Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) MỤC LỤC MỞ ĐẦU ...............................................................................................................1 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.......................................................................................1 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ..................................................2 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ................................................3 4. TƢ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................................3 5. CÁI MỚI CỦA LUẬN ÁN ...............................................................................6 6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN..........................................................................6 7. BỐ CỤC LUẬN ÁN..........................................................................................7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN.....................................................................................................................8 1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỘNG TỪ VÀ ĐỘNG NGỮ..............................8 1.1.1. Lịch sử nghiên cứu động từ và động ngữ trên thế giới ...........................8 1.1.2. Lịch sử nghiên cứu động từ và động ngữ ở Việt Nam..........................11 1.2. MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐỘNG NGỮ.............................................13 1.2.1. Động ngữ điển mẫu của tiếng Việt nhìn từ góc độ cấu trúc – chức năng ......13 1.2.1.1. Khái niệm động ngữ................................................................................13 1.2.1.2. Cấu tạo động ngữ ....................................................................................13 1.2.2. Động từ và động ngữ nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận.....................23 1.2.2.1. Ngữ pháp - ngữ nghĩa học tri nhận .........................................................23 1.2.2.2. Ngữ pháp học tri nhận của Ronald Langacker........................................28 1.2.2.3. Lý thuyết điển mẫu..................................................................................33 1.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THỤ ĐẮC NGÔN NGỮ TRẺ EM....35 1.3.1. Một số lí thuyết về thụ đắc ngôn ngữ ........................................................35 1.3.1.1. Lí thuyết hành vi luận .............................................................................35 1.3.1.2. Lí thuyết bẩm sinh luận...........................................................................36 1.3.1.3. Lí thuyết tƣơng tác luận ..........................................................................38 1.3.2. Đặc điểm phát triển tƣ duy và ngôn ngữ của trẻ giai đoạn tiền học đƣờng....38 1.3.2.1. Đặc điểm phát triển tƣ duy của trẻ giai đoạn tiền học đƣờng ...........38 1.3.2.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ giai đoạn tiền học đƣờng......42 1.4. TIỂU KẾT ....................................................................................................44 CHƢƠNG 2 CẤU TẠO ĐỘNG NGỮ CỦA TRẺ EM CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ HÀNH ĐỘNG DƢỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN................................................................................................47 2.1. CẤU TRÚC ĐỘNG NGỮ CỦA ĐỘNG TỪ HÀNH ĐỘNG ......................48 2.1.1. Khái niệm động từ hành động....................................................................48 2.1.2. Động từ hành động trong cấu tạo động ngữ của trẻ em.............................48 2.1.2.1. Thành phần trung tâm trong cấu tạo động ngữ .......................................48 2.1.2.2. Thành phần phụ trong cấu tạo động ngữ.................................................51 2.1.3. Cấu trúc động ngữ của ĐTHĐ và sự tri nhận của trẻ ...........................56 2.1.3.1. Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của động từ trung tâm ....................56 2.1.3.2. Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của các vai nghĩa ................................80 2.2. TIỂU KẾT.....................................................................................................97 CHƢƠNG 3 CẤU TẠO ĐỘNG NGỮ CỦA TRẺ EM CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ QUÁ TRÌNH – ĐỘNG TỪ TRẠNG THÁI – ĐỘNG TỪ QUAN HỆ DƢỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN....98 3.1. ĐỘNG NGỮ CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ QUÁ TRÌNH .98 3.1.1. Khái niệm động từ quá trình ......................................................................98 3.1.2. Các tiểu loại động từ quá trình trong tiếng Việt ......................................101 3.1.3. Động từ quá trình trong cấu tạo động ngữ của trẻ em .............................102 3.1.3.1. Động từ quá trình chuyển vị..................................................................104 3.1.3.2. Động từ quá trình chuyển thái...............................................................108 3.1.3.3. Động từ quá trình nảy sinh....................................................................111 3.1.3.4. Động từ quá trình diệt vong ..................................................................112 3.1.3.5. Động từ quá trình tạo tác.......................................................................113 3.1.4. Cấu trúc động ngữ của động từ quá trình và sự tri nhận của trẻ..............114 3.1.4.1. Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của ĐTQT trung tâm .....................114 3.1.4.2. Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của các vai nghĩa ...............................118 3.2. ĐỘNG NGỮ CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ TRẠNG THÁI 125 3.2.1. Khái niệm động từ trạng thái ...................................................................125 3.2.2. Động từ trạng thái và cấu tạo động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em ..............125 3.2.3. Cấu trúc động ngữ của động từ trạng thái và sự tri nhận của trẻ .............126 3.2.3.1. Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của động từ trạng thái ....................128 3.2.3.2. Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của các vai nghĩa ...............................132 3.3. ĐỘNG NGỮ CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ QUAN HỆ...136 3.3.1. Khái niệm động từ quan hệ ......................................................................136 3.3.2. Động từ quan hệ và cấu tạo động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em.................136 3.3.3. Cấu trúc động ngữ của ĐTQH và sự tri nhận của trẻ ..............................137 3.3.3.1. Đặc điểm tri nhận với động từ quan hệ đồng nhất................................137 3.3.3.2. Đặc điểm tri nhận với động từ quan hệ sở hữu .....................................141 3.3.3.3. Đặc điểm tri nhận với động từ quan hệ vị trí ........................................143 3.3.3.4. Đặc điểm tri nhận với động từ quan hệ so sánh....................................144 3.4. TIỂU KẾT...................................................................................................146 KẾT LUẬN .......................................................................................................148 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................152 PHỤ LỤC Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em) Đề tài Cấu tạo động ngữ tiếng việt dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên cơ sở dữ liệu ngôn ngữ trẻ em)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
QUÁCH THỊ BÍCH THUỶ
CẤU TẠO ĐỘNG NGỮ TIẾNG VIỆT
DƯỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN (TRÊN CƠ SỞ DỮ LIỆU NGÔN NGỮ TRẺ EM)
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, minh bạch và chƣa đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận án
Quách Thị Bích Thuỷ
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
4 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
5 CÁI MỚI CỦA LUẬN ÁN 6
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 6
7 BỐ CỤC LUẬN ÁN 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỘNG TỪ VÀ ĐỘNG NGỮ 8
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu động từ và động ngữ trên thế giới 8
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu động từ và động ngữ ở Việt Nam 11
1.2 MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐỘNG NGỮ 13
1.2.1 Động ngữ điển mẫu của tiếng Việt nhìn từ góc độ cấu trúc – chức năng 13
1.2.1.1 Khái niệm động ngữ 13
1.2.1.2 Cấu tạo động ngữ 13
1.2.2 Động từ và động ngữ nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận 23
1.2.2.1 Ngữ pháp - ngữ nghĩa học tri nhận 23
1.2.2.2 Ngữ pháp học tri nhận của Ronald Langacker 28
1.2.2.3 Lý thuyết điển mẫu 33
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN THỤ ĐẮC NGÔN NGỮ TRẺ EM 35
1.3.1 Một số lí thuyết về thụ đắc ngôn ngữ 35
1.3.1.1 Lí thuyết hành vi luận 35
1.3.1.2 Lí thuyết bẩm sinh luận 36
1.3.1.3 Lí thuyết tương tác luận 38
1.3.2 Đặc điểm phát triển tư duy và ngôn ngữ của trẻ giai đoạn tiền học đường 38
1.3.2.1 Đặc điểm phát triển tư duy của trẻ giai đoạn tiền học đường 38
Trang 51.3.2.2 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ giai đoạn tiền học đường 42
1.4 TIỂU KẾT 44
CHƯƠNG 2 CẤU TẠO ĐỘNG NGỮ CỦA TRẺ EM CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ HÀNH ĐỘNG DƯỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 47
2.1 CẤU TRÚC ĐỘNG NGỮ CỦA ĐỘNG TỪ HÀNH ĐỘNG 48
2.1.1 Khái niệm động từ hành động 48
2.1.2 Động từ hành động trong cấu tạo động ngữ của trẻ em 48
2.1.2.1 Thành phần trung tâm trong cấu tạo động ngữ 48
2.1.2.2 Thành phần phụ trong cấu tạo động ngữ 51
2.1.3 Cấu trúc động ngữ của ĐTHĐ và sự tri nhận của trẻ 56
2.1.3.1 Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của động từ trung tâm 56
2.1.3.2 Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của các vai nghĩa 80
2.2 TIỂU KẾT 97
CHƯƠNG 3 CẤU TẠO ĐỘNG NGỮ CỦA TRẺ EM CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ QUÁ TRÌNH – ĐỘNG TỪ TRẠNG THÁI – ĐỘNG TỪ QUAN HỆ DƯỚI GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 98
3.1 ĐỘNG NGỮ CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ QUÁ TRÌNH 98 3.1.1 Khái niệm động từ quá trình 98
3.1.2 Các tiểu loại động từ quá trình trong tiếng Việt 101
3.1.3 Động từ quá trình trong cấu tạo động ngữ của trẻ em 102
3.1.3.1 Động từ quá trình chuyển vị 104
3.1.3.2 Động từ quá trình chuyển thái 108
3.1.3.3 Động từ quá trình nảy sinh 111
3.1.3.4 Động từ quá trình diệt vong 112
3.1.3.5 Động từ quá trình tạo tác 113
3.1.4 Cấu trúc động ngữ của động từ quá trình và sự tri nhận của trẻ 114
3.1.4.1 Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của ĐTQT trung tâm 114
3.1.4.2 Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của các vai nghĩa 118
Trang 63.2 ĐỘNG NGỮ CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ TRẠNG THÁI 125
3.2.1 Khái niệm động từ trạng thái 125
3.2.2 Động từ trạng thái và cấu tạo động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em 125
3.2.3 Cấu trúc động ngữ của động từ trạng thái và sự tri nhận của trẻ 126
3.2.3.1 Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của động từ trạng thái 128
3.2.3.2 Đặc điểm tri nhận về ngữ nghĩa của các vai nghĩa 132
3.3 ĐỘNG NGỮ CÓ THÀNH TỐ TRUNG TÂM LÀ ĐỘNG TỪ QUAN HỆ 136
3.3.1 Khái niệm động từ quan hệ 136
3.3.2 Động từ quan hệ và cấu tạo động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em 136
3.3.3 Cấu trúc động ngữ của ĐTQH và sự tri nhận của trẻ 137
3.3.3.1 Đặc điểm tri nhận với động từ quan hệ đồng nhất 137
3.3.3.2 Đặc điểm tri nhận với động từ quan hệ sở hữu 141
3.3.3.3 Đặc điểm tri nhận với động từ quan hệ vị trí 143
3.3.3.4 Đặc điểm tri nhận với động từ quan hệ so sánh 144
3.4 TIỂU KẾT 146
KẾT LUẬN 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Số lượng và tỉ lệ các tiểu loại động từ trong cấu tạo động ngữ của trẻ 2 –
5 tuổi
Bảng 2: Phân loại các tiểu loại ĐTHĐ trong động ngữ theo nhóm trẻ
Bảng 3: Cấu trúc động ngữ có thành tố trung tâm là ĐTHĐ phân theo nhóm tuổi Bảng 4: Phần phụ trước trong cấu tạo động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em
Bảng 5: ĐTHĐ trung tâm “non nớt trẻ thơ” cấu trúc động ngữ của trẻ em theo
nhóm tuổi
Bảng 6: Số lượng và tỉ lệ các dạng “non nớt trẻ thơ” của ĐTHĐ trong cấu tạo
động ngữ của trẻ
Bảng 7: Trật tự từ ĐTHĐ “lệch chuẩn” theo nhóm tuổi
Bảng 8: Số lượng và tỉ lệ các vai nghĩa của ĐTHĐ của trẻ
Bảng 9: Số lượng và tỉ lệ ĐTQT vô tác trẻ 2 – 5 tuổi
Bảng 10: Số lượng và tỉ lệ ĐTQT của trẻ từ 2 đến 5 tuổi
Bảng 11: Số lượng và tỉ lệ cấu trúc ĐN – ĐTQT của trẻ từ 2 đến 5 tuổi
Bảng 12: Số lượng và tỉ lệ ĐTTT đơn trị và song trị từ 2 – 5 tuổi
Bảng 13: Số lượng và tỉ lệ cấu trúc động ngữ có thành tố trung tâm là ĐTTT của
trẻ em từ 2 – 5 tuổi
Bảng 14: Số lượng và tỉ lệ các ĐTQH của trẻ từ 2 – 5 tuổi
Bảng 15: Số lượng và tỉ lệ các dạng cấu trúc động ngữ có thành tố trung tâm là ĐTQH của trẻ từ 2 – 5 tuổi
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Tỉ lệ các tiểu loại động từ trong động ngữ của trẻ em từ 2 – 5 tuổi Biểu đồ 2.1: Số lƣợng các tiểu loại ĐTHĐ của trẻ 2 tuổi
Biểu đồ 2.2: Số lƣợng các tiểu loại ĐTHĐ của trẻ 3 tuổi
Biểu đồ 2.3: Số lƣợng các tiểu loại ĐTHĐ của trẻ 4 tuổi
Biểu đồ 2.4: Số lƣợng các tiểu loại ĐTHĐ của trẻ 5 tuổi
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ cấu trúc động ngữ ĐTHĐ nhóm trẻ 2 tuổi
Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ cấu trúc động ngữ ĐTHĐ nhóm trẻ 3 tuổi
Biểu đồ 3.3: Tỉ lệ cấu trúc động ngữ ĐTHĐ nhóm trẻ 4 tuổi
Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ cấu trúc động ngữ ĐTHĐ nhóm trẻ 5
Biểu đồ 11.1: Cấu trúc động ngữ ĐTQT vô tác trẻ 2 tuổi
Biểu đồ 11.2: Cấu trúc động ngữ ĐTQT vô tác trẻ 3 tuổi
Biểu đồ 11.3: Cấu trúc động ngữ ĐTQT vô tác trẻ 4 tuổi
Biểu đồ 11.4: Cấu trúc động ngữ ĐTQT vô tác trẻ 5 tuổi
Biểu đồ 12.1: Tỉ lệ ĐTTT đơn trị và song trị trẻ 2 tuổi
Biểu đồ 12.2: Tỉ lệ ĐTTT đơn trị và song trị trẻ 3 tuổi
Biểu đồ 12.3: Tỉ lệ ĐTTT đơn trị và song trị trẻ 4 tuổi
Biểu đồ 12.4: Tỉ lệ ĐTTT đơn trị và song trị trẻ 5 tuổi
Biểu đồ 13.1: Cấu trúc động ngữ của ĐTTT 2 tuổi
Biểu đồ 13.2: Tỉ lệ cấu trúc động ngữ của ĐTTT 3 tuổi
Biểu đồ 13.3: Tỉ lệ cấu trúc động ngữ của ĐTTT 4 tuổi
Biểu đồ 14.1: Tỉ lệ các ĐTQH của trẻ 2 tuổi
Biểu đồ 14.2: Tỉ lệ các ĐTQH của trẻ 3 tuổi
Biểu đồ 14.3: Tỉ lệ các ĐTQH của trẻ 4 tuổi
Biểu đồ 14.4: Tỉ lệ các ĐTQH của trẻ 5 tuổi
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngôn ngữ trẻ em là vấn đề nhận được sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội, đặc biệt vấn đề trẻ thụ đắc tiếng mẹ đẻ là một trong những vấn đề trung tâm của lí luận ngôn ngữ Trẻ em sinh ra chưa thể có tiếng nói hay ngôn ngữ Ngôn ngữ chỉ được hình thành và phát triển khi trẻ giao tiếp với mọi người xung quanh trong những môi trường nhất định Phát triển ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi mầm non là một trong những việc làm cần thiết đầu tiên trong công tác giáo dục thế hệ tương lai
Thực tế mảng nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em ở Việt Nam còn đang rất thiếu, trong khi đó đây lại là một trong những trọng tâm của ngôn ngữ học hiện đại, đặc biệt đối với Tạo sinh luận của Chomsky và một số trường phái ngôn ngữ học tâm lí trên thế giới Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài thú vị nhưng cũng rất nhiều khó khăn như đề tài này
Trong tiếng Việt, động từ đóng vai trò quan trọng với số lượng từ, phạm vi
sử dụng và mật độ xuất hiện trong cấu trúc vị ngữ của câu Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về động từ tiếng Việt và động ngữ cũng được nhắc đến đây đó trong các nghiên cứu về cú pháp, về ngữ pháp tiếng Việt Tuy nhiên chưa có công trình nào tiếp cận động ngữ từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận Cấu tạo động ngữ vốn là một vấn đề thuần tuý của ngôn ngữ học cấu trúc (đi từ hình thức ngữ pháp với phương pháp phân bố luận) Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về động ngữ của ngôn ngữ học cấu trúc, luận án của chúng tôi lựa chọn động ngữ là xuất phát điểm để tìm hiểu và khám phá nhận thức, con đuờng phát triển ngôn ngữ của trẻ em giai đoạn tiền học đường
Ngôn ngữ học tri nhận ra đời tuy còn rất mới mẻ, non trẻ nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và trở nên thịnh hành trên phạm vi toàn thế giới Ngôn ngữ học tri nhận đã mang đến một luồng gió mới, một góc nhìn mới cho nghiên cứu ngôn ngữ học qua
Trang 10những nghiên cứu về các quá trình lĩnh hội, xử lí và cải biến các tri thức vốn quyết định bản chất của trí não con người
Đối với tiếng Việt, nếu như danh ngữ hoàn toàn có thể dựng mô hình cấu tạo với vị trí cố định cho các thành phần phụ trước và sau danh từ trung tâm thì ngược lại động ngữ là ngữ không cố định, không thể xác lập mô hình
vị trí các thành phần Đặc biệt động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em lại có một độ vênh nhất định so với cấu trúc động ngữ điển mẫu (động ngữ ở dạng lí tưởng, như thường được thấy trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt) Độ vênh ấy phản ánh tư duy, cách nhận thức của trẻ về thế giới Thông qua việc tìm hiểu cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em, luận án hướng đến khám phá tư duy và nhận thức của trẻ về thế giới trong những năm tháng đầu đời
Vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận để nghiên cứu cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em là lựa chọn của chúng tôi khi thực hiện đề tài này Trên cơ
sở tiếp thu, kế thừa những cơ sở lý thuyết, những công trình nghiên cứu, những thử nghiệm đã có cùng những nỗ lực của bản thân, chúng tôi hy vọng đề tài là một nghiên cứu mới mẻ, có ý nghĩa trong nghiên cứu ngôn ngữ học
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng
Nói tới tri nhận luận với các thành tố của cấu trúc động ngữ có thể gợi mở tới rất nhiều vấn đề phức tạp như các quan hệ vai nghĩa, các quan hệ tình thái,…trong liên hệ với các tiểu loại nội bộ động từ và các trải nghiệm của người
triển cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em từ 2 đến 5 tuổi và chỉ ra những nhân tố chi phối cấu trúc động ngữ của trẻ dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận
là đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu là sự phát triển cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em từ 2 đến 5 tuổi, chúng tôi khảo sát động ngữ trong nhóm trẻ từ 2 đến 5 tuổi ở khu vực thành thị (Hà Nội) và nông thôn (Thái Bình, Bắc Giang) theo chiều dài thời gian trong 01 năm Ngoài ra, nguồn tư liệu cũng được mở rộng ở cả phạm
Trang 11vi chương trình truyền hình thực tế để ngữ liệu khảo sát được đa diện và phong phú hơn
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là:
- Góp phần làm sáng tỏ đặc điểm cấu tạo động ngữ của trẻ giai đoạn tiền học đường Động ngữ của trẻ sẽ được phân tích và tham chiếu theo cái nhìn đối sánh với động ngữ lí tưởng của tiếng Việt
- Góp phần làm rõ sự phát triển cấu trúc động ngữ trong ngôn ng ữ trẻ
em từ 2 đến 5 tuổi Từ đó thấy được một khía cạnh trong sự phát triển ngôn ngữ trẻ em giai đoạn tiền học đường
- Cấu trúc động ngữ của trẻ được lí giải dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận Những yếu tố chi phối, tác động được tìm hiểu và phân tích để thấy rõ những con đường hình thành cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em
- Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc phân tích, giải thích cấu trúc động ngữ của trẻ trong quá trình tìm hiểu sự phát triển ngôn ngữ trẻ em và là
cơ sở tham khảo để đề xuất các biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước khi trẻ bước vào giai đoạn học đường
Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên đây, luận án cần phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu động ngữ, ngôn ngữ trẻ em ở nước ngoài
và ở Việt Nam nhằm xác định rõ hướng nghiên cứu của đề tài
- Xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài trên cơ sở giới thuyết rõ khái niệm động ngữ và các vấn đề liên quan
- Phân tích và mô tả đặc điểm cấu tạo của động ngữ theo nhóm tuổi để thấy được sự phát triển động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em
- Trên cơ sở đó, rút ra những nhận xét chung về đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành động ngữ của trẻ
4 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Tư liệu và phân loại tư liệu
Tư liệu nghiên cứu phục vụ cho luận án là ngôn ngữ trẻ em trong độ tuổi từ 2 – 5 tuổi được thu thập từ thực tế
Trang 12Chúng tôi lựa chọn trẻ theo nhóm tuổi giai đoạn từ 2 – 5 tuổi ở hai khu vực:
thành thị (Hà Nội) và nông thôn (Thái Bình, Bắc Giang) Mỗi lứa tuổi, chúng tôi lựa chọn 4 cháu (2 bé trai và 2 bé gái) Tổng số mẫu được lựa chọn là 16 cháu
Tư liệu của luận án được phân tích theo nhóm tuổi: nhóm trẻ 2 tuổi, nhóm trẻ 3 tuổi, nhóm trẻ 4 tuổi và nhóm trẻ 5 tuổi để thấy rõ thang độ của
sự phát triển ngôn ngữ trẻ em
Ngoài ra chúng tôi cũng sử dụng nguồn tư liệu từ đề tài cơ sở do cá nhân làm chủ nhiệm năm 2012, 2013 được ghi âm từ 03 trường mầm non khu vực quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và tư liệu được thu thập từ chương trình truyền hình thực tế “Con đã lớn khôn” - một chương trình truyền hình thực tế kể
về câu chuyện của những đứa trẻ từ 3 - 5 tuổi, lần đầu tiên trong đời tự mình thực hiện thử thách - những công việc do cha mẹ giao mà không có sự hỗ trợ của người lớn, đánh dấu cột mốc “đã lớn khôn” của trẻ “Con đã lớn khôn” phiên bản Việt là chương trình được xây dựng dựa theo khuôn khổ Hajimete no Otsukai (do hãng Nippon Television thực hiện) và được phát sóng vào khung giờ 18h00 trên kênh HTV7 tối Thứ 7 hàng tuần Những nhân vật trong mỗi tập phim được lựa chọn chủ yếu từ hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Những chiếc máy quay phim sẽ được đặt kín đáo để các bé không biết rằng bé đang là nhân vật chính của một bộ phim về cuộc sống Trẻ sẽ được đặt trong thử thách và phải tự mình giải quyết thử thách trong những tình huống rất khác nhau Chúng tôi thu lại tất cả các bộ phim đã được phát sóng này của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Đây cũng là nguồn tư liệu hỗ trợ cho đề tài của chúng tôi
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để chỉ ra cấu trúc động ngữ tiếng Việt trên cơ sở cứ liệu ngôn ngữ trẻ
em dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp điều tra điền dã: đề tài triển khai điền dã thu thập tư
liệu ngôn ngữ trẻ em thông qua trò chuyện, trao đổi trực tiếp, quan sát tham
dự và ghi âm trẻ
Trang 13Chúng tôi đã tiến hành ghi âm các bé một cách tự nhiên, khi các bé chơi với nhau hoặc khi các bé nói chuyện với người lớn Như đã có dịp nói trên đây, chúng tôi lựa chọn nhóm trẻ trong độ tuổi từ 2 đến 5 tuồi Ngữ liệu được thu thập trên cơ sở quan sát tham dự và ghi âm trẻ Trung bình mỗi nhóm trẻ chúng tôi tiến hành ghi âm 02 tháng/lần với thời lượng 1h/lần ghi ở hai môi trường sinh hoạt chính của trẻ là: nhà trường và gia đình Chúng tôi tiến hành ghi âm trong 12 tháng Kết quả chúng tôi thu được là 96h giải băng và
2278 phiếu tư liệu
Từ những tư liệu thu thập được, chúng tôi lựa chọn loại thiết kế nghiên cứu
sẽ sử dụng để trả lời câu hỏi nghiên cứu là kết hợp định lượng và định tính
- Phương pháp định lượng sẽ cho kết quả số lượng cấu trúc động ngữ được sử dụng trong phát ngôn của trẻ, số lượng từng tiểu loại thành phần phụ trước, trung tâm và phụ sau trong cấu trúc động ngữ
- Phương pháp định tính sẽ cho kết quả phân tích cấu trúc từng dạng biểu hiện động ngữ trong phát ngôn đồng thời lí giải được quá trình thụ đắc động từ và động ngữ của trẻ
- Trên cơ sở ngữ liệu đã thu thập được, chúng tôi sẽ đi vào phân tích sâu ngữ liệu trên cơ sở cấu trúc từng dạng động ngữ để quy loại và so sánh
sự kết hợp giữa các dạng động ngữ đó Từ đó chúng tôi cố gắng làm rõ quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ
Phương pháp miêu tả: dựa trên cứ liệu là ngôn ngữ trẻ em, chúng tôi sẽ đi
theo chiều hướng miêu tả cấu trúc động ngữ tiếng Việt, rồi từ đó đi vào miêu tả chi tiết đặc điểm cấu trúc của từng thành phần: thành phần trung tâm của động ngữ, thành phần phụ trước, thành phần phụ sau cho động từ trong cụm động từ cùng những nhân tố chi phối các thành phần phụ để rút ra những nhận xét ban đầu về đặc trưng của cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em
Thủ pháp so sánh: được sử dụng để tìm hiểu những đặc trưng cấu tạo
cụm động từ của trẻ so với cấu tạo của cụm động từ trong ngôn ngữ nói chung và những đặc trưng về cấu trúc động ngữ tiếng Việt – loại hình ngôn
Trang 14ngữ đơn lập với cấu trúc động ngữ trong các ngôn ngữ mang tính biến hình Sau bước miêu tả, so sánh, chúng tôi đưa ra những nhận định, những nhận xét có tính tổng hợp về một số đặc trưng trong cấu tạo động ngữ tiếng Việt
và cấu tạo động ngữ của trẻ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Ngoài ra, luận án cũng kết hợp sử dụng một số các thủ pháp nghiên cứu chung cho nhiều ngành khoa học như thống kê, phân loại, hệ thống hoá, tổng hợp, v.v để đưa ra các kết quả, số liệu cần thiết khi miêu tả hoặc so sánh
5 CÁI MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án chỉ ra sự phát triển cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em
lí và ngôn ngữ học tri nhận với quá trình thụ đắc ngôn ngữ
- Động ngữ là đơn vị ngữ pháp của tiếng Việt nói chung và của ngôn ngữ trẻ em nói riêng Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống
và toàn diện các đặc điểm cấu tạo, con đường hình thành ngữ động từ trên đối tượng là ngôn ngữ trẻ em
- Qua đó, luận án chỉ ra sự phát triển cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em nói riêng sự phát triển ngôn ngữ trẻ em nói chung
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm, con đường hình thành, các nhân tố chi phối cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em Từ đó kết quả của luận án sẽ giúp cho những nhà giáo dục có định hướng và phương pháp phù hợp để giáo dục ngôn ngữ một cách hiệu quả trước khi trẻ bước vào giai đoạn học đường
Trang 157 BỐ CỤC LUẬN ÁN
Luận án của chúng tôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục gồm có
ba chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Trong chương này, luận án giới thiệu một số lí thuyết về một số vấn đề liên quan đến đề tài là thụ đắc ngôn ngữ trẻ em, động ngữ và động ngữ tiếng Việt, động từ và động từ tiếng Việt
Trong chương 2 và 3 của luận án, chúng tôi tập trung khảo sát cấu trúc động ngữ với bốn nhóm động từ chủ yếu trong tiếng Việt Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy do mức độ trừu tượng của ngữ nghĩa các động từ có liên quan trực tiếp đến trình độ phát triển nhận thức của trẻ nên nhóm động từ hành động là nhóm động từ xuất hiện đầu tiên trong nhận thức của trẻ về động từ, đồng thời cũng là nhóm động từ chiếm số lượng và tỉ lệ lớn nhất và cũng là nhóm thể hiện rõ nét đặc điểm tri nhận của trẻ nên chúng tôi dành toàn bộ chương 2 cho nhóm động từ này Ba nhóm động từ còn lại gồm động từ quá trình, động từ trạng thái và động từ quan hệ, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát trong chương thứ 3 của luận án
Chương 2: Cấu tạo động ngữ của trẻ em có thành tố trung tâm là động
từ hành động dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Trong chương này, luận án tập trung phân tích và mô tả đặc điểm cấu tạo động ngữ của trẻ với thành phần trung tâm là nhóm động từ hành động Đặc điểm ngữ nghĩa của động từ trung tâm và các vai nghĩa sẽ được lí giải trên cơ sở ngôn ngữ học tri nhận
Chương 3: Cấu tạo động ngữ của trẻ em có thành tố trung tâm là động từ quá trình – động từ trạng thái – động từ quan hệ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Trong chương này, luận án tập trung phân tích và mô tả đặc điểm cấu tạo động ngữ của trẻ với thành phần trung tâm là nhóm động từ quá trình – động từ trạng thái – động từ quan hệ Đặc điểm ngữ nghĩa của đông từ trung tâm và các vai nghĩa sẽ được lí giải trên cơ sở ngôn ngữ học tri nhận
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong chương này, để có cơ sở cho việc phân tích và mô tả cấu trúc động ngữ của trẻ trong các chương sau, luận án giới thiệu một số quan điểm của các nhà Ngôn ngữ học trong và ngoài nước về động từ, động ngữ, về ngữ pháp - ngữ nghĩa học tri nhận và thụ đắc ngôn ngữ trẻ em
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỘNG TỪ VÀ ĐỘNG NGỮ
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu động từ và động ngữ trên thế giới
Động ngữ là vấn đề đã được nghiên cứu từ rất lâu với các trường phái khác nhau từ ngữ pháp truyền thống, ngữ pháp tạo sinh – cải biến, ngữ pháp chức năng và gần đây là ngữ pháp tri nhận
1/ Quan điểm của ngữ pháp truyền thống về động ngữ
Theo các nhà ngữ pháp học truyền thống trước đây như Nesfield, Lowth, Jesperson, Poutsma (theo Trần Hữu Mạnh [77,56]) với các cuốn sách đã được xuất bản trong thế kỉ XIX và khoảng nửa đầu thế kỉ XX, động ngữ thường được xem xét trong vai trò vị ngữ - thành tố chủ yếu thứ hai của câu sau chủ ngữ
Theo hướng ngữ pháp truyền thống, trong một cuốn sách xuất bản tại Liên
Xô “An English grammar – Syntax”, Kobrina et al (1986) (theo Trần Hữu Mạnh [77,56]) không đi sâu xem xét cấu trúc của động ngữ mà trong phần cú học chỉ phân tích vị ngữ - chức năng thông dụng nhất của động ngữ Các tác giả này đề cao vai trò của động từ qua sự nhấn mạnh vị ngữ, khi cho rằng: vị ngữ là thành phần chính thứ hai của câu và là trung tâm tổ chức của câu, bởi lẽ tân ngữ và hầu như tất cả các trạng ngữ đều có liên quan đến và phụ thuộc vào nó
2/ Động ngữ trong ngữ pháp tạo sinh – cải biến (Transformational – generative
grammar)
Trong cuốn ngữ pháp tạo sinh – cải biến đầu tiên, các cấu trúc cú pháp
(Syntactic Structures), nhà ngôn ngữ học sáng lập trường phái này N Chomsky (1957) đã vạch rõ ba mô hình (models) ngữ pháp dùng để mô tả ngôn ngữ nói chung:
Trang 17- Ngữ pháp trạng thái biến vị (finite state grammar)
- Ngữ pháp cấu trúc ngữ đoạn (phrase structure grammar)
- Ngữ pháp cải biến (transformational grammar) Các nhà ngôn ngữ học tạo sinh – cải biến cũng sử dụng hai thành tố NP và VP để phân tích câu Ngữ pháp tạo sinh - biến đổi bao gồm: ngữ pháp cấu trúc đoạn (PS grammar) và ngữ pháp cải biến (transformational grammar)
Trong ngữ pháp cấu trúc ngữ đoạn, câu được phân tích thành danh ngữ và động ngữ: S → NP + VP Và động ngữ có thể được phân tích tiếp: VP → V + NP
Thực tế, thành phần đứng sau V có thể là NP hay một, hai yếu tố khác (NP, AdjP, AdvP) phụ thuộc vào loại động từ được sử dụng: Động từ nội hướng (intransitive verbs) không cần thêm yếu tố nào mà câu vẫn đủ nghĩa, động từ quan hệ (intensive verbs) cần phải đi với NP hay AdjP, động từ ngoại hướng đơn (monotransitve verbs) cần phải đi với một NP, trong khi ngoại hướng kép (ditransitive verbs) cần hai NP kế tiếp nhau (chỉ hai thực tế khác biệt) thì động từ ngoại hướng phức (complex transitive verbs) lại cần hai NP cùng chỉ một thực thể (coreferential BPs) hay NP + AdjP nói về cùng một thực thể
3/ Động ngữ trong ngữ pháp chức năng - hệ thống
Từ cuối thập kỉ 60, đầu thập kỉ 70 của thế kỉ XX đã bắt đầu manh nha một trường phái ngôn ngữ mới có những điểm khác hẳn so với trường phái ngữ pháp tạo sinh Nếu ngữ pháp tạo sinh - cải biến, một trường phái có thể coi là đánh dấu một cuộc cách mạng trong việc nghiên cứu ngôn ngữ thoát khỏi sự bế tắc của thuyết cấu trúc luận thì trường phái mới ra đời, với cái tên nay đã trở nên quen thuộc là Ngôn ngữ học chức năng hệ thống (Systemic Linguitics) do Halliday khởi xướng, đã mang lại một cái nhìn chức năng mới mẻ cho ngôn ngữ, theo đó, ngôn ngữ được xem là một nguồn lực tạo nghĩa (potential for meanings)
và ngữ pháp của ngôn ngữ là một hệ thống các lựa chọn để biểu đạt các loại nghĩa (hay các siêu chức năng) khác nhau: nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân
và nghĩa văn bản
Khi phân tích ý nghĩa của động ngữ mà hạt nhân là động từ chính (lexical verb) đóng góp vào trong ý nghĩa của câu nói chung, Halliday đã nêu lên sáu ý nghĩa cơ bản của động từ, ứng với sáu kiểu quá trình:
Trang 18Xét về chức năng hay nghĩa kinh nghiệm, sáu quá trình này bao gồm toàn
bộ hoạt động ngôn ngữ của con người nói chung Trong sáu loại quá trình đó, có bốn loại quá trình chính - vật chất, tinh thần, quan hệ và nói năng - thể hiện về cơ bản không gian ngữ nghĩa và ngữ pháp của những sự tiếp diễn trong thế giới, hành động, cảm nhận, nói năng, tồn tại, sở hữu và chúng tạo thành một bộ khung chính dành cho việc thông hiểu và diễn giải kinh nghiệm của chúng ta về thế giới thông qua các phương tiện thể hiện cú trong các ngôn ngữ
Có thể tóm tắt cách xem xét tiếp cận của ngữ pháp chức năng hệ thống với động từ và động ngữ trong bảng sau:
là, thì xác định tính chất nhận biết
Hành thể và đích thể
Cảm (nhận) thể và hiện tượng
Phát ngôn thể Ứng thể Ngôn thể (mục đích) Hiện diện thể
Biểu tố, giá trị Đương thể, định tố
Ngữ nghĩa của động từ x t theo các kiểu quá tr nh
Trang 19Có thể thấy các trường phái ngôn ngữ học đại diện cho các giai đoạn phát triển của ngôn ngữ học, cũng là sự phát triển trong nhận thức của chúng ta về ngôn ngữ Tuy có các cách biện giải khác nhau nhưng các trường phái ngôn ngữ học đều quan tâm đến động ngữ và có những kết luận rất xác đáng về vai trò của động từ và động ngữ trong câu Chúng tôi cho rằng các trường phái ngôn ngữ học đều có tính kế thừa Nghiên cứu ngôn ngữ không nên đối lập các quan điểm trường phái mà trong khả năng có thể nên tích hợp những lập luận của những trường phái khác nhau để có cái nhìn ngày càng chân xác hơn về bản chất của đối tượng
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu động từ và động ngữ ở Việt Nam
Động từ tiếng Việt đã được nghiên cứu từ rất sớm Theo dòng thời gian có
thể kể ra một loạt các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Grammaire de la
langue annamite của Trương Vĩnh Ký (1883), Việt Nam văn phạm của Trần
Trọng Kim – Phạm Duy Khiêm – Bùi Kỷ (1940), Studies in Vietnamese
(annamese) grammar của M.B Emeneau (1951), Việt ngữ nghiên cứu của Phan
Khôi (1955), Khảo luận về Ngữ pháp Việt Nam của Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê (1963) A Vietnamese Grammar của L.C Thompson (1965), Văn phạm
Việt Nam của Bùi Đức Tịnh (1968), Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam của Lê Văn Lý
(1968), Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (1977), Ngữ pháp tiếng
Việt của Uỷ ban KHXH Việt Nam (1983), Ngữ pháp tiếng Việt của Đinh Văn
Đức (1986), Nhóm từ chỉ hướng vận động trong tiếng Việt của Nguyễn Lai (1990), Ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban (chủ biên) (1991), Vị từ hành
động tiếng Việt và các tham tố của nó so với tiếng Nga và tiếng Anh của Nguyễn
Thị Quy (1995), Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc (1996),
Tiếng Việt - mấy vấn đề ngữ âm - ngữ pháp - ngữ nghĩa của Cao Xuân Hạo
(2001), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (vị từ hành động) của Nguyễn Thị Quy (2002), Ngữ pháp chức năng Quyển 1 (2000), của Cao Xuân Hạo và Quyển 2 (2005) do Cao Xuân Hạo (chủ biên), Khảo sát các động từ t nh thái trong tiếng
Trang 20Việt của Bùi Trọng Ngoãn (2004), Vài nhận x t về ngữ nghĩa vị từ cảm giác của
Nguyễn Vân Phổ (2007), Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ trao/tặng của Lâm Quang Đông (2008), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ (2009) và
777 khái niệm ngôn ngữ học (2010) của Nguyễn Thiện Giáp, Nghiên cứu nhóm vị
từ chỉ t nh cảm trong tiếng Hán và tiếng Việt của Lý Quế Phương (2012), v.v
Trong số các công trình nghiên cứu về động ngữ ở Việt Nam phải kể đến
Nguyễn Tài Cẩn với nghiên cứu về cụm từ/đoản ngữ (cụm danh từ/danh ngữ,
cụm động từ/động ngữ) trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt (1975) Tiếng, từ
ghép, đoản ngữ là ba lĩnh vực then chốt của ngữ pháp tiếng Việt, được tác giả nghiên cứu, lý giải một cách khoa học, mà cho tới bây giờ vẫn được đánh giá là
chuẩn xác (tuy các thuật ngữ đã có một số thay đổi) Đoản ngữ trong tiếng Việt
cũng là thuật ngữ lần đầu tiên đã được Nguyễn Tài Cẩn sử dụng để miêu tả cấu trúc của danh ngữ tiếng Việt Ông cho rằng đoản ngữ là một loại tổ hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ bao gồm một trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ Tiếp nối Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức trong
công trình nghiên cứu về từ loại tiếng Việt Ngữ pháp tiếng Việt (Từ loại)
(1985) Sau đó là Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp với Thành phần
câu tiếng Việt (1998), Nguyễn Văn Hiệp với Cú pháp tiếng Việt (2009) được coi
là những nghiên cứu cơ bản về cú pháp tiếng Việt
Các tác giả có những quan điểm nhấn mạnh vào những phương diện khác nhau về động từ tiếng Việt, đó là nhấn mạnh vào phương diện từ loại (vốn được xác lập chủ yếu nhờ các tiêu chí hình thức), hay nhấn mạnh vào phương diện chức năng (vốn được xác lập bởi các tiêu chí nội dung) Thật ra, trong mối quan
hệ biện chứng giữa hình thức và nội dung thì hai phương diện này được hòa trộn trong bản thân động từ Việc chúng tôi tách ra thành hai phương diện sau đây chỉ
là để tiện cho việc khảo sát mà thôi
1/ Quan điểm nghiên cứu động từ như là một phạm tr từ loại
Thuộc quan điểm này có thể kể đến các tác giả như: Trần Trọng Kim - Phạm Duy Khiêm – Bùi Kỷ, M.B Emeneau, Bùi Đức Tịnh, Lê Văn Lý, Nguyễn
Trang 21Kim Thản, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Lộc, v.v… Trọng tâm trong các công trình của các tác giả này là coi động từ là một nhóm từ loại phân biệt với từ loại tính từ và đưa ra các tiêu chí hình thức để phân biệt hai nhóm từ này, chủ yếu là các tiêu chí về khả năng kết hợp với các từ chứng Tiêu biểu cho khuynh hướng này là Lê Văn Lý và Nguyễn Kim Thản
2/ Quan điểm coi động từ là một phạm tr chức năng
Thuộc quan điểm này có thể kể đến các tác giả như: Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thị Quy, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Vân Phổ, Bùi Minh Toán, v.v Các tác giả này dùng bao quát hơn là vị từ và cho rằng vị từ là từ “có thể tự mình làm thành một vị ngữ (hay một ngữ đoạn biểu thị nội dung của cái sự tình được trần thuật trong câu) hoặc làm trung tâm cho ngữ đoạn ấy” [39, 355] Đối với nhóm các tác giả thuộc khuynh hướng này, tiêu chí để phân biệt các tiểu loại của động từ cũng không phải là các khả năng kết hợp với các nhóm từ chứng như các tác giả thuộc khuynh hướng đầu tiên đã cố gắng xác lập Theo họ, các tiêu chí [+ Động] và [+ Chủ ý] mà S.C Dik
đã đề ra có thể là các tiêu chí đáng tin cậy để phân loại động từ tiếng Việt Theo đó, các tác giả này đã phân chia các động từ trong tiếng Việt thành bốn nhóm chủ yếu là:
động từ làm trung tâm Về khái niệm động ngữ, sách Ngữ pháp tiếng Việt
của Ủy ban khoa học xã hội và nhân văn quốc gia định nghĩa: "Động ngữ là một ngữ mà động từ làm chính tố" [124, 147]
1.2.1.2 Cấu tạo động ngữ
Các tác giả đã tương đối nhất quán khi phân tích cấu trúc của động ngữ, bao gồm ba phần:
Trang 22Phần đầu Phần trung tâm Phần cuối
Theo Nguyễn Tài Cẩn (1999), những yếu tố phụ cho động từ có vị trí cố định
trước động từ bao gồm: đã, sẽ, đang, không, chưa, cũng, vẫn…Những phụ từ này
có thể được chia thành các tiểu nhóm:
(1) Nhóm chỉ sự tiếp diễn của hành động: đều, c ng, vẫn, cứ…
(2) Nhóm chỉ thời gian hành động/quá trình: từng, đã, vừa, mới, đang, sẽ… (3) Nhóm nêu lên ý sai khiến: hãy, đừng, chớ…
(4) Nhóm dùng để khẳng định hay phủ định sự tồn tại của hành động: chỉ, có, hay, không, chưa, chẳng…
(5) Nhóm miêu tả mức độ của trạng thái: rất, hơi, quá…
Diệp Quang Ban cũng phân chia các từ đứng trước động từ thành 5 nhóm nêu trên nhưng thêm nhóm “hay, năng, ít” và liệt kê theo bảng dưới đây:
Bên cạnh các nhóm hư từ kể trên, Diệp Quang Ban còn đề cập đến các trường hợp sử dụng thực từ (từ tượng thanh, từ tượng hình và một số tính từ miêu tả hành động) trước động từ như:
Ào ào chảy, lác đác rơi
Khẽ kêu, ôn tồn đáp, nhẹ nhàng khuyên bảo
Chóng phai, lâu mòn, căn bản hoàn thành
Ngoài ra còn trường hợp đứng trước động từ là một kết từ + danh từ, chỉ điểm xuất phát:
Trang 23Từ quê ra, ở Bắc vô, (từ) dưới Hải Phòng lên
Ở tận trong Nam ra/tới, tít, tận trên Lào Cai xuống
2/ Phần trung tâm của động ngữ
Phần trung tâm của động ngữ được đảm nhiệm bởi các động từ Động từ
Động từ có khả năng đảm nhiệm nhiều chức năng cú pháp khác nhau mà quan trọng nhất là chức năng vị ngữ
Động từ là những từ có khả năng tự mình làm vị ngữ hoặc làm hạt nhân ngữ nghĩa của một vị ngữ biểu thị nội dung sự tình của thế giới được nói đến trong câu Nó có vị trí đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu ngữ nghĩa - ngữ pháp của câu Có thể nói một trong những người đầu tiên quan tâm đến vai trò của động từ trong việc chi phối ngữ nghĩa của câu chính là L.Tesnière Theo L.Tesnière, cấu trúc cú pháp của câu xoay xung quanh động từ và các diễn tố (actants) làm bổ ngữ cho nó Với tinh thần chống ảnh hưởng của lôgic trong nghiên cứu cú pháp, L.Tesnière thậm chí cho rằng, ngay cả chủ ngữ cũng chỉ là một trong số các bổ ngữ đó Tiếp sau ông, C.J Fillmore, W.L Chafe, S.C Dik, M.A.K Halliday, v.v cũng là những người đánh giá cao vai trò của động từ trong câu Chẳng hạn, nhận định về vai trò của động từ trong toàn bộ thế giới khái niệm của con người, W.L Chafe đã phát biểu: “toàn bộ thế giới khái niệm của con người ngay từ đầu đã chia ra làm hai phạm vi chính Một là phạm vi động từ bao gồm các trạng thái (tình trạng, chất lượng) và sự kiện; phạm vi kia là danh từ bao gồm các “sự vật” (…) Tôi chấp nhận rằng trung tâm của chúng là động từ, còn ngoại diên là danh từ.” [15, 124]
Trang 24Ở Việt Nam, khi đánh giá về chức năng của động từ, Cao Xuân Hạo cũng cho rằng “chức năng của vị từ chính là làm thành vị ngữ (ngữ đoản vị từ) hay làm trung tâm của ngữ đoản này, cho nên chính nó đảm đương việc mang những đặc trưng ngữ pháp - ngữ nghĩa đánh dấu sự phân biệt giữa các loại sự tình” [39, 258] Điều này có nghĩa là động từ đảm nhận gánh nặng ngữ pháp - ngữ nghĩa của câu Sở dĩ sự tình này khác biệt với sự tình khác là do sự khác biệt về tính chất của các động từ Cũng như vậy, nhận xét về vai trò của động từ đối với ngữ nghĩa của câu, Nguyễn Thi Quy đã viết: “Nghĩa của các vị từ có một tác dụng quyết định đối với ngữ pháp của câu” [96,9]
Với vai trò quan trọng như vậy trong việc diễn đạt ý nghĩa trung tâm của câu, các động từ cũng được chia thành các tiểu loại khác nhau Chẳng hạn, căn
cứ vào đặc trưng nghĩa học của vị ngữ và kết hợp với yếu tố “hoàn cảnh”, W.L Chafe phân chia động từ tiếng Anh thành sáu loại sau: 1/Động từ trạng thái, 2/Động
từ quá trình, 3/Động từ hành động, 4/Động từ quá trình hành động, 5/Động từ trạng thái hoàn cảnh, 6/ Động từ hành động hoàn cảnh Hay S.C Dik, dựa trên hai thông
số cơ bản là Động và Chủ ý, đã phân chia động từ thành bốn nhóm cơ bản là: 1/
Động từ hành động, 2/ Động từ quá trình, 3/ Động từ trạng thái, 4/ Động từ quan hệ Quan điểm này của ông đã được nhiều nhà Việt ngữ học ứng dụng để khảo sát tiếng Việt, mà tiêu biểu là nghiên cứu của Nguyễn Thị Quy
Phương pháp nghiên cứu của ngữ pháp chức năng hiện đại là đi từ nội dung đến hình thức, từ mục đích đến phương tiện, từ ý nghĩa đến cấu trúc ngữ pháp Nếu như các nhà ngữ học miêu tả quen coi những đặc trưng phân bố như những thực thể có giá trị tự thân chứ không phải là những biểu hiện bên ngoài của một cái gì khác thì trái lại, ngữ pháp chức năng quan niệm rằng mỗi chi tiết trong hình thức ngữ pháp đều là một phương tiện diễn đạt ý nghĩa và, do đó, đều là một sự thể hiện trên bề mặt của nội dung ngữ nghĩa của các từ ngữ, bao giờ cũng
sử dụng phân bố như một bằng chứng của những đặc trưng về nghĩa của các từ ngữ hữu quan Do đó, đối với ngữ pháp chức năng, cách phân bố là một phương tiện để phân tích thêm nghĩa của từ, ngữ và câu Một trong những vấn đề mà ngữ
Trang 25pháp chức năng đặc biệt là sự phản ánh sự tình của thế giới hiện thực bằng ngôn ngữ “Dựa trên cơ sở ngữ nghĩa, Vendler đã nêu vấn đề phân loại các kiểu sự tình, mà ông gọi là các Aktionsart, tức các hình thức của hành động (mode of actions) từ rất sớm (1957) Theo ông, mỗi động từ thuộc về một kiểu Aktionsart
cơ sở, trong số bốn kiểu Aktionsart sau:
a) Trạng thái (States): bị ốm, cao, yêu, biết, tin, có
- Trạng thái (States): [+ Tĩnh], [- Hữu kết], [- Điểm tính]
- Sự biến (Achievements): [- Tĩnh], [- Hữu kết], [- Điểm tính]
- Hoàn thành (Accomplishments):[- Tĩnh], [+ Hữu kết], [- Điểm tính]
- Hoạt động (Activities): [- Tĩnh], [+ Hữu kết], [+ Điểm tính]
Sự phân loại của Vendler là khá thuyết phục vì chặt chẽ và khá bao quát Sau Vendler đã có rất nhiều cố gắng nhằm phân loại các kiểu sự tình, dẫn đến sự hình thành một loại hình học về các kiểu sự tình
Trên thực tế, hiện nay có nhiều giải pháp khác nhau (Halliday 1985, Dik
1989, Cao Xuân Hạo 1991,…)
Halliday đề nghị các kiểu sự tình (mà tác giả gọi là “quá trình”) khái quát nhất nhƣ sau:
- Các quá trình vật chất (material), phản ánh thế giới vật lí
- Các quá trình tinh thần (metal), phản ánh thế giới ý thức
- Các quá trình quan hệ (relational), phản ánh các mối quan hệ trừu tƣợng Bên cạnh đó là các quá trình chuyển tiếp:
- Các quá trình hành vi, chuyển tiếp giữa các sự thể vật chất và các sự thể tinh thần
Trang 26- Các quá trình ngôn từ (tức sử dụng ngôn từ, bao gồm nói năng và cảm nghĩ, chuyển tiếp giữa các quá trình tinh thần và các quá trình quan hệ)
- Các quá trình tồn tại (gồm sự tồn tại, sự xuất hiện, sự tiêu biến), chuyển tiếp giữa các quá trình vật chất và các quá trính quan hệ
Cách phân loại của Dik:
Trang 27+ chuyển tác tác động chuyển thái
chuyển vị Hành động
(+ chủ ý) tạo diệt tạo tác
huỷ diệt -chuyển tác +di chuyển + hướng
(+ động)
- di chuyển cử động
ứng xử +chuyển tác tác động chuyển thái
(- chủ ý) tạo diệt tạo tác
huỷ diệt -chuyển tác chuyển biến chuyển thái
Sự tình Tồn tại - sinh diệt nảy sinh
Tính chất phẩm chất th.tinh (+sinh) (+thường tồn) (+thể chất) th.tinh (-sinh) Trạng thái tính khí trí tuệ (+nội tại) (-thể chất) tình cảm
Tình trạng + thể chất vật trạng (-thường tồn) thể trạng
Với vật thể tương đối Vật thể tương liên Quan hệ với hoàn cảnh vị trí
Với sự tình kết hợp
Với hoàn cảnh không gian
Trang 2860, Fillmore đã đưa ra một số vai nghĩa mà ông cho là có tính phổ quát, có thể tìm thấy trong mọi ngôn ngữ, phản ánh một phương diện chung trong cách thức chúng ta tri nhận về thế giới: “Ý niệm về cách bao gồm một tập hợp khái niệm phổ quát, được giả định là bẩm sinh, xác định những kiểu tri nhận nào đó của con người về những sự tình đang diễn ra quanh họ, tri nhận về những vấn đề như
ai thực hiện nó, nó xảy ra đối với ai, và cái gì thay đổi” (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp [48,41])
Fillmore đã đề nghị những cách sâu (deep case) hay cách ngữ nghĩa sau đây:
- Agentive (A): Tác thể, biểu thị người hay động vật là chủ thể của hành động mà động từ biểu thị
- Instrument (I): Cách công cụ, biểu thị động lực bất động vật hay công cụ
có quan hệ nhân quả với hành động hay trạng thái nêu ở động từ
- Dative (D): Tặng cách, biểu thị người hay động vật chịu tác động của trạng thái hay hành động được nêu ở động từ
- Factitive (F): Tạo cách, biểu thị đối tượng là kết quả của hành động hay trạng thái được nêu ở động từ, hoặc được hiểu như là một bộ phận nghĩa của động từ
- Location (L): Cách địa điểm, biểu thị vị trí hoặc hướng không gian của trạng thái hay hành động được nêu ở động từ
Trang 29- Objective (O): Đối thể, cách trung hoà nhất, biểu thị bất kì nội dung gì mà ngữ đoạn danh từ có thể biểu thị trong cái sự tình được động từ xác lập nên Có thể hình dung nó như là vật chịu tác động của trạng thái hay hành động mà động
từ biểu thị
Danh sách các vai nghĩa, hay các cách sâu, cách ngữ nghĩa về sau đó được nhiều nhà ngôn ngữ học bổ sung (Chafe, Dik, Dixon, Parson,…) và là một danh sách hiện nay vẫn còn để ngỏ Tuy nhiên, những vai nghĩa được thể hiện bởi phần phụ đứng sau của động ngữ sau đây đã được hầu hết các nhà nghiên cứu thừa nhận:
- Vai tiếp thể (Recipient, viết tắt là Rec): biểu thị kẻ tiếp nhận trong hành
- Vai kẻ hưởng lợi (Benefactive, viết tắt là Ben): biểu thị kẻ được hưởng thành
- Vai lực tự nhiên (Force, viết tắt là Fo): chỉ tác nhân tự nhiên gây ra một
- Vai bị thể (Patient, viết tắt là Pa): chỉ vật, người chịu sự tác động, dẫn đến một thay đổi nào đó Sự thay đổi này có thể là thay đổi về vật lí, tâm lí…Ví dụ:
- Vai công cụ (Instrument, viết tắt là Instr): chỉ công cụ được dùng để thực
- Vai vật thực hiện tác động (Effector): chỉ vật trực tiếp tác động đến đối tượng nào đó, vai này rất gần gũi với vai công cụ Ví dụ: Con ăn mì bằng
đũaEffector
- Vai địa điểm, vị trí (Location hay Locative, viết tắt là Lo): chỉ nơi chốn
- Vai điểm xuất phát, hay nguồn của trạng thái (Source, viết tắt là So): chỉ điểm xuất phát của chuyển động, hay nguồn của trạng thái Ví dụ: Con từ
Trang 30- Vai điểm đến (Goal, viết tắt là Go): chỉ đích đến của một chuyển động Ví
- Vai kẻ tham chiếu (Reference, viết tắt là Ref): chỉ người hay vật được dùng để tham chiếu trong một trạng thái, quan hệ…
- Vai kẻ cùng hành động (Comcomitant, viết tắt là Com): chỉ người cùng
- Vai hướng chuyển động (Direction, viết tắt là Dir) hay lối đi (Path): chỉ
hướng của chuyển động Ví dụ: Chúng con đi thành hàng dọc theo đường bên
phảiDir/Path
- Vai thời điểm (Temporal, viết tắt là Temp): chỉ thời điểm của sự tình Ví
- Vai chủ sở hữu (Possessor, viết tắt là Poss): chỉ chủ sở hữu của sự vật Ví
- Vai thời lượng (Duration, viết tắt là Dur): chỉ thời gian kéo dài của hành
- Vai nội dung (Content): chỉ nội dung của sự hiểu biết Ví dụ: Mẹ biết rằng
- Vai thực thể chuyển động (Theme): chỉ một thực thể tồn tại ở một vị trí nào đó, hoặc thực thể chuyển động, chịu một sự thay đổi về vị trí do một tác nhân nào đó Vai này cũng dùng để chỉ thực thể được sở hữu hay chịu sự thay
Một số vai khác, có tính ngoại vi hơn, cũng được một số tác giả thừa nhận, như vai nguyên nhân (Reason), vai mục đích (Purpose), vai cách thức (Manner),
có thể đứng tách biệt hay được xếp vào phần phụ sau của động ngữ
Ví dụ:
Trang 31Quỳnh Anh hát rất hayManner
Có thể thấy, động từ trong tiếng Việt là một loại từ gói ghém trong nó và kéo theo nó khá nhiều vấn đề có liên quan tới cả mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn của ngôn ngữ học Số câu mà vị ngữ là động từ trong tiếng Việt chiếm tỉ lệ áp đảo (88%, theo Nguyễn Kim Thản, 1977) Tuy nhiên nghiên cứu về động ngữ vẫn còn mở ngỏ nhiều vấn đề “phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề nữa của loại từ này” [105,258] bởi “Từ “khoảng trời” động từ tiếng Việt, có thể nhìn thấy được nhiều hiện tượng của cả “bầu trời” tiếng Việt” [105, 8]
1.2.2 Động từ và động ngữ nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
Trên thế giới, cũng như ở Việt Nam, một trong những thành quả to lớn của ngữ pháp học cấu trúc luận là lí luận về cụm từ nói chung – và cụm động từ nói riêng Thành tựu của ngôn ngữ học cấu trúc luận được kế thừa và phát huy bởi những xu hướng khác, hiện đại hơn, như ngữ pháp học chức năng (functional grammar) và gần đây của ngữ pháp học tri nhận (cognitive grammar)
Sau đây chúng tôi muốn tập trung làm nổi bật cái nhìn mới mẻ về ngữ pháp, ngữ nghĩa từ khi có sự ra đời của ngữ pháp và ngữ nghĩa học tri nhận cùng những quan niệm về động từ, động ngữ thông qua cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận
1.2.2.1 Ngữ pháp - ngữ nghĩa học tri nhận
Trong ngôn ngữ học tri nhận có hai địa hạt được nghiên cứu thành công nhất - đó là ngữ nghĩa học và ngữ pháp học Đặc biệt, ngữ pháp học tri nhận là ngành học tiên phong, mở đường cho sự hình thành và phát triển của toàn bộ ngôn ngữ học tri nhận, với tên tuổi lớn là học giả người Mỹ: Ronald Langacker
Những nghiên cứu của ông đã được trình bày một cách hệ thống trong hai
tập sách lần lượt xuất bản vào năm 1987 và năm 1991 Foundations of Cognitive
Grammar (Cơ sở của Ngữ pháp Tri nhận) Đây cũng là lý thuyết ngữ pháp mang
tính toàn diện và chi tiết nhất được phát triển trong ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics), và cho đến giờ nó có ảnh hưởng nhất tới những cách tiếp cận theo hướng tri nhận về ngữ pháp (cognitive approaches to grammar)
Trang 32Ngữ pháp học tri nhận được Langacker xác định có một hệ quan điểm riêng của nó có thể được trích dẫn và tóm lược như sau:
“Khái niệm trung tâm của ngữ pháp tri nhận là cái ý tưởng cho rằng cấu trúc ngữ pháp là có tính biểu hiệu (symbolic)”
“Ngữ pháp của một ngôn ngữ đơn giản chỉ là…một bản liệt kê được cấu trúc hoá của các đơn vị ngôn ngữ mang tính quy ước” và “ngữ pháp không phải
là một sự miêu tả “tạo sinh” để cung cấp một sự liệt kê hình thức tất cả và chỉ các câu đúng của một ngôn ngữ”
“Sự liên tưởng biểu hiệu giữa một cấu trúc hay một đơn vị ngữ nghĩa với một cấu trúc hay một đơn vị âm vị…kết quả là có được một đơn vị biểu hiệu”
“Các mô hình ngữ pháp được phân tích như những đơn vị biểu hiệu có tính chất sơ đồ (schematic)…”
“Có ba loại quan hệ giữa các thành tố của một cấu trúc phức thể (complex) Thứ nhất là biểu hiệu hoá…Thứ hai là phạm trù hoá…Cơ sở cho sự kết hợp cú đoạn là sự tích hợp (integration)…là loại quan hệ thứ ba…”
“Ngữ pháp tri nhận thừa nhận có ba kiểu cấu trúc cơ bản: ngữ nghĩa, âm
và kết cấu ngữ pháp đều có “import” ý niệm và âm vị; chu cấp cho việc cấu trúc
Trang 33hoá và biểu hiệu hoá các nội dung ý niệm Như thế “cấu trúc hình thức của ngôn ngữ là sự phản ánh, ánh xạ của những cấu trúc khái niệm nói chung, của các nguyên tắc phạm trù hoá, của các cơ chế hoạt động ngôn ngữ trong giao tiếp và ảnh hưởng trực tiếp của bối cảnh môi trường và kinh nghiệm” [112,9]
Trên cơ sở kế thừa ngữ nghĩa học truyền thống, ngữ nghĩa học tri nhận ra đời từ cuối thể kỉ XX là khuynh hướng phân biệt với các khuynh hướng ngữ nghĩa học cấu trúc và ngữ nghĩa học hình thức “Nét mới của ngữ nghĩa tri nhận và rộng hơn là ngữ pháp tri nhận là chọn cách tiếp cận khác với hướng của ngữ pháp và ngữ nghĩa tạo sinh…Ngữ pháp tạo sinh, mà người đại diện là N.Chomsky…đã chọn hai cách tiếp cận hướng ngoại (external language)…Ngữ nghĩa và ngôn ngữ học tri nhận, ngược lại, chọn con đường tiếp cận ngôn ngữ hướng nội (internal language) Đặc điểm của ngôn ngữ hướng nội…đó là: 1/ Coi sự nghiên cứu ngôn ngữ như là sự khám phá “một cơ thể” của sự hiểu biết một vốn tri thức thể hiện trong ý nghĩ, trong trí tuệ của cá nhân và cộng đồng người nói 2/ Xem sự nghiên cứu những đặc điểm ngôn ngữ và ngữ nghĩa được đặc trưng hoá trong khả năng tri nhận của người nói, vì vậy việc nghiên cứu, miêu tả ngôn ngữ và ngữ nghĩa phải gắn với tâm lí học tri nhận và khoa học tri nhận” [113,8]
Ý nghĩa cư ngụ ở trong sự ý niệm hoá (conceptualization), là ngang bằng với
sự ý niệm hoá; và sự ý niệm hoá đến lượt nó lại cư ngụ trong các quá trình tri nhận Các cấu trúc ý nghĩa là cấu trúc ý niệm được gợi lên bởi các biểu đạt ngôn ngữ học
và do đó sự phân tích ngữ nghĩa cuối cùng thì cũng phải quy về sự phân tích ý niệm
có liên quan đến hệ thống tri thức của con người; chứ không phải như ngữ nghĩa học hình thức vốn chỉ dựa trên các điều kiện chân ngụy (truth conditions)
“Ý nghĩa của một biểu đạt, của một cấu trúc ngữ pháp, tuy nhiên, hàm chứa rộng hơn nội dung ý niệm bởi vì đối với sự phân tích ngôn ngữ học một điều rất quan trọng là: cái nội dung ấy được tạo hình (shaped) và được lí giải (construed) ra sao Có rất nhiều cách thức khác nhau để làm điều này và mỗi cách thức ấy biểu hiện cho một ý nghĩa; mỗi biểu đạt ngôn ngữ, mỗi cấu trúc
Trang 34ngữ pháp do vậy áp đặt một hình ảnh (image) riêng biệt, đặc thù, lên cái nội dung ý niệm mà nó gợi lên” [110, 257] Như vậy có thể thấy, cấu trúc động ngữ trong ngôn ngữ trẻ em cũng là một dạng cấu trúc ngữ pháp hàm chứa trong nó một ý nghĩa biểu đạt, một nội dung ý niệm phản ánh tư duy, nhận thức của trẻ về thế giới giai đoạn đầu đời Tri nhận trong cấu trúc động ngữ của trẻ được cấu trúc dựa trên “cách nhìn thế giới” (world view), “cách lý giải” (Contrual) và
“điểm nhìn” (point of view)
“Cách nhìn thế giới” (world view), “cách lý giải” (Contrual) và “điểm nhìn” (point of view) là một trong những luận điểm nòng cốt, quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận nói chung và ngữ pháp học tri nhận nói riêng
“Một thời gian dài trong ngôn ngữ học người ta cho rằng các sự tình của thế giới bên ngoài được phân tách thành những yếu tố cấu thành và mỗi yếu tố
đó tương ứng với một yếu tố nào đấy của cấu trúc ngôn ngữ theo kiểu một đối một Quá trình ký mã này là một thao tác tương đối đơn giản và do những quy tắc hình thức của ngữ pháp chi phối
Tuy nhiên, trên thực tế thì ngược lại - đó không phải là một sự chiếu xạ (mapping) trực tiếp như thế, mà mỗi sự tình có thể được “lý giải” (to construe) theo những cách khác nhau và những cách thức ký mã khác nhau Sự tình đó tạo nên những sự ý niệm hoá khác nhau” (Dẫn theo Lý Toàn Thắng [110,263])
Một ví dụ của Langacker:
- I gave the fence a new coat of paint (Tôi cho hàng rào một lớp sơn mới)
- ? I gave a new coat of paint to the fence (Tôi cho một lớp sơn mới đến/cho hàng rào) (Dẫn theo Lý Toàn Thắng, [110,264])
Trong tiếng Anh câu đầu nghe bình thường là vì giữa hàng rào và lớp sơn quét trên đó có quan hệ chỉnh thể - bộ phận và hàng rào có thể được “lý giải” như “chủ sở hữu” của lớp sơn đó Còn câu sau nghe không bình thường vì khó lòng cho là lớp sơn di chuyển theo “đường đi” đến hàng rào và sự có mặt của
Trang 35giới từ “to” làm cho cái phương diện “đường đi” nổi trội hơn là quan hệ sở hữu giữa lớp sơn và hàng rào
Trong ngôn ngữ trẻ em tồn tại cả những phát ngôn điển mẫu và phi điển mẫu bởi khi tạo lập phát ngôn trẻ có “cách nhìn thế giới”, “cách lý giải” và
Trẻ: Chị ấy hát ở trong tivi, hát xong chị ấy sẽ ra mẹ nhỉ? Con cũng muốn
hát ở trong tivi như chị ấy
Trẻ quan niệm tivi có cấu trúc giống như một ngôi nhà, con người có thể bước vào và đi ra
Có thể thấy cùng một sự vật được biểu đạt bằng một ngữ động từ nhưng
nó có thể được miêu tả khác nhau giữa ngôn ngữ người lớn và ngôn ngữ trẻ em Điều này xuất phát từ “cách nhìn thế giới”, “cách lí giải” và “điểm nhìn” của
người sử dụng ngôn ngữ Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ do đó trẻ có
cách nhìn và cách nghĩ (to see and to think) rất riêng về thế giới
Trang 361.2.2.2 Ngữ pháp học tri nhận của Ronald Langacker
Về động từ và động ngữ: tuy không trực tiếp đề cập đến phạm trù động từ
và động ngữ nhưng trong những nghiên cứu của mình, Ronald Langacker cũng đưa ra quan điểm có liên quan đến động từ và động ngữ như nghiên cứu trường hợp vị ngữ có tính danh từ, hình thái động từ có ngôi Sau đây là cốt lõi của những nghiên cứu trường hợp này
1/ Vị ngữ có tính danh từ: Các danh từ/ Danh từ làm vị ngữ
Thách thức cho một bảng liệt kê ngữ nghĩa của danh từ là việc đưa ra một
sự mô tả về phạm trù mà phạm trù đó bao gồm nhiều loại ý niệm
Hãy xem xét các danh từ gạch chân trong các ví dụ sau đây:
a Lily sent a letter to her lover (Lily gửi một bức thư cho người yêu)
b Her car was making a funny noise (Xe ô tô của cô ấy tạo ra tiếng ồn buồn cười)
c Lily tried to teach George the Arabic alphabet (Lily cố gắng dạy George bảng chữ cái tiếng A- rập)
d The only good thing about George was his height (Ưu điểm duy nhất của George là chiều cao của anh ấy)
e The explosion in her engine made her late for work (Vụ nổ của động cơ
xe cô ấy đã làm cô ấy muộn giờ làm)
f Lily‟s love for George began on a Tuesday (Tình yêu của Lily đối với George đã bắt đầu vào một ngày thứ Ba)
Trong khi các danh từ (như letter (bức thư) và car (ô tô)) là bổ ngữ thì các danh từ khác (như lover (người yêu) mã hóa mối quan hệ giữa hai người hoặc các vật Danh từ noise (tiếng ồn) diễn đạt cảm giác mang tính vật lý, trong khi một danh từ như alphabet (bảng chữ cái) đề cập đến một nhóm các thực thể riêng lẻ có mối liên hệ với nhau Danh từ height (chiều cao) diễn đạt ý niệm vô hướng, trong khi đó danh từ explosion (vụ nổ) mô tả một sự việc Danh từ love (tình yêu) mã hóa một tình cảm, trong khi đó danh từ Tuesday (thứ Ba) đề cập đến
một thời điểm trong thời gian Như các ví dụ này minh họa, các loại ý nghĩa của
Trang 37các thành viên từ loại danh từ cực kỳ khác nhau, và dường như không thể có một bảng liệt kê ngữ nghĩa của từ loại danh từ dựa vào các loại nội dung rất khác nhau như vậy Tuy nhiên, Langacker đã đưa ra ý kiến đối lập là không phải không thể
có một bảng liệt kê ngữ nghĩa Langacker xem xét ngữ nghĩa về sự liên tục, sắp xếp từ sự liên tục mang tính cụ thể cao đến sự liên tục mang tính giản đồ cao Nếu chúng ta di chuyển dọc theo thang độ về phía tính giản đồ, có vẻ như sự mô tả ngữ nghĩa bằng giản đồ của từ loại danh từ là có thể Langacker đưa ra sự mô tả bằng giản đồ của ông về từ loại danh từ như sau (Langacker 2002):
a Một „danh từ‟ chỉ một „vùng‟ trong một số lĩnh vực/miền
b Một „danh từ đếm được‟ chỉ một „vùng được giới hạn‟ trong một số lĩnh vực
Chẳng hạn như các danh từ đếm được chỉ một vùng trong lĩnh vực TIME
(THỜI GIAN) gồm có moment (chốc, lát, khoảng thời gian rất ngắn) và period (thời kỳ, giai đoạn) và danh từ đếm được chỉ một vùng trong lĩnh vực KHÔNG GIAN (SPACE) bao gồm các danh từ line (đường thẳng), triangle (tam giác), và
circle (đường tròn) Tuy nhiên, một số danh từ gợi lên sự kết hợp của các lĩnh
vực Chẳng hạn, flash (ánh sáng lóe lên) chiếu bóng một vùng trong các lĩnh vực
TIME (THỜI GIAN), COLOUR (MÀU SẮC) và VISION (TẦM NHÌN) Như
Langacker quan sát, flash (ánh sáng lóe lên) được giới hạn trong lĩnh vực TIME
(THỜI GIAN), chứ không phải ở lĩnh vực VISION (TẦM NHÌN) Nói cách khác, một ánh sáng lóe lên chắc phải rất ngắn xét về mặt thời gian nhưng có thể trải rộng ra chiếm hết cả tầm nhìn của chúng ta Vì vậy, giới hạn cần chỉ áp dụng trong một trong số những lĩnh vực mà cụm từ đó gợi ra Langacker cũng chỉ ra rằng các
danh từ đếm được như second (giây), hour (giờ), week (tuần) và year (năm) không
gợi ra lĩnh vực cơ bản của TIME (THỜI GIAN) một cách trực tiếp nhưng gợi ra các lĩnh vực trừu tượng mà con người đã đặt ra để „đo‟ thời gian Những lĩnh vực này chúng ta có thể đề cập đến như là CLOCK (ĐỒNG HỒ) (với các trường hợp
của các từ seconds (giây), minutes (phút) và hours (giờ) hay CALENDAR (LỊCH)
Trang 38(trong trường hợp của các từ days (ngày), week (tuần), months (tháng), và year
(năm), cho dù hai lĩnh vực này không cần thiết phải phân biệt
Mặc dù Langacker không đưa ra bằng chứng tâm lý trực tiếp là các động từ được xử lý khác với các từ loại khác nhưng ông đã đưa ra một số động cơ cho sự
mô tả này Trước hết, sự thực là các động từ điển hình (mặc dù không phải là luôn luôn) diễn đạt các sự việc có tính động Đến lượt nó, điều này giải thích cho bản chất thời đoạn của động từ và giải thích tại sao các động từ được đánh dấu trực tiếp về thời gian bằng các phương tiện của hệ thống thời (tense system) Hơn nữa, Langacker cho rằng sự mô tả động từ bằng giản đồ cũng là giữ đúng mục tiêu đặt ra của lý thuyết này Nói cách khác, chúng ta nhắc lại: mục tiêu đặt
ra của Langacker không phải là đưa ra sự mô tả về ngữ nghĩa cho các động từ và danh từ nguyên mẫu (mặc dù chúng ta có thể quan sát thấy thế khi đọc các phân tích của ông) Đúng hơn, mục đích của ông là đưa ra những mô tả mang bằng giản đồ cho tất cả các từ loại dựa chủ yếu vào các biểu hiện ý niệm và các hoạt động tri nhận được thiết lập một cách độc lập Langacker cũng biện luận là lý thuyết này đã đạt được sự đầy đủ về mô tả (descriptive adequacy) bằng việc phân biệt các vị ngữ có tính chất quan hệ (relational predications) và cho phép sự khái quát hóa hoạt động của các phạm trù ngữ pháp nhất định Một mô hình
Trang 39ngôn ngữ đạt được sự đầy đủ về mô tả nếu nó mô hình hóa một cách chính xác các kiến thức ngầm Các tri thức nhấn mạnh vào trực giác của người nói về cái
a Lily loves chocolate [simple] (đơn giản) (Lily thích Sô cô la)
b Lily is eating the chocolate [complex] (phức tạp) (Lily đang ăn Sô cô la)
Cả hai ví dụ đều liên quan đến các mối tương quan thời đoạn (các quá trình)
vì chúng phối hợp một chuỗi các hoạt động liên tục kéo dài trong một quãng thời gian được đưa ra (cả hai trường hợp quãng thời gian đều bao gồm thời điểm lúc nói, do đó là thì hiện tại) Sự khác nhau giữa hai ví dụ trên là trong khi (a) biểu thị QUÁ TRÌNH trạng thái (stative PROCESS) thì (b) biểu thị một QUÁ TRÌNH động Các thuật ngữ „stative‟ (trạng thái) và „dynamic‟ (động) dùng để chỉ các loại khác nhau xét về mặt từ vựng „Stative‟ (trạng thái) có nghĩa là tình trạng giữ nguyên không thay đổi trong suốt quãng thời gian trong khi đó „dynamic‟ (động) có nghĩa là qua thời gian tình trạng có thể có một số thay đổi Như trong (a),
chẳng hạn: love (tình yêu) chỉ một QUÁ TRÌNH (PROCESS) bao gồm một mối quan hệ mang tính bất biến và ổn định giữa TR (vật được định vị) là she (cô ấy) và
LM (mốc quy chiếu) là chocolate (sô cô la) Mặt khác, trong ví dụ (b), eat (ăn) chỉ
QUÁ TRÌNH (PROCESS) mà trong đó bao gồm những thay đổi vốn có trong mối
quan hệ giữa TR (vật được định vị) she (cô ấy) và LM (mốc quy chiếu) chocolate
(sô cô la) QUÁ TRÌNH (PROCESS) ăn gồm có các giai đoạn: bắt đầu, giữa và kết
thúc và trong mỗi giai đoạn này mối quan hệ giữa TR (vật được định vị), she (cô ấy) và LM (mốc quy chiếu) chocolate (sô cô la) là khác nhau Các quá trình mà
Trang 40không có sự thay đổi nội tại được mô tả là „simple‟ (đơn giản) trong khi đó, các quá trình bao gồm sự thay đổi nội tại được mô tả là „complex‟ (phức tạp) Như phần thảo luận này đã chỉ ra, tổ chức TR – LM là hiển nhiên trong các mệnh đề cấu trúc nổi lên từ tổ chức giản đồ TR - LM Tổ chức này là một phần nghĩa của động
từ Điều này chứng tỏ là động từ biểu thị một mối quan hệ
Theo ngôn ngữ học tri nhận, bất cứ một hiện tượng ngôn ngữ nào cũng
có thể được giải thích nhìn từ quan điểm tri nhận Trong đó động ngữ được bao hàm trong địa hạt cụ thể là cú pháp Ngữ pháp tri nhận đã giải thích mô hình cấu trúc cú pháp của câu trên cơ sở hệ thống tri nhận, một hệ thống được tham vọng là có thể áp dụng để lý giải toàn bộ các hiện tượng ngôn ngữ khác nhau Theo đó, Langacker cho rằng mô hình S-V-O phản ánh mô hình tri nhận của sự phân đoạn (segregation) Hình (Figure - F) và Nền (Ground - G), cụ thể
là: chủ ngữ (Subject) tương ứng với Hình (F), bổ ngữ (Object) tương ứng với Nền (G), còn động từ (Verb) tương ứng với đường dẫn (Path) biểu thị
quan hệ giữa Hình (F) và Nền (G) Hai khái niệm khác, phần nào tương ứng với Hình và Nền, được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ học tri nhận là Vật được định vị (Trajector) và Mốc định vị (Landmark), theo đó lối đi (path) luôn bắt đầu từ Trajector (tương đương với F) đến Landmark (tương đương với G) và sẽ có nhiều kiểu đường dẫn (path) khác nhau
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận tiếp tục mở rộng hệ thống tri nhận, áp dụng cho các vai nghĩa Họ cho rằng từ kinh nghiệm, chúng ta biết rằng có thể gây một chuyển động hay tác động vật lí nào đó đối với các đối tượng khác,
đó là đặc điểm của tác thể (Agent) Còn đối tượng chịu tác động từ bên ngoài
và bị thay đổi, bị chuyển dịch sẽ mang đặc điểm của bị thể (Patient) Vai công
cụ (Instrument) được xem như là vật trung gian giữa Agent và Patient, còn vai nghiệm thể (Experiencer) dùng để chỉ người can dự vào một hoạt động tinh thần, một trạng thái tình cảm