1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đổi khí hậu ở việt nam

112 527 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn - Đối tượng nghiên cứu: các chính sách, pháp luật của Việt Nam về ứng phó biến đổi khí hậu; các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu mà Việt

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

NGUYỄN DƯƠNG HOÀNG

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HOÀN THIỆN CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

NGUYỄN DƯƠNG HOÀNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ luật với đề tài “Hoàn hiện cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tác giả luận văn, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Phương, Giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã tham khảo và dẫn chiếu một số quan điểm từ các công trình nghiên cứu của các tác giả khác, tuy vậy các quan điểm, ý kiến của tác giả đưa ra là hoàn toàn độc lập và không sao chép

từ các công trình nghiên cứu trước đây Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, các tác phẩm, bài viết được trích dẫn trong Luận văn theo những nguồn đã được công bố đảm bảo độ tin cậy

Các thông tin, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một luận văn nào trước đây

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Dương Hoàng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo

trong Khoa Luật Viện Đại học mở Hà Nội, các phòng ban, thư viện trong và ngoài nhà trường cùng toàn thể bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo – TS Nguyễn Văn Phương, Giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình động

viên, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Trân trọng cảm ơn./

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM 6

1.1 Một số khái niệm cơ bản 6

1.1.1 Hiệu ứng nhà kính 6

1.1.2 Biến đổi khí hậu 7

1.1.3 Giảm nhẹ 8

1.1.4 Thich ứng 8

1.1.5 Ứng phó với biến đổi khí hậu 8

1.2 Các cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận và các điều ước quốc tế về BĐKH mà Việt Nam ký kết, gia nhập 8

1.2.1 Cơ sở thực tiễn 8

1.2.2 Cơ sở lý luận 16

1.2.3 Các điều ước quốc tế về BĐKH mà Việt Nam ký kết, gia nhập 23

1.3 Tổng quan hệ thống pháp luật hiện hành về ứng phó với biến đổi khí hậu 30

1.3.1 Các văn bản quy phạm pháp luật chung về ƯPBĐKH 31

1.3.2 Các văn bản quy phạm pháp luật về giảm nhẹ BĐKH 31

1.3.3 Các văn bản quy phạm pháp luật về thích ứng với BĐKH 32

1.3.4 Các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ ƯPBĐKH; chế tài xử lý vi phạm pháp luật 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM 34

2.1 Pháp luật về giảm nhẹ BĐKH 34

2.1.1 Pháp luật về CDM và các chất làm suy giảm tần ô-dôn 34

2.1.2 Pháp luật về sử dụng năng lượng hiệu quả, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo 45

2.1.3 Phát luật về phát triển và bảo vệ rừng 52

Trang 6

2.1.4 Các quy định của pháp luật Bảo vệ môi trường không khí, quản lý chất

thải 60

2.2 Các văn bản quy phạm pháp luật về thích ứng với BĐKH 63

2.2.1 Pháp luật về tài nguyên nước 63

2.2.2 Pháp luật về biển 66

2.2.3 Pháp luật về phòng chống, giảm nhẹ tác động của thiên tai 69

2.2.4 Pháp luật về đa dạng sinh học 71

2.3 Các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ ƯPBĐKH và xử lý vi phạm pháp luật về ƯPBĐKH 73

2.3.1 Các văn bản quy phạm pháp luật về hỗ trợ ƯPBĐKH 73

2.3.2 Xử lý vi phạm pháp luật về ƯPBĐKH 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 83

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM 84

3.1 Hoàn thiện các quy định chung về ứng phó với biến đổi khí hậu 84

3.2 Hoàn thiện các quy định về giảm nhẹ biến đổi khí hậu 85

3.2.1 Các quy định về CDM 85

3.2.2 Các quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 89

3.2.3 Các quy định về bảo vệ môi trường không khí 92

3.3 Hoàn thiện các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu 96

3.4 Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về ứng phó với BĐKH 97

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98

KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

HĐND : Hội đồng nhân dân

MONRE : Bộ Tài nguyên và môi trường

MPI : Bộ Kế hoạch và Đầu tư

MOIT : Bộ Công thương

MOC : Bộ Xây dựng

MOF : Bộ Tài chính

MOH : Bộ Y tế

MARD : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NTP : Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu SRPCC : Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu UBND : Uỷ ban nhân dân

UNFCCC : Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu ƯPBĐKH : Ứng phó với biến đổi khí hậu

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Thực hiện chính sách Đổi mới, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, Việt Nam đã tạo ra những sự thay đổi rất lớn về bộ mặt kinh tế, xã hội của đất nước Trải qua hơn hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, Việt Nam đã chính thức gia nhập nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2009 Việt Nam cũng là quốc gia được biết đến với những thành tích ấn tượng trong việc thực hiện các mục tiêu thiên nhiên kỷ, đặc biệt là mục tiêu xóa đói giảm nghèo Theo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, Việt Nam đặt mục tiêu sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

Tuy nhiên, biến đổi khí hậu đang và sẽ tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội, trở thành thách thức to lớn cả trước mắt và lâu dài đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam Theo các nghiên cứu, Việt Nam nằm ở khu vực đất thấp và được đánh giá là một trong những quốc gia bị tác động mạnh mẽ nhất do biến đổi khí hậu, đặc biệt đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng trên thế giới

dễ bị tổn thương nhất bởi nước biển dâng Biến đổi khí hậu đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực, an ninh nguồn nước và an ninh năng lượng của quốc gia

Việt Nam là một trong nhiều nước đang chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển đổi khí hậu Trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5-0,7%, mực nước biển dâng khoảng 20cm Biến đổi khí hậu đã làm cho thiên tai, đặc biệt là bão, lụt, hạn hán ngày càng ác liệt Nguyên nhân chính được cho là từ nạn chặt phá rừng, sự phát triển của các đô thị với sự gia tăng mật độ các phương tiện, sử dụng nhiều nhiên liệu hóa thạch, tăng sự phát thải khí nhà kính Hậu quả của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam là nghiêm trọng và là một nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên nhiên niên

Trang 9

kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước Giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí

ở Việt Nam là yêu cầu và thách thức đang được đặt ra Để giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu thì phải giải quyết được nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó đặc biệt chú ý đến các biện pháp làm giảm phát thải khí nhà kính, và các biện pháp đó cần phải được pháp luật hóa Chính từ thực trạng này đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và đầy

đủ về chính sách, pháp luật để hoàn thiện cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Nhận thức được ứng phó biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa sống còn, Việt Nam đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu (2008)

và Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (2011) với tầm nhìn chiến lược lâu dài Một trong những nhiệm vụ quan trọng được đặt ra trong Chiến lược và Chương trình này là xây dựng, hoàn thiện thể chế về ứng phó với biến đổi khí hậu

Với những lý do đó, việc nghiên cứu “Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho ứng

phó v ới biến đổi khí hậu ở Việt Nam” có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Biến đổi khí hậu là một hiện tượng có từ lâu, tuy nhiên, biến đổi khí hậu gây

ra hậu quả tiêu cực thì chỉ thực sự được quan tâm trong thời gian gần đây, là vấn đề không chỉ có Việt Nam mà được toàn thế giới quan tâm Hiện nay, vấn đề biến đổi khí hậu ở nước ta đang được các nhà hoạch định chính sách và quản lý, các nhà khoa học quan tâm đặc biệt cả về lý luận, lẫn mặt thực tiễn Trong những năm qua, dã có một số tác giả, nhóm tác giả nghiên cứu liên quan đến chủ đề của đề tài luận văn như:

- Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam”, tháng 6 năm 2009;

- Các tác giả: GS.TS Nguyễn Trọng Hiệu; Lê Đình Quang, Trần Duy Bình, Trung tâm khoa học công nghệ khí tượng thuỷ văn và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường: Chiến lược giảm nhẹ biến đổi khí hậu và chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu trên thế giới và ở Việt Nam; năm 2006

Trang 10

- Các tác giả: Lê Nguyên Tường, Ngô Sĩ Giai, Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và môi trường: Đánh giá năng lực thích nghi và sẵn sàng ứng phó với biến đổi khí hậu, năm 2006

- PGS.Ts Hoàng Thế, Bộ Tư pháp: đề tài cấp bộ “Hoàn thiện khung pháp luật

về môi trường ở Việt Nam”, tháng 4 năm 2007

-Ts Phạm Văn Lợi, Viện Khoa học quản lý môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường: đề tài cấp bộ “Đánh giá hệ thống pháp luật về môi trường Việt Nam”, tháng 10 năm 2009

- Các tác giả: Ts Nguyễn Văn Phương, Ts Vũ Thu Hạnh, Đại học Luật Hà Nội: Strengthening Legal and Policy Framwords for Addressing Climate Change in Asia: Identifying Opportunities for Sharing Best Practices” trong khuôn khổ dự án đánh giá của UNEP và USAID, viết phần về Việt Nam, tháng 3 năm 2009

- Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề về

lý luận và thực tiễn làm cơ sở xây dựng pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu; thực trạng pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý cho ứng phó với biến đổi khí hậu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan đến chủ đề luận văn

- Nghiên cứu, luận bàn về mặt lý luận và thực tiễn đối với các vấn đề liên quan đến tình hình biến đổi khí hậu nói chung và ứng phó với biến đổi khí hậu nói riêng

- Thực trạng pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam hiện hành; đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, khuyết điểm

Trang 11

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và sắp tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: các chính sách, pháp luật của Việt Nam về ứng phó biến đổi khí hậu; các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu mà Việt Nam tham gia ký kết hoặc gia nhập

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Tổng quan cả nước,

+ Công tác quản lý nhà nước về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam hiện nay

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2008 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện dựa vào cách tiếp cận hệ thống, kế thừa các vấn đề

lý luận và thực tiễn ở nước ta và thế giới; phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam, định hướng phát triển kinh tế đến năm 2020, đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Luận văn vận dụng phương pháp luận, các quy luật và phạm trù của triết học trong quá trình nghiên cứu mà hạt nhân là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Áp dụng các phương pháp phân tích thể chế - chính sách, kinh tế - xã hội đối với quản lý về biến đổi khí hậu; phương pháp đối sánh, tổng hợp,…cũng được vận dụng để giải quyết các vấn đề liên quan; khảo sát thăm dò lấy ý kiến trong phạm vi những người làm công tác thực tiễn, sử dụng kết quả thống kê nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa về lý luận: Góp phần làm sáng tỏ các kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế, thiết sót của hệ thống pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở nước ta Từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị để góp phần vào việc hoàn thiện cơ

sở pháp lý cho ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy ở bậc Đại học, Cao đẳng trong lĩnh vực tư pháp và chuyên ngành môi trường, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu là tư liệu tốt để các nhà hoạch định chính sách tham khảo trong quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, trong một chừng mực nhất định cũng có thể giúp ích phần nào cho cán bộ làm công tác thực tiễn về môi trường, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, quan tâm trong việc hiểu biết một cách sâu sắc, đầy đủ vận dụng đúng đắn các quy định của chính sách, pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở hình thành pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng hệ thống pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu

ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT VỀ ỨNG PHÓ

VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Hi ệu ứng nhà kính

Là sự nóng lên của Trái đất do sự có mặt của các khí nhà kính [59, tr.2] Tên gọi này là do hiệu ứng tương tự được sản sinh bởi nhà trồng cây làm bằng kính Các tia bức xạ sóng ngắn của mặt trời xuyên qua bầu khí quyển và được bề mặt trái đất hấp thụ, làm cho trái đất ấm lên Sau đó, một phần năng lượng hấp thụ được phản xạ trở lại khí quyển thành các bức xạ nhiệt sóng dài Một phần nhỏ của các bức xạ sóng dài thoát vào trong không gian; một phần bức xạ không thể xuyên qua các KNK trong khí quyển Các KNK có thể lựa chọn truyền dẫn các tia hồng ngoại, giữ lại một

số và cho phép một số xuyên qua không gian Các KNK hấp thụ những sóng này và giữ chúng ở dưới làm nóng lên ở vùng khí quyển thấp hơn

HƯNK tồn tại trên trái đất ngay từ khi trái đất cùng với khí quyển và hệ thống khí hậu hình thành và hầu như không thay đổi cho đến thời kỳ tiền công nghiệp Từ thời kỳ này, khoảng năm 1750, con người, thông qua các hoạt động phát triển kinh tế

xã hội, đặc biệt là công nghiệp đã phát thải ra nhiều khí quyển nhiều khí có HƯNK đặc biệt nguy hại như CO2, CH4, O3, N2O cũng như HFCs, PFCs và SP6 làm cho nồng độ KNK trong khí quyển tăng lên, HƯNK mãnh liệt hơn và do đó làm nóng thêm bề mặt trái đất và lợp đối lưu dưới khí quyển, gây ra BĐKH hiện đại

Theo khoản 5 Điều 1 UNFCCC thì các KNK là những thành phần, cả tự nhiên lẫn nhân tạo, mà hấp thụ và phát lại bức xạ hồng ngoại Luật Bảo vệ môi trường năm

2014 quy định KNK là các khí trong khí quyển gây ra sự nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu

Trang 14

Các KNK tiêu biểu có thể kể đến như: Dioxit Cacbon (CO2) là loại KNK chiếm tới một nửa khối lượng các KNK và đóng góp tới 60% trong việc làm tăng nhiệt độ khí quyển; Mê tan (CH4) là loại khí quan trọng thứ hai trong các KNK do hoạt động của con người gây ra; Ôzôn đối lưu là một loại KNK quan trọng đứng hàng thứ ba sau khí CO2 và CH4, ôzôn được tạo ra trong tự nhiên và trong các hoạt động của con người, từ động cơ ô tô, xe máy hoặc các nhà máy điện, đối với tầng đối lưu việc tăng ôzôn cũng có hại như các KNK khác; Nitơ (N2O); Chlorofluorocarbons (CFC) là các sản phẩm từ con người tạo ra, là loại hoá chất được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị làm lạnh như: tủ lạnh, điều hoà không khí, các loại máy lạnh, các bình xịt mỹ phẩm, tẩy rửa linh kiện điện tử, từ năm 2010 trở đi, ngừng sản xuất các chất CFC trên toàn thế giới theo Nghị định thư Montreal; Hơi nước (H2O)….[59,tr.3]

1.1.2 Bi ến đổi khí hậu

Theo định nghĩa tại khoản 2 Điều 1 Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) nghĩa là biến đổi của khí hậu được quy cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được

BĐKH là hiện tượng tự nhiên của thiên nhiên, tuy nhiên, BĐKH được đề cập đến ở đây không phải là sự biến đổi khí hậu tự nhiên mà là BĐKH hiện đại - BĐKH với các biển hiện chính là sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng, chủ yếu do các hoạt động kinh tế-xã hội của con người gây ra phát thải quá mức vào khí quyển các khí gây HƯNK [6, tr.3] Nguyên nhân cơ bản của BĐKH hiện đại là sự gia tăng quá mức lượng phát thải KNK dẫn đến sự gia tăng nồng độ KNK trong khí quyển Ngay trong lời nói đầu của UNFCCC đã khẳng định vấn đề BĐKH hiện nay mà chúng ta quan tâm

“Những hoạt động của con người đã và đang làm tăng thực sự nồng độ các chất KNK trong khí quyển, bằng những sự tăng ấy đẩy mạnh HƯNK tự nhiên và tính trung bình, điều đó sẽ dẫn dến sự nóng lên thêm của bề mặt và khí quyển Trái đất và có thể ảnh hưởng có hại đến các hệ sinh thái tự nhiên và con người”

Trang 15

1.1.3 Gi ảm nhẹ

Giảm nhẹ được hiểu là những thay đổi hoặc bổ sung về kỹ thuật làm giảm tổng lượng phát thải hoặc lượng phát thải trên một đơn vị sản phẩm ví dụ như giảm phát thải KNK

1.1.4 Thich ứng

Thích ứng được hiểu là các sáng kiến và giải pháp giảm nhẹ thiệt hại của các

hệ tự nhiên và con người nhằm ngăn chặn những ảnh hưởng thực tế hoặc tiềm tàng của BĐKH Có nhiều phương thức thích ứng khác nhau, bao gồm thích ứng cá nhân

và thích ứng cộng đồng, thích ứng tự nguyên và thích ứng có kế hoạch, chẳng hạn, bồi đắp đê sông, đê biển, trồng cây chống xói mòn

1.1.5 Ứng phó với biến đổi khí hậu

Là cụm từ được nhắc đến nhiều khi nói về biến đổi khí hậu, tuy nhiên, trong các văn bản pháp quy, cũng như tài liệu nghiên cứu, kể cả UNFCCC hay KP cũng chưa đưa ra khái niệm ứng phó với biến đổi khí hậu mà chỉ đề cập nội dung của ứng phó với biến đổi khí hậu, các hoạt động cần phải thực hiện để ứng phó với biến đổi khí hậu gồm giảm nhẹ biến đổi khí hậu và thích ứng với biến đổi khí hậu và chỉ đưa

ra khái niệm đối với hai hoạt động này Đến năm 2014, khi Quốc hội khoá XIII thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, lần đầu tiên trong một văn bản quy phạm pháp luật đưa ra giải thích về “ứng phó với biến đổi khí hậu” Khoản 26 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường quy định “ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu”

1.2 Các cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận và các điều ước quốc tế về BĐKH mà Việt Nam ký kết, gia nhập

1.2.1 C ơ sở thực tiễn

BĐKH đang diễn ra ở quy mô toàn cầu, khu vực và ở Việt Nam do hoạt động của con người làm phát thải quá mức KNK vào bầu khí quyển BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu

Trang 16

như lương thực, nước, năng lượng, các vấn đề về an toàn xã hội, văn hoá, ngoại giao và thương mại Là một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của Biến đổi khí hậu, Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề có ý nghĩa sống còn BĐKH đã và đang tác động đến sản xuất, đời sống và môi trường tại

Việt Nam

1.2.1.1 Tình hình phát thải KNK ở Việt Nam

Nồng độ KNK trong khí quyển đã tăng lên đáng kể so với thời kỳ tiền công nghiệp Các khí thải gây HƯNK có thể tồn tại trong bầu khí quyển khá bền vững, kéo dài đến hàng trăm năm Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn nghiên cứu

để hình thành hệ thống kiểm kê KNK quốc gia Dự kiến, hệ thống này được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 2016 Là một trong những hoạt động chính của Dự

án “Tăng cường năng lực kiểm kê quốc gia KNK tại Việt Nam” (2010-2014) do Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ, kiểm kê quốc gia KNK năm 2010 được thực hiện từ năm 2013 đến năm 2014 Kiểm kê KNK năm 2010 được tiến hành đối với các ngành và lĩnh vực phát thải nhiều nhất, bao gồm năng lượng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp, sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp, chất thải Tại thời điểm hiện tại chưa có báo cáo về tình hình phát thải KNK

ở Việt Nam từ sau báo cáo năm 2010

Theo Báo cáo kiểm kê KNK năm 2010, tổng lượng phát thải KNK tại Việt Nam là 246, 8 triệu tấn CO2 tương đương nếu tính cả lĩnh vực năng lượng, các quá trình công nghiệp và sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệm (LULUCF) Nếu không tính LULUCF, tổng lượng phát thải KNK là 266 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó phát thải trong năng lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất: 53,05%, tiếp theo là nông nghiệp: 33,20% Phát thải từu các quá trình công nghiệp và chất thải tương ứng là 7,79% và 5,78%

Trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2010, tổng phát thải KNK ở Việt Nam (bao gồm LULUCF) tăng nhanh từ 103,8 triệu tấn CO2 tương đương lên 246,8 triệu tấn CO2 tương đương, trong đó lĩnh vực năng lượng tăng nhanh nhất từ 25, 6 triệu

Trang 17

tấn CO2 tương đương lên 141, 2 triệu tấn CO2 tương đương và cũng là lĩnh vực phát thải nhiều nhất năm 2010 Tiếp theo là lĩnh vực chất thải cũng tăng nhanh từ 2,6 triệu tấn CO2 tương đương lên 15,4 triệu tấn CO2 tương đương Phát thải trong lĩnh vực nông nghiệp tăng chậm Riêng LULUCF đã chuyển từ phát thải sang hấp thụ KNK.

a) Phát thải KNK trong ngành năng lượng

Tại Việt Nam, phát thải KNK trong lĩnh vực năng lượng bao gồm phát thải

từ quá trình đốt nhiên liệu và phát thải do phát tán trong quá trình khai thác, vận chuyển nhiên liệu

Phát thải KNK do đốt nhiên liệu

Phát thải KNK do đốt nhiên liệu trong năm 2010 là 124.275 nghìn tấn CO2tương đương, trong đó phát thải nhiều nhất là các phân ngành công nghiệp năng lượng (41.057,9 nghìn tấn), công nghiệp sản xuất và xây dựng (30.077,6 nghìn tấn)

và giao thông vận tải (31.817,9 nghìn tấn)

Phát thải KNK do phát tán

Phát thải KNK do phát tán là phát thải KNK xảy ra trong quá trình khai thác,

xử lý, bảo quản và vận chuyển nhiên liệu hoá thạch đến điểm sử dụng cuối cùng Lượng phát thải KNK do phát tán năm 2010 là 16.895,8 nghìn tấn CO2 tương đương, trong đó, phát thải từ khai thác thanh (hầm lò và lò lộ thiên) là 2.243,1 nghìn tấn CO2 tương đương và từ khai thác dầu, khí đốt tự nhiên là 14.652,8 nghìn tấn

CO2 tương đương

Tổng phát thải KNK năm 2010 trong lĩnh vực năng lượng là 141.170,8 nghìn tấn CO2 tương đương

b) Phát thải KNK từ các quá trình công nghiệp

Phát thải KNK trong lĩnh vực các quá trình công nghiệp được ước tính từ các hoạt động công nghiệp không liên quan đến lĩnh vực năng lượng Nguồn phát thải chính là từ các quá trình chuyển đổi về hoá học hay vật lý của các loại nguyên liệu

Trang 18

thô Đối với năm 2010, việc tính toán phát thải KNK từ lĩnh vực này chỉ được thực hiện cho hai ngành sản xuất xi măng và sản xuất vôi Với các ngành khác như sản xuất NH3, sản xuất các-bua (trong ngành công nghiệp hoá chất) và sản xuất thép (trong ngành luyện kim) không tính phát thải vì số liệu về nhiên liệu dùng trong các phân ngành trên đã được tính chung trong lĩnh vực năng lượng Tổng lượng CO2

phát thải từ lĩnh vực các quá trình công nghiệp năm 2010 là 21.172 nghìn tấn, trong

đó, từ sản xuất xi măng là 20.077 nghìn tấn, chiếm 94,5%; sản xuất vôi là 1.095 nghìn tấn chiếm 5,2%

c) Phát thải KNK từ lĩnh vực nông nghiệp

Kiểm kê KNK cho lĩnh vực nông nghiệp được thực hiện cho sáu nguồn phát thải bao gồm: quá trình tiêu hoá thức ăn, quản lý phân bón, canh tác lúa, đất nông nghiệp, đốt đồng cỏ và đốt phụ phẩm nông nghiệp.Tổng phát tải KNK năm

2010 trong lĩnh vực nông nghiệp là 88.354,77 nghìn tấn CO2 tương đương, trong

đó, phát thải từ canh tác lúa nước chiếm 50,49%, từ quá trình tiêu hoá thức ăn 10,72%, từ quản lý phân bón 9,69%, từ đất nông nghiệp 26, 95%, từ đốt phụ phẩm nông nghiệp 2,15%

d) Phát thải KNK từ sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp

Phát thải/hấp thụ KNK trong lĩnh vực LULUCF chủ yếu xảy ra trong quá trình thay đổi trữ lượng rừng và sinh khối, quá trình sử dụng dất và thay đổi sử dụng đất Theo hướng dẫn thực hành tốt GPG-LULUCF năm 2003, trên lãnh thổ Việt Nam, đất được phân thành sáu loại gồm đất rừng, đất trồng trọt, đất đồng cỏ, đất ngập nước, đất ở và các loại đất khác Mỗi loại đất được chia thành hai nhóm là đất nguyên trạng và đất đã qua chuyển đổi mục đích sử dụng Phát thải/hấp thụ KNK trong lĩnh vực này là quá trình thay đổi trữ lượng các-bon trong: sinh khối tươi (sinh khối trên mặt đất, sinh khối dưới mặt đất); chất hữu cơ (cây chết, cành, lá rơi rụng) và đất Tổng số diện tích đất đang sử dụng, đất đã thay đổi mục đích sử dụng trong năm 2010 là 33,095 triệu ha, trong đó, đất rừng là 13,388 triệu ha, chiếm 40,45% và đất trồng trọt là 10, 075 triệu ha, chiếm 30,44%

Trang 19

e) Phát thải KNK từ chất thải

Phát thải KNK trong lĩnh vực chất thải từ năm nguồn chính: bãi chôn lấp rác thải, xử lý nước thải công nghiệp, xử lý nước thải sinh hoạt, chất thải của người và đốt chất thải Bãi chôn lấp chủ yếu để xử lý rác thải từ các khu đô thị Tổng hợp số liệu từ Báo cáo hiện trạng môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh/thành trên toàn quốc cho thấy từ 2006 đến 2010 tổng khối lượng rác thải đô thị được xử lý tại các bãi chôn lấp tăng bình quân khoản 10%/năm Trong thành phần chất thải, thức ăn và chất hữu cơ chiếm 59,2% đồ nhựa và các thức khác chiếm 30,9% Lượng KNK phát thải trong quá trình xử lý nước thải công nghiệp phụ

thuộc vào khối lương nước thải và lượng COD trong nước thải

Tổng lượng phát thải KNK từ chất thải trong năm 2010 là 15.352 nghìn tấn

CO2 và tương đương, trong đó, chủ yếu phát thải từ nước thải sinh hoạt là 6.827 nghìn tấn CO2 tương đương, chiếm 44,5%, phát thải từ các bãi chôn lấp rác là 5 triệu tấn CO2 tương đương, chiếm 32,6%

1.2.1.2 Các tác động của BĐKH

BĐKH tác động lên tất cả các lĩnh vực, các châu lực và vùng lãnh thổ trên phạm vi toàn cầu.Tuy nhiên, mức độ tác động của BĐKH có khác nhau tuỳ thuộc vào những đặc trưng về điều kiện địa lý, trình độ phát triển và các hành động ứng phó của từng vùng, miền, từng quốc gia cụ thể Việt Nam là nước chịu ảnh hưởng lớn của BĐKH BĐKH tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực và các vùng miền của Việt Nam Từ năm 2009, trong khuôn khổ hỗ trợ của Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đã có Báo cáo

“Biến đổi khí hậu tại Việt Nam” Báo cáo nêu rõ các tác động của BĐKH đối với Việt Nam, theo đó, các lĩnh vực chịu tác động chủ yếu của BĐKH: tài nguyên nước, lâm nghiệp, thuỷ sản, đa dạng sinh học, năng lượng, giao thông, sức khoẻ con người Việc nghiên cứu các tác động này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra được những giải pháp ƯPBĐKH

Trang 20

a) Tác động của BĐKH đối với tài nguyên nước

Việt Nam nằm ở hạ lưu hai sông quốc tế lớn là sông Hồng và sông Mê Công Sông Hồng có diện tích lưu vực 169.000 km2, hàng năm chuyển ra biển lượng dòng chảy 138 tỷ m3 và sông Mê Công có diện tích lưu vực 795.000 km2, hàng năm có lượng dòng chảy đổ vào Biển Đông 505 tỷ m3 Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này hiện phân bố không đồng đều, đặc biệt, trong điều kiện biến đổi khí hậu lượng mưa ngày càng giảm đi rõ rệt trong mùa khô, hạn hán, lũ thụt, kèm theo sự bùng nổ dân

số khiến nguy cơ thiếu nước ngày càng trở lên gay gắt Đặc biệt, tuy lượng mưa toàn năm có tăng nhưng luọng nước tổn thất do bốc thoát hơi trên lưu vực tăng nhiều do nhiệt độ tăng, dẫn đến lượng dòng chảy không tăng nhanh

BĐKH gây ra sự thay đổi về thời gian mưa và lượng mưa Theo Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam thì vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, nhiệt độ trung bình tằng từ 2oC đến 3oC trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tỉnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác Nhiệt độ thấp nhất trung bình tăng từ 2,2 đến 3,0oC, nhiệt đọ cao nhất trung bình tăng từ 2,0 đến 3,2oC Số ngày có nhiệt độ cao nhất trên 35oC tăng từ 15 đến 30 ngày trên phần lớn diện tích cả nước Về lượng mưa thì vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2 đến 7%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng Ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ Tuy nhiên, ở các khu vực khác nhau lại có thể xuất hiện ngày mưa dị thường với lượng mưa gấp đôi so với kỷ lục hiện nay

Những thay đổi nhiệt độ và lượng mưa có thể dẫn đến thay đổi lớn tỷ lệ dòng chảy, tăng khả năng và mức độ nghiêm trọng của hạn hán và lũ lụt Có thể thấy tác động của BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến Việt Nam trong năm 2015 là đợt hạn hán kéo dài tại Ninh Thuận Hạn hán kéo dài gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, đã có trên 50.000 người dân bị thiếu đói, thiếu nước uống Hoa mày

Trang 21

bị thiệt hại nặng nề, hơn 2.000 ha đất phải tạm ngưng sản xuất, trong khi đó, hạn hán kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến hàng chục ngàn đàn gia súc thiếu nước uống, gần 500 con bị chế do suy kiệt [61]… Các cơn bão đổ bộ với cường độ mạnh gây ra những thiệt hại về người và kinh tế lớn, uy hiếp đến an toàn hệ thống hồ chứa và gần 3000km của hệ thống đê bảo vệ cho đồng bằng

Vấn đề chất lượng nước có thể tăng lên, nơi có ít dòng chảy tăng nguy cơ ô nhiễm từ các nguồn tự nhiên và con người BĐKH ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn tài nguyên nước Nguồn nước mặt khan hiếm trong mùa khô và gây hạn hán và quá dư thừa trong mùa mưa gây lũ lụt Nguồn nước ngầm bị suy giảm do thiếu nguồn bổ sung

Các đánh giá tác động của ĐBKH đến tài nguyên nước tại 7 lưu vực sông: sông Hồng, Thái Bình, Cả, Thu Bồn, Ba, Đồng Nai và Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy tác động mạnh mẽ nhất sẽ xảy ra ở Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng-Thái Bình Theo Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam thì vào cuối thế kỷ 21, theo kịch bản phát thải trung bình, nước biển dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiêng Gian trong khoản từ 62 đến 82 cm, thấp nhất ở vùng Móng Cái khoảng từ 49 đến 64cm; trung bình Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 57 đến 73cm Theo kịch bản phát thải cao, vào cuối thế kỷ 21, nước biển dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 85 đến 105 cm, thấp nhất ở khu vực từ Móng Cái đến Hòn Dấu trong khoảng từ 66 đến 85cm; trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng 78 đến 95cm Nếu nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng Sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị ngập

b) Tác động của BĐKH đến đa dạng sinh học của Việt Nam

Việt Nam được xem là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng do BĐKH toàn cầu Các nghiên cứu cho thấy dự kiến hậu quả của BĐKH sẽ tác động mạnh lênh hai vùng đông bằng lớn là đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, các vùng dọc bờ biển và các hệ sinh thái rừng cả nước

Trang 22

Hai vùng đồng bằng ven biển nước ta, trong đó có rừng ngập mặn và hệ thống đất ngập nước rất giàu về các loại sinh vật là những hệ sinh thái rất nhạy cảm

và dễ bị tổn thương Mực nước biển dân lên cùng với cường độ của bão tố, thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước sẽ bị đe doạ đến sự suy thoái và sống còn của rừng ngập mặn và các loài sinh vật rất đa dạng trong đó Khi mực nước biển dâng lên cao, khoảng một nửa trong số 68 khu đất ngập nước có tầm quan trọng mức quốc gia, sẽ bị ảnh hưởng nặng, nước biển dâng sẽ xâm nhập sau vào nội địa, giết chết nhiều loài động vật và thực vật nước ngọt của hệ sinh thái quan trọng này và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt và hệ thống trồng trọt của nhiều vùng Theo đánh giá của ICEM, 36 khu bảo tồn, trong đó có 8 vườn quốc gia, 11 khu dự trữ thiên nhiên sẽ nằm trong khu vực bị ngập

Hệ sinh thái biển sẽ bị tổn thương Các rạn san hô là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản quan trọng và nhiều loài sinh vật biển khác, là lá chắn chống xói mòn

bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn, sẽ bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng lên và đồng thời mưa nhiều làm cho nước bị ô nhiễm phù sa và cả các hoá chất nông nghiệp nữa từ cửa sông đổ ra Nước ta có đa dạng sinh học cao, nhưng đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau BĐKH, cùng với các hệ quả của nó như lũ, lụt, hạn hán, cháy rừng, xói mòn và sụt lở đất sẽ thúc đẩy cho sự suy thoái đa dạng sinh học nhanh hơn, trầm trọng hơn, nhất là những hệ sinh thái rừng nhiệt đới không còn nguyên vẹn và các loài đang nguy cấp với số lượng cá thể ít

c) Đối với các lĩnh vực nông, lâm nghiệp

Tác động của BĐKH làm cho phạm vi phân bố các cây trồng nhiệt đới mở rộng và cây trồng Á nhiệt đới thu hẹp lại; ngập úng và hạn hán xuất hiện với tần suất cao hơn; một phần đáng kể diện tích đất trồng trọt vùng đồng bằng duyên hải, châu thổ sông Hồng, sông Mê Kông bị ngập mặn do nước biển dâng ; diện tích rừng ngập mặn bị thu hẹp; rừng nguyên sinh bị thay đổi ranh giới; nguy cơ tuyệt chủng một số loài động, thực vật hoang dã; gia tăng nguy cơ cháy rừng, sâu bệnh, dịch bệnh ; địa bàn sinh sống của một số loài thủy sản nước ngọt bị thu hẹp; xuất hiện

Trang 23

hiện tượng phân tầng nhiệt độ trong thủy vực nước đứng, ảnh hưởng đến quá trình sinh sống của các loài thuỷ sinh

d) Tác động đối với ngành năng lượng và giao thông

Nước biển dâng ảnh hưởng đến các dàn khoan dầu trên biển, hệ thống các công trình ven biển; dòng chảy các con sông có thủy điện bị ảnh hưởng Ngoài ra, nhiệt độ tăng cao sẽ tăng chi phí thông gió, làm mát các hầm lò, giảm hiệu suất của các nhà máy điện; tiêu thụ điện cho sinh hoạt gia tăng

e) Tác động đối với sức khỏe con người

Nhiệt độ tăng lên làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khỏe con người, dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc vectơ truyền nhiễm theo mùa

Ở miền Bắc, mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người BĐKH làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan

1.2.2 C ơ sở lý luận

Pháp luật về BĐKH ở Việt Nam được hình thành dựa trên cơ sở lý luận là các quan điểm của Đảng, nhà nước về vấn đề này dưới các hình thức Nghị quyết của Đảng, các chính sách, chiến lược về Biến đổi khí hậu Nội dung các chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ được luật hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật như: luật, pháp lệnh, các nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Thông tư liên tịch Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của vấn

đề BĐKH cũng như ƯPBĐKH, Đảng và Nhà nước đã ban hành những chính sách

cụ thể, kịp thời, trong số đó phải kể đến Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 24-NQ/TW), Chiến lược quốc gia về BĐKH được ban hành kèm theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng

Trang 24

Chinh phủ Đây là các chủ trương, định hướng cơ bản được xây dựng nhằm ƯPBĐKH tại Việt Nam

a) Nghị quyết của Đảng về ứng phó với biến đổi khí hậu

Trước những yêu cầu, thách thức đặt ra đối với vấn đề BĐKH, ngày 03 tháng 6 năm 2013, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW Nghị quyết này thể hiện quan điểm của Đảng đối với vấn đề BĐKH Nghị quyết đã đưa ra 02 mục tiêu tổng quát và 03 mục tiêu

cụ thể cho việc ƯPBĐKH, 03 nhóm nhiệm vụ cơ bản và 05 giải pháp để ứng phó với BĐKH

- Ba nhiệm vụ gồm: thứ nhất, xây dựng năng lực cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với BĐKH; thứ hai, đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặng do nước biển dâng; thứ ba, giảm nhẹ phát thải KNK; bảo vệ, phát triển các hệ sinh thái tự nhiên, tăng cường khả năng hấp thụ KNK

- 05 giải pháp, trong đó đối với vấn đề hoàn thiện thể chế tập trung vào:

+ Chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ƯPBĐKH, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực có liên quan như đầu tư, thuế, xử lý vi phạm hành chính, dân sự… theo hướng bổ sung, kết hợp khắc phục chồng chéo, xung đột pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ

+ Hoàn thiện có chế giải quyết tranh chấp, xung đột trong ƯPBĐKH, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Sửa đổi, bổ sung các chế tài hành chính, kinh tế, hình sự… về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo đảm đủ sức răn đe Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật

+ Nghiên cứu kiện toàn tổ chức bộ máy và hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động có hiệu quả mọi nguồn lực theo hướng tổng hợp, thống nhất, tập trung đầu mối, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, khắc phục triệt để tình trạng phân tán, chồng

Trang 25

chéo trong quản lý nhà nước về ƯPBĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng; cơ chế, chính sách khuyến khích xã hội hoá; cơ chế để nhân dân giám sát có hiệu quả việc quản lý khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với BĐKH

+ Thực hiện chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tham gia hoạt động ƯPBĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; hỗ trợ người dân trồng và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển, người dân bị ảnh hưởng do khai thác tài nguyên thái quá

+ Có lộ trình đến năm 2020 xoá bỏ cơ chế, chính sách hỗ trợ giá đối với nhiên liệu hoá thách; thực hiện bù giá 10 năm đầu đối với các dự án phát triển năng lượng mói, năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, tái chế chất thải, sản xuất điện từ chất thải

Để triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 23 tháng 01 năm 2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08/NQ-CP

Nghị quyết xác định nhiệm vụ trọng tâm về ƯPBĐKH gồm:

- Xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, thích ứng với BĐKH;

- Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống, hạn chế tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do nước biển dâng;

- Gỉảm nhẹ phát thải KNK; tăng cường khả năng hấp thụ KNK của các hệ sinh thái: thực hiện kiểm kê quốc gia KNK định kỳ 5 năm một lần và thông báo công khai; thúc đẩy các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK phù hợp với điều kiện nước ta trên cơ sở huy động hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ từ các nước

và các tổ chức quốc tế; thúc đẩy sử dụng tiết kiệm năng lượng; phát triển và sử dụng năng lượng tái tạo; đẩy mạnh các hoạt động chống mất rừng, suy thoái rừng; bảo vệ các bể hấp thu KNK tự nhiên

Trang 26

Nhiệm vụ hoàn thiện, đổi mới chính sách, pháp luật, kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về ƯPBĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường tập trung vào một số trọng tâm:

- Sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Thuỷ sản; xây dựng dự án luật về tài nguyên và môi trường biển, về thủy lợi, về khí tượng thuỷ văn, về đo đạc và bản đồ… và các luật có liên quan nhằm luật hoá các quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện các nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết số 24-NQ/TW

- Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý, tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ nhà nước từ Trung ương đến địa phương theo hướng tập trung, tổng hợp và thống nhất đầu mối, phát huy vai trò của cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trên các lĩnh vực BĐKH

- Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy

sử dụng công nghệ, thiết bị tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, khai thác,s sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế trong hoạt động sản xuất và dịch vụ

- Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng; cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột; tăng cường chế tài xử lý vi phạm; đẩy mạnh xã hội hoá trong ứng phó với BĐKH, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Nghị quyết số 24-NQ/TW cũng như Nghị quyết số 08/NQ-CP là những cơ sở quan trọng để Quốc hội, Chính phủ cũng như các Bộ, ngành xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về biến đổi khí hậu Trong thời gian qua, Quốc hội đã ban hành một loạt các luật có liên quan như: Luật Tài nguyên nước, Luật Đất đai, Luật Phòng, tránh thiên tai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên, môi trường biển

và hải đảo, Luật Khí tượng thuỷ văn…

b) Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu

Chiến lược quốc gia về BĐKH được ban hành kèm theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chinh phủ Quan điểm

Trang 27

chiến lược nêu rõ việc ứng phó với BĐKH phải tiến hành đồng thời các hoạt động thích ứng và giảm nhẹ phát thải KNK để ứng phó hiệu quả với BĐKH, trong đó ở thời kỳ đầu thích ứng là trọng tâm; ứng phó với BĐKH của Việt Nam phải gắn liền với phát triển bền vững, hướng tới nền kinh tế cac-bon thấp; là trách nhiệm của toàn

hệ thống; phát huy vai trò chủ đạo trong quản lý, điều hành của Nhà nước, nâng cao tính năng động, sáng tạo và trách nhiệm của khu vực doanh nghiệp, phát huy cao nhất sự tham gia và giám sát của các đoàn thể chính trị xã hội, nghề nghiệp và cộng đồng dân cư; phát huy nội lực là chính, tận dụng hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế

Mục tiêu của Chiến lược là đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng,

an ninh nguồn nước, xoá đói giảm nghè, bình đẳng giới, an sinh xã hội, sức khoẻ cộng đồng, nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu Nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển bền vững; giảm nhẹ phát thải KNK và tăng khả năng hấp thụ KNK dần trở thành chi tiêu bắt buộc trong phát triển kinh tế-xã hội Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với BĐKH của các bên liên quan; phát triển bền vững tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện thể chế, chính sách, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính góp phần nâng cao sực cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế của Việt Nam; tận dung các cơ hội từ BĐKH để phát triển kinh tế-xã hội; phát triển và nhân rộng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với hệ thống khí hậu; góp phần tích cực với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với BĐKH; tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam để ứng phó hiệu quả với BĐKH Như vậy, hoàn thiện thể chế về BĐKH là một trong những mục tiêu của Chiến lược này

Chiến lược đưa ra các nhiệm vụ cần phải thực hiện để ứng phó với BĐKH gồm:

- Chủ động ứng phó với thiên tại và giám sát khí hậu trong đó gồm 02 nhiệm

vụ cụ thể là cảnh báo sớm và giảm thiệt hại rủ ro thiên tai Cần xây dựng và vận hành có hiệu quả hệ thống giám sát biến đổi khí hậu và nước biển dâng đáp ứng yêu

Trang 28

cầu xây dựng bản đồ ngập lụt, bản đồ rủi ro thiên tai, khí hậu theo các kịch bản BĐKH; hiện đại hoá hệ thống quan trắc và công nghệ dự báo KTTV bảo đảm cảnh báo sớm, dự báo sớm các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan; mở rộng và tăng cường hệ thống quan trắc và giám sát khí tượng thuỷ văn với sự tham gia rộng rãi của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà nước trên cơ sở thống nhất quản lý về chuyên môn và thông tin số liệu của ngành khí tượng thuỷ văn Giảm thiệt hại do rủi ro thiên tai cần phải rà soát, xây dựng các quy hoạch phát triển, quy chuẩn xây dựng trong vùng thường xuyên bị thiên tai phù hợp với điều kiện gia tăng thiên tai

do BĐKH; nâng cao chất lượng rừng, trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo đảm khai thác hiệu quả các loại rừng để duy trình và nâng cao khả năng phòng, chống thiên tai, chống sa mạc hoá, xâm thực, suy thoái đất; tăng cường bảo vệ, quản

lý và phát triển rừng ngập mặn, các hệ sinh thái đất ngập nước…

- Đảm bảo an ninh lương thực và tài nguyên nước, trong đó có nhiệm vụ xây dựng các cơ chế, chính sách, tăng cường hệ thống bảo hiểm, chia sẻ rủi ro trong nông nghiệp; xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn quy định khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, và đa mục tiêu tài nguyên nước thích ứng với điều kiện BĐKH và nước biển dâng; nâng cao năng lực quản lý tài nguyên nước; tăng cường thực hiện quy hoạch, triển khai đồng bộ các biện pháp phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia trong bối cảnh BĐKH…

- Ứng phó tích cực với nước biển dâng phù hợp với các vùng dễ bị tổn thương: nghiên cứu, đánh giá, dự báo mức độ, tác động và tính dễ bị tổn thơng do nước biển dâng tới các lĩnh vực, khu vực và cộng đồng; bảo vệ và phát triển các vùng hải đảo ứng phó với BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng…

- Bảo vệ, phát triển bền vững rừng, tăng cường hấp thụ KNK và bảo tồn đa dạng sinh học: đẩy nhanh tiến độ các dự án trồng rừng, tái trồng rừng, khuyến khich doanh nghiệp đầu tư vào trồng rừng kinh tế Bảo tồn đa dạng sinh học, chú trọng bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái, các giống loài, có sức chống chịu tốt với các thay đổi khí hậu; bảo tồn nguồn gen và các giống loài có khả năng bị tuyệt chủng do

Trang 29

tác động của BĐKH Xây dựng và thực hiện các chương trình về giảm phát thải KNK thông qua những nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững, bảo tồn và nâng cao khả năng hấp thụ cac-bon của rừng, kết hợp với duy trì

và đa dạng hoá sinh kế dân cư các vùng, địa phương, hỗ trợ thích ứng với BĐKH; xây dựng và triển khai các chương trình bảo vệ, quản lý bền vững diện tích rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất hiện có…

- Giảm nhẹ phát thải KNK góp phần bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất bằng các nhiệm vụ: phát triển nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng, trong đó, nhấn mạnh, nghiên cứu xây dựng hệ thống định giá năng lượng phù hợp nhằm sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và khuyến kích phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo Đến năm 2015, ban hành hệ thống định giá năng lượng mới Trong sản xuất công nghiệp và xây dựng, nghiên cứu triển khai ứng dụng công nghệ mới ít phát thải KNK trong sản xuất, đẩy mạnh thay thế nhiên liệu hoá thạch bằng các nhiên liệu phát thải các-bon thấp; ứng dụng sâu rộng sản xuất sạch hơn; xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn

kỹ thuật, thiết bị sử dụng hiệu quả năng lượng trong sản xuất vật liệu và các công trình xây dựng Trong giao thông vận tải, sử dụng nhiên liệu ít phát thải KNK cho phương tiện giao thông vận tải; xây dựng và áp dụng các cơ chế, chính sách khuyến khích sử dụng các phương tiện giao thông tiết kiện năng lượng, loại dần các phương tiện tiêu tốn nhiêu liệu Trong nông nghiệp, thay đổi phương thức canh tác, thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp xanh, ít phát thải, đảm bảo phát triển bền vững, an ninh lương thực Đối với quản lý chất thải, giảm thiểu chất thải, tái sử dụng, tái chế chất thải nhằm giảm phát thải KNK

- Điều chỉnh, lồng ghép vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch

- Đối với hoàn thiện và tăng cường thể chế: thứ nhất, thành lập Uỷ ban quốc gia về BĐKH; thứ hai, nghiên cứu xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách, pháp luật về BĐKH phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, hài hoà với các chính sách toàn cầu và các điều ước quốc tế về BĐKH mà Việt Nam tham gia; thứ

Trang 30

ba, tăng cường sự tham gia của toàn hệ thống chính trị trong tổ chức chỉ đạo, phối hợp liên ngành về ứng phó với BĐKH; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý các vấn đề BĐKH từ trung ương đến địa phương Thứ tư, nghiên cứu hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và nguồn nhân lực để ứng phó hiệu quả với BĐKH và hội nhập quốc tế; thứ năm, xây dựng và triển khai hệ thống theo dõi, báo cáo và thẩm định trong các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK trong nước và quốc tế; thứ sáu, xây dựng đồng bộ các cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp, các nhà khoa học vào các hoạt động thích ứng với BĐKH

và giảm nhẹ phát thải KNK

- Xây dựng cộng đồng ứng phó hiệu quả với BĐKH thông qua: tăng cường năng lực và sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động ƯPBĐKH; nâng cấp hệ thống chăm sóc sức khoẻ cộng đồng ứng phó hiệu quả với BĐKH; nâng cao nhận thức, giáo dục và đào tạo

- Phát triển khoa học - công nghệ tiên tiến trong ƯPBĐKH; tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế nâng cao vị thế quốc gia trong các vấn đề về BĐKH: tăng cường hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong quá trình thực hiện Công ước khung của Liên Hợp quốc về BĐKH và các điều ước quốc tế có liên quan; tích cực, chủ động, sáng tạo xây dựng các thoả thuận, hiệp định đa phương và song phương về BĐKH Rà soát, bổ sung hệ thống pháp luật, các cơ chế chính sách phù hợp với luật pháp và các thoả thuận, hiệp định quốc tế về BĐKH mà Việt Nam là thành viên

- Đa dạng hoá các nguồn lực tài chính và tập trung có hiệu quả, trong đó, nghiên cứu xây dựng, áp dụng các cơ chế, thiết chế tài chính phù hợp với các chính sách quốc tế về BĐKH nhằm huy động và phát huy hiệu quả các nguồn vốn quốc tế song phương, đa phương cho ứng phó tích cực với các tác động của BĐKH

Công ước Vienna ngày 23 tháng 5 năm 1969 về điều ước (Điều 1 Đ1-a) định nghĩa “Khái niệm điều ước được hiểu là một thoả thuận quốc tế thành văn giữa các

Trang 31

quốc gia và được điều chỉnh bởi luật quốc tế, thể hiện trong một văn bản duy nhất hoặc hai hay nhiều văn bản liên quan, bất kể tên gọi riêng biệt nào của nó” Theo khoản 1 Điều 2 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam

“Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thoả thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập là thoả thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân dan Nhà nước hoặc nhân dân Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác” Các điều ước quốc tế được coi như “phương tiện phát triển sự hợp tác hoà bình giữa các quốc gia” (Lời mở đầu Công ước Vienna ngày 23 tháng 5 năm 1969 về luật điều ước) Lý luận và thực tiễn

đã chứng minh rằng, điều ước quốc tế ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và xây dựng luật pháp quốc tế, trong củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam tham gia và thực thi các điều ước quốc tế dựa trên nguyên tắc cơ bản của luật quốc

tế về tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế và trên cơ sở có đi có lại, vì hoà bình,

ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới

BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ

21 BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp

và các hệ thống kinh tế-xã hội trong tương lai

Biến đổi khí hậu và vấn đề không chỉ của một quốc gia mà là vấn đề toàn cầu

và ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của thế giới Giải quyết vấn đề này không chỉ một quốc gia có thể làm được mà phải có sự chung tay của toàn thế giới Hàng năm, hội nghị các bên về BĐKH (COP) vẫn được tổ chức với sự tham gia của hơn 100 quốc gia trên thế giới để tìm ra một giải pháp chung cho vấn đề này Các điều ước quốc tế về BĐKH đã được xây dựng và thông qua tại các hội nghị này Trong điều kiện BĐKH đang ngày càng tác động mạnh mẽ đến trái đất, việc thực

Trang 32

thi nghiêm chỉnh các điều ước quốc tế này của các quốc gia thành viên là yêu cầu tiên quyết của quá trình chung tay ƯPBĐKH của cả thế giới Yêu cầu nội luật hoá các điều ước về BĐKH cũng chính là nghĩa vụ và nhu cầu bức xúc của từng quốc gia trước vấn đề ƯPBĐKH vì lợi ích nhân loại

Trong thời gian qua, Việt Nam là một trong những nước tham gia và thực thi tích cực các điều ước quốc tế về BĐKH Ở Việt Nam, việc nội luật hoá các điều ước quốc tế về BĐKH mà Việt Nam đã ký kế hoặc gia nhập cũng đã được quan tâm

và thực hiện từ nhiều năm nay, đặc biệt là từ năm 2008 trở lại đây Một số điều ước

có thể kể đến là: Công ước khung của Liên Hợp quốc về BĐKH (UNFCCC), Nghị định thư Kyoto (KP), Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn

a) Công ước khung của Liên Hợp quốc về BĐKH (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto (KP)

UNFCCC là một điều ước quốc tế ra đời tại Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất

tổ chức ở Rio de Janeiro từ ngày 3 đến ngày 14 tháng 6 năm 1992 Mục tiêu chính của Công ước (Điều 2) là “sự ổn định các nồng độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Mức đó phải được đạt tới trong một khung thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích nghi một các tự nhiên với BĐKH, bảo đảm rằng việc sản xuất lượng thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế tiến triển một cách bền vững”

UNFCCC phân chia các nước thành 2 nhóm: các Bên thuộc Phụ lục I - các nước phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi là các nước có lượng phát thải khí nhà kính lớn trong lịch sử, gây ra biến đổi khí hậu và các Bên không thuộc Phụ lục I gồm các nước đang phát triển

Nguyên tắc của UNFCCC là các Bên phải tham gia bảo vệ hệ thống khí hậu

vì lợi ích chung của nhân loại trên cơ sở công bằng và phù hợp với "những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt" Nguyên tắc này đòi hỏi các nước phát triển thực hiện cam kết giảm phát thải các KNK duy trì ở mức phát thải năm 1990 và hỗ trợ

Trang 33

tài chính, chuyển giao công nghệ thân thiện với môi trường cho các nước đang phát triển để xây dựng, thực hiện các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và các phương án giảm nhẹ phát thải các KNK

Các Bên tham gia UNFCCC nhận thấy cần có cam kết mạnh mẽ và cụ thể

hơn của các nước phát triển trong việc ứng phó để ngăn ngừa những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu Điều này đã được nhấn mạnh trong Hội nghị các Bên lần thứ nhất (COP-1) họp ở Berlin, Cộng hoà liên ban Đức vào tháng 5 năm

1995 Sau một quá trình đàm phán kéo dài, Nghị định thư Kyoto của UNFCCC đã được thông qua tại Hội nghị các Bên lần thứ 3 (COP-3) ở Kyoto, Nhật Bản vào tháng 12 năm 1997 Theo điều khoản 25 của Nghị định thư, thời gian hiệu lực sẽ được tính sau khoảng thời gian 90 ngày kể từ khi Nghị định thư có đủ 55 quốc gia tham gia kí kết và lượng khí thải của các nước này phải chiếm ít nhất 55% lượng carbon dioxide do các nước phát triển tham gia kí kết Nghị định thư Kyoto phát thải năm 1990 Điều kiện thứ nhất được thoả mãn vào ngày 23 tháng 5 năm 2002 khi số lượng 55 nước tham gia đạt được với chữ kí của Iceland, trong khi điều kiện thứ hai phải đến ngày 18 tháng 11 năm 2004 mới đạt được khi có sự tham gia của Nga Không lâu sau đó, ngày 16 tháng 2 năm 2005, Nghị định thư Kyoto đã chính thức

có hiệu lực cho tất cả các bên tham gia kí kết

Tính đến tháng 11 năm 2007 đã có khoảng 175 nước kí kết tham gia Nghị định thư này Trong đó có khoảng 36 nước phát triển (trong đó liên minh Châu Âu được tính là một bên) được yêu cầu phải có hành động giảm thiểu khí thải nhà kính

để đạt được mục tiêu mà họ đã cam kết cụ thể trong nghị trình (lượng khí này chiếm hơn 61.6% của lượng khí của nhóm nước thuộc phụ lục I cần cắt giảm) Nghị định thư cũng được 137 nước đang phát triển tham gia kí kết trong đó gồm Brasil, Trung Quốc và Ấn Độ nhưng chỉ chịu ràng buộc trong các vấn đề theo dõi diễn biến và báo cáo thường niên về vấn đề khí thải

Nghị định thư Kyoto đưa ra cam kết đối với các nước phát triển về giảm tổng lượng phát thải các khí nhà kính xuống mức năm 1990 với tỷ lệ trung bình là 5,2%

Trang 34

trong thời kỳ cam kết đầu tiên 2008-2012 (ước khoảng 2800 - 4800 triệu tấn C02tương đương) theo các mức cắt giảm cụ thể, trong đó các nước EU là 8%, và Nhật Bản là 6% Các khí nhà kính bị kiểm soát bởi Nghị định thư Kyoto là CO2, CH4.,

N2O, HFCs, PFCs và SF6 KP đưa ra “ 3 Cơ chế mềm dẻo” cho phép các nước phát triển thực hiện cam kết giảm phát thải khí nhà kính của họ Đó là Cơ chế đồng thực hiện (JI), Cơ chế mua bán quyền phát thải (IET) và Cơ chế phát triển sạch (CDM)

Việt Nam đã ký công ước UNFCCC ngày 11 tháng 6 năm 1992 và phê chuẩn

UNFCCC ngày 16 tháng 11 năm 1994; ký nghị định thư Kyoto (KP) ngày 03 tháng

12 năm 1998 và phê chuẩn KP ngày 25 tháng 9 năm 2002 Là một Bên không thuộc Phụ lục I của UNFCCC, Việt Nam chưa có nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính (KNK), nhưng phải thực hiện một số nghĩa vụ chung như thực hiện xây dựng các Thông báo quốc gia, kiểm kê khí nhà kính, xây dựng và đánh giá các phương án giảm nhẹ khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu Việt Nam được hưởng những quyền lợi dành cho các nước đang phất triển trong việc tiếp nhận hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ mới từ các nước phát triển thông qua các dự án CDM

CDM cho phép các Bên thuộc các nước phát triển thực hiện các dự án dạng CDM nhằm giúp họ thực hiện nghĩa vụ cắt giảm phát thải KNK định lượng, đồng thời giúp các Bên thuộc các nước đang phát triển thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

CDM là một cơ chế đối tác đầu tư giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Đây là cơ chế quan trọng, hấp dẫn và thiết thực nhất đối với các nước đang phát triển CDM cho phép và khuyến khích các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân của các nước phát triển đầu tư, thực hiện các dự án giảm phát thải các KNK tại các nước đang phát triển và nhận được tín dụng dưới dạng "Giảm phát thải được chứng nhận (CERs)" Khoản tín dụng này được tính vào chỉ tiêu giảm phát thải các KNK của các nước phát triển, giúp các nước này thực hiện cam kết giảm phát thải các khí nhà kính

Những lợi ích chính do CDM mang lại:

- Đối với các nước đang phát triển:

Trang 35

+ Thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài; phát triển nguồn nhân lực; tạo thêm công

ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và góp phần xóa đói giảm nghèo;

+ Tiếp nhận công nghệ mới, góp phần giảm phát thải các KNK và bảo vệ khí hậu;

+ Hỗ trợ các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của trung ương, ngành và địa phương

- Đối với các nước phát triển:

+ Nhận được CERs do kết quả giảm phát thải các KNK thông qua các dự án CDM thực hiện tại nước đang phát triển với chi phí thấp nhất, từ đó giảm bớt việc cắt giảm phát thải các KNK tại nước họ;

+ Có thêm cơ hội đầu tư mới;

+ Góp phần củng cố, mở rộng và tăng cường quan hệ hợp tác với nước tiếp nhận dự án CDM

Trong nghiên cứu xây dựng chiến lược quốc gia của Việt Nam về CDM đã phân tích tiềm năng về CDM của Việt Nam, trình bày chiến lược phát triển thị trường CDM ở Việt Nam, giúp khẳng định các cơ hội của CDM, khả năng khai thác các cơ hội đó ở Việt Nam và lợi ích Việt Nam có thể đạt được thông qua việc thực hiện cơ chế này Như vậy, nếu hoạt động đúng theo tinh thần đề ra thì CDM có thể trở thành một công cụ hữu hiệu trong việc khuyến khích đầu tư vào các nước đang phát triển

b) Nghị định Motreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn

Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn (sau đây gọi tắt

là Nghị định thư Montreal) là một hiệp ước quốc tế được thiết kế để bảo vệ tầng ô zôn bằng cách loại bỏ dần việc sản xuất nhiều các chất được cho là chịu trách nhiệm

về sự suy giảm ô zôn Nghị định được ký kết khi mà cộng đồng quốc tế bắt đầu nhận thấy rằng chất chlorofluorocarbons (được gọi là CFC) và ha lon là những chất làm suy giảm nghiêm trọng tầng ô zôn Hiệp ước này được mở cho việc ký kết vào ngày 16 tháng 9 năm 1987 và đã có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1989, theo

Trang 36

sau một cuộc họp đầu tiên tại Helsinki, tháng 5 năm 1989 Kể từ đó, nó đã trải qua bảy lần sửa đổi, trong năm 990 tại London, năm 1991 tại Nairobi, năm 1992 tại Copenhagen, năm 1993 tại Bangkok, năm 1995 tại Vien, năm 1997 tại Montreal và năm 1999 tại Bắc Kinh Người ta tin rằng nếu các thoả thuận quốc tế được tôn trọng, tầng ô zôn dự kiến sẽ được phục hồi vào năm 2050 Do thông qua thực hiện rộng rãi và đã được ca ngợi là một ví dụ về hợp tác quốc tế Nghị định đã được 196

quốc gia phê duyệt [62]

Nghị định thư Montreal đặt ra thời gian kế hoạch để hạn định và giảm các chất làm suy giảm ô zôn dựa trên phải chăng một nước được xem là đã phát triển (không thuộc nhóm A5) và đang phát triển (là nhóm A5) và dựa trên mức tiêu thụ các chất là suy giảm tầng ô zôn tính toán theo đầu người thường niên mỗi nước Úc, Canada, Czech, Pháp, Đức, Hy Lạp, Italy, Nhật Bản, Hà Lan, Nga, Tây Ban Nha, Anh và Mỹ là những nước không thuộc nhóm A5 Những nước phát triển thành công thật sự loại bỏ sử dụng CFC vào cuối năm 1995 Những nước A5 phải hạn chế tiêu thụ vào năm 2002 theo mức tiêu thụ trung bình 1995-1997 và hoàn toàn loại bỏ vào cuối năm 2009 Cơ chế tài chính đã được thiết lập để cung cấp hỗ trợ tài chính

và chuyển giao công nghệ cho nhóm A5, để họ có thể làm đúng theo tiêu chuẩn mực điều khiển của Nghị định thư Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 , sẽ ngừng sản xuất các chất có chứa CFC Hydrochlorofluorocarbon (HCFC) được phát triển là chất thay thế chính đầu tiên cho CFC Năm 1992, các nước tham gia Nghị định thư Montreal thêm bổ sung tại Copenhagen đề ra quy định loại bỏ tiêu thụ HCFC giữa

1996 và 2040 Theo Nghị định, từ năm 2040 trở đi, sẽ ngừng sản xuất các chất HCFC trên toàn thế giới

Các chất gây suy giảm tầng ô zôn cũng là những KNK nhưng tiềm năng làm Trái đất nóng lên còn mạnh hơn nhiều Chẳng hạn so với các khí cacbonic, nhưng chất CFC có tác dụng làm nóng cao hơn cả hàng nghìn lần, nhưng vì chúng có nồng

độ trong khí quyển nhỏ hơn CO2 nhiều nên thường bị bỏ qua CFC Các chất này thường có trong các thiết bị làm lạnh

Trang 37

Việt Nam gia nhập Nghị định thư Montreal vào tháng 01 năm 1994 và là thành viên thực hiện rất tích cực Nghị định này Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan, các doanh nghiệp sử dụng chất làm suy giảm tầng ô zôn loại trừ hoàn toàn 500 tấn CFC, 3, 8 tấn halon là lượng tiêu thụ hằng năm ở nước ta từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 Trách nhiệm của Việt Nam trong những năm tiếp theo là loại trừ hoàn toàn tiêu thụ các chất HCFC, quá trình loại trừ các chất HCFC có thể kéo dài đến năm 2030 Tuy nhiên, nếu nhận được sự hỗ trợ đầy đủ về tài chính và công nghệ từ phía các tổ chức quốc tế, chúng ta có thể hoàn thành loại trừ các chất HCFC vào năm 2025 Đối với lĩnh vực dịch vụ sửa chữa bảo dưỡng thiết bị, chúng ta vẫn được phép sử dụng HCFC cho đến năm 2040

1.3 Tổng quan hệ thống pháp luật hiện hành về ứng phó với biến đổi khí hậu

Thế giới ngày càng hứng chịu những hậu quả nặng nền do BĐKH, các trận động đất, sóng thần, mưa, lũ, bão tuyết, hạn hán ngày càng tăng về số lượng và cường độ, gây thiệt hại lớn về người và thiệt hại về kinh tế ƯPBĐKH đang là vấn

đề quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Chúng ta

đã và đang tìm ra các chiến lược, giải pháp giảm nhẹ và thích ứng với BĐKH Tuy nhiên, để thực hiện được các chiến lược, giải pháp đó, một công cụ không thể không nhắc đến đó là pháp luật Nguyên nhân cuối cùng của sự BĐKH hiện đại là

do tác động của con người Con người, thông qua các hoạt động của mình trực tiếp hoặc gián tiếp thải ra các chất gây HƯNK Pháp luật với tư cách là các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi xử sự của con người có tác động, vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động này

Hiến pháp quy định Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật Các chính sách của Đảng và Nhà nước muốn được triển khai trên thực tế phải được luật hoá Các Điều ước quốc

tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập muốn thực hiện được thì cần phải được nội luật hoá, chuyển hoá cụ thể thành các văn bản quy phạm pháp luật để triển khai tại Việt Nam Các chính sách về UPBĐKH cũng không phải là ngoại lệ

Trang 38

Như nội dung các phần trên phân tích cho thấy, ƯPBĐKH liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, như tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, nông nghiệp, năng lượng, giao thông vận tải, bảo vệ và phát triển rừng… đã có nhiều giải pháp được đưa ra tập trung vào giảm nhẹ phát thải KNK, các giải pháp thích ứng với BĐKH trong các lĩnh vực, các biện pháp hỗ trợ về tài chính; các chế tài xử lý; cơ chế phối hợp trong việc ƯPBĐKH… Trên cơ sở đó, có thể khái quát hệ thống pháp luật về ƯPBĐKH ở Việt Nam gồm:

Đây là các văn bản quy phạm pháp luật đưa ra các quy định chung về ƯPBĐKH, quy định trực tiếp về ƯPBĐKH bao gồm các văn bản quy định trực tiếp nội dung ƯPBĐKH và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về BĐKH:

- Hiến pháp năm 2013;

- Luật Bảo vệ môi trường;

- Chương trình mục tiêu quốc gia ƯPBĐKH

- Các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, thực hiện các Điều ước quốc

tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập về BĐKH

Giảm nhẹ BĐKH tập trung vào các giải pháp làm giảm nhẹ phát thải KNK Sự gia tăng quá mức lượng phát thải KNK dẫn đến sự gia tăng nồng động KNK là nguyên nhân cơ bản gây ra BĐKH Do đó, giảm lượng phát thải KNK là một trong những biện pháp hàng đầu để góp phần ƯPBĐKH Các biện pháp giảm nhẹ phát thải KNK như các phần trên đã phân tích có thể kể đến: trồng rừng, phát triển năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả; giảm phát thải KNK trong lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp, môi trường… Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh nội dung này có thể kể đến:

- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và một số văn bản hướng dẫn thi hành;

Trang 39

- Luật Bảo vệ môi trường và một số văn bản hướng dẫn thi hành;

- Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và một số văn bản hướng dẫn thi hành;

- Pháp luật về CDM, văn bản thực thiện Nghị định thư Montreal

- Các văn bản liên quan đến hạn chế phát thải KNK trong lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam tập trung nhiều cho công tác thích ứng với BĐKH Nổi bật nhất trong số đó là các lĩnh vực chịu nhiều tác động của BĐKH như tài nguyên nước, biển, đa dạng sinh học, cơ sở hạ tầng, giao thông, xây dựng, nông nghiệp, nông thôn, y tế, vệ sinh và môi trường Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan điều chỉnh:

- Luật Tài nguyên nước và văn bản hướng dẫn;

- Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;

- Luật Đa dạng sinh học và văn bản hướng dẫn;

- Luật Phòng, chống thiên tai và các văn bản hướng dẫn…

pháp lu ật

Gồm các văn bản quy phạm pháp luật về chính sách hỗ trợ tài chính, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế; các quy phạm pháp luật về chế tài xử lý: xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông vận tải, xây dựng, bảo vệ và phát triển rừng…

Trang 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kể từ khi các chính sách, pháp luật chuyên biệt về biến đổi khí hậu được ban hành, khởi đầu là Nghị quyết số 60 của Chính phủ (năm 2007) theo đó là sự ra đời của Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (năm 2008), có một dấu mốc vô cùng quan trọng Từ đây, cộng đồng quốc tế đánh giá cao sự nỗ lực, chủ động của Chính phủ Việt Nam đối với việc chung tay ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, và thông qua đó sự hỗ trợ về công nghệ, tài chính của cộng đồng

quốc tế cho Việt Nam tăng lên đáng kể

Nội dung các chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ được luật hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật như: luật, pháp lệnh, các nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư, Thông tư liên tịch Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề BĐKH cũng như ƯPBĐKH, Đảng và Nhà nước đã ban hành những chính sách cụ thể, kịp thời, trong số đó phải kể đến Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo

vệ môi trường (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 24-NQ/TW), Chiến lược quốc gia

về BĐKH được ban hành kèm theo Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chinh phủ Đây là các chủ trương, định hướng cơ bản được xây dựng nhằm ƯPBĐKH tại Việt Nam

Chính sách và pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn đặt nặng vai trò của nhà nước trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, chứ chưa tận dụng các nguồn lực

xã hội và sự tham gia của khối tư nhân, cộng đồng Các quy định pháp luật hay cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia của xã hội dân sự vào công tác này vẫn còn rất mờ nhạt

Trong các Nghị quyết, Chiến lược, Chương trình, Kế hoạch liên quan đến biến đổi khí hậu của Việt Nam ban hành đều xác định một trong những nhiệm vụ quan

trọng là tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậu

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) (2007), Biến đổi khí hậu 2007, Bản tổng hợp dành cho các nhà hoạch định chính sách, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bi"ế"n "đổ"i khí h"ậ"u 2007, B"ả"n t"ổ"ng h"ợ"p dành cho các nhà ho"ạ"ch "đị"nh chính sách
Tác giả: Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC)
Năm: 2007
2. Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 18/NQ-TW ngày 25 tháng 10 năm 2007 của Bộ Chính trị về định hướng phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị" quy"ế"t s"ố" 18/NQ-TW ngày 25 tháng 10 n"ă"m 2007 c"ủ"a B"ộ" Chính tr"ị" v"ề đị"nh h"ướ"ng phát tri"ể"n n"ă"ng l"ượ"ng qu"ố"c gia c"ủ"a Vi"ệ"t Nam "đế"n n"ă"m 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2007
3. Bộ Công nghiệp (2004), Thông tư số 01/2004/TT-BCN ngày 02 tháng 7 năm 2004 của Bộ Công nghiệp về việc hướng dẫn sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với các cơ sở sản xuất Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thông t"ư" s"ố" 01/2004/TT-BCN ngày 02 tháng 7 n"ă"m 2004 c"ủ"a B"ộ" Công nghi"ệ"p v"ề" vi"ệ"c h"ướ"ng d"ẫ"n s"ử" d"ụ"ng n"ă"ng l"ượ"ng ti"ế"t ki"ệ"m và hi"ệ"u qu"ả đố"i v"ớ"i các c"ơ" s"ở" s"ả"n xu"ấ
Tác giả: Bộ Công nghiệp
Năm: 2004
4. Bộ Nông nghiệp và Pháp triển Nông thôn (2010), Báo cáo số 3635/BNN-TCLN ngày 05 tháng 10 năm 2010 về việc thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và đề nghị cấp bổ sung vốn năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo s"ố" 3635/BNN-TCLN ngày 05 tháng 10 n"ă"m 2010 v"ề" vi"ệ"c th"ự"c hi"ệ"n D"ự" án tr"ồ"ng m"ớ"i 5 tri"ệ"u ha r"ừ"ng và "đề" ngh"ị" c"ấ"p b"ổ" sung v"ố"n n"ă"m 2010
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Pháp triển Nông thôn
Năm: 2010
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Báo cáo hiện trạng môi trường không khí đô thị Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hi"ệ"n tr"ạ"ng môi tr"ườ"ng không khí "đ"ô th"ị" Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: K"ị"ch b"ả"n bi"ế"n "đổ"i khí h"ậ"u, n"ướ"c bi"ể"n dâng cho Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam, Nxb Tài nguyên – Môi trường và đo đạc Bản đồ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: K"ị"ch b"ả"n bi"ế"n "đổ"i khí h"ậ"u, n"ướ"c bi"ể"n dâng cho Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Nxb Tài nguyên – Môi trường và đo đạc Bản đồ Việt Nam
Năm: 2012
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2003), Thông báo đầu tiên của Việt Nam cho Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo "đầ"u tiên c"ủ"a Vi"ệ"t Nam cho Công "ướ"c khung c"ủ"a Liên H"ợ"p qu"ố"c v"ề" bi"ế"n "đổ"i khí h"ậ"u
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2003
9. Bộ Tư pháp (2007), Hoàn thiện khung pháp luật về môi trường ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thi"ệ"n khung pháp lu"ậ"t v"ề" môi tr"ườ"ng "ở" Vi"ệ"t Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2007
10. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư số 16/2009/TT- BTNMT ngày 07 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t"ư" s"ố" 16/2009/TT-BTNMT ngày 07 tháng 10 n"ă"m 2009 c"ủ"a B"ộ" tr"ưở"ng B"ộ" Tài nguyên và Môi tr"ườ"ng ban hành quy chu"ẩ"n k"ỹ" thu"ậ"t qu"ố"c gia v"ề" môi tr"ườ
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
11. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006), Quyết định số 22/2006/QĐ- BTNMT ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy"ế"t "đị"nh s"ố" 22/2006/Q"Đ"-BTNMT ngày 18 tháng 12 n"ă"m 2006 c"ủ"a B"ộ" tr"ưở"ng B"ộ" Tài nguyên và Môi tr"ườ"ng v"ề" vi"ệ"c b"ắ"t bu"ộ"c áp d"ụ"ng Tiêu chu"ẩ"n Vi"ệ"t Nam v"ề" môi tr"ườ
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2006
12. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư số 25/2009/TT- BTNMT ngày 16 tháng 11 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông t"ư" s"ố" 25/2009/TT-BTNMT ngày 16 tháng 11 n"ă"m 2009 c"ủ"a B"ộ" tr"ưở"ng B"ộ" Tài nguyên và Môi tr"ườ"ng ban hành quy chu"ẩ"n k"ỹ" thu"ậ"t qu"ố"c gia v"ề" môi tr"ườ
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
13. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2006), Quyết định số 75/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành mã số danh mục chương trình, mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả do Bộ Tài chính ban hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy"ế"t "đị"nh s"ố" 75/2006/Q"Đ"-BTC ngày 20 tháng 12 n"ă"m 2006 c"ủ"a B"ộ" tr"ưở"ng B"ộ" Tài chính v"ề" vi"ệ"c ban hành mã s"ố" danh m"ụ"c ch"ươ"ng trình, m"ụ"c tiêu qu"ố"c gia v"ề" s"ử" d"ụ"ng n"ă"ng l"ượ"ng ti"ế"t ki"ệ"m và hi"ệ"u qu"ả" do B"ộ
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài chính
Năm: 2006
16. Chính phủ (2007), Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 127/2007/N"Đ"-CP ngày 01 tháng 8 n"ă"m 2007 c"ủ"a Chính ph"ủ" quy "đị"nh chi ti"ế"t thi hành m"ộ"t s"ố đ"i"ề"u c"ủ"a Lu"ậ"t Tiêu chu"ẩ"n và quy chu"ẩ"n k"ỹ" thu"ậ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
17. Chính phủ (2009), Nghị định số 67/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi một số điều của Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 67/2009/N"Đ"-CP ngày 03 tháng 8 n"ă"m 2009 c"ủ"a Chính ph"ủ" s"ử"a "đổ"i m"ộ"t s"ố đ"i"ề"u c"ủ"a Ngh"ị đị"nh s"ố" 127/2007/N"Đ"-CP ngày 01 tháng 8 n"ă"m 2007 c"ủ"a Chính ph"ủ" quy "đị"nh chi ti"ế"t thi hành m"ộ"t s"ố đ"i"ề"u c"ủ"a Lu"ậ"t Tiêu chu"ẩ"n và quy chu"ẩ"n k"ỹ" thu"ậ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
18. Chính phủ (2003), Nghị định số 102/2003/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ quy định việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 102/2003/N"Đ"-CP ngày 03 tháng 9 n"ă"m 2003 c"ủ"a Chính ph"ủ" quy "đị"nh vi"ệ"c s"ử" d"ụ"ng n"ă"ng l"ượ"ng ti"ế"t ki"ệ"m và hi"ệ"u qu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
19. Chính phủ (2002), Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Phí, lệ phí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 57/2002/N"Đ"-CP ngày 03 tháng 6 n"ă"m 2002 c"ủ"a Chính ph"ủ" quy "đị"nh chi ti"ế"t thi hành Pháp l"ệ"nh Phí, l"ệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
20. Chính phủ (2006), Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 6 tháng 3 năm 2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Phí, lệ phí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 24/2006/N"Đ"-CP ngày 6 tháng 3 n"ă"m 2006 s"ử"a "đổ"i, b"ổ" sung m"ộ"t s"ố đ"i"ề"u c"ủ"a Ngh"ị đị"nh 57/2002/N"Đ"-CP ngày 03 tháng 6 n"ă"m 2002 c"ủ"a Chính ph"ủ" quy "đị"nh chi ti"ế"t thi hành Pháp l"ệ"nh Phí, l"ệ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
21. Chính phủ (2006), Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng 1 năm 2006 của Chính phủ ngày 16 tháng 01 năm 2006 quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 09/2006/N"Đ"-CP ngày 16 tháng 1 n"ă"m 2006 c"ủ"a Chính ph"ủ" ngày 16 tháng 01 n"ă"m 2006 quy "đị"nh v"ề" phòng cháy và ch"ữ"a cháy r"ừ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
63. Wikipedia, Nghị định thư Montreal, https://vi.wikipedia.org/wiki/Nghị_định_thư_Montreal Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w