Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) PHẦN I MỞ ĐẦU 1 L do chọn đề t i Chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đòi hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ học vấn cao, có kiến thức sâu sắc, có tay nghề vững vàng, cao hơn là có tính năng động sáng tạo, linh hoạt để thích nghi, đáp ứng được những yêu cầu của tiến trình phát triển xã hội. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ; đó vừa là một quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình cạnh tranh kinh tế quyết liệt giữa các quốc gia, tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới. Sự tác động của quá trình này đến nước ta ngày càng mạnh mẽ, điều này đã và đang tạo ra những cơ hội phát triển chưa từng có cho đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn về mặt chất lượng và hiệu quả giáo dục để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Mặt khác, thế hệ tr Việt Nam chúng ta đang có cơ hội sử dụng công cụ kỳ diệu là máy tính và Internet để hội nhập và phát triển cùng một thế giới đang vận động và thay đổi đến từng giây. Tuy nhiên, những ứng dụng kĩ thuật hiện đại, những hiểu biết của mỗi chúng ta ngày hôm nay sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu trong một tương lai không xa nên mỗi con người sống trong xã hội này cần phải biết cách cập nhật thông tin. Mà học tập chăm chỉ chưa phải là giải pháp tối ưu, bởi khi có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà còn là học như thế nào và sử dụng công nghệ để tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng của bộ não? Trước những yêu cầu và thách thức đó, tại Nghị quyết của hội nghị TW lần thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII có đoạn: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên”[1]. Cũng tại Khoản 2, Điều 5, Luật giáo dục 2005 cũng đã khẳng định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[4]. Giáo dục Việt Nam cũng đã và đang có nhiều thay đổi để hòa nhập với nền Đề tài: Hướng dẫn SV y n và s n ĐT tron việc t n hi n ứu h phần Quang h II – hư n tr nh Vật lý đại ư n hệ o đẳng) 2 giáo dục hiện đại trên thế giới, đặc biệt là vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường. Ngày 15 tháng 8 năm 2007, Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã ra quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”[5]. Bản chất của phương pháp đào tạo này là phát huy tính tích cực chủ động của sinh viên, bồi dưỡng cho sinh viên năng lực tự nghiên cứu tài liệu, tự ôn tập củng cố và giải quyết các vấn đề học tập thông qua các nội dung, hoạt động dạy học. Trong đó tự học là yếu tố quyết định đến kết quả học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ. Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường. Để nâng cao kết quả học tập theo hệ thống tín chỉ, giải pháp được hướng đến là sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) - công cụ cho mọi hoạt động tư duy vào dạy học. BĐTD là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não. BĐTD giúp khai phá tiềm năng vô tận của bộ não, phát huy tối đa năng lực tư duy sáng tạo của con người [12]. Bản đồ tư duy (BĐTD) là phương tiện tư duy mới, đó là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hoá một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. BĐTD có thể vẽ trên giấy, bảng… hoặc có thể thiết kế trên powerpoint hoặc các phần mềm bản đồ tư duy như là phần mềm Mindmap, Free Mind, Imindmap, Mindjet mind ManagerPro7… Qua đó, BĐTD giúp khai phá tiềm năng của bộ não, phát huy tối đa năng lực sáng tạo, năng lực tư duy của con người. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu là Hướn ẫn SV y n và s n ĐT tron việ t n hi n ứu h phần Qu n h II – hư n tr nh Vật lý đại ư n hệ o đẳn làm đề tài luận văn thạc sĩ của bản thân. 2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đề tài: Hướng dẫn SV y n và s n ĐT tron việc t n hi n ứu h phần Quang h II – hư n tr nh Vật lý đại ư n hệ o đẳng) 3 Qua quá trình tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, chúng tôi nhận thấy: Đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề tự ôn tập củng cố nói riêng và tự học nói chung nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập. Đặc biệt, một số luận văn nghiên cứu về vấn đề hướng dẫn HS, SV tự học với sự hỗ trợ của BĐTD. Vấn đề ứng dụng BĐTD (MM) trong dạy học mới được chú ý vào năm 2006 khi dự án “Ứng dụng công cụ phát triển tư duy – SĐTD” của nhóm tư duy mới (New Thinking Group – NTG) thuộc Đại học quốc gia Hà Nội triển khai thực hiện. Năm 2007 tại hội thảo “ Ứng dụng CNTT vào đào tạo giáo viên tiểu học và dạy học ở tiểu học Khoa giáo dục tiểu học, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh ”, thạc sỹ Trương Tinh Hà đã thực hiện chuyên đề “ Giảng dạy và học tập vơi công cụ BĐTD ”. Đối với lĩnh vực Vật lý, việc sử dụng BĐTD vào quá trình dạy học đã có một số tác giả nghiên cứu như: Phạm Công Thám với đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của MM chương dòng điện trong các môi trường Vật lý 11 nâng cao”, Lê Thị Kiều Oanh với đề tài “Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học phần Cơ học Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MM và máy vi tính”, Lê Thị Hà với đề tài “Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy giải BTVL chương Động học chất điểm và Động lực học chất điểm Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MM”, Nguyễn Văn Quang với đề tài “Bồi Dưỡng NLTH Vật lý cho HS THPT thông qua việc sử dụng SGK với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”. “Một số biện pháp nâng cao năng lực tự học của SV trường CĐSP TPHCM” của tác giả Bùi Thị Toan, “Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho SV trường CĐSP Đồng Nai” của tác giả Tống Thị Hồng, “Nâng cao chất lượng thực tập VLĐC ở trường đại học kĩ thuật bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo Modul” của tác giả Phạm Văn Lâm, “Phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên trường CĐ Sơn La qua dạy phần cơ học vật lý đại cương với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Ngà; “Phát triển năng lực tự học của học sinh khi ôn tập chương “ Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao với sự hổ trợ của bản đồ tư duy” của tác giả Cao Văn Thạnh; “Hướng dẫn SV tự ôn tập củng cố phần Cơ học trong chương trình Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của SĐTD” của tác giả Trần Quốc Duyệt [10], ... Nhìn chung các đề tài trên đã đề cập đến khá nhiều về vấn đề Đề tài: Hướng dẫn SV y n và s n ĐT tron việc t n hi n ứu h phần Quang h II – hư n tr nh Vật lý đại ư n hệ o đẳng) 4 sử dụng BĐTD trong học tập Vật lý. Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề Hướng dẫn SV y dựng v sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Qu ng học II – Chư ng tr nh Vật l đ i cư ng (hệ c o đẳng) 3 Mục đích nghiên cứu Xây dựng tiến trình hướng dẫn sinh viên làm quen với BĐTD để từ đó xây dựng và sử dụng BĐTD trong nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) 4 Giả thuyết kho học Nếu xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập, từ đó sẽ nâng cao hơn hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên. 5 Đối tượng nghiên cứu Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) Đề tài Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng)
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình của các tác giả nào khác
Hà Nam, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thùy Linh
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh của Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu của những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên, góp ý và tiếp thêm động lực để tôi hoàn thành luận văn này Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian có hạn và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế trong kinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Hà Nam, tháng 5 năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thùy Linh
Trang 3MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC BẢNG9
DANH MỤC CÁC HÌNH
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
5 Đối tượng nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Đóng góp của luận văn 5
9 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5
10 Cấu trúc của luận văn 6
PHẦN 2: NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG VIỆC TỰ HỌC MÔN VẬT LÝ CỦA SINH VIÊN 6
1.1 Cơ sở lí luận về tự học 7
1.1.1 Tự học và năng lực tự học 7
1.1.1.1.Khái niệm tự học 7
1.1.1.2 Các hình thức tự học 8
1.1.1.3 Vai trò của tự học 10
1.1.1.4 Năng lực tự học 12
1.1.1.5 Kĩ năng tự học 12
1.1.1.6 Ý nghĩa của tự học 15
1.1.2 Nội dung của hoạt động tự học 17
1.1.2.1 Chuẩn bị cho hoạt động tự học 17
1.1.2.2 Tự lực nắm nội dung học vấn 17
1.1.2.3 Kiểm tra và đánh giá 19
1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học 19
Trang 41.1.3.1 Bản thân người học 19
1.1.3.2 Thầy cô, gia đình và xã hội 19
1.1.3.3 Các điều kiện vật chất và tinh thần 19
1.1.4 Nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học 20
1.1.5 Hướng dẫn phương pháp tự học môn vật lý 20
1.1.5.1 Phương pháp tự học 20
1.1.5.2 Hướng dẫn phương pháp tự học 21
1.1 5.3 Hướng dẫn phương pháp tự học môn vật lý 22
1.1.5.4 Bồi dưỡng năng lực tự học môn vật lý [14] 24
1.2 Cơ sở lý luận về ôn tập củng cố 26
1.2.1 Khái niệm về ôn tập trong dạy học Vật lý 26
1.2.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức 26
1.2.3 Nội dung cần OTCC trong dạy học vật lý 26
1.2.4 Các hình thức ôn tập 27
1.2.4.1 Ôn tập xen kẽ nghiên cứu tài liệu mới 27
1.2.4.2 Ôn luyện 28
1.2.4.3 Ôn tập tổng kết sau mỗi mục, bài, chương 28
1.3 Cơ sở lí luận của việc sử dụng bản đồ tư duy trong tự học 29
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của bản đồ tư duy 29
1.3.2 Cách đọc BĐTD 30
1.3.3 Cách vẽ bản đồ tư duy 31
1.3.3.1 Công cụ vẽ bản đồ tư duy 31
1.3.3.2 Các bước vẽ BĐTD [11] 31
1.3.3.3 Các nguyên tắc vẽ BĐTD[11] 32
1.3.4 Các quy tắc cần lưu ý khi vẽ BĐTD [13] 33
1.3.4.1 Nhấn mạnh 33
1.3.4.2 Liên kết 34
1.3.4.3 Mạch lạc 34
1.3.5 Một số ứng dụng của BĐTD [17] 34
1.3.5.1 Ứng dụng của bản đồ tư duy trong giảng dạy 34
1.3.5.1.1 Chuẩn bị bài giảng 35
Trang 51.3.6 Ý nghĩa và tác dụng của bản đồ từ duy trong việc rèn luyện kỹ năng học
tập 39
1.3.6.2 Tác dụng của bản đồ từ duy trong việc rèn luyện kỹ năng học tập 41
1.4 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về việc xây dựng và sử dụng BĐTD trong dạy và học ở trường sư phạm 42
1.4.1 Vị trí, vai trò tự học của SV trong quá trình đào tạo ở trường sư phạm 42
1.4.2 Thực trạng việc tự học của SV cao đẳng sư phạm Hà Nam 44
1.4.2.1 Đặc điểm SV Cao đẳng sư phạm Hà Nam 44
1.4.2.2 Mẫu điều tra và kết quả trên mẫu 45
1.4.3 Đánh giá thực trạng 47
1.4.3.1 Thuận lợi 47
1.4.3.2 Khó khăn 48
1.5.Kết luận 48
CHƯƠNG II: HƯỚNG DẪN SINH VIÊN XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BĐTD TRONG VIỆC TỰ NGHIÊN CỨU HỌC PHẦN QUANG HỌC II – CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG (HỆ CAO ĐẲNG) 49
2.1 Đặc điểm học phần Quang học II – Chương trình vật lý đại cương (hệ cao đẳng) 49
2.1.1 Vị trí học phần Quang học II – Chương trình vật lý đại cương (hệ cao đẳng) 49
2.1.2 Vai trò của học phần Quang học II – Chương trình vật lý đại cương (hệ cao đẳng) 50
2.1.4 Chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ học phần Quang học II– chương trình vật lý đại cương (hệ cao đẳng) [2] 51
2.1.4.1 Chuẩn kiến thức 51
2.1.4.2 Chuẩn kĩ năng 52
2.1.4.3 Chuẩn thái độ 52
2.2 Hướng dẫn SV sử dụng phần mềm IMINDMAP trong việc vẽ các BĐTD (Xem phụ lục 2) 52
2.3 Hướng dẫn sinh viên vẽ BĐTD 53
2.3.1 Hướng dẫn sinh viên sử dụng bút màu trong việc vẽ BĐTD 53
2.3.3 Hướng dẫn sinh viên vẽ BĐTD bằng máy vi tính 56
Trang 62.4 Hướng dẫn sử dụng tài liệu với sự hỗ trợ của BĐTD trong quá trình lên
lớp để bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên 57
2.4.1 Các giai đoạn nghiên cứu tài liệu của sinh viên với sự hỗ trợ của BĐTD 57
2.4.2 Một số định hướng sử dụng tài liệu với sự hỗ trợ của BĐTD 59
2.4.2.1 Rèn luyện kỹ năng xây dựng BĐTD cho sinh viên 59
2.4.2.2 Lựa chọn đúng đắn chủ đề để sinh viên tự lực nghiên cứu 60
2.4.2.3 Hướng dẫn sinh viên sử dụng tài liệu với sự hỗ trợ của BĐTD 61
2.4.2.4 Rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng tự học theo tài liệu 63
2.4.2.5 Nghiên cứu tài liệu phối hợp với các hình thức học tập khác 63
2.5 Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) 64
2.5.1 Sử dụng MM tóm tắt nội dung theo loại kiến thức vật lý 65
2.5.1.2 Tóm tắt nội dung định luật vật lý 65
2.5.1.3 Tóm tắt nội dung của thuyết vật lý 65
2.5.1.4 Tóm tắt nội dung của hiện tượng vật lý 65
2.5.2 Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) 66
2.5.2.1 Dạy học kiến thức mới 66
2.5.2.2 Tổng kết ôn tập (hệ thống hóa) kiến thức[30] 71
2.5.2.3 Tóm tắt kiến thức và phân loại bài tập với sự hỗ trợ của BĐTD 73
2.5.2.4 Giải bài tập vật lý 74
2.5.2.5 Trò chơi học tập[30] 82
2.6 Kết luận 88
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 89
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 90
3.1.1 Mục đích 90
3.1.2 Nhiệm vụ 90
3.2 Đối tượng và nội dung TNSP 91
3.2.1 Đối tượng 91
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 91
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 91
3.3.2 Hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy 92
Trang 73.2.3 Bài kiểm tra (Nội dung xem phụ lục 4) 92
3.4 Đánh giá thử nghiệm sư phạm 92
3.4.1 Kết quả thử nghiệm 93
3.4.1.1 BĐTD hệ thống hóa kiến thức chương của SV 93
3.4.1.3 BĐTD giải bài tập một số bài tập vật lý trong học phần của SV 96
3.4.2 Đánh giá sản phẩm BĐTD của SV 98
3.4.3 Đánh giá hứng thú, thái độ tích cực, chủ động học tập của SV khi sử dụng BĐTD trong việc tự học, tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) 100
3.4.4 Đánh giá kết quả học tập của SV 100
3.4.4.1 Các số liệu cần tính 101
3.4.4.2 Kết quả của bài kiểm tra 102
3.4.4.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 105
3.5 Kết luận chương 3 106
PHẦN III: KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 114
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng các năng lực tự học có thể bồi dưỡng được cho SV 24
Bảng 1.2: Kết quả điều tra thực trạng việc tự học tại trường CĐSP Hà Nam 45
Bảng 3.2:Kết quả các nhóm (bao gồm sản phẩm đã nộp và báo cáo) 99
Bảng 3.3: Bảng thống kê điểm số Xi (Yi) của bài kiểm tra (phân bố tần số) 102
Bảng 3.4: Bảng phân bố tần suất 102
Bảng 3.5: Bảng phân bố tần suất lũy tích 103
Bảng 3.6.Bảng tổng hợp các tham số thống kê 104
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc của BĐTD 30
Hình 1.2 Sơ đồ cách đọc BĐTD 31
Hình 1.3: BĐTD hệ thống hóa kiến thức “Quang học” – Vật lý lớp 9 32
Hình 1.4: Ứng dụng của BĐTD trong giảng dạy 35
Hình 1.5: Ứng dụng của BĐTD trong học tập 37
Hình 1.6: BĐTD tóm tắt nội dung chương I 48
Hình 2.1: Sơ đồ cấu trúc học phần Quang học II – Chương trình vật lý đại cương (hệ cao đẳng) 51
Hình 2.2: BĐTD tóm tắt hướng dẫn sử dụng iMindMap 6 53
Hình 2.3: Vẽ hình ảnh trung tâm “Bài 7.1: Sự tán sắc ánh sáng” 55
Hình 2.4: Vẽ nhánh cấp 1 “Bài 7.1: Sự tán sắc ánh sáng” 55
Hình 2.5: Vẽ nhánh cấp 2, cấp 3 “Bài 7.1: Sự tán sắc ánh sáng” 56
Hình 2.6: BĐTD tổng hợp kiến thức về “Phương pháp đới cầu Fresnel” 62
Hình 2.7: BĐTD hệ thống hóa kiến thức chương “Nhiễu xạ ánh sáng” 64
Hình 2.8: BĐTD chủ đề “Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng” 67
Hình 2.9: BĐTD khi dạy nhánh chính thứ nhất “Quan sát”– Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng 67
Hình 2.10: BĐTD khi dạy nhánh chính thứ 2 “Thí nghiệm” – Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng 68
Hình 2.11: BĐTD khi dạy nhánh phụ thứ nhất “Mục đích thí nghiệm” của nhánh chính thứ hai “Thí nghiệm” – Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng 68
Hình 2.13: BĐTD khi dạy nhánh phụ thứ ba “Bố trí và tiến hành thí nghiệm” của 69
Trang 11Hình 2.14: BĐTD sau khi dạy nhánh chính thứ hai “Thí nghiệm” – Hiện
tượng nhiễu xạ ánh sáng 69 Hình 2.15: BĐTD hệ thống hóa kiến thức mục 1: Hiện tượng nhiễu xạ ánh
sáng – Bài 5.1: “Hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng Nguyên lý Huyghen – Fresnel” – Quang học 70 Hình 2.16: BĐTD bài 7.4: “Sự tán xạ ánh sáng” – Quang học 71 Hình 2.17: BĐTD hệ thống hóa kiến thứcchương 8: Bức xạ nhiệt – Quang
học 73 Hình 2.18 BĐTD tóm tắt kiến thức và phân dạng bài tập chương “Phân cực ánh
sáng” 74 Hình 2.19: BĐTD hỗ trợ giải bài tập vật lý 75 Hình 2.20: BĐTD chủ đề bài tập “Hiệu ứng Compton” 76 Hình 2.21: BĐTD các số liệu bài toán đã cho – Chủ đề bài tập “Hiệu ứng
Compton” 76 Hình 2.22: BĐTD tóm tắt bài toán đã cho – Chủ đề bài tập “Hiệu ứng
Compton” 77 Hình 2.23: BĐTD hướng dẫn vẽ nhánh thứ 3 của bài toán đã cho – Chủ đề bài
tập “Hiệu ứng Compton” 77 Hình 2.24: BĐTD giải bài tập – Chủ đề “Hiện tượng Compton” 78 Hình 2.25: BĐTD có nhánh “Mở rộng” – Chủ đề “Hiện tượng Compton” 79 Hình 2.26: BĐTD bài tập định tính về cầu vồng – Chủ đề “Tán sắc ánh sáng” 80 Hình 2.27: BĐTD nhánh thứ nhất bài tập định tính về cầu vồng – Chủ đề 80
“Tán sắc ánh sáng” 80 Hình 2.28: BĐTD 2 nhánh đầu bài tập định tính về cầu vồng – Chủ đề “Tán sắc ánh
sáng” 81
Trang 12Hình 2.29: BĐTD bài tập định tính về cầu vồng – Chủ đề “Tán sắc ánh sáng” 81
Hình 2.30: BĐTD với nhánh “Liên hệ thực tế” bài tập định tính về cầu vồng –Chủ đề “Tán sắc ánh sáng” 82
Hình 2.31: BĐTD hình ảnh trung tâm – câu hỏi “Ông là ai?” 83
Hình 2.32:Hình 2.13: BĐTD chứa thông tin thứ nhất – câu hỏi “Ông là ai?” 84
Hình 2.33: BĐTD chứa thông tin thứ hai – câu hỏi “Ông là ai?” 84
Hình 2.34: BĐTD chứa thông tin thứ ba – câu hỏi “Ông là ai?” 84
Hình 2.35: BĐTD chứa thông tin thứ tư – câu hỏi “Ông là ai?” 85
Hình 2.36: BĐTD thông tin liên quan và đáp án – câu hỏi “Ông là ai?” 85
Hình 2.36: BĐTD hình ảnh trung tâm – câu hỏi “Hiện tượng gì?” 86
Hình 2.37: BĐTD chứa thông tin thứ nhất – câu hỏi “Hiện tượng gì?” 86
Hình 2.38: BĐTD chứa thông tin thứ hai – câu hỏi “Hiện tượng gì?” 87
Hình 2.39: BĐTD chứa thông tin thứ ba – câu hỏi “Hiện tượng gì?” 87
Hình 2.40: BĐTD chứa thông tin thứ tư – câu hỏi “Hiện tượng gì?” 87
Hình 241: BĐTD tóm tắt nội dung chương 2 88
Hình 3.1: Biểu đồ phân bố điểm của 2 nhóm ĐC và TN 102
Trang 13PHẦN I MỞ ĐẦU
1 L do chọn đề t i
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đòi hỏi nguồn nhân lực phải có trình độ học vấn cao, có kiến thức sâu sắc, có tay nghề vững vàng, cao hơn là có tính năng động sáng tạo, linh hoạt để thích nghi, đáp ứng được những yêu cầu của tiến trình phát triển xã hội Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn
ra mạnh mẽ; đó vừa là một quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình cạnh tranh kinh tế quyết liệt giữa các quốc gia, tạo nên sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới Sự tác động của quá trình này đến nước ta ngày càng mạnh mẽ, điều này đã và đang tạo ra những cơ hội phát triển chưa từng có cho đất nước, đồng thời cũng đặt ra những thách thức to lớn về mặt chất lượng và hiệu quả giáo dục để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia
Mặt khác, thế hệ tr Việt Nam chúng ta đang có cơ hội sử dụng công cụ kỳ diệu là máy tính và Internet để hội nhập và phát triển cùng một thế giới đang vận động và thay đổi đến từng giây Tuy nhiên, những ứng dụng kĩ thuật hiện đại, những hiểu biết của mỗi chúng ta ngày hôm nay sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu trong một tương lai không xa nên mỗi con người sống trong xã hội này cần phải biết cách cập nhật thông tin Mà học tập chăm chỉ chưa phải là giải pháp tối ưu, bởi khi
có nhiều sự lựa chọn thì vấn đề không chỉ là học cái gì mà còn là học như thế nào
và sử dụng công nghệ để tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng của bộ não?
Trước những yêu cầu và thách thức đó, tại Nghị quyết của hội nghị TW lần
thứ 2 BCH TW Đảng khóa VIII có đoạn: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục
và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên”[1] Cũng tại Khoản 2, Điều 5, Luật giáo dục 2005 cũng đã khẳng định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[4]
Giáo dục Việt Nam cũng đã và đang có nhiều thay đổi để hòa nhập với nền
Trang 14giáo dục hiện đại trên thế giới, đặc biệt là vấn đề đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường Ngày 15 tháng 8 năm 2007, Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã
ra quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành “Quy chế đào tạo đại học
và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ”[5] Bản chất của phương pháp đào
tạo này là phát huy tính tích cực chủ động của sinh viên, bồi dưỡng cho sinh viên năng lực tự nghiên cứu tài liệu, tự ôn tập củng cố và giải quyết các vấn đề học tập thông qua các nội dung, hoạt động dạy học Trong đó tự học là yếu tố quyết định đến kết quả học tập của sinh viên theo học chế tín chỉ Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường
Để nâng cao kết quả học tập theo hệ thống tín chỉ, giải pháp được hướng đến là
sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) - công cụ cho mọi hoạt động tư duy vào dạy học BĐTD là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não BĐTD giúp khai phá tiềm năng vô tận của bộ não, phát huy tối đa năng lực tư duy sáng tạo của con người [12] Bản đồ tư duy (BĐTD) là phương tiện tư duy mới, đó là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hoá một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực BĐTD có thể vẽ trên giấy, bảng… hoặc có thể thiết kế trên powerpoint hoặc các phần mềm bản đồ tư duy như là phần mềm Mindmap, Free Mind, Imindmap, Mindjet mind ManagerPro7… Qua đó, BĐTD giúp khai phá tiềm năng của bộ não, phát huy tối đa năng lực sáng tạo, năng lực tư duy của con người
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn vấn đề nghiên cứu là Hướn
ẫn SV y n và s n ĐT tron việ t n hi n ứu h phần Qu n
h II – hư n tr nh Vật lý đại ư n hệ o đẳn làm đề tài luận văn thạc sĩ
của bản thân
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 15Qua quá trình tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, chúng tôi nhận thấy:
Đã có khá nhiều luận văn nghiên cứu về vấn đề tự ôn tập củng cố nói riêng và
tự học nói chung nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình học tập Đặc biệt, một số luận văn nghiên cứu về vấn đề hướng dẫn HS, SV tự học với sự hỗ trợ của BĐTD Vấn đề ứng dụng BĐTD (MM) trong dạy học mới được chú ý vào
năm 2006 khi dự án “Ứng dụng công cụ phát triển tư duy – SĐTD” của nhóm tư duy
mới (New Thinking Group – NTG) thuộc Đại học quốc gia Hà Nội triển khai thực hiện Năm 2007 tại hội thảo “ Ứng dụng CNTT vào đào tạo giáo viên tiểu học và dạy học ở tiểu học Khoa giáo dục tiểu học, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh ”, thạc sỹ Trương Tinh Hà đã thực hiện chuyên đề “ Giảng dạy và học tập vơi công cụ BĐTD ” Đối với lĩnh vực Vật lý, việc sử dụng BĐTD vào quá trình dạy học đã có một
số tác giả nghiên cứu như: Phạm Công Thám với đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của MM chương dòng điện trong các môi trường Vật lý 11 nâng cao”,
Lê Thị Kiều Oanh với đề tài “Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học phần Cơ học Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MM và máy vi tính”, Lê Thị Hà với đề tài “Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy giải BTVL chương Động học chất điểm và Động lực học chất điểm Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MM”, Nguyễn Văn Quang với đề tài “Bồi Dưỡng NLTH Vật lý cho HS THPT thông qua việc sử dụng SGK với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” “Một
số biện pháp nâng cao năng lực tự học của SV trường CĐSP TPHCM” của tác giả Bùi Thị Toan, “Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học cho SV trường CĐSP Đồng Nai” của tác giả Tống Thị Hồng, “Nâng cao chất lượng thực tập VLĐC ở trường đại học kĩ thuật bằng phương pháp tự học có hướng dẫn theo Modul” của tác giả Phạm Văn Lâm, “Phát huy tính tích cực nhận thức cho sinh viên trường CĐ Sơn La qua dạy phần cơ học vật lý đại cương với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Ngà; “Phát triển năng lực tự học của học sinh khi ôn tập chương “ Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao với sự hổ trợ của bản đồ tư duy” của tác giả Cao Văn Thạnh; “Hướng dẫn SV tự ôn tập củng cố phần Cơ học trong chương trình Vật lý đại cương với sự hỗ trợ của SĐTD” của tác giả Trần
Quốc Duyệt [10], Nhìn chung các đề tài trên đã đề cập đến khá nhiều về vấn đề
Trang 16sử dụng BĐTD trong học tập Vật lý
Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề Hướng dẫn
SV y dựng v sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Qu ng học
II – Chư ng tr nh Vật l đ i cư ng (hệ c o đẳng)
3 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tiến trình hướng dẫn sinh viên làm quen với BĐTD để từ đó xây dựng và sử dụng BĐTD trong nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng)
4 Giả thuyết kho học
Nếu xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập, từ đó sẽ nâng cao hơn hiệu quả hoạt động
tự học của sinh viên
5 Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng và sử dụng BĐTD trong nghiên cứu học phần Quang học II – chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng)
6 Ph m vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, tôi chỉ nghiên cứu thực trạng, một
số biện pháp hướng dẫn SV sư phạm ở trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam xây dựng
và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng)
Địa bàn thực nghiệm: Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam
7 Nhiệm vụ nghiên cứu củ đề t i
Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi nhận thấy cần phải thực hiện nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận:
+ Nghiên cứu lí luận dạy học hiện đại về việc tổ chức hoạt động tự học của SV trong tự học Vật lí
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng bản đồ tư duy và phần mềm IMindmap 6 trong dạy và học Vật lý, đặc biệt là trong việc hướng dẫn sinh viên tự học + Nghiên cứu nội dung, chương trình, sách giáo trình để có cái nhìn tổng thể,
hệ thống hóa và xây dựng tiến trình dạy học các kiến thức trong học phần Quang học II dưới sự hỗ trợ của bản đồ tư duy
Trang 17- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn:
+ Điều tra thực trạng việc tự học của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam khi nghiên cứu học phần Quang học II trong chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng)
+ Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm hướng dẫn sinh viên xây dựng
và sử dụng BĐTD trong nghiên cứu học phần Quang học II – chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng)
- Tổ chức buổi báo cáo, giới thiệu bản đồ tư duy cho sinh viên và hướng dẫn
sử dụng phần mềm IMindmap, vẽ tay trong việc lập các bản đồ tư duy
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi, hiệu quả của tiến trình dạy học đã thiết kế và phân tích các ưu điểm, nhược điểm của hoạt động tự học của sinh viên dưới sự hỗ trợ của bản đồ tư duy, rút ra những kinh nghiệm để đề tài hoàn thiện hơn, phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy
8 Đóng góp củ luận văn
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận của việc tự học với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy Cụ
thể là áp dụng phần mềm IMindMap 6 vẽ BĐTD để tiến hành tự học theo đúng quy trình mà não bộ cần củng cố để trí nhớ được khắc sâu
- Thông qua việc biên soạn tài liệu, thiết kế cách tổ chức hướng dẫn tự học các kiến thức cụ thể làm sáng tỏ, cụ thể hóa cơ sở lý luận, khẳng định vai trò của tự học,
xác định tầm quan trọng của việc tự học
- Tài liệu và cách tổ chức hướng dẫn sinh viên tự học với sự hỗ trợ của BĐTD
đã thiết kế có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên dạy học Vật lý THPT, sinh viên các trường Đại học sư phạm và Cao đẳng sư phạm Qua đó góp phần vào việc
đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lý
9 Phư ng pháp nghiên cứu củ đề t i
9 1 Phư ng pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề tự học
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề tự ôn tập củng cố
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng bản đồ tư duytrong dạy và học Vật lý
- Nghiên cứu nội dung kiến thức học phần Quang học II – chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng) để có cái nhìn tổng thể và hệ thống hóa
9.2 Phư ng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia
Trang 18+ Tranh thủ sự tư vấn của các chuyên gia về việc sử dụng MM trong học tập
để giúp cho việc triển khai nghiên cứu đề tài có thêm cơ sở vững chắc
+ Tham khảo ý kiến của các học sinh, SV, cộng đồng dân cư mạng đã và đang sử dụng MM trong học tập để có cái nhìn khách quan, trung thực về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng MM trong học tập, nhất là trong việc tự học kiến thức Vật lý
- Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm
+ Tìm hiểu thực trạng vấn đề tự học với sự hỗ trợ của BĐTD của SV Cao đẳng sư phạm Hà Nam
+ Điều tra sự hiểu biết của SV về MM và việc sử dụng phần mềm để vẽ bản
đồ tư duy Nếu có sử dụng thì lĩnh vực hay môn học nào mà SV thường áp dụng để
vẽ MM trong học tập
+ Quan sát sư phạm để đánh giá mức độ hứng thú, thái độ tích cực của SV trong việc sử dụng MM để tự học
9 3 Phư ng pháp thực nghiệm sư ph m
- Đánh giá chất lượng đề tài thông qua việc đưa vào sử dụng ở trường Cao đẳng sư phạm
9 4 Phư ng pháp thống kê toán học
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thử nghiệm sư phạm và kết quả điều tra để rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quả học tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm
10 Cấu trúc củ luận văn
Luận văn gồm 170 trang, trong đó ngoài phần mở đầu, kết luận chung và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự học môn Vật lý c của sinh viên
Chương 2: Hướng dẫn SV xây dựng và sử dụng BĐTD trong việc tự nghiên cứu học phần Quang học II – Chương trình Vật lý đại cương (hệ cao đẳng)
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BẢN ĐỒ
TƯ DUY TRONG VIỆC TỰ HỌC MÔN VẬT LÝ CỦA SINH VIÊN
Trang 191 1 C sở lí luận về tự học
1 1 1 Tự học v năng lực tự học
1.1.1.1.Khái niệm tự học
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau
về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản:
Theo nhà tâm lý học N.ARubakin coi: Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể
Trong cuốn “Học tập hợp lí” do R.Retke chủ biên, cho rằng “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” [29]
Chủ Tịch Hồ Chí Minh dạy: “Tự học l một cách học tự động tức là học tập
một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm
vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch chủ động cho mình rồi tự mình triển khai thực hiện kế hoạch đó
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó
là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định.[16]
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đào tạo, GS Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn - một tấm gương lớn về tự học cho rằng: “Tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
Trang 20Còn theo cố GS Nguyễn Văn Đạo (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã có một vài suy nghĩ chung về vấn đề tự học: “Tự học là công việc suốt cả cuộc đời mỗi người
Số thời gian dành cho việc học với sự giúp đỡ của người thầy là rất ít, chỉ chiếm khoảng ¼ của một đời người Thời gian còn lại chủ yếu là dành cho việc tự học, cho lao động sáng tạo Ngay cả trong giai đoạn đi học, việc tự học luôn luôn có vai trò quan trọng Những người biết tự học, năng động, sáng tạo trong quá trình đi học là những người có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này”
Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra một định nghĩa riêng về tự học, nhưng tất cả đều có chung quan điểm: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định
Như vậy, có thể nói là con người ai cũng phải học, khi nói đến học thì điều đương nhiên là phải tự học, chính là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của từng các nhân Chính hoạt động tự học tạo cơ hội cho người học phát huy được trí tuệ, tư duy đồng thời giúp có lòng ham học Kết quả tự học cao hay thấp còn phụ thuộc vào năng lực của mỗi cá nhân, khả năng tự học tiềm ẩn trong mỗi con người
1 1 1 2 Các h nh thức tự học
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:
* H nh thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không
có sách và sự hướng dẫn của giáo viên
Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học Kết quả của quá trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng một niềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu Tới trình độ tự học này người học không thầy, không sách mà chỉ
cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình
* H nh thức 2: Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:Trường hợp
Trang 21này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua đó sẽ phát triển
về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời
Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và giải đáp các thắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh giá,
* H nh thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, sau
đó người học về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên
Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức Trò với vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình học tập Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa Nội lực và Ngoại lực, Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển
Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầy, nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn những yêu cầu do giáo viên đề ra Tự học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của giáo viên, được giáo viên định hướng về nội dung, phương pháp tự học để người học thực hiện Như vậy ở hình thức tự học thứ
ba này quá trình tự học của sinh viên có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của giáo viên và quá trình tự học của sinh viên
Như vậy, hình thức và đối tượng tự học là hết sức đa dạng và phong phú Nhìn chung thì mỗi người đều tự tìm tòi, đúc kết kinh nghiệm để xác định cho mình một phương pháp tự học riêng Tuy nhiên, đối với nhiều người, đó là việc làm không dễ
Do đó, tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà GV cần trang bị cho SV, vì nó không những giúp các em học tập tốt khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn cần thiết cho sự phát triển lâu dài và thành đạt của mỗi SV trong trong tác và cuộc sống sau này
Trang 221 1 1 3 V i trò củ tự học
Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, tri thức có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia đều dựa trên nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát triển giáo dục Để giáo dục phát triển,
tự học có vai trò vô cùng quan trọng đối với người học nói chung và học sinh sinh viên nói riêng Vì chỉ có tự học, tự bồi dưỡng mỗi người mới có thể bù đắp được
cho mình lỗ hổng về tri thức để đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mối con người trong quá trình học hỏi thường xuyên của cả cuộc đời Quá trình tự học diễn ra đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú, của tìm tòi, của lựa chọn, của định hướng ứng dụng Kiến thức tự học bao giời cũng vững chắc, bền lâu, thiết thực và nhiều sáng tạo Tự học xét cho kỹ là một vấn đề then chốt của Giáo dục và Đào tạo, đồng thời cũng là vấn đề có ý nghĩa văn hoá, khoa học, xã hội
và chính trị sâu sắc Đề cao tự học trong suốt bối cảnh hiện nay của đất nước và thế
giới là một cách nhìn vừa thực tế, vừa có ý nghĩa chiến lược
Chính vì vậy, Đảng và nhà nước đã và đang nổ lực xây dựng một xã hội học tập với phương hướng, con đường thực hiện là kết hợp giáo dục ở trường, giáo dục
từ xa và tự học Trong đó tự học là vô cùng quan trọng, chính vì vậy ngay trong các điều: 4, 24, 36 của luật giáo dục qui định rất rõ “Tự học là một vấn đề quan trọng trong phương pháp giáo dục của các bậc học, các ngành học” và điều 46 ghi rõ
“Việc học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” Giáo dục – đào tạo theo hướng phát triển tự học sẽ tạo ra được những con người năng động, sáng tạo, có khả năng công tác và có thể đưa ra nhiều ý tưởng phát triển tốt cho mỗi ngành nghề góp
phần vào sự phát triển của xã hội.[3]
Đối với học sinh, sinh viên tự học giúp đúc rút ra những phương pháp học tập phù hợp, biết cách tư duy sáng tạo, biện luận một vấn đề nào đó, năng động linh hoạt trong vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tế Đồng thời, tự học giúp người học bổ sung, đào sâu, hệ thống hóa, khái quát hóa những điều đã
Trang 23được học, có tác dụng quyết định đến kết quả học tập, phát triển và cũng cố năng lực nhận thức, sức mạnh ý chí, nghị lực và những phẩm chất cần thiết của việc tổ chức học tập Như vậy, vai trò cụ thể của tự học:
Thứ nhất, tự học giúp người học nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai Chính trong quá trình tự học người học đã từng bước biến vốn kinh nghiệm của loài người thành vốn tri thức riêng của bản thân Hoạt động tự học
đã tạo điều kiện cho người học hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới Thứ hai, tự học không những giúp người học không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú thói quen và phương pháp tự thường xuyên để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay
Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không chỉ giúp người học mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp người học hình thành được những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình Tạo cho họ có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoa học
Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng được ý chí và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở người học tiềm năng to lớn vốn có của họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là giáo viên không có vai trò gì trong quá trình học tập của người học Lực lượng này có tác dụng lớn trong việc động viên khuyến khích hướng dẫn người học tự học một cách đúng hướng và hiệu quả Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ tr năng động, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ tr phải có năng lực đặc biệt đó là khả
Trang 24năng tự học, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấp tiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kỹ thuật và hiện đại hoá vốn tri thức của mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hành trang bước vào cuộc sống
1 1 1 4 Năng lực tự học
Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [20] Theo PGS.TS Lê Công Triêm: “Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao” Trong tâm lý học, năng lực tự học được xem là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nhờ thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt những hoạt động mặc
dù bỏ ra ít công sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả cao Năng lực tự học vừa là cái
tự nhiên bẩm sinh “ vốn có”, vừa là sản phẩm vận động, nỗ lực phấn đấu nên ứng với mỗi người và điều kiện khác nhau thì năng lực tự học cũng khác nhau Vì vậy, năng lực tự học là cái vốn có của mỗi con người nhưng phải được bồi dưỡng trong hoạt động thực tiễn mới trở nên hoàn thiện
Tóm lại, năng lực tự học có thể hiểu là phẩm chất sinh lí và tâm lí tạo cho con người khả năng tự tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao
kỹ năng khác hợp thành, mà có thể chỉ ra là: Kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng xử
lí thông tin, kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn,…
Trang 25Từ hai khái niệm ở trên cho thấy, giữa kỹ năng và năng lực có mối liên hệ mật thiết với nhau Có thể nói, kỹ năng là dạng năng lực hành động, là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn Kỹ năng chính là biểu hiện của năng lực, vì thế dựa vào kĩ năng có thể biết được năng lực một cách cụ thể
Những kiến thức và kĩ năng cần thiết cho cuộc sống và lao động của con người trong xã hội hiện đại đang ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng Trong quá trình dạy học, những kiến thức và kĩ năng trong chương trình SGK tuy đã được chọn lọc cẩn thận, tuy nhiên không thể đầy đủ nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, GV nên coi trọng việc rèn luyện kĩ năng cho
SV, nhất là KNTH ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức cho SV Nếu như trong nhà trường, GV chỉ dạy SV những nguyên tắc đại cương, thì khi vào đời các em sẽ không ứng xử được những tình huống phức tạp và đa dạng Thực tế đó, đặt ra cho
GV nhiệm vụ phải rèn luyện những KNTH cho SV bên cạnh việc truyền thụ kiến thức, để các em có cơ hội tự hoàn thiện bản thân mình nhằm đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn
Việc học tập của SV gồm các hoạt động cơ bản như: nhận thức nội dung học tập, giao tiếp và quan hệ xã hội trong học tập và các hoạt động hỗ trợ học tập, tổ chức và quản lí việc học cá nhân Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động học tập, xuất phát từ việc xác định các nhiệm vụ học tập cơ bản, có thể liệt kê hệ thống KNTH của SV như sau:
Dự v o phư ng tiện d y học th kĩ năng tự học có thể ph n chi :
- Kĩ năng tự học với sách giáo khoa: Người học phải có kĩ năng tự học với
SGK, SGK là nguồn tri thức cơ bản nhất, khoa học nhất
- Kĩ năng tự học qua tranh ảnh, thí nghiệm: Ngoài việc học với SGK thì tranh
ảnh, thí nghiệm cung cấp nguồn tri thức quan trọng cho SV
- Kĩ năng tự học với bảng số liệu thống kê và biểu đồ: các số liệu thống kê
dùng làm cơ sở để rút ra các nhận xét khái quát, dùng để cụ thể hóa, minh họa, làm
rõ kiến thức
-Kĩ năng tự học thông qua internet,… đây là nguồn tri thức khổng lồ vì vậy
cần có những kĩ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin phục vụ cho học tập
Trang 26Dự v o nhiệm vụ nhận thức b o gồm:
- Kĩ năng thu thập thông tin: kĩ năng thu thập thông tin bao gồm các kĩ năng
nghiên cứu lí thuyết, kĩ năng quan sát, kĩ năng điều tra và phỏng vấn,
- Kĩ năng xử lí thông tin: kĩ năng xử lí thông tin bao gồm hai kĩ năng kế tiếp
nhau là kĩ năng hệ thống hóa và kĩ năng phân tích, tổng hợp, khái quát hóa
Khi kiến thức được sắp xếp trong vỏ não một cách có hệ thống, có cấu trúc sẽ giúp người học dễ nhớ, dễ sử dụng khi cần thiết Muốn vậy, người học phải thực hiện một loạt các thao tác khác nhau như tóm tắt, phân loại, xác lập các mối liên hệ, biểu diễn bằng sơ đồ logic,…
Điều quan trọng trong quá trình tự học là cần biến tri thức chung của nhân loại thành tri thức riêng của bản thân người học Quá trình này đòi hỏi người học phải biết phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa,… Như vậy, kĩ năng
xử lí thông tin trong tự học liên quan mật thiết với các kĩ năng tư duy
- Kĩ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn: Vận dụng tri thức vào thực tiễn bao
gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có để giải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức
và việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn sản xuất trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày như làm bài tập, bài thực hành, làm thí nghiệm, viết báo cáo, xử lí tình huống, lắp đặt, sửa chữa, giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống
- Kĩ năng trao đổi và phổ biến thông tin: Các kiến thức mà người học có được
nếu trao đổi với bạn học hoặc các đối tượng có nhu cầu sẽ có tác dụng tích cực đối với việc lĩnh hội tri thức của bản thân Có thể nói mỗi lần trao đổi, phổ biến những kiến thức mà mình có được là mỗi lần người học rèn luyện thêm kĩ năng truyền đạt (nói) và
kĩ năng viết văn bản khoa học Do vậy, việc rèn luyện kĩ năng trao đổi và phổ biến thông tin liên quan đến việc rèn luyện các kĩ năng trình bày thông tin khoa học
- Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá: Tự kiểm tra, đánh giá là một kĩ năng quan trọng
trong tự học Chỉ khi qua tự kiểm tra, đánh giá thì người học mới biết được trình độ
tự học của mình đạt đến mức độ nào Từ đó, đề ra biện pháp điều chỉnh phương pháp
tự học để đạt hiệu quả cao hơn Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình tự học bằng nhiều hình thức khác nhau qua hệ thống các câu hỏi và bài tập nhận thức cụ thể Kĩ năng này đòi hỏi người học phải tự giác cao độ và phải biết xây dựng các tiêu chí, lựa chọn công cụ kiểm tra, đánh giá phù hợp
Trang 27Dự v o h nh thức v ph m vi củ ho t động tự học b o gồm:
- Kĩ năng tự học trên lớp
- Kĩ năng tự học ở nhà
- Kĩ năng tự học thông qua hoạt động ngoại khóa
- Kĩ năng xây dựng kế hoạch tự học: Việc xây dựng kế hoạch tự học bao gồm
việc lên danh mục các nội dung cần tự học, khối lượng và yêu cầu cần đạt, các hoạt động cần phải tiến hành, sản phẩm cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung và hoạt động Kế hoạch tự học phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và tính khả thi
- Kĩ năng lựa chọn tài liệu: Hiện nay lượng thông tin rất đa dạng, phong phú
cả về thể loại lẫn chủng loại và được thể hiện dưới nhiều dạng như viết, nghe - nhìn, internet…, tài liệu trong nước, tài liệu nước ngoài Để tự học có hiệu quả, người học cần phải rèn luyện cho mình kĩ năng lựa chọn các tài liệu thích hợp sao cho đúng,
đủ, hợp lí để nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu của bản thân mình
- Kĩ năng lựa chọn hình thức tự học: Không phải lúc nào việc tự học cũng
được thực hiện một cách dễ dàng, thuận lợi Những khó khăn gặp phải trong tự học đòi hỏi người học cần phải có sự hỗ trợ của bạn bè, thầy cô hoặc các chương trình trên ti-vi, máy tính,… Vì thế kĩ năng lựa chọn hình thức tự học cũng rất cần thiết,
nó giúp người học “gỡ rối” những vấn đề mà tự mình có thể không vượt qua được
1 1 1 6 Ý nghĩ củ tự học
Ở bất kỳ bậc học hay cấp học nào hoạt động tự học cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với kết quả học tập, tuy nhiên đối với sinh viên ở các trường đại học nó lại càng thiết thực hơn bởi hoạt động tự học của sinh viên ở các trường đại học có nét đặc thù so với phổ thông, thể hiện hoạt động nhận thức của sinh viên ở mức cao hơn, mang tính chất độc lập, tự lực, tự giác, sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức cũng như việc vận dụng tri thức vào các tình huống cụ thể Phương pháp học tập của sinh viên cũng khác, nó mang tính chất tự học, tự nghiên cứu nhưng điều đó cũng không có nghĩa là thiếu vai trò của người giáo viên Do đó có thể nói hoạt động tự học là một khâu của quá trình giáo dục, là một quá trình gia công, chế biến
và tự điều khiển theo đúng mục tiêu giáo dục qui định
Trang 28Nhờ có tự học và chỉ bằng con đường tự học, người học mới có thể nắm vững tri thức, thông hiểu tri thức, bổ sung và hoàn thiện tri thức cũng như hình thành những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Điều này đã được K.Đ.Usinxki nói: chỉ có công tác tự học của học sinh mới tạo điều kiện cho việc thông hiểu tri thức Và như vậy hoạt động tự học sẽ quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường
Hoạt động tự học của học sinh, sinh viên không chỉ nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyện thói quen, kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức của bản thân vào cuộc sống mà còn giáo dục tình cảm và những phẩm chất đạo đức của bản thân Vì trên
cơ sở những tri thức họ tiếp thu được nó có ý nghĩa sâu sắc đến việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống, niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cá nhân cũng như những phẩm chất ý chí cần thiết cho việc tổ chức lao động học tập của mỗi học sinh; bên cạnh đó còn rèn luyện cho họ cách suy nghĩ, tính tự giác, độc lập… trong học tập cũng như rèn luyện thói quen trong hoạt động khác Nói cách khác hoạt động tự học hướng vào việc rèn luyện phát triển toàn diện nhân cách học sinh Mặt khác hoạt động tự học không những là yêu cầu cấp bách, thiết yếu của học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường để họ tiếp nhận tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân mà còn có ý nghĩa lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi con người,
đó là thói quen học tập suốt đời, bởi sau khi ra trường vẫn phải tiếp tục: Học, học nữa, học mãi và người học sinh, sinh viên cần phải học khi còn là học sinh, nhưng cần phải học tập hơn nữa khi đã rời ghế nhà trường và sự học tập ở giai đoạn thứ hai này còn quan trọng hơn gấp bội lần sự học tập thứ nhất và hiệu quả của nó, ảnh hưởng của nó đến cá nhân con người và đến xã hội
Tự học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người học mà còn góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học và đào tạo Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò trách nhiệm của người giáo viên mà dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo của người giáo viên, học sinh đã biết cách tự học, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh kho tàng tri thức của nhân loại
Như vậy, muốn nâng cao chất lượng học tập của sinh viên trong trường học nói chung, khoa vật lý nói riêng, chúng ta cần phải quan tâm đúng mức đến việc bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ nghiệp vụ của người giáo viên đồng thời phải
Trang 29đặc biệt chú ý đến vị trí trung tâm của người sinh viên trong hoạt động tập thể để làm sao khai thác triệt để những tiềm năng vốn có trong người họ, phát huy tính tự giác, tích cực sáng tạo, chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước
1 1 2 Nội dung củ ho t động tự học
1 1 2 1 Chuẩn bị cho ho t động tự học
- Xác định nhu cầu, động cơ và kích thích hứng thú học tập: Việc làm đầu tiên
nhằm khởi phát hoạt động tự học là người học phải làm sao tự kích thích, động viên mình, làm cho mình tự cảm thấy cần thiết và hứng thú bắt tay vào việc học, qua việc xác định ý nghĩa quan trọng của vấn đề nghiên cứu, tinh thần trách nhiệm đối với công việc, có cảm giác hứng thú đối với nội dung vấn đề và phương pháp làm việc Đây là việc làm rất quan trọng, nó đòi hỏi sự quyết tâm và sức mạnh của ý chí
- Xác định mục đích và nhiệm vụ tự học: Để việc tự học có hiệu quả, mục đích
nhiệm vụ tự học phải có tính chất thiết thực, vừa sức, có tính định hướng cao và cố gắng tập trung dứt điểm từng vấn đề trong từng thời kì nhất định
- Xây dựng kế hoạch: Để việc học tập có hiệu quả, điều quan trọng nhất là
phải chọn đúng trọng tâm công việc, phải xác định học cái gì là chính, là quan trọng nhất, có tác động trực tiếp đến mục đích Bởi vì nội dung cần phải học thì nhiều, mà sức lực và thời gian thì có hạn, nếu việc học tập dàn trải, phân tán thì việc học sẽ không có hiệu quả Điều này rất quan trọng nhưng trong thực tế người ta lại thường
ít chú ý nên có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả tự học Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp công việc cho hợp lí về logic nội dung cũng như về thời gian Điều đó sẽ giúp cho công việc được trôi chảy và tiết kiệm
1 1 2 2 Tự lực nắm nội dung học vấn
Đây là giai đoạn quan trọng nhất và chiếm nhiều thời gian nhất, là giai đoạn quyết định khối lượng kiến thức, kỹ năng tích lũy được cũng như sự phát triển của con người, nghĩa là quyết định sự thành công của tự học
Giai đoạn này gồm nhiều bước, sau đây là những bước cơ bản:
Lựa chọn t i liệu v h nh thức tự học
Trang 30- Đây là bước đi đầu tiên cần thiết, vì nếu không chọn được sách vở, tài liệu tốt thì việc tích lũy tài liệu sẽ hết sức chậm và nhiều khi sai lệch Tuy nhiên, trong thực tế nhiều người không thấy hết tầm quan trọng của vấn đề này, thấy tài liệu nào cũng đọc, đọc không có hệ thống, làm lãng phí thời gian và chất lượng thấp
- Các loại tài liệu như: sách vở, báo chí, tranh ảnh, số liệu thống kê, kỉ yếu hội thảo, báo cáo tổng kết, các văn kiện,…và thông qua các hình thức: nghiên cứu lí luận, dự giờ, tham gia hội thảo, xemina, đi thực tế,…
Tiếp cận thông tin
Quá trình tự nhận thức thực sự bắt đầu từ đây và thường diễn ra dưới các dạng chủ yếu: đọc sách, nghe giảng, Xemina, hội thảo, làm thí nghiệm, tham quan, điều tra, khảo sát thực tiễn,…
Xử lí thông tin
Thông tin đã được tiếp nhận cần phải có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Việc xử lí có nhiều giai đoạn, những giai đoạn đầu thường tập trung vào việc làm cho nó gọn lại và có hệ thống để dễ lưu trữ và bao gồm các khâu: Tóm tắt, xây dựng sơ đồ grap, phân loại, phân tích – tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa – khái quát hóa,…
Vận dụng thông tin để giải quyết vấn đề
Đây là giai đoạn khó khăn nhất của quá trình tự học Các vấn đề thường gặp đối với người học là: làm bài tập, làm thí nghiệm, viết báo cáo, xử lí tình huống,… Điều đáng lưu ý là nhiều lúc đã tập hợp được một khối lượng lớn các thông tin nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề Trong trường hợp này nên chú ý đến một
- Để giải quyết vấn đề có thể làm thay đổi môi trường mà hệ thống đang tồn tại
- Thay đổi các yếu tố tạo nên hệ thống cũng là một biện pháp để giải quyết vấn đề
- Thay đổi mối liện hệ giữa các yếu tố
Trang 31 Phổ biến thông tin
Các kết quả học tập, nghiên cứu cần được phổ biến để mở rộng tác dụng xã hội của nó Các hình thức phổ biến thông dụng hiện nay là: qua sách báo; qua các xemina, hội thảo, báo cáo khao học; qua phim ảnh; qua phương tiện truyền thông, internet,…
1 1 3 1 Bản th n người học
- Động lực (động cơ, nhu cầu)
- Tố chất, năng khiếu bẩm sinh
- Trình độ lí luận và sự trải nghiệm thực tiễn
- Kỹ năng tự học
- Phẩm chất, ý chí, xúc cảm,…
1 1 3 2 Thầy cô, gi đ nh v ã hội
GV ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng tới quá trình tự học qua nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học Ngoài ra, thái độ, mối quan hệ thầy trò sẽ có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dạy học nói chung cũng như chất lượng tự học
Gia đình là nguồn động viên tinh thần quí giá và liên tục, đồng thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá chặt chẽ và nghiêm khắc, là nguồn cung cấp tài chính và phương tiện …cho người học
Bạn bè, nhất là các nhóm nhỏ có tác dụng rất quan trọng trong việc trao đổi, tranh luận, giúp đỡ nhau trong học tập nhằm vượt qua những khó khăn, làm nảy nở các tư tưởng khoa học mới, phát triển lòng yêu khoa học và củng cố niềm tin ở bản thân và cộng đồng
1 1 3 3 Các điều kiện vật chất v tinh thần
Sách vở, thời gian, tài chính, môi trường đạo đức lành mạnh của gia đình nhà
Trang 32trường và xã hội là những yếu tố rất quan trọng làm nền cho sự phát triển nhân cách, nếu không có các yếu tố đó thì người học khó có thể làm được điều gì có kết quả, chứ không nói gì đến tự học
1.1.4 Nghe giản và hi hép theo tinh thần t h c
Nghe và ghi là những kỹ năng cơ bản mà ai cũng cần sử dụng trong quá trình học tập Để ghi tốt, khi nghe giảng cần chú ý đến những điểm sau:
- Tập trung theo dõi bài giảng, nói chung chưa nên nghĩ đến việc sẽ làm gì vì điều đó sẽ phá hoại logic của quá trình nghe giảng;
- Chú ý ghi dàn bài để nhìn được khái quát cấu trúc chung của bài giảng
- Tập trung vào những cái chính, những điểm quan trọng nhất mà GV thường nhấn mạnh qua ngữ điệu, qua việc lặp đi lặp lại nhiều lần
- Chú ý đến các bảng tóm tắt, các sơ đồ, các hình vẽ, tranh và các tài liệu trực quan khác mà GV giới thiệu, vì đây là lúc GV hệ thống hóa, so sánh, phân tích,…
để đi đến kết luận và rút ra kiến thức mới
- Khi gặp chỗ khó, không hiểu hãy tạm thời gác lại và sẽ cố gắng tìm hiểu những điều đó trong các phần sau, để quá trình nghe giảng không bị gián đoạn
- Khi bài giảng dừng lại, có thể nêu câu hỏi để đào sâu kiến thức và làm rõ những chỗ chưa hiểu …
Để SV có thể nghe và ghi tốt, khi giảng GV cần bảo đảm một số yêu cầu cơ bản sau đây:
- Nội dung bài giảng phải hợp lí, chặt chẽ; cố gắng grap hóa bài giảng để SV
dễ ghi, dễ nhớ
- Tính đa dạng của phương pháp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra cảm giác hứng thú và điều đó có khả năng duy trì sự chú ý, tạo ra cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái, giảm bớt sự mệt mỏi
Như vậy, đổi mới việc nghe và ghi theo tinh thần tự học phải dựa trên sự kết hợp lao động của cả thầy và trò
1.1.5 Hướng dẫn phư ng pháp tự học môn vật l
1.1.5.1 Phư ng pháp tự học
Trước hết ta phải nhận thức được rằng, khi ta cho rằng:việc tự học cần phải được khuyến khích trong học sinh, sinh viên thì chính ta đã đưa ra một ý kiến nhất
Trang 33định hoặc đang tiếp nhận một phương pháp tiếp cận đối với quá trình dạy học, và tất
cả mọi người sẽ nhất trí về tính ưu việt của phương pháp tiếp cận này Thật ra hầu hết mọi giáo viên giỏi đều tìm cách khuyến khích người học tự học tập và nghiên cứu Đó là thói quen cần thiết phải lĩnh hội trong mọi điều kiện
Vì thế đây chính là một bài tập suy nghĩ gồm hai cấp độ: đầu tiên, người giáo viên phải lồng ghép phương pháp này vào công việc của chính mình, sau đó người giáo viên phải tìm ra một phương thức hoạt động hay phương pháp nào đó nhằm khuyến khích người học của chính mình tự học Phương pháp này phải được định nghĩa một cách đầy đủ nhưng tổng quát để có thể thực hiện được trong các nội dung bài giảng khác nhau theo một hình thức đơn giản dễ hiểu
Các giáo viên và những nhà giáo dục đã phát triển nên một phương pháp dạy học hiệu quả dựa trên ý tưởng cho rằng việc học giúp cho cá nhân lĩnh hội được khả năng khác nhau một cách thoả đáng và hiệu quả Phương pháp này gọi là phương pháp tự học Phương pháp tự học của sinh viên là cách thức, con đường mà người học tự chọn cho mình trong quá trình học tập để đạt được những nhiệm vụ học tập đề ra Như vậy, phương pháp tự học có vai trò rất quan trọng đối với kết quả học tập của sinh viên
1.1.5.2 Hướng dẫn phư ng pháp tự học
Trong thư gửi Trung tâm Nghiên cứu và phát triển tự học (Hội khuyến học Việt Nam) ngày 09/06/1999, Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Minh Hiển viết: “Tự học là một khâu rất quan trọng trong quá trình giáo dục, góp phần hình thành và nâng cao năng lực, phẩm chất của học sinh, sinh viên, đặc biệt trong điều kiện hiện nay Đây là vấn đề không chỉ liên quan đến người học mà cả người dạy Việc khơi dạy, hướng dẫn, đẩy mạnh, phát huy nội lực tự học trong việc dạy và học
là quán triệt chủ trương xã hội hoá giáo dục mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm” Việc khơi dậy khả năng tự học trong thế hệ tr , đặc biệt là sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay đang là vấn đề được sự quan tâm của toàn xã hội, bởi đây chính là những người chủ tương lai của đất nước, những người sẽ kế tiếp cha anh đưa đất nước đi lên Muốn vậy, phải hướng dẫn, giúp đỡ họ có được phương pháp tự học, cách thức tự học đúng đắn
Trang 34Vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng: hướng dẫn phương pháp tự học là quá trình giúp đỡ, hình thành cho người học có được những phương pháp, cách thức
tự học, tự nghiên cứu hợp lý, hiệu quả, qua đó giúp họ không ngừng nâng cao chất lượng học tập, nghiên cứu khoa học cả khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường và khi
đã bước vào lao động nghề nghiệp trong tương lai
Trong quá trình dạy học, người giáo viên cần tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm khơi dậy hứng thú, tính sáng tạo, óc tò mò khoa học cho người học; mặt khác bên cạnh việc trang bị cho người học hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thì cần đặc biệt chú ý hình thành cho họ ý thức tự học, động cơ tự học đúng đắn Tiếp theo người giáo viên nên hướng dẫn người học có những phương pháp tự học, cách thức tiến hành tự học cụ thể hiệu quả như:
- Biết cách xây dựng kế hoạch và thời gian biểu tự học hợp lý
- Biết cách thức làm việc độc lập, bao gồm: Biết đọc sách một cách có hệ thống, biết phân chia dung lượng kiến thức hợp lý để tiến hành học tập cho có hiệu quả, biết liên hệ, vận dụng lý thuyết để giải quyết các bài tập trong quá trình học ở trên lớp và trong thực tiễn
- Biết cách phân tích, tổng hợp, so sánh
- Biết tóm tắt kiến thức, ôn tập một cách tự giác, thường xuyên nhằm đánh giá được sự tiến bộ của trí tuệ
- Biết tranh luận và trình bày quan điểm của mình
- Biết tập trung tư tưởng, tiết kiệm thời gian học tập
- Biết tự kiểm tra, đánh giá trình độ của bản thân…
Để giúp người học có được những cách thức tiến hành tự học như vậy, người giáo viên có thể trực tiếp hướng dẫn người học ở trên lớp, thông qua các bài giảng
để hình thành cho nguời học những phương pháp tự học đúng đắn, hiệu quả
1.1 5.3.Hướng dẫn phư ng pháp tự học môn vật l
Từ khái niệm về hướng dẫn phương pháp tự học, chúng ta có thể hiểu hướng dẫn phương pháp tự học môn vật lý là quá trình giúp đỡ, hình thành cho người học
tổ chức hoạt động nhận thức của mình được tiến hành ở trên lớp hay ngoài lớp, khi
Trang 35có thầy và cả khi không có GV… nhằm chiếm lĩnh nội dung tri thức vật lý, đáp ứng được yêu cầu của đời sống,khoa học kĩ thuật
Chúng ta biết rằng, muốn học tập tốt một bộ môn nào đó thì người sinh viên phải hiểu được đặc điểm của môn học, tổ chức được những hoạt động tương ứng với môn học đó để lĩnh hội tri thức, chính bản thân người học chứ không phải ai khác phải thiết lập được mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể (người học) và khách thể (môn học)
Việc tự học môn vật lý cũng vậy, muốn học tập đạt kết quả cao trước hết sinh viên phải hiểu được tính chất, đặc điểm của môn học – đó là một bộ môn khoa học thực nghiệm và là cơ sở của nhiều nhiều ngành khoa học, quan trọng nhất là khi nền kinh tế tri thức phát triển như vũ bão Ngoài ra, vật lý có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn, nhờ các kiến thức vật lý mà giải thích được các hiện tượng tự nhiên.Vì vậy, việc học tập môn vật lý không chỉ đơn thuần là việc nắm vững những công thức, nguyên lý, quy luật, những bài giảng mang tính chất lý luận mà người học phải tự tìm tòi, phát hiện, khám phá, dự đoán, tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, nhận xét khái quát rút ra các quy luật tự nhiên
Như vậy, để tự học tốt, vấn đề quan trọng trước tiên là sinh viên phải hiểu rõ được ý nghĩa, vị trí của môn học trong nhà trường đối với nghề nghiệp tương lai của mình Điều đó sẽ giúp họ xây dựng được ý thức tự học, tinh thần tự học, ý chí khắc phục khó khăn trong quá trình tự học
Bên cạnh đó, để tự học môn vật lý đạt hiệu quả thì việc xây dựng phương pháp học tập khoa học và việc lựa chọn hình thức học tập phù hợp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Phương pháp tự học môn vật lý không chỉ đơn thuần là học lại máy móc vở ghi, bài giảng của thầy mà người học còn phải làm quen với việc đọc sách, đọc các tài liệu tham khảo, phải biết tìm hiểu thực tiễn giáo dục trong và ngoài nhà trường, biết kết hợp sáng tạo giữa lý luận và thực tiễn … để tạo cho mình vốn tri thức, vốn kinh nghiệm phong phú
Để tự học tốt môn vật lý, người sinh viên cần phải biết tận dụng mọi hình thức để tự học Có thể nói học môn vật lý là học ở mọi nơi, mọi lúc, mọi tình huống, trong đó bản thân người học phải có sự nỗ lực, tích cực sáng tạo, luôn có sự
Trang 36so sánh đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn nhằm giải thích được các hiện tượng, sự việc mà mình gặp phải để nắm vững, hiểu sâu tri thức môn học đó
Đương nhiên để sinh viên làm được điều đó thì vai trò của giáo viên trong việc hướng dẫn phương pháp tự học môn vật lý là rất quan trọng
1 1 5 4 Bồi dưỡng năng lực tự học môn vật l [14]
Muốn bồi dưỡng năng lực tự học cho SV thì cần rèn luyện cho các em các kỹ năng tự học như kỹ năng thu thập, xử lí thông tin, kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng vận dụng thông tin vào thực tiễn,…
Như vậy, có thể tóm tắt việc bồi dưỡng năng lực tự học cho SV như bảng sau:
Bảng 1.1: Bảng các năng lực tự học có thể bồi dưỡng được cho SV
Trang 37Kỹ năng thu thập thông tin (kiến thức Vật lý) từ
quan sát thực tế, từ thí nghiệm; điều tra, sưu tầm tài
liệu, khai thác mạng internet… Ngày nay, với sự
bùng nổ thông tin thì việc thu thập cần có sự lọc lựa
Kỹ năng lưu trữ, sắp xếp thông tin (kiến thức Vật lý)
thu thập được đóng vai trò quan trọng trong việc
liên kết các thông tin, hỗ trợ cho việc xử lý, truyền
đạt cũng như vận dụng thông tin được dễ dàng hơn
Kỹ năng xử lý thông tin như: người học thực hiện
các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng
hợp,…để từ đó xây dựng biểu đồ; vẽ đồ thị; rút ra
kết luận bằng suy luận qui nạp, khái quát hóa các
Kỹ năng truyền đạt thông tin: sau khi xử lý các kiến
thức Vật lý thì SV có thể trình bày chúng dưới dạng
thuyết trình, thảo luận khoa học, viết báo cáo….việc
rèn luyện tốt kỹ năng này sẽ tạo được sự tự tin cho
Kỹ năng vận dụng thông tin như: giải thích cấu tạo,
nguyên tắc hoạt động và ứng dụng của các thiết bị kĩ
thuật; giải thích các hiện tượng Vật lý; giải thích các
bài toán Vật lý; …
Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá: kỹ năng này sẽ thực
hiện chức năng hỗ trợ là chẩn đoán, điều chỉnh cho
những kỹ năng trước đó, từ đó sẽ giúp cho quá trình
tự học của SV trở nên có hiệu quả hơn
Kỹ năng thực hành Vật lý: rèn luyện cho SV sử
dụng thành thạo các dụng cụ đo lường Vật lý đơn
giản, lắp ghép các thí nghiệm theo giáo trình, tự tạo
thí nghiệm Vật lý đơn giản
Trang 381 2 C sở l luận về ôn tập củng cố
1 2 1 Khái niệm về ôn tập trong d y học Vật l
Ôn tập là một quá trình củng cố kiến thức làm cho kiến thức được giữ lại vững chắc và lâu bền trong trí nhớ để có thể vận dụng chúng vào việc giải bài tập hoặc ứng dụng vào thực tế đời sống Ôn tập còn là cơ sở để tiếp thu tốt những kiến thức mới, trong những trường hợp kiến thức mới có liên quan hoặc là sự phát triển tiếp tục các kiến thức đã học thì sự ôn tập càng cần thiết
Ôn tập giúp thu nhận thêm điều mới về kiến thức, phương pháp hoặc hệ thống hoá và rút ra những nhận định mới Đó là nguyên tắc quan trọng của ôn tập
Việc ôn tập kiến thức vật lý có thể theo từng mục,bài, chương, thậm chí có thể phân theo các nội dung vật lý
1.2.2 V i trò và vị trí ủ ôn tập tron quá tr nh nhận thức
Ôn tập được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủ yếu được gắn lại với nhau và có một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trí nhớ nếu thiếu ôn tập, và nói chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào thì sẽ bị “teo lại” giống như các cơ trong cơ thể nếu thiếu sự luyện tập
Thông qua việc OTCC giúp SV hệ thống hoá kiến thức, xây dựng được một
“bức tranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức Cùng với đó, luyện tập và phát triển các kĩ năng đã được học, giúp SV đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa
và tránh được các sai lầm thường mắc phải trong và sau khi tiếp thu kiến thức mới
1.2.3 Nội un ần OT tron ạy h vật lý
Trước hết cần hiểu rằng, ôn tập chủ yếu là công việc tự lực của trong quá trình hoạt động học tập nhằm lĩnh hội, thông hiểu kiến thức và trau dồi kĩ năng GV trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không làm thay mà chỉ giữ vai trò hướng dẫn, tổ chức cho
ôn tập sao cho có hiệu quả cao nhất Đặc biệt, cần làm cho người học tự mình hiểu
Trang 39được sự cần thiết của ôn tập, tự giác đặt cho mình mục tiêu phấn đấu và cố gắng đạt tới một cách có kết quả
Đối với môn vật lý, tái tạo nên nội dung chính của môn học là những kiến thức vật lý cơ bản Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học vật lý, trước hết là phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trong quá trình dạy học vật
lý cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều hành quá trình dạy học từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, hứng thú, củng cố, ôn tập, điều chỉnh, kiểm tra, đánh giá…
Những kiến thức vật lý cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thức mới cũng như trong quá trình OTCC trong chương trình vật lý gồm các loại sau:
- Những khái niệm vật lý, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng vật lý
1.2.4.1 Ôn tập en kẽ n hi n ứu tài liệu mới
Trang 40Hình thức này được áp dụng khi việc nghiên cứu tài liệu mới (dạy một bài mới) phải dựa trên những kiến thức cũ Ưu điểm của hình thức này là nhẹ nhàng,
sử dụng được thường xuyên trong tiến trình dạy học Có thể ôn tập để đề xuất vấn đề mới, ôn tập để xây dựng kiến thức mới, ôn tập kiến thức đã học để giải bài tập, Hình thức này tiết kiệm được thời gian mà kết quả lại cao Vì thế GV cần có sự quan tâm thích đáng đến hình thức ôn tập này Trước khi dạy bài mới nào đó, GV có thể giao cho SV phiếu ôn tập trên lớp ngay đầu giờ học, những vấn đề ôn tập này sẽ kiểm tra trước, trong khi giảng bài mới hoặc cuối bài vào những lúc cần thiết
1.2.4.2 Ôn luyện
Ôn luyện được sử dụng khi cần củng cố trong trí óc của SV một số kiến thức hay một hệ thống kiến thức, cần làm cho thấy được mối quan hệ hữu cơ giữa những kiến thức đã học và khả năng áp dụng chúng một cách linh hoạt sáng tạo hoặc khi cần rèn luyện cho SV có kĩ năng thành thạo giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó thông qua việc giải các bài tập và thí nghiệm thực hành Những bài tập ở đây là những bài tập tổng hợp mà khi giải phải nhớ kiến thức cũ, phối hợp chúng một cách khéo léo, sinh động Những bài tập này sẽ có tác dụng lớn hơn nếu GV biết đưa vào nội dung những yếu tố mới sao cho có thể thấy rõ sự cần thiết phải ôn tập kiến thức
cũ để làm cơ sở giải bài tập, từ đó suy ra được cái mới
1.2.4.3 Ôn tập tổn kết s u mỗi m , bài, hư ng
Trong các hình thức ôn tập kể trên, những kiến thức cũ được vận dụng nhiều lần trong trí óc nên làm cho họ nhớ kĩ và hiểu sâu Tuy nhiên, chúng có nhược điểm
là chưa làm nổi bật được mối liên hệ lôgíc giữa những kiến thức, giữa các phần của chương trình Vì vậy, sau mỗi bài, mỗi phần hay mỗi chương cần phải tổ chức ôn tập và hệ thống hoá kiến thức cho người học Ôn tập tổng kết chính là hình thức nhằm phối hợp chặt chẽ giữa người học với tư liệu và GV trong quá trình dạy học.Ôn tập tổng kết hoàn toàn không có nghĩa là nhắc lại tất cả các chi tiết của các vấn đề đã học, lại càng không có nghĩa là lập một dàn bài, tập hợp tất cả các mục đã có trong từng bài Ôn tập tổng kết là nêu lên được tất cả những khái niệm, những định luật, những quy tắc cơ bản của hệ thống kiến thức trong mối