1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 10 trung học phổ thông chương trình chuẩn

118 376 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng dạy và học lịch sử giờ đây không phải là chỉ ghi nhớ một số sự kiện, một vài chiến công nói lên tiến trình đi lên của dân tộc hoặc chỉ ghi nhớ công ơn của một số người làm nên sự n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN MINH PHƯỢNG

GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (THẾ KỈ X - GIỮA THẾ KỈ XIX) - LỚP 10 THPT - CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRẦN MINH PHƯỢNG

GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (THẾ KỈ X - GIỮA THẾ KỈ XIX) - LỚP 10 THPT - CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị ThếBình, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và truyền đạt cho em những kinh

nghiệm khoa học quý báu giúp em hoàn thành Luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo dục-Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện nhà trường.Các thầy cô giáo và học sinh trường THPT Thượng Cát, THPT Minh Khai, THPT Xuân Đỉnh, Quận Bắc Từ Liêm-Hà Nội đã tạo điều kiện giúp em thực hiện Luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2015

Học viên Trần Minh Phượng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 10

1.1.Cơ sở lý luận 10

1.1.1 Một số khái niệm 10

1.1.2.Cơ sở xuất phát 15

1.1.3 Biểu hiện nhân cách của con người 23

1.1.4 Ý nghĩa việc giáo dục nhân cách học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 30

1.2 Cơ sở thực tiễn 34

1.2.1 Thực tiễn việc giáo dục nhân cách học sinh thông qua việc dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông hiện nay 34

1.2.2 Nguyên nhân thực trạng và định hướng giáo dục 47

CHƯƠNG II: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (thế kỉ X-giữa thế kỉ XIX) 52 Ở TRƯỜNG THPT 52

2.1.Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam(thế kỉ X - giữa thế kỉ XIX) lớp 10 THPT - Chương trình Chuẩn 52

2.1.1 Vị trí của kiến thức lịch sử 52

2.1.2 Mục tiêu của phần lịch sử Việt Nam lớp 10 (thế kỉ X - giữa thế kỉ XIX) 52

2.1.3.Nội dung cơ bản phần lịch sử Việt Nam lớp 10( thế kỉ X- giữa thế kỉ XIX) 53 2.2 Xác định nội dung kiến thức cần khai thác để giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10(thế kỉ X- giữa thế kỉ XIX) 55

Trang 6

2.3 Những yêu cầu cơ bản khi xác định các biện pháp giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam(thế kỉ X-giữa thế kỉ XIX) lớp 10

THPT - Chương trình chuẩn 56

2.4 Một số biện pháp để giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam(thế kỉ X-giữa thế kỉ XIX) lớp 10 THPT - Chương trình chuẩn 58 2.4.1 Khai thác triệt để kiến thức trong sách giáo khoa lịch sử theo phương pháp bộ môn để giáo dục nhân cách học sinh 58

2.4.2 Sử dụng câu chuyện về nhân vật lịch sử để giáo dục nhân cách học sinh 63 2.4.3 Vận dụng phương pháp đóng vai để giáo dục nhân cách học sinh 67

2.4.4 Liên hệ kiến thức lịch sử với thực tiễn cuộc sống để giáo dục nhân cách học sinh 72

2.4.5 Giáo viên lịch sử là tấm gương về nhân cách cho học sinh học tập và noi theo 75

2.5 Thực nghiệm sư phạm 78

2.5.1 Mục đích và đối tượng thực nghiệm 78

2.5.2 Nội dung thực nghiệm 78

2.5.3 Kết quả thực nghiệm 79

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Dân tộc ta đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử, với nhiều thành tựu và chiến công huy hoàng, rất đáng tự hào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình.Như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: " Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam".Đã là người Việt Nam thì dù

ở đâu cũng phải biết lịch sử nước mình vì đó là đạo lí muôn đời của dân tộc " Uống nước nhớ nguồn"

Nhưng dạy và học lịch sử giờ đây không phải là chỉ ghi nhớ một số

sự kiện, một vài chiến công nói lên tiến trình đi lên của dân tộc hoặc chỉ ghi nhớ công ơn của một số người làm nên sự nghiệp to lớn đó, mà còn phải biết tìm hiểu, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức, của đạo lí làm người Việt Nam ; vì

đó chính là cái gốc của mọi sự nghiệp lớn hay nhỏ của dân tộc không phải chỉ ở thời xưa mà ở cả ngày nay.Lịch sử đóng một vai trò rất lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ và không thể thiếu được trong việc học tập của học sinh ngày nay là chủ nhân tương lai của đất nước Nhưng có thể nói rằng, đối với học sinh phổ thông hiện nay đặc biệt là giới trẻ, đều xem môn Lịch sử là một môn học nhàm chán và không thiết thực Đa số học sinh đều có một câu hỏi là " Học lịch sử để làm gì ? Và tại sao phải học Lịch sử ?Có thể là các em chưa nhận thức được ý nghĩa của môn Lịch sử, lịch sử nghiên cứu cái gì và lịch sử giáo dục con người như thế nào.Và một số ý kiến cho rằng môn Lịch sử là một môn học phụ, dẫn đến việc chất lượng dạy và học ngày càng thấp đi, làm ảnh hưởng đến việc giáo dục thế hệ trẻ.Do đó không xác định được mục đích học tập, không có phương pháp học tập đúng, từ đó nảy sinh quan niệm sai lầm về vai trò ý nghĩa môn học này

Là một giáo viên lịch sử, tôi vẫn luôn trăn trở là làm sao giúp các

em yêu thích môn học này hơn nữa, say mê tìm tòi tri thức lịch sử, từ đó nhận thức được rằng đây là một bộ môn vô cùng giá trị không chỉ dạy các em kiến thức, sự kiện, nhân vật lịch sửmà còn mang một ý nghĩa, giá trị to lớn hơn là

Trang 8

giáo dục đạo đức, giáo dục con người, hình thành những phẩm chất, nhân cách

tốt đẹp góp phần hoàn thiện bản thân các em Tác giả Phạm Hồng Quang trong cuốn Môi trường giáo dục, nhà xuất bản giáo dục (2006) đã viết: "Giáo dục nhân cách toàn diện là mục tiêu cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Trong xã hội hiện đại, chất lượng con người với các tiêu chí về phẩm chất và năng lực đang đòi hỏi toàn xã hội phải dốc sức trong cuộc cạnh tranh toàn cầu Ở mỗi giai đoạn lịch sử mô hình nhân cách có thể có những yêu cầu mới khác nhau, song quy luật về sự phát triển và hình thành nhân cách con người vẫn phải là vấn đề cơ bản, cốt lõi của lí luận thực

tiễn và giáo dục"[ tr.2 ]

Lịch sử lớp 10 trong đó phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn (từ thế kỉ

X - giữa thế kỉ XIX) là một trong nhữngphầnnội dung kiến thức quan trọng của dân tộc ta, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc và nhiều giá trị to lớn về bài học lịch sử, giá trị nhân sinh quan, giá trị con người.Từ đó giáo dục những nhân cách sống,giá trị đạo đức tốt đẹp của một con người, đặc biệt thấy được giá trị và vai trò quan trọng của môn học này

Đó là lí do chúng tôi chọn vấn đề: "Giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ thế kỉ X - giữa thế kỉ XIX) - Lớp 10 THPT - Chương trình chuẩn" làm đề tài luận văn Thạc sĩ

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Thông qua giảng dạy môn Lịch sử để hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh THPT là một nội dung rất quan trọng trong chiến lược đào tạo con người của Đảng Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục nhân cách dưới những góc độ khác nhau, có giá trị rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn Cụ thể là:

2.1 Công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Trước hết cần phải kể đến đó là những công trình nghiên cứu của những tác gia kinh điển chủ nghĩa Mác -Lênin.Các Mác - Luận cương về Phơ bách,

Trang 9

trong Tuyển tập, tập II - Nxb Sự thật (1972), tác giả đề cập đến vấn đề: "Giáo

dục nhân cách là mục tiêu cơ bản của hệ thống giáo dục quốc dân và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Trong xã hội hiện đại, chất lượng con người với các tiêu chí về phẩm chất và năng lực đang đòi hỏi toàn xã hội phải dốc sức trong cuộc cạnh tranh toàn cầu Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mô hình nhân cách có thể có những yêu cầu mới khác nhau, song quy luật về sự hình thành và phát triển nhâncách con người vẫn phải là vấn đề cơ bản, cốt lõi của lí luận và thực tiễn giáo dục" [tr.492]

"Bản thảo kinh tế" - triết học năm 1844, Các Mác đã viết: " Cá nhân là thực thể xã hội" Cho nên mọi biểu hiện sinh hoạt của nó - ngay cả nếu nó không biểu hiện dưới hình thức trực tiếp của biểu hiện sinh hoạt tập thể, được thực hiện cùng với người khác - là biểu hiện của sự khẳng định và sinh hoạt xã hội

Cuốn "Chủ nghĩa xã hội và nhân cách" của tập thể các nhà khoa học Liên

xô cũ, nhà xuất bản sách giáo khoa Mác- Lênin phát hành năm 1983 đề cập đến vấn đề con người, nguồn lực con người trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

Nhà giáo dục Liên Xô M Crugiăc trong cuốn " Phát triển tư duy HS như

thế nào", Nxb Giáo dục, Hà Nội,1973 đã chỉ rõ việc tạo biểu tượng lịch sử có vai

trò và ý nghĩa to lớn đối với phát triển tư duy học sinh Ông đã khẳng định "

Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan là phương pháp tốt nhất phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của học sinh".[17; tr.76]

Theo cách tiếp cận "sư phạm tương tác" của Jean Marc Denommé et

Madeleine Roy " Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác" Nxb Thanh

niên, năm 2000, người giáo viên cần phải quan tâm đến việc tạo ra cho học sinh một động lực học tập " Luôn tìm kiếm lợi ích của việc học, cố gắng cá nhân và

tự chịu trách nhiệm về việc học của mình." [7;tr.43]

Tác giả Edward Rây Krisnan trong bài viết: "Hãy để sinh viên trong bầu không khí ồn ào" (Tạp chí giáo dục số 1109, t8/2005) đề cập đến vấn đề tạo ra

Trang 10

được không khí thoải mái trong giờ học để người học phát huy năng lực, óc sáng tạo, tư duy về học tập cũng như mọi vấn đề xã hội

F.K.Kôrôvkin khi nghiên cứu về " Phương pháp dạy học ở trường phổ

thông" Nxb Giáo dục, Hà Nội,1998, đã khẳng định: "Học tập lịch sử là một quá

trình nhận thức, mà biểu tượng là một cơ sở quan trọng, vì đó là sản phẩm cao nhất của nhận thức cảm tính" [6;tr.5]

2.2 Công trình nghiên cứu trong nước

Từ điển văn hóa giáo dục Việt Nam, GS Vũ Ngọc Khánh biên soạn, NXB Văn hóa thông tin, H.2001 đề cập đến nội dung: cung cấp cho người đọc trong vàngoài nước một ý niệm tổng quan về bức tranh di sản địa danh - văn hoá lịch sử Việt Nam và sự phân bố (tự nhiên) của các loại hình di sản văn hoá đó trên lãnh thổ Việt Nam, hi vọng làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con người Việt Nam trong xã hội hiện đại

Huỳnh Khái Vinh (2001), "Một số vấn đề về lối sống, đạo đức,chuẩn giá trị xã hội",NXB chính trị Quốc gia.Cuốn sách đề cập những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức với phát triển văn hoá và con người,quan điểm và giải pháp

xây dựng lối sống đạo đức,chuẩn giá trị xã hội

"Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỉ XXI, kinh nghiệm của các quốc gia", 2002 của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, NXB Chính trị Quốc gia

Hà Nộiđây là tập hợp những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học có liên quan đến lĩnh vực phát triển chiến lược giáo dục nước ta giai đoạn hiện nay Trong

đó đáng chú ý có nhà nghiên cứu Hà Thế Ngữ đã đi sâu nghiên cứu vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học, đặc biệtcác môn khoa học xã hội và nhân văn Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến việc rèn luyện phương pháp tư duy khoa học, trên cơ sở đó giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức, hướng dẫn thực hiện các hành vi đạo đức cho học sinh Tác giả Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giáo dục nhận thức khoa học với giáo dục đạo đức, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đưa ra dự báo mô hình nhân cách sinh viên năm 2000

Trang 11

Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Trọng Phúc(2003), "Mấy vấn đề đạo đức

trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay",Nxb Chính trị Quốc gia Hà

Nội.Cuốn sách đã phân tích những biến động trong lĩnh vực đạo đức, lý giải vai trò của đạo đức, khẳng định yêu cầu đẩy mạnh công tác giáo dục, xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay

Các đề tài do Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm mang mã số: KX-07.01

"Phương pháp luận nghiên cứu con người" (1991-1995); KHXH-04 "Phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2000); KH-05.07 "Xây dựng con người Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường (2001-2005) Tác giả đã nghiên cứu

về con người với tư cách là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, nghiên cứu đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục

Đào Thị Oanh (2007), "Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay", Nxb giáo dục Hà Nội Các cuốn sách tổng hợp và khái quát lý luận tâm lý học

về nhân cách, đề xuất các giải pháp về hình thành, phát triển nhân cách trong công tác giáo dục thế hệ trẻ Theo tác giả, nhân cách con người bao gồm 4 khối hay

4 bộ phận [4, tr.149 - 150] đó là: xu hướng nhân cách, những khả năng của nhân cách, phong cách hành vi của nhân cách, hệ thống điều khiển của nhân cách

Trong cuốn " Phát triển kĩ năng tự học lịch sử cho học sinh" của

PGS.TS Nguyễn Thị Thế Bình Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2014 đã khẳng định hoạt động tự học của học sinh là một khâu rất quan trọng trong quá trình dạy học, là một nhiệm vụ bắt buộc đối với học sinh Học lịch sử theo quy trình củaphương pháp nghiên cứu lịch sử chính là quá trình tự học, tự tìm ra tri thức bằnghành động của chính người học Tự học sẽ rèn luyện tính kiên trì, ý chí, nghị lực

và quyết tâm để hoàn thành lí tưởng, ước mơ của mỗi học sinh.Qua việc tự học lịch sử, biểu tượng được hình thành và khắc họa ngày càng sâu sắc, đem đến lòng yêu mến lịch sử cho học sinh

Trang 12

* Tài liệu luận án, luận văn, tạp chí liên quan đến đề tài

Vũ Khiêu, chủ biên cuốn "Đạo đức mới" (1974) Trong tác phẩm này, tác giả đã đề cập đến vấn đề đạo đức, đạo đức mới và giáo dục đạo đức mới đã được

làm sáng tỏ trên những nét cơ bản

Sau đại hội Đảng lần thứ 6 (1986),đề tài mang mã số NN7: "Cái tiến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân" do Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu về nhân cách nói chung, về giáo dục đạo đức, chính trị, tư tưởng trong các trường từ tiểu học đến đại hoc những năm đầu của thập kỉ 90

La Quốc Kiệt (2003), dịch Cuốn "Tu dưỡng đạo đức, tư tưởng", cuốn giáo trình chính thức, Nxb Chính trị Quốc gia Trong cuốn giáo trình này, tập thể tác giả Trung Quốc làm rõ vai trò của đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên, những nội dung cơ bản, hiện đại trong việc bồi dưỡng phẩm chất đạo đức mới cho sinh viên Trung Quốc hiện nay

Những năm gần đây, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về đạo đức, nhân cách và giáo dục đạo đức như:: "Luận án tiến sĩ triết học của Trần Sỹ

Phán( 1999) nghiên cứu về: "Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát

triển nhân cách sinh viên Việt Nam giai đoạn hiện nay"; Bài viết: "Tính quy luật của sự phát triển, hình thành nhân cách" PGS.TS Hoàng Anh - Trưởng Ban

Khoa học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền; "Vì sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt

chú trọng vấn đề đạo đức ?" của Hoàng Trung, Tạp chí Triết học, số 4, 2000

nhấn mạnh đến quá trình giáo dục đạo đức và vấn đề đạo đức hiện nay; Luận án tiến sĩ triết học chuyên ngành CNXH của Nguyễn Sỹ Quyết Tâm (2008) nghiên

cứu về "Giáo dục tinh thần yêu nước Xã hội chủ nghĩa cho học sinh THPT miền

Đông Nam Bộ hiện nay" đề cập đến vấn đề giáo dục lòng yêu nước cho học sinh

THPT thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Luận án tiến sĩ triết học chuyên ngành

CNXHKH của Đỗ Tuyết Bảo (2001) với vấn đề: " Giáo dục đạo đức cho học sinh

ở trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay" với nội

dung giáo dục đạo đức cho học sinh tại các trường THCS hiện nay;

Trang 13

Luận án thạc sỹ chuyên ngành CNXHKH của Nguyễn Sỹ Quyết Tâm (2003)

nghiên cứu về: Giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa qua môn Giáo dục công dân

cho học sinh THPT ở Bà Rịa- Vũng Tàu hiện nay"

Và gần đây nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra chỉ thị số

2516/BGD&ĐT ngày 18 /5/2007 về việc thực hiên cuộc vận động : "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" trong ngành giáo dục

Chúng tôi đã kế thừa trực tiếp những thành quả khoa học nêu trên, dựa vào những gợi mở của các tác giả đi trước về lý luận và phương pháp để thực hiện đề tài của mình Tuy đã có nhiều công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về con người, giáo dục, phát triển nhân cách Nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu trực tiếp về : "Giáo dục nhân cách học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam(thế kỉ X-giữa thế kỉ XIX)lớp 10 THPT- Chương trình chuẩn" Những nghiên cứu trên đã giúp ích cho tôi trong việc thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT hiện nay

- Về nội dung: Chương trình Lịch sử Việt Nam (từ thế kỉ X- giữa thế kỉ XIX) lớp 10 THPT trong giờ nội khóa

Trang 14

- Thực nghiệm sư phạm bài19: "Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X-XV"- lớp 10 trường THPT Thượng Cát (Bắc Từ Liêm- Hà Nội)

4 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của việc giáo dục nhân cách học sinh, đề tài đi sâu xác định nội dung và biện pháp giáo dục nhân cách học sinh thông qua dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT Qua đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

Xác định vai trò, ý nghĩa, việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam(thế kỉ X - giữa thế kỉ XIX)

Tiến hành điều tra về thực trạng việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử ở địa bàn một số trường Quận Bắc Từ Liêm - Hà Nội

Đề xuất các biện pháp sư phạm để tiến hành việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam(thế kỉ X- giữa thế kỉ XIX)

Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp mà chúng tôi đề xuất trong đề tài

6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

-Cơ sở phương pháp luận: Trên cơ sở lí luận của CN Mác-Lênin và tư

tưởng Hồ Chí Minh, quan niệm chỉ đạo của Đảng và nhà nước về công tác giáo dục, dạy học lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu:

Nghiên cứu lý thuyết (các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, lí luận dạy học, giáo dục lịch sử) về nhân cách, giáo dục, giáo dục nhân cách

Nghiên cứu thực tiễn việc dạy học lịch sử ở trường THPT bằng nhiều hình thức khác nhau như dự giờ, khảo sát, thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh

thông qua phiếu điều tra

Trang 15

Tiến hành thực nghiệm sư phạm: tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp sư phạm để giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở

trường THPT đã đề xuất trong luận văn

7 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng các biện pháp sư phạm đề xuất trong luận văn sẽ góp phần nâng cao nhận thức của học sinh và qua đó đáp ứng được mục tiêu dạy học đó là hình thành ở các em nhiều phẩm chất, nhân cách tốt đẹp

8 Đóng góp của đề tài

- Về lí luận: Góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng của việc giáo dục

nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT

- Về thực tiễn: Giúp bản thân có thêm kinh nghiệm để vận dụng vào thực

tiễn dạy học Lịch sử ở trường phổ thông.Đồng thời, là nguồn tư liệu tham khảo cho giáo viên phổ thông trực tiếp đứng lớp

9 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn gồm 2 chương :

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông

Chương 2 : Một số biện pháp giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (thế kỉ X - giữa thế kỉ XIX) Lớp 10 THPT

Trang 16

CHƯƠNG

I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC NHÂN CÁCH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 1.1.Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm Nhân cách

Khi định nghĩa về nhân cách, một số nhà tâm lý học đưa ra quan điểm như sau:

Theo nhà tâm lý học Xô Viết nổi tiếng X.L.Rubinstein: " Con người là cá tính do nó có những thuộc tính đặc biệt, không lặp lại, con người là nhân cách

do nó xác định của mình với những xung quanh một cách có ý thức"

Theo A.G.Covaliov: Nhân cách là một cá nhân có ý thức, chiếm một vị trí nhất định trong xã hội và đang thực hiện một vai trò xã hội nhất định

Theo E.V.Sôrôkhôva: Nhân cách là con người với tư cách là kẻ mang toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định hình thức hoạt động và hành vi có

ý nghĩa xã hội

Theo V.X.Mukhina: Nhân cách là cá thể hóa ý thức xã hội

Từ những điều đã phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng: Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân quy định bản sắc và giá trị xãhội của con người Nhân cách không phải là một nét, một phẩm chất tâm lý riêng

lẻ mà là một cấu tạo tâm lý mới.Nói cách khác, nhân cách là tổng hợp những đặcđiểm tâm lý đặc trưng với một cơ cấu xác định Do đó, không phải con người sinh ra là đã có nhân cách Nhân cách được hình thành dần dần trong quá trình conngười tham gia vào các mối quan hệ xã hội

Nhân cách quy định bản sắc, cái riêng của cá nhân trong sự thống nhất biện chứng với cái chung, cái phổ biến của cộng đồng mà cá nhân đó là đại

diện.Nhân cách là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng mối quan hệ giữa con người với con người từ những chuyện bình thường, mối quan hệ gia đình, kết giao đến mối quan hệ xã hội, công tác, kinh doanh Nhân cách thể hiện qua cách ứng

xử của con người đối với người khác cũng như đối với sự việc trong cuộc

Trang 17

sống Đồng thời, nhân cách thể hiện trình

độ văn hóa, nhân tính và nguyên tắc

sống của con người Con người là một thực thể xã hội, vì vậy chất lượng mối quan hệ xã hội có ảnh hưởng quyết định đối với chất lượng cuộc sống

Nhân cách được định hình bởi hệ thống những phẩm giá thể hiện qua các mối quan hệ của con người xuất phát từ tâm lý, tình cảm, nhân sinh quan, nhận thức

về bản thân và xã hội Nhân cách là đặc trưng của từng cá nhân, là bản chất thực của con người.Phía trước mọi người, trong cuộc đời, luôn có nhiều con đường Người thiếu nhân cách sẽ mất phương hướng khi chọn con đường chính đáng cho mình

1.1.1.2.Khái niệm Giáo dục

Theo quan điểm Macxit về Giáo dục: Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, là một bộ phận của thượng tầng kiến trúc Cũng như tôn giáo, đạo đức, pháp quyền, trong xã hội giai cấp, giáo dục bao giờcũng mang tính giai cấp, giáo dục luôn luôn là công cụ của giai cấp thống trị xã hội "giai cấp nào thống trị tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chiếm đoạt phương tiện sản xuất tinhthần" chỉ có thể xây dựng một nền giáo dục của giai cấp vô sản khi giai cấp đó giànhđược quyền thống trị xã hội

Theo John Dewey (1859 - 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội.Giáo dục là "khả năng" của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội Ngoài ra, ông cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy Như vậy,theo quan điểm của John Dewey cũng đề cập đến việc truyền đạt,

nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục là dạy dỗ

Trang 18

Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có gốc từ tiếng La tinh

"Educare"có nghĩa là "làm bộc lộ ra" Có thể hiểu "giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ ranhững khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục"

Từ những định nghĩa trên, theo chúng tôi: Giáo dục là quá trình được tổ chức có

ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổinhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực.Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại.Dạy học là một hình thức giáo dục đặc biệt quan trọng và cần thiết cho sự phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách học sinh

Như vậy, có thể kết luận rằng, "giáo dục" là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội Giáodục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội

Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổchức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan, được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽtạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục

 Vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách:

Theo quan điểm của tâm lý học Mácxít, trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách thì giáo dục giữ vai trò chủ đạo.Biểu hiện ở những điểm sau:

Trang 19

- Thứ nhất, giáo dục vạch ra phương hướng cho sự hình thành và phát triển

nhân cách Vì giáo dục là một quá trình tác động có mục tiêu xác định, hình thành một mẫu người cụ thể cho xã hội, một mô hình nhân cách phát triển, đáp ứngnhững yêu cầu của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Điều đó được thể hiện qua việc thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo của nhà trường và các tổ chức giáo dục ngoài nhà trường

Giáo dục bao giờ cũng căn cứ vào mục đích, yêu cầu của xã hội, căn cứ vào trình độ phát triển của khoa học kĩ thuật, để xây dựng nên mục đích giáo dục, kế hoạch, nội dung, chương trình giáo dục,từ đó tác động đến thế hệ trẻ, điều khiển thế hệ trẻ, tạo dựng con đường "an toàn" cho thế hệ trẻ, hoàn thiện nhân cách đápứng yêu cầu xã hội

- Thứ hai, thông qua giáo dục, thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau những

kinh nghiệm xã hội - lịch sử đã được kết tinh trong các sản phẩm văn hóa vật chất

và tinh thần của nhân loại.Thế hệ trẻ lĩnh hội những kinh nghiệmđó đển biến

chúng thành kinh nghiệm của bản thân và tạo nên nhân cách của mình

- Thứ ba, giáo dục có thể đem lại cho con người những cái mà các yếu tố bẩm

sinh - di truyền hay môi trường tự nhiên không thể đem lại được

- Thứ tư, giáo dục có thể phát huy tối đa các mặt mạnh của các yếu tố khác chi

phối sự hình thành và phát triển nhân cách như các yếu tố sinh thể (bẩm sinh di truyển), yếu tố hoàn cảnh sống, yếu tố xã hội

- Thứ năm, giáo dục có thể bù đắp cho những thiếu hụt, hạn chế do các yếu tố

bẩm sinh - di truyền không bình thường, hoàn cảnh bị tai nạn hay chiến tranh gây nên

- Thứ sáu, giáo dục uốn nắn những sai lệch của nhân cách về một mặt nào đó

so với các chuẩn mực, do tác động tự phát của môi trường gây nên và làm cho nó

phát triển theo hướng mong muốn của xã hội

- Thứ bảy, giáo dục có thể đi trước, đón đầu sự phát triển, giáo dục có thể

"hoạch định nhân cách trong tương lai" để tác động hình thành và phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội Như vậy, giáo dục không chỉ tính đến trình độ

Trang 20

hiện tại của sự phát triển nhân cách mà còn tính đến bước phát triển tiếp theo

đó Còn cá nhân có phát triển theo hướng đó hay không và phát triển đến trình độnào thì giáo dục không quyết định trực tiếp được, mà cái quyết định trực tiếp chính là hoạt động và giao tiếp của mỗi cá nhân.Do đó, cần phải tiến hành giáo dục trong mối quan hệ hữu cơ với việc tổ chức hoạt động, tổ chức quan hệ giao tiếp, hoạt động cùng nhau trong các quan hệ xã hội, quan hệ nhóm và tập thể Đặc biệt, con người là thực thể tích cực, có thể tự hình thành và biến đổi nhân cách của mình một cách có ý thức, có khả năng tự cải tạo chính bản thân mình, cónhu cầu tự khẳng định, tự ý thức, tự điều chỉnh cho nên con người có hoạt động

tự giáo dục

Trong dạy học lịch sử, việc giáo dục nhân cách cho HS là một việc làm vô cùng cần thiết và hết sức quan trọng bởi lẽ không ít HS cho rằng học Lịch sử không mang lại ý nghĩa gì, không giúp được gì trong cuộc sống Chính vì vậy

mà người giáo viên cần thông qua các bài học lịch sử giáo dục cho các em nhứng giá trị lịch sử, những bài học quý giá, những tấm gương đạo đức, phẩm chất nhân cách tốt để các em nhận thấy môn Lịch sử có ý nghĩa lớn lao và quan trọng như thế nào,không chỉ mang lại cho các em kiến thức mà còn góp phần giáo dục và hình thành nên những phẩm chất, nhân cách tốt giúp HS hoàn thiện được bản thân mình

1.1.1.3 Giáo dục nhân cáchcho học sinh qua bộ môn Lịch sử

Nhân cách, ở diện rộng, là nền tảng của mọi quốc gia, và giáo dục là chiếc lăng kính tỏa ra nhiều màu sắc của nhân cách Không có nhân cách, không có khoa

Trang 21

học, nghệ thuật Giáo dục nhân cách nói chung là hình thành và phát huy

những đức tính, đạo đức trong mỗi con người các phẩm chất, nhân cách tốt đẹp Giá trị của nhà nước, xét lâu dài, là giá trị của các cá nhân cấu thành, như John Stuart Mill viết: Muốn có một đất nước mạnh, độc lập, tự khẳng định, phải có những cá nhân mạnh, độc lập và tự khẳng định, thông qua sự tự rèn luyện trong giáo dục Đó là điều kiện tiên quyết.Một quốc gia được đại diện trong cộng đồng thế giới bằng những ai?Bằng những nhân cách lớn và những tài sản tinh thần của họ.Không có những nhân cách lớn, không thể có nhà nước lớn, không có diện mạo tốt đẹp của quốc gia để được kính phục trong cộng đồng các dân tộc

Einstein cũng từng nói: "Sự lớn lao trong khoa học thực chất chỉ là một vấn đề

cá tính", của nhân cách, của những cái đặc thù tiềm tàng trong người không

giống đám đông, để có thể đạt tới những thành tựu vĩ đại Nhân cách, tính độc lập, là điều kiện tiên quyết của phát triển cá nhân và quốc gia

Giáo dục nhân cách cho học sinh qua bộ môn Lịch sử là trên cơ sở giáo viên hướng dẫn học sinh tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo chiếm lĩnh kiến thức lịch sử sẽ tác động đến tư tưởng, tình cảm tạo nên xúc cảm lịch sử của học sinh góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp như : lòng trung thực, dũng cảm, đức hi sinh, ý chí vượt khó, cần cù lao động

Để giáo dục nhân cách cho học sinh qua môn Lịch sử mang lại hiệu quả cao, giáo viên cần sử dụng đa dạng các hình thức và phương pháp dạy học khác nhau như: giáo dục nhân cách cho học sinh qua việc chọn lọc các kiến thức lịch sử, nội dung lịch sử quan trọng để giáo dục tư tưởng, đạo đức và tình cảm cho học sinh hoặcqua các nhân vật, sự kiện lịch sử, tranh ảnh, tư liệu sách báo, tư liệu phim nhằm đạt được mục đích vừa giúp học sinh thay đổi không khí học môn Lịch sử đồng thời quan trọng hơn là việc giáo dục nhân cách học sinh đạt kết quả tốt hơn

1.1.2.Cơ sở xuất phát

1.1.2.1.Mục tiêu giáo dục đào tạo:

Mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay là từng bước hình thành và phát triển toàn diện nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ Đó là những

Trang 22

công dân tương lai, những người lao động mới phát triển toàn diện trên tất cả

các mặt sao cho phù hợp với yêu cầu, điều kiện và hoàn cảnh của đất nước cũng như phù hợp với sự phát triển của thời đại

Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học

sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,

tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [Điều 27]

Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một trong những nhiệm vụ hàng đầu được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phấn đấu nỗ lực hoàn thành, mục tiêu là xây dựng một xã hội phồn vinh và hạnh phúc "Dân giàu, nước

mạnh,công bằng, dân chủ, văn minh".Để thực hiện mục tiêu đó, nhân tố đầu tiên

phải có là con người Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội

thì trước tiên phải có những con người xã hội chủ nghĩa Người đặc biệt coi trọng

vấn đề nhân cách của con người, chúng ta thường thấy Người nhắc đến các

cụm từ: tư tưởng người cách mệnh, tư cách của Đảng chân chính cách mạng, tư

cách người cán bộ cách mạng và Người định nghĩa "Nhân cách là tư cách làm

-Tính không lặp lại: Kiến thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một

Trang 23

khoảng thời gian nhất định và một không gian xác định.Không có một sự kiện,

hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau hay lặp lại nguyên vẹn, mà có sự kếthừa, phát triển - tức là "sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại"

-Tính cụ thể: Bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào cũng gắn liền với thời gian, không gian, nhân vật, bối cảnh và tiến trình nhất định (sự xuất hiện, phát triển, mất đi của sự kiện) Chính những yếu tố đó làm cho lịch sử trở nên chính xác, khoa học, sinh động và hấp dẫn

-Tính hệ thống (tính logic lịch sử): Khoa học lịch sử nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội loài người, bao gồm các sự kiện, hiện tượng về kinh tế, đời sống chính trị, đấu tranh xã hội, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, quan hệ sản xuất, đời sống vật chất, tinh thần Sách giáo khoa lịch sử ở

trường phổ thông tuy giản lược song cũng phải bao quát được các mặt đó Hơn nữa, không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào tồn tại độc lập, đơn lẻ, mà chúng có mối liên hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, sự xuất hiện của sự kiện này

là nguyên nhân mất đi của sự kiện khác

-Tính thống nhất giữa "sử" và "luận": Ở đây tính giai cấp của giai cấp vô sản và tính khoa học của lịch sử là hoàn toàn nhất trí, giữa "sử" và "luận" có sự thống nhất cao độ Từ đặc điểm này mà trong giảng dạy lịch sử, giáo viên phải đảm bảo sự thống nhất giữa trình bày sự kiện với giải thích bình luận Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện lịch sử cụ thể, đáng tin cậy và không có sự kiện, hiện tượng nào không được giải thích làm sáng tỏ bản chất của sự kiện hiện tượng đó

Giữa các đặc điểm trên của kiến thức lịch sử có mối liên hệ nội tại thống nhất Chỉ

có dựa vào những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử, vận dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử đúng đắn để nghiên cứu các tư liệu lịch sử phong phú, cụ thể mới rút ra được kết luận mới, có tri thức lịch sử khoa học Chỉ trên cơ sở đó, chúng ta mới rút ra được những kết luận lịch sử

hoàn chỉnh về một giai đoạn phát triển nào đó của một quốc gia, một dân tộc

Trang 24

*Nhiệm vụ của môn Lịch sử :

Môn Lịch sử ở trường phổ thông có vị trí chức năng và nhiệm vụ quan trọng để đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ.Chương trình lịch sử ở trường phổ thông bao gồm các kiến thức khái quát, cụ thể về lịch sử từng quốc gia dân tộc Do vậy lượng kiến thức vô cùng rộng lớn cả với thầy và trò Việc học tập lịch sử không phải cung cấp một số kiến thức và mẩu chuyện về quá khứ, mà trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học.Lịch sử là hiện tượng khách quan, tồn tại độc lập, không lệ thuộc vào nhận thức của con người.Nhận thức là một quá trình từ không biết đến biết,từ hiểu sơ lược đến hiểu sâu sắc Vì vậy nội dung dạy học lịch sử tuy gồm những kiến thức tương đối ổn định song vẫn phản ánh kịp thời những thành tựu mới của khoa học lịch sử Lịch sử là hiện thực khách quan, chính là cuộc sống lao động đấu tranh Vì vậy, học lịch sử không chỉ là phản ánh đúng cuộc sống đã qua mà phải gắn với cuộc sống hiện tại và dự đoán sự phát triển của tương lai.Nguyên lí "học đi đôi với hành" gắn học tập với đời sống, phải thực hiện đúng, cóhiệu quả cao.Điều này càng có ý nghĩa khi mà ngày nay cuộc sống có nhiều biến đổi, quá khứ - hiện tại - tương lai là những giai đoạn khác nhau về chất của quá trìnhphát triển lịch sử, nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau

Quá trình dạy học lịch sử là quá trình nhận thức, nó không chỉ có nội dung mà còn có phương pháp dạy học, bởi vậy việc đổi mới nội dung gắn liền với đổi mới phương pháp Vì vậy, dạy học lịch sử theo phương pháp " Lấy học sinh làmtrung tâm" là nhằm để phát huy tính chủ động, năng lực tư duy sáng tạo của học sinh trong học tập lịch sử có hiệu quả Từ đó giúp cho học sinh có nhận thức đúng đắn trong việc nắm bắt những kiến thức của khoa học lịch sử cơ bản ở trường phổ thông Bộ môn Lịch sử có ba nhiệm vụ chung sau đây:

 Về kiến thức: Giúp học sinh hiểu được những nét chính về quá trình phát triển của lịch sử dân tộc trên cơ sở hiểu những sự kiện nổi bật nhất của từngthời kì, nội dung chủ yếu của mỗi giai đoạn lịch sử nước ta Biết những sự kiện quan trọng, những nội dung cần thiết của lịch sử loài người từ nguồn gốc đến nay, đặc biệt là những sự kiện, những vấn đề liên quan

Trang 25

đến lịch sử dân tộc ta, các nước trongkhu vực Bước đầu tìm hiểu một số

nội dung cơ bản của phương pháp luận nhận thức xã hội như: kết cấu xã hội loài người, mối quan hệ giữa các yếu tố trong kết cấu đó, vai trò của sản xuất (vật chất và tinh thần) vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử

 Về kĩ năng: Giúp học sinh bước đầu hình thành và phát triển các kĩ năng cần thiết cho học tập bộ môn như: kĩ năng sử dụng sách giáo khoa và một

số tài liệu tham khảo chủ yếu; kĩ năng sử dụng các nguồn sử liệu, tài liệu thành văn, truyền miệng, các loại đồ dùng trực quan phổ biến, bản đồ, các bảng thống kê, niên biểu, so sánh; kĩ năng phân tích, đánh giá, so sánh các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử ở mức độ phù hợp trong học tập và kiểm tra; kĩ năng vận dụng những hiểu biết đã có vào các tình huống trong học tập và cuộcsống

 Về thái độ: Thông qua nhận thức Lịch sử, góp phần giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước gắn liền với tin yêu chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc và trân trọng những giá trị lịch sử trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Trân trọng các dân tộc, các nền văn hóa trên thế giới, yêu chuộng hòa bình Có niềm tin về sự phát triển đi lên của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại Có thái

độ tích cực với xã hội, vì cộng đồng, yêu lao động, sống nhân ái,

có niềm tin, ý thức kỉ luật

Với ba nhiệm vụ trên, nếu thực tốt trong quá trình dạy và học bộ môn Lịch sử sẽ góp phần hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho học sinh trongquá trình học tập như: năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực

xã hội hóa, năng lực hợp tác, năng lực phát hiện, đề xuất và giải quyết các vấn

đề trong học tập lịch sử

1.1.2.3 Yêu cầu đổi mới hiện nay

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng vị trí, vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới.Người đã thấy rất sớm sự đóng góp to lớn của tuổi trẻ Việt Nam trong sự trường tồn và phát triển

Trang 26

của dân tộc Người khẳng định: "Thanh niên là người chủ tương lai của nước

nhà Thật vây, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần là do các thanh niên" [38 ;186] Họ là lực lượng đông đảo nhất, hùng hậu nhất , hăng hái nhất, dũng cảm nhất trong các cuộc chống xâm lược "đâu cần thanh niên có, đâu khó

có thanh niên" Trong Di chúc của Người "Đảng cần chăm lo, giáo dục đạo đức cách mạng cho họ", đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng XHCN vừa

"hồng" vừa "chuyên" [45 ; 498]

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng , Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa , hiện đại hóa , lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt

được những thành tựu quan trong , góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc: "Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu , là sự nghiệp của Đảng , Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát

triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trinh , kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn

đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực , bồi dưỡng

nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang

phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành ; lý luận gắn với thực tiễn ; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội và bảo vê ̣ Tổ quốc Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để

phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước"

Tại Đại hội IX, Đảng ta lại nhấn mạnh: "Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi

dưỡng đào tạo, phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

Trang 27

quốc" [21;tr.126] Như vậy, trước yêu

cầu khách quan và cấp bách của công cuộc

đổi mới, việc giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, sinh viên theo tư tưởng

Hồ Chí Minh là nội dung quan trọng hàng đầu trong việc rèn luyện nhân cách tuổi trẻ,

là sự chuẩn bị cực kì hệ trọng giúp họ vào đời, lập thân, lập nghiệp

Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển con người Việt Nam Sách giáo khoa mới sẽ được xây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực; chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu cho mỗi học sinh, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự học của học sinh; tăng cường tính tương tác trong dạy và học giữa thầy với trò, trò với trò và giữa các thầy giáo, cô giáo.Chươngtrình giáo dục mới sẽ có 3 yêu cầu về phẩm chất và 8 yêu cầu về năng lực phải hình thành được cho học sinh

Ba phẩm chất:Sống yêu thương, sống tự chủ và sống trách nhiệm Mỗi phẩm chất

đều được Bộ nêu rõ những tiêu chí cụ thể hơn.Phẩm chất sống yêu thương gồm yêu Tổ quốc, giữ gìn phát huy truyền thống, di sản quê hương đất nước, tôn trọng các nền văn hóa trên thế giới, nhân ái khoan dung, yêu thiên nhiên.Phẩm chất sống

tự chủ gồm sống trung thực; tự trọng; tự lực; chăm chỉ, vượt khó; tự hoàn

thiện.Phẩm chất sống trách nhiệm gồm tự nguyện; chấp hành kỷ luật; tuân thủ pháp luật; bảo vệ nội quy, pháp luật

Tám năng lực:Các năng lực gồm năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và

sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông Năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo đòi hỏi học sinh phải biết phát hiện và làm rõ vấn đề,

đề xuất và lựa chọn giải pháp, thực hiện và đánh giá các giải pháp giải quyết vấn

đề, nhận ra ý tưởng mới, hình thành và triển khai ý tưởng mới, tư duy độc lập

Trang 28

Năng lực thẩm mỹ, học sinh biết nhận ra cái đẹp, diễn tả và giao lưu thẩm mỹ, tạo ra cái đẹp

Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường, rèn luyện sức khoẻ thể lực, nâng cao sức khoẻ tinh thần

Năng lực giao tiếp: sử dụng tiếng Việt, sử dụng ngoại ngữ, xác định mục tiêu giao tiếp, thể hiện thái độ giao tiếp, lựa chọn nội dung và phương thức giao tiếp Năng lực hợp tác: xác định mục đích và phương thức hợp tác, xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân, xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác, tổ chức và thuyết phục người khác, đánh giá hoạt động hợp tác Năng lựctính toán: sử dụng các phép tính và đo lường cơ bản, sử dụng ngôn ngữ toán, sửdụng công cụ tính toán

Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông: sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ của công nghệ kỹ thuật số; nhận biết, ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức và pháp luật trong xã hội số hóa

Để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra của đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt Nam sau năm 2015, đã xác định rõ nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đề ra bao gồm:Đổi mới tư duy và cơ chế quản lý giáo dục là khâu đột phá; hệ thống giáo dục quốc dân; đào tạo và bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo và cán bộ quản lý Đặc biệt, đổi mới chương trình theo hướng chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang tiếp cận mục tiêu phát triển năng lực Tiếp cận theo hướng năng lực thực chất là tiếp cận đầu ra Chuẩn đầu ra là các năng lực chung, tiếp cận về mặt kiến thức hay về mặt năng lực, cần có những năng lực chuyên biệt: âm nhạc, vẽ, văn,

năng lực toán học, năng lực sáng tạo

Như vậy, có thể nói rằng: Bộ môn Lịch sử có nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển phẩm chất và năng lực học sinh trong đó bao gồm một số phẩm chất(đức): phẩm chất xã hội(đạo đức, chính trị): thế giới quan, lí tưởng, niềm tin, lập trường; phẩm chất cá nhân(đạo đức, tư cách): các nết, đức tính, các thói, tật; phẩm chất ý chí: tính mục đích, tính tự chủ, tính kỉ luật, tính quả quyết, tính phê phán; cung cách ứng xử: tác phong, lễ tiết, tính khí và một số năng

Trang 29

lực(tài): năng lực xã hội hóa: khả năng thích ứng, hòa nhập, tính mềm dẻo, cơ

động linh hoạt trong cuộc sống; năng lực chủ thể hóa: khả năng thể hiện tính độc đáo, đặc sắc, cái bản lĩnh cá nhân; năng lực hành động: khả năng hành động có mục đích, chủ động, tích cực, có hiệu quả; năng lực giao tiếp: khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ với người khác và cộng đồng, qua đó giúp học sinh phát triển một cách toàn diện về nhân cách con người

1.1.3 Biểu hiện nhân cách của con người

-Theo quan niệm của Nho giáo:

Việt Nam đã có hơn nghìn năm lịch sử phong kiến, và Nho giáo luôn là tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị, văn hóa của dân tộc.Cho đến nay cũng không thể phủ nhận những giá trị văn hóa to lớn mà tư tưởng Nho giáo để lại trong đời sống xã hội.Nói đến tư tưởng Nho giáo người ta không thể không nhắc đến tư tưởng Nhân, Lễ Nghĩa, Trí, Tín.Dù đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, đến nay những giá trị nhân văn của tư tưởng đó vẫn không mất đi giá trị Song ở mỗi thời mỗi khác và hôm nay Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín cũng gắn liền với sự chuyển biến của xã hội hiện tại, ở một khía cạnh phương diện nào đó đã thể hiện với những tư tưởng và cách suy nghĩ không giống xưa, cũng như tâm quan trọng của mỗi chữ thể hiện trong thứ tự sắp xếp, điều đó cần được bàn thêm

"Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" Nhân là lòng từ thiện, Nghĩa là làm tròn

bổn phận, Lễ là sự tôn ti trật tự hay quy tắc trong việc đối nhân xử thế với người trên kẻ dưới, Trí là trí tuệ minh mẫn làm việc gì cũng phải suy nghĩ, Tín là lòng thành thực hiện điều đã nói Người ta phải giữ năm đạo đó làm thường, chẳng nên để rối loạn Nếu làm tốt 5 điều này sẽ góp phần hình thành được một nhân cách toàn diện trong con người( Tư tưởng Đạo Nho của Khổng Tử)

-Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Người coi bốn đức tính "cần, kiệm, liêm, chính" là những đức tính của người cán bộ cách mạng, như trời có bốn mùa, đất có bốn phương Bác viết:

"Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Trang 30

có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính

Thiếu một mùa thì không thành trời

Thiếu một phương thì không thành đất

Thiếu một đức thì không thành người"

Hồ Chí Minh, Toàn tập, (2005), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, [tr.236 - 237] Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là phẩm chấttrung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, là mối quan hệ đối với tự mình Hồ Chí Minh quan niệm cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính của con người và Người giải thích cặn kẽ, cụ thể nội dung từng khái niệm

Cần là lao động cần cù , siêng năng; lao động có kế hoac̣ h , sáng tạo, có năng

suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh , không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm ; phải thấy rõ lao động là nghĩa vụ thiêng liêng , là nguồn sống , nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta

Kiệm là tiết kiệm sức lao động , tiết kiệm thời giờ , tiết kiệm tiền của dân , của

nước, của bản thân mình Tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ ; "không xa xỉ , không hoang phí, không bừa baĩ , không phô trương, hình thức"

Cần, kiệm là phẩm chất của người lao động trong đời sống, trong công tác

Liêm là trong sạch, là "luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân",

"không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân"; "không tham địa vị, không tham tiền tàikhông tham tâng bốc mình"

Chính là ngay thẳng không tà, là đúng đắn, chính trực.Đối với mình không tự

cao, tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ trung thành, khiêm tốn, đoàn kết.Đối với việc thì để việc công lên trên,lên trước việc tư, việc nhà; được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được,

"việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm; việc ác thì dù nhỏ mấy cũng

tránh".Liêm chính là phẩm chất của người cán bộ khi thi hành nhiệm vụ

Chí công là hết mực công bằng, công tâm; vô tư là không được có lòng

riêng, thiên tư, thiên vị "tư ân, tư huệ hoặc tư thù, tư oán", đem lòng chí công,

Trang 31

vô tư đối với người, với việc "khi làm bất

cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình

trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau", "lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ" Muốn "chí công vô tư" phải chiến thắng chủ nghĩa cá nhân

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ:

"Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào Học tập tốt, lao động tốt Đoàn kết tốt, kỉ luật tốt Giữ gìn vệ sinh thật tốt

Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm"

Đây làmột trong năm điều mà Bác Hồ kính yêu đã dạy chúng ta.Lời dạy này tuy chỉ vỏn vẹn sáu chữ nhưng lại mang một ý nghĩa sâu sắc mà Người đã mong muốn chúng ta đạt được để sánh vai với năm châu cường quốc.Đó là yếu tố quan trọng nhất để hình thành nên nhân cách trong mỗi con người, nhất là đối với các em thanh, thiếu niên - thế hệ măng non, những chủ nhân tương lai của đất nước Qua lời dạy của Bác, đã hình thành cho các em những phẩm chất đạo đức cần thiết mà mỗi học sinh cần phải có, từ đó giáo dục nhân cách tốt đẹp cho mọi thế hệ học sinh đó là: tinh thần yêu nước, yêu Tổ quốc, đồng bào, tinh thần đoàn kết, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm là những đức tính vô cùng quý báu không chỉ trong học tập mà trong cả cuộc sống hàng ngày, giúp các em hoàn thiện bản thân mình

-Theo quan điểm của Tâm lý học - xã hội:Nhân cách của một con người còn

được biểu hiện thông qua một số phẩm chất đặc trưng sau:

Tính trung thực: Trung thực là thành thực với người và cả với chính mình, luôn

tuân thủ chuẩn mực đạo đức chân thật trong từng lời nói và hành động Đó là một trong những phẩm chất quan trọng nhất tạo nên giá trị của một con người chân chính Tính trung thực giúp con người trở nên đáng tin cậy trong mọi mối quan hệ, giao dịch, đó là sức mạnh lớn nhất giúp thuyết phục người khác Người trung thực không chấp nhận gian dối trong bất kì việc gì Trung thực làm nên nhân cách con người Sống trung thực không phải lúc nào cũng dễ, nó đòi hỏi sự dũng cảm và

Trang 32

nghiêm khắc với bản thân.Walter Andersoncho rằng: " Cuộc sống sẽ thay đổi khi

chúng ta biết nắm bắt các cơ hội cho mình, nhưng cơ hội đầu tiên và khó khăn nhất lại

là việc chúng ta phải thành thật với chính bản thân mình" Ngay cả khi phải đối diện với thất bại, thua thiệt, ta vẫn cần phải sống trung thực, có thế, ta mới có thể ngẩng cao đầu mà sống và cảm thấy thanh thản trong lòng

Theo Samuel Johson: " Trung thực mà không hiểu biết thì yếu ớt và vô dụng, còn hiểu biết mà không trung thực thì thật là nguy hiểm và đáng sợ Còn những người trung thực và hiểu biết sẽ là những người viết nên lịch sử của chính mình" Người trung thực sẵn sàng lắng nghe những điều họ phải nghe về mình hơn là những điều họ muốn nghe Người trung thực trước tiên là trung thực với chính bản thân mình, thành thật nhìn nhận những nhược điểm và sai lầm của mình Họ nhận thức được là dù họ có công khai nhìn nhận sai lầm của mình hay không thì thường những người xung quanh vẫn biết

Tính đoàn kết: là truyền thống quý báu của dân tộc được hình thành từ ngàn

xưa- ngay trong quá trình lập nước và phát triển mạnh mẽ trong các thời kì lịch sử (thời kì Bắc thuộc, phong kiến, chống Pháp, Mĩ) và truyền thống đoàn kết đó ngày càng được phát huy trong thời đại ngày nay Hiện nay, chúng ta đang đứng trước những vận hội mới, đồng thời, cũng có những thách thức mới.Những vận hội và thách thức đó tác động đến khối Đại đoàn kết dân tộc Để tiến lên, chúng ta chỉ có con đường là phải kiên trì, vững vàng, quán triệt và thực hiện tư tưởng Đại đoàn kếtcủa Hồ Chí Minh, đồng thời, chúng ta cũng phải đổi mới, phát triển những nội dung, phương pháp Đại đoàn kết của Người cho phù hợp với sự vận động, biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội trong nước và thế giới Kế thừa, phát triển tư tưởngĐại đoàn kết trong sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc, toàn diện tất cả các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội và quốc tế Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần phải luôn luôn quán triệt và vậndụng sáng tạo Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết để đạt được những thành tựu cao nhất

Trang 33

Đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc ta Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng CSVN, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, đã kế thừa và phát huy truyền thống đó trong cuộc đời và sự nghiệp của mình để chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ chiến thắng vinh quang: Giành lại nền độc lập dân tộc, dân chủ, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân Sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân đã được Người tổng kết lại trong một

chân lý sâu sắc:

"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công"

Tính cần cù, sáng tạo trong lao động:Tự lực cánh sinh, cần cù lao động vốn là

một truyền thống lâu đời vô cùng tốt đẹp của dân tộc ta Truyền thống ấy đang được nhân dân ta phát huy cao độ trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay

Lời Bác Hồ khuyên nhủ, động viên toàn Đảng, toàn dân ta tuy cách đây đã mấy chục năm nhưng đến nay vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa giáo dục to lớn Đó chính làphương châm hành động duy nhất đúng, là điều kiện cơ bản và quyết định thành công trên bước đường đi tới tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam

Siêng năng, cần cù là phẩm chất tốt đẹp của người lao động, mà học sinh chúng ta, tuổi trẻ chúng ta phải rèn luyện hằng ngày.Chăm chỉ làm việc và học hành một cách đều đặn, thường xuyên thì gọi là siêng năng cần cù nghĩa là chăm chi, chịu khó một cách thường xuyên trong bất cứ công việc nào, nhất là trong lao động và học tập

Thế hệ trẻ chúng ta hiểu sâu sắc nhiệm vụ học tập và lao động đó làm cho dân giàu, nước mạnh Và chắc chắn tinh thần tự lực và sự cần cù lao động của nhân dân ta từ xưa càng được nâng cao trong cuộc sống, trên bước đường cải tạo đất nước của chúng ta hôm nay Muốn tự lực cánh sinh, cần cù lao động, trước hết phải đoàn kết để cùng lao động, chia sẻ sự cống hiến và giữ được đạo đức cách mạng

Trang 34

Đức hi sinh:Một trong những phẩm chất ngàn đời của dân tộc Việt Nam từ xa

đến nay là đức hi sinh Đức hi sinh là phẩm chất tốt đẹp, tự nguyện nhận phần thiệt thòi, mất mát lớn lao nào đó vì mục đích, lí tưởng tình cảm cao đẹp Đức hi sinh còn hi sinh cả thời gian, tình mạng của mình cho người khác Người đời đã ghi nhớ, khắc tên biết bao nhiêu người đã dũng cảm hi sinh vì lợi ích của đất nước Trong lịch sử, không quên hình ảnh Lê Lai - một vị tướng thời nhà Lê đã liều mình cứu chúa.Ông đã hi sinh mạng sống của mình để cứu nguy cho Lê Lợi,cũng là cứu cả dân tộc Việt Nam.Trong kháng chiến, Nguyễn Văn Trỗi đã hi sinh tuổi thanh xuân, hạnh phúc gia đình chọn con đường, đầy khó khăn, nguy hiểm - diệt bộ trưởng Mỹ - để mang lại cuộc sống cho toàn dân Ngày nay đất nước hòa bình thống nhất, nhiều chiến sĩ công an vẫn làm việc ngày đêm không nghỉ ngơi để đảm bảo trật tự an ninh xã hội cho nhân dân Họ là những người làm việc thầm lặng, hi sinh quyền lợi của mình cho mọi người

Hi sinh là thước đo đánh giá phẩm chất của con người Hi sinh không phải chịu thiệt vì mục đích cá nhân mà phải biết vì tập thể quê hương đất nước thì việc hi sinh mới có ý nghĩa Hi sinh rèn luyện cho chúng ta đức tính dũng cảm, biết vượt qua những khó khăn rào cản trong cuộc sống chúng ta Người có lòng hi sinh luôn được mọi người ghi nhớ công ơn đã góp phần đem lại cho đất nước phát triển Người không có lòng hi sinh hay bị rụt rè, sợ sệt trước cái chết, không bản lĩnh thì làm chẳng ra hồn, những việc khó không muốn giải quyết Nếu như

xã hội không có những người biết hi sinh vì mọi người thì làm sao có được cuộc sống bình yên tươi đẹp Chúng ta cần rèn luyện đức tính hi sinh ngay còn khi là học sinh và phát huy để ngày càng có nhiều người biết " sống vì mọi người " hay

"một người vì mọi người, mọi người vì một người"

Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm: Khiêm tốn là không tự đề cao, không coi

thường người khác, không khoe khoang, thấy được cái non kém của bản thân, có ýthức học bạn bè và mọi người Thật thà là không gian dối, nói đúng sự thực, ngay thẳng ở mọi lúc, mọi nơi.Dũng cảm là gan dạ, dám nghĩ dám làm, dám chịu, không ươn hèn, không sợ quyền uy, bạo lực.Vì sao chúng ta phải có các

Trang 35

đức tính ấy.Bởi lẽ, có các đức tính ấy ta được mọi người kính trọng, được mọi

người yêu mến.Nếu tài giỏi mà kiêu ngạo sẽ làm mọi người xa lánh Nếu ta gian dối mọi người sẽ không tin tưởng, coi thường Trong học tập và công tác, ta gặpnhiều khó khăn, không dũng cảm làm sao hoàn thành được các nhiệm vụ Đó là cơ

sở là rèn luyện phẩm chất cao quý như lòng trung thành, sự tận tụy, hi sinh vì đấtnước, có tác phong gần gũi và học tập quần chúng để ngày càng được tiến bộ Các bạn học sinh giỏi toàn quốc vẫn khiêm tốn học tập, rèn luyện Các nhà bác học vẫn khiêm tốn trả lời:" Bác học không có nghĩa là ngừng học"(Lênin) Là một học sinh luôn ghi nhớ lời dạy của Bác và cố gắng rèn luyện thường xuyên Khiêm tốn sẽ học hỏi biết bao tấm gương sáng từ các bạn chung quanh: học giỏi, nghèo vượt khó, trung thực trong công tác, làm bài, dũng cảm cứu bạn không biết bơi Đây là lời răn dạy quý báu, biểu hiện tình thương yêu của Bác Thực hiện điều dạy của Bác ta sẽ trở thành cháu ngoan Bác hồ.Năm điều Người dạy là ánh đuốc soi đường cho ta rèn luyện thành người tốt, người hữu dụng của đất nước

Đây là những phẩm chất quan trọng mà bộ môn Lịch sử rất có ưu thế trong việc giáo dục và phát triển những phẩm chất nhân cách trên.Từ những quan điểm về biểu hiện nhân cách đó, chúng tôi đưa ra một số quan điểm của bản thân về những phẩm chất điển hình của nhân cách con người: Nhân cách con người là sự tổng hòa của nhiều yếu tố khác nhau, nhân cách đó không chỉ biểu hiện ở một mặt

cụ thể nào đó mà nó biểu hiện trong mọi mặt của đời sống xã hội: nếu có nhân cách này mà không có nhân cách kia thì việc giáo dục nhân cách cũng không toàn diện Con người muốn phát triển toàn diện, có đầy đủ phẩm chất, nhân cách con người phải bao gồm cả đức và tài; cả hồng và chuyên Mỗi một con người tùytrong những hoàn cảnh sống cụ thể mà có những biểu hiện nhân cách khác nhau Nhưng điều cốt yếu hơn cả là làm sao để những biểu hiện của một nhân cách tốt

sẽ được khơi dậy trong mỗi chúng ta, nhất là việc giáo dục nhân cách cho HS ở trường phổ thông càng mang một ý nghĩa lớn lao và quan trọng hơn cả

Trang 36

Thông qua dạy học lịch sử nói chung và dạy học lịch sử Việt Nam nói riêng, để

hình thành cho học sinh những phẩm chất đạo đức quan trọng, những biểu hiện nhân cách tốt của một con người thì người giáo viên cần xác định được những nhân cách nào là phù hợp và cần thiết trong quá trình dạy học Theo quan điểm chúng tôi, việc dạy học lịch sử Việt Nam sẽ góp phần hình thành nên những tinh cách, phẩm chất, nhân cách cho học sinh đó là:

- Tính cần cù và tinh thần sáng tạo trong lao động

Đây là những biểu hiện nhân cách rất quan trọng của một con người, nhất là các

em học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường Nếu trong dạy học lịch

sử, người giáo viên giáo dục được cho các em những phẩm chất nhân cách này thì sẽ góp phần giúp học sinh nhận thức được sâu sắc hơn, vai trò và ý nghĩa của môn Lịch sử và điều quan trọng hơn cả là đào tạo được đội ngũ trí thức giỏi về

cả đức và tài góp phần xây dựng Tổ quốc giàu mạnh Bởi lẽ Lịch sử Việt Nam những nhân cách ấy đã trở thành truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ ngàn đời, chúng tôi xác định những nhân cách tiêu biểu trên để làm sáng rõ hơn vai trò, ý nghĩa môn học đồng thời gớp phần giáo dục các em học sinh tự phát triển, hoàn thiện phẩm chất nhân cách của mình

1.1.4 Ý nghĩa việc giáo dục nhân cách học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Chúng ta đều khẳng định và thừa nhận sự quan trọng về giáo dục trong dạy học Nhân cách con người phần lớn do giáo dục mà nên, hay nói cách khác giáo dục

có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành nhân cách con người " Dạy chữ là dạy người" hay " Tiên học lễ, hậu học văn" Các yếu tố khác như văn hoá, phong tục, tập quán, tôn giáo, môi trường sống chỉ là một phần quyết định việc

Trang 37

hình thành nhân cách con người Nhớ tớilời Bác dạy: "Trẻ em như búp trên

cành, biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan" Giáo dục thể chất, giáo dục nhân cách quan trọng hơn rất nhiều Chúng ta tự hào chúng ta có một đứa trẻ học giỏi, sao chúng ta lại không đáng tự hào hơn khi con mình có thể chất tốt, có nhân cách tốt Kiến thức rất rộng lớn, phải học và bổ sung cả đời, nhưng một nhân cách què quặt, thể chất yếu đuối thì chỉ mang lại một công dân không có ích cho xã hội

Có thể nói rằng, trong giáo dục phổ thông, các môn xã hội nói chung, môn Lịch sử nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, năng lực, tư duy của con người Sinh thời, Bác Hồ từng dạy " Dân ta phải biết sử

ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam".Nếu ở nhà trường, học sinh được giáo dục tốt, hiểu biết về lịch sử dân tộc sẽ biết quý trọng những gì cha ông đã gây dựng nên.Qua đó hình thành nhân cách, hun đúc lòng yêu nước, trách nhiệm công dân của các em sau này với đất nước Điều quan trọng hơn hết là môn học này còn giúp các em tạo được những đức tính vô cùng đáng quý và trân trọng của một con người mà ở các môn học khác các em không có được: tính đoàn kết, tính cộng đồng, lòng yêu thương giữa con người với con người, lòng dũng cảm, vị tha, yêu nước từ những bài học lịch sử này các em sẽ tự mình trau dồi thêm

và là hành trang cần thiết để các em bước vào đời, tự hoàn thiện mình trở thành một công dân có ích cho xã hội, có ích cho đời

Như vậy có thể nói rằng: Việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong học lịch sử ở trường phổ thông có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết Trước tiên để các em thay đổi cách nhìn và tư duy về môn Lịch sử hiện nay.Không chỉ các em học sinh mà ngay cả chính những người giáo viên dạy Sử cũng đã không nhận

ra được vị trí và vai trò quan trọng của môn học này, khiến xã hội và dư luận có quan điểm về môn Lịch sử sai lệch.Qua mỗi giờ học Lịch sử, nếu người giáo viên biết phát huy hết khả năng và ưu thế cũng như ý nghĩa môn học sẽ giúp học sinh yêu thích môn học này và luôn cảm thấy tự hào Các em học sinh nhận ra được giá trị sâu sắc qua từng bài học lịch sử mà thầy cô dạy, giúp ích và

Trang 38

giáo dục cho bản thân nhiều bài học về giátrị đạo đức, phẩm chất và nhân cách

của một con người Từ đó hình thành nhiều đức tính tốt đẹp,năng lực và tư duy cung như cách nhìn nhận, đánh giá sự vật một cách khách quan và công bằng nhất, giúp các em tự hoàn thiện bản thân mình hơn nữa

Việc học sinh học tập tốt và yêu thích môn Lịch sử cũng sẽ là động lực để những giáo viên lịch sử đứng lớp cần tâm huyết và yêu nghề dạy Sử hơn nữa, là cơ sở tiền đề giúp các em có hành trang vững chắc bước vào đời

Tựu chung lại cho 3 ý nghĩa lớn từ việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử như sau:

- Phát triển kiến thức:là những kiến thức được chọn lọc và được đưa vào

chương trình sách giáo khoa, phù hợp với mục tiêu giáo dục, trình độ, yêu cầu học tập của học sinh, từ đó sẽ trở thành những bài học lịch sử đầy ý nghĩa để giáo dục và hình thành ở các em một nhân cách tốt Vì vậy, xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ, căn cứ vào đặc điểm nhận thức và tâm lí lứa tuổi

HS, mà việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông chỉ nhằm cung cấp cho HS một hệ thống kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử Đó là "chuẩn kiến thức"

mà học sinh phải đạt được trong quá trình học tập bộ môn

- Về kĩ năng: Hình thành cho các em kĩ năng thực hành, phân tích, tổng

hợp, đánh giá và nhìn nhận sự vật một cách khách quan nhất, có thể có những quan điểm cá nhân đưa ra phù hợp với mục đích, nội dung bài học, học sinh được rèn tư duy logic, phát triển và định hướng, kĩ năng sống

- Về thái độ: Bộ môn Lịch sử có vai trò rất lớn trong việc giáo dục tư

tưởng, đạo đức, nhân cách và hành vi văn minh cho HS Thông qua môn học này, học sinh có thể tự rút ra cho mình những bài học, những tấm gương anh hùng cho các em noi theo Các em có thể bày tỏ thái độ yêu, ghét, cảm thông, khâm phục trước một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đó của lịch sử

Trang 39

Việc học sinh học tập tốt và yêu thích môn Lịch sử cũng sẽ là động lực để những giáo viên lịch sử đứng lớp cần tâm huyết và yêu nghề dạy sử hơn nữa, là cơ sở tiền đề giúp các em có hành trang vững chắc bước vào đời

Ví dụ :Trong lịch sử nước ta, mỗi thời kì đều có hiền tài xuất hiện phò tà những bậc

minh quân, có thể là quan văn hoặc quan võ, nhưng một đặc điểm chung ở họ là ýchí vươn lên trong học tập và lòng trung quân ái quốc Lương Thế Vinh là một trong số những hiền tài như vậy, ông là một danh nhân lớn của Việt Nam và cũng chính là nhà toán học đầu tiên của đất nước ta Người đời thường gọi ông là Trạng Lường vì lúc nhỏ ông rất giỏi trong việc tính toán và đo lường.Ngay từ thuở nhỏ, Lương Thế Vinh học rất giỏi, được mệnh danh là thần đồng Trong lúchọc, Lương Thế Vinh luôn biết kết hợp rất khéo giữa chơi và học, vừa thoải máinhưng lại đạt kết quả cao.Khi đã ngồi học thì ông rất tập trung, luôn tìm cách ápdụng những điều đã học vào đời sống, ngay cả những lúc vui chơi ông cũng không quên điều đó.Lúc thả diều, Vinh rung dây diều để tính toán, ước lượng chiều dài, chiều cao.Khi câu cá, Vinh tìm hiểu đời sống các sinh vật, ước tính đo lường chiều sâu ao hồ, chiều rộng sông ngòi và kiểm tra lại bằng thực nghiệm Vinh nghĩ ra cách đo bóng cây mà suy ra chiều dài của cây Ông chính là tấm gương sáng về ý chí học tập để chúng ta ngày nay noi theo

Qua ví dụ trên đã giáo dục được cho học sinh đó là: Nếu học sinh chăm chỉ, siêng năng thì kết quả học tập sẽ tốt, có nghị lực và ý chí vươn lên, sáng tạo trong quá trình học tập

Như vậy, có thể thấy rằng ý nghĩa của việc giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết mà ít môn học nào có được Bởi thông qua môn học này các em sẽ rút

ra được nhiều bài học bổ ích về nhân sinh quan, thế giới quan khoa học, đúc kết được nhiều bài học lịch sử bổ ích để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống và mục đích quan trọng hơn cả của môn học là góp phần vào việc bồi dưỡng tư tưởng, đạo đức, tình cảm, phẩm chất tốt để tự hoàn thiện nhân cách của bản thân mình

Trang 40

Từ đó thêm yêu thích Lịch sử, biết trân trọng những gì quá khứ lịch sử đã để lại cho đến ngày hôm nay

1.2 Cơ sở thực tiễn

Để tìm hiểu và đánh giá đúng thực trạng việc giáo dục đạo đức, tư tưởng học sinh nói chung, giáo dục nhân cách học sinh trong dạy học lịch sử nói riêng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát điều tra ở một số trường trên địa bàn Quận Bắc

Từ Liêm: THPT Thượng Cát, THPT Xuân Đỉnh, THPT Minh Khai và 1 số trường phổ thông khác với 32 giáo viên và 91 học sinh ở 2 lớptrường THPT Thượng Cát (lớp chuyên Ban C và lớp chuyên Ban A) tại trường

Nội dung phiếu điều tra tập trung vào việc thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh trong trường về một số khái niệm, nhận thức giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của việc giáo dục nhân cách học sinh; nội dung giáo dục nhân cách học sinh; biện pháp giáo dục nhân cách học sinh; khó khăn khi tiến hành giáo dục nhân cách học sinh

1.2.1 Thực tiễn việc giáo dục nhân cách học sinh thông qua việc dạy học lịch

sử ở trường trung học phổ thông hiện nay

Việc giáo dục nhân cách học sinh trong dạy học lịch sử có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình nhận thức của học sinh, đồng thời là một biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học lịch sử.Nhưng lâu nay vấn đề này chưa được giáo viên và học sinh quan tâm, chú trọng đúng mức Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn ở trường THPT làm cơ sở cho những kết luận và định hướng cho các biện pháp sư phạm trong đề tài nghiên cứu của mình

Chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát thực tiễn việc dạy học lịch sử nói chung, việc giáo dục nhân cách nói riêng trong năm học 2015-2016 ở trường THPT Thượng Cát, THPT Minh Khai, THPT Xuân Đỉnh thuộc địa bàn Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội Nội dung và kết quả điều tra đối với giáo viên và học sinh như sau:

 Đối với Phiếu điều tra dành cho Giáo viên:

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Ngọc Bích, (2000), Tâm lý học nhân cách. Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
3. Nguyễn Thị Thế Bình, (2006),Phát triển kĩ năng tự học cho học sinh, Nxb Đại học Sƣ Phạm, Quý III, 2014. "Không!Phương pháp dạy học là khoa học và thực tế",Báo Giáo dục và thời đại, số 146-năm thứ 47, [tr6] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không!Phương pháp dạy học là khoa học và thực tế
Tác giả: Nguyễn Thị Thế Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ Phạm
Năm: 2006
4. Barry D.Smiith - Harold J.Vtter, (2005), Các học thuyết về nhân cách. Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết về nhân cách
Tác giả: Barry D.Smiith - Harold J.Vtter
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
5.Nguyễn Trọng Chuẩn, (1998), "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển". Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1998
6.Ngô Minh Duy, Tâm lý học đại cương (Tài liệu lưu hành nội bộ), Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
8.Hồ Ngọc Đại,(1983), Tâm lí học dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
9.Phạm Văn Đồng,Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành những chiến sĩ cách mạng dũng cảm, thông minh, sáng tạo, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành những chiến sĩ cách mạng dũng cảm, thông minh, sáng tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
10. Gara,Nâng cao hiệu quả bài học lịch sử, Nxb Giáo dục, Matxcơva, 1990, tiếng Nga Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả bài học lịch sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10.Trần Văn Giàu, (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1980
12. Phạm Minh Hạc, Góp phần đổi mới tư duy giáo dục, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần đổi mới tư duy giáo dục
14. Lê Văn Hồng,Lê Ngọc Lan, Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm. NXB Giáo dục,2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Kiều Thế Hƣng, Hệ thống thao tác sư phạm trong dạy học sách Sử ở trường trung học phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống thao tác sư phạm trong dạy học sách Sử ở trường trung học phổ thông
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
16.La Quốc Kiệt (chủ biên), 2003, Tu dưỡng đạo đức tư tưởng. NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tu dưỡng đạo đức tư tưởng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc Gia
17.Lương Quỳnh Khuê, (1995), Văn hóa thẩm mỹ và nhân cách. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa thẩm mỹ và nhân cách
Tác giả: Lương Quỳnh Khuê
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
18.Kharlamop I.F, (1979), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào?,tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
Tác giả: Kharlamop I.F
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1979
19. Kharlamop I.F, (1979), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào?, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào
Tác giả: Kharlamop I.F
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1979
20.Phùng Hữu Lan,(2006), Lịch sử triết học Trung Hoa, tập 1, Lê Anh Minh dịch, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Trung Hoa
Tác giả: Phùng Hữu Lan
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2006
21. P.X Lâybêngrúp, Những yêu cầu đối với một bài học lịch sử về mặt lí luận dạy học, Nxb Giáo dục, Matxcơva, 1982, tiếng Nga. 22.Lênin V.I, Toàn tập, tập 38, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yêu cầu đối với một bài học lịch sử về mặt lí luận dạy" học, Nxb Giáo dục, Matxcơva, 1982, tiếng Nga. 22.Lênin V.I," Toàn tập
Nhà XB: Nxb Giáo dục
24.Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị, (1976), Phương pháp dạy - học lịch sử, tập 1, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy - học lịch sử, tập 1
Tác giả: Phan Ngọc Liên - Trần Văn Trị
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1976
28. C. Mác và Ph. Ăngghen,(1994), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình rồng và hoa dây(chùa Phật Tích - Bắc Ninh) - Giáo dục nhân cách cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 10 trung học phổ thông   chương trình chuẩn
Hình r ồng và hoa dây(chùa Phật Tích - Bắc Ninh) (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w