. Đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn (1996) NXB nông nghiệp, Hà Nội Khác
7. Hoàng Kim Giao(1989), Các hình thức liên kết kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta, chú ý đến liên kết nông công nghiệp, liên kết ngành lãnh thổ, liên kết Khác
10. Kết luận số 97- KL/TƯ của bộ chính trị về một số chủ trương giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Tình hình đất đai bình quân/ hộ của nhóm hộ điều tra năm  2015 - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Bảng 2.2. Tình hình đất đai bình quân/ hộ của nhóm hộ điều tra năm 2015 (Trang 65)
Bảng 2.3. Tình hình lao động bình quân/hộ của nhóm hộ điều tra năm 2015 - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Bảng 2.3. Tình hình lao động bình quân/hộ của nhóm hộ điều tra năm 2015 (Trang 66)
Bảng 2.4. Tình hình vốn của nhóm hộ điều tra năm 2015 - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Bảng 2.4. Tình hình vốn của nhóm hộ điều tra năm 2015 (Trang 67)
Bảng 2.5: Cơ cấu giá trị đầu tư bình quân doanh nghiệp chế biến đầu tư - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Bảng 2.5 Cơ cấu giá trị đầu tư bình quân doanh nghiệp chế biến đầu tư (Trang 73)
Sơ đồ 2.1: Hình thức cấu trúc tổ chức liên kết với nông dân của công ty CP - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Sơ đồ 2.1 Hình thức cấu trúc tổ chức liên kết với nông dân của công ty CP (Trang 76)
Hình trung gian thích hợp với các công ty vừa và nhỏ, có nguồn nhân lực hạn  chế, có vùng nguyên liệu phân tán - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Hình trung gian thích hợp với các công ty vừa và nhỏ, có nguồn nhân lực hạn chế, có vùng nguyên liệu phân tán (Trang 77)
Sơ đồ 2.4: Hình thức liên kết đa thành phần xây dựng cánh đồng mẫu - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Sơ đồ 2.4 Hình thức liên kết đa thành phần xây dựng cánh đồng mẫu (Trang 79)
Bảng 2.6. Tình hình liên kết cung ứng vốn trong sản xuất lúa tại Lâm Thao - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Bảng 2.6. Tình hình liên kết cung ứng vốn trong sản xuất lúa tại Lâm Thao (Trang 82)
Sơ đồ 2.6. Các tác nhân tham gia liên kết cung ứng phân bón trong sản - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Sơ đồ 2.6. Các tác nhân tham gia liên kết cung ứng phân bón trong sản (Trang 83)
Bảng 2.11. So sánh về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Nhà nông - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Bảng 2.11. So sánh về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Nhà nông (Trang 96)
Bảng 2.13. Lợi ích của doanh nghiệp khi tham gia liên kết - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Bảng 2.13. Lợi ích của doanh nghiệp khi tham gia liên kết (Trang 97)
Bảng 2.14. So sánh về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh - Luận văn thạc sỹ Liên kết kinh tế hộ nông dân trên địa bàn huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ hiện nay
Bảng 2.14. So sánh về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh (Trang 99)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w