Hi vọng sự thành công của đề tài này sẽ góp một tiếng nói vào việc giảng dạy văn học theo đặc trưng thể loại cũng như tìm ra một hướng đi mới cho việc dạy tác phẩm văn xuôi trong nhà trư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ HIỀN
DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN "HAI ĐỨA TRẺ" CỦA NHÀ VĂN THẠCH LAM (NGỮ VĂN 11, TẬP 1)
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 21
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ HIỀN
DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN "HAI ĐỨA TRẺ" CỦA NHÀ VĂN THẠCH LAM (NGỮ VĂN 11, TẬP 1)
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60.14.01.11 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HÀ VĂN ĐỨC
Trang 42
Trang 5Lời cảm ơn
Trước tiên tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn những tấm lòng, sự nhiệt thành của các thầy cô giáo đang công tác tại trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - những người đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo chúng tôi trong suốt khóa quá trình học tập và nghiên cứu, cùng với sự động viên khích
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sắc tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình những người đã luôn ở bên tôi, động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 6 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hiền
Trang 7MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục ii i Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
10 1.1 Cơ sở lí luận
10 1.1.1 Quan niệm chung về thể loại văn học 10
1.1.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại 14
1.1.3 Đặc trưng thể loại truyện ngắn 21
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Hai đứa trẻ của tác giả Thạch Lam trong chương trình Ngữ văn 11 THPT 29
1.2.2 Dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ ở trường THPT 34
Chương 2: ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC TÁC PHẨM HAI ĐỨA TRẺ THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
45 2.1 Giới thiệu chung về Thạch Lam và truyện ngắn 45
2.1.1 Tác giả Thạch Lam - Sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp 45
2.1.2 Truyện ngắn Thạch Lam 48
2.2 Tổ chức dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của tác giả Thạch Lam theo đặc trưng thể loại 56
2.2.1 Xác định thể loại và đặc trưng thể loại trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam 56
2.2.2 Phương hướng chung
65 2.2.3 Phương pháp dạy học truyện ngắn Hai đứa trẻ theo đặc trưng thể loại
67
Trang 83.1.2 Nội dung thực nghiệm 75
iii
Trang 93.1.3 Cách thức thực nghiệm 75
3.2 Giáo án thực nghiệm 77 3.3 Kết quả thực nghiệm 4
Trang 10iv
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Bảng thống kê số lượng tác phẩm trữ tình và tự sự
(Chương trình chuẩn) 31Bảng 1.2 : Kết quả điều tra qua bảng hỏi dành cho GV 39 Bảng 1.3: Kết quả điều tra qua bảng hỏi dành cho HS 41 Bảng 3.1: Bảng đối chiếu điểm khác nhau giữa lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng 76 Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra đánh giá 4 10
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta đã
được Đảng, Nhà nước cũng như các cấp quản lí giáo dục rất quan tâm Nghị quyết Trung ương II khóa VIII đã viết trong phần định hướng phát triển Giáo dục
- Đào tạo đã chỉ rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học" [3, tr.43].Tiếp tục tinh thần đó,
trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khóa I X khi nói về giáo dục đào tạo,
ban chấp hành Trung ương cũng đã nhấn mạnh: "tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên ,đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề" [4, tr.108,109]
Trong "luật giáo dục" được Quốc hội nước Cộng hõa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam thông qua ngày 02/12/1998 ở chương I "Những quy định chung" đã nhấn mạnh tới yêu cầu và đổi mới phương pháp giáo dục là "phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên"
1.2 Cùng với các môn học trong nhà trường môn Ngữ văn có một vị trí vô
cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục Môn Ngữ văn không chỉ giúp cho con người có những hiểu biết phong phú, đa dạng vè thế giới tự nhiên và xã hội mà có khả năng lay động con tim, đem đến những bài học, những cảm xúcthẩm mỹ cao đẹp.Tuy nhiên muốn đạt được kết quả giáo dục cao nhất việc giảng dạy môn Ngữ văn phải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn
Trang 13Trong nhà trường việc dạy tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
là vấn đề đang được quan tâm, bởi mỗi tác phẩm văn học tồn tại dưới một hình thức thể loại nhất định, đòi hỏi một cách thức, một phương pháp giảng dạy phù hợp.Vì thế vấn đề thể loại trong trường phổ thông không những là vấn đề tri thức mà còn là một vấn đề phương pháp.Trong chuyên đề bồi d ư ỡ n g t h ư ờ
n g x u yê n c h o g i á o v i ê n Ng ữ v ă n c á c n h à s ư p h ạ m l u ô n c o i v i ệ c dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại là một hướng dạy q u an t rọ n g N ắ m
v ữ n g t h i p h áp t h ể l o ại , n g ư ời d ạ y k h ô n g ch ỉ h i ểu đ ú n g , hiểu sâu mà còn có khả năng thiết kế trong hoạt động giảng dạy hướng dẫn học sinh cách thức đọchiểu tác phẩm giúp người học giải mã những tác p h ẩ m c ù n g t h ể l o ại
Thực tiễn sư phạm chỉ ra rằng việc dạy văn ở nhà trường Việt Nam đã bộc
lộ không ít những hạn chế nhiều mặt Dạy và học văn đã không theo kịp công tác nghiên cứu và cũng vì thế mà không đảm nhận tốt nhiệm vụ của nó
Nguyên nhân không phải ở môn văn, không phải ở học sinh hay do xu thế xã hội, mà ở những người làm chương trình và những giáo viên đã và đang trực tiếp giảng dạy chưa nhận thức đúng đắn về bản chất ngành nghệ thuật, chưa ý thức hết được tầm quan trọng của những kiến thức về thể loại của tác phẩm,
từ đó dẫn đến tình trạng phiến diện, suy diễn, thậm chí gò ép nội dung tư tưởng của tác phẩm
Tìm hiểu những giá trị văn chương của Thạch Lam nói chung, của
truyện ngắn Hai đứa trẻ nói riêng là vấn đề mang nhiều ý nghĩa, trong nhà
trường hiện nay Trong lịch sử văn học Việt Nam, Thạch Lam là cây bút độc đáo
Ông là thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn nhưng văn chương của ông lại
theo một lối riêng: không "đao to búa lớn" với các vấn đề chống hủ tục, đề cao tự
do như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo Không ngông nghênh, kiêu bạc như Nguyễn Tuân, không lạnh lùng như Nam cao, nhà văn tài hoa này được
ví như ánh sao băng cuối trời cứ lặng lẽ tỏa sáng Văn của Thạch
Trang 14Lam phát ra từ tiếng lòng chân thật của một con người giản dị, nhẹ nhàng và
thi vị Đó là một thứ văn khẽ như "cánh bướm non" Lay động trong gió chiều, chiếu vào những cái đời thường trong mọi cái đời thường Những câu văn chứa chan cảm xúc của một tâm hồn nhân hậu, gợi lên niềm tin yêu vững chắc vào tình thương yêu đồng loại của con người Thạch Lam đã tự xây dựng cho mình một lối truyện hiện đại - truyện không có cốt truyện, truyện của những cung bậc tâm trạng, của những cảm xúc, cảm giác Những trạng thái vui, buồn, mơ hồ, mong manh, tất cả đều rất cặn kẽ và chân thật
Sẽ không thỏa đáng nếu cứ cố đi chứng minh, rồi quy kết Thạch Lam là nhà văn lãng mạn hay hiện thực Cái cần quan tâm hơn cả là ta cảm nhận được những gì từ những trang văn ấy Nhìn chung khi đọc Thạch Lam, có cái
gì rất ám ảnh về chiều sâu những cảnh đời kiếp người nhỏ bé, mong manh trong cuộc sống nghèo đói Đồng thời cũng khơi dậy trong tâm hồn con người những giá trị văn hóa đẹp đẽ, ước mơ, tình yêu đồng loại, quê hương gia đình Chắc chắn, trong cuộc sống hôm nay và mai sau, văn chương Thạch Lam vẫn còn nguyên giá trị
Hai đứa trẻ là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách truyện ngắnThạch
Lam, một truyện ngắn trữ tình lãng mạn giàu chất hiện thực Trên thực tế việc dạy tác phẩm trong nhà trường phổ thông cho thấy vẫn dừng lại ở lối mòn truyền thống nên chưa phát huy được vai trò chủ thể sáng tạo của học sinh cũng như giá trị giáo dục của áng văn chương này, thậm chí còn đơn điệu chưa xác định đúng thể loại của truyện, chưa tạo được hứng thú cho học sinh
Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: Dạy học truyện ngắn
"Hai đứa trẻ" của nhà văn Thạch Lam (Ngữ văn 11, tập 1) theo đặc trƣng
thể loại
Hi vọng sự thành công của đề tài này sẽ góp một tiếng nói vào việc giảng dạy văn học theo đặc trưng thể loại cũng như tìm ra một hướng đi mới cho việc dạy tác phẩm văn xuôi trong nhà trường
Trang 152 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Giúp học sinh cảm thụ và nhận thức tác phẩm, không suy diễn tùy tiện
và gán ghép chủ quan ngoài văn bản thì việc giảng dạy và học văn bản theo đặctrưng thể loại là một yêu cầu quan trọng Do đó, vấn đề thể loại đã được các nhà lí luận văn học quan tâm từ khá sớm Vấn đề này đã được nghiên cứu và giảng dạy trong các bộ giáo trình đại học, cao đẳng cùng một số chuyên luận của GS Hà Minh Đức, GS Phương Lựu, GS Trần Đình Sử Tiếp đến là một
số công trình nghiên cứu liên quan đến loại thể văn học như của GS Đặng Thai Mai, PGS Hoàng Tiến Tựu, PGS Nguyễn Đăng Na Từ những góc độ khác nhau, các tác giả cũng có những quan điểm về thể loại trong tiếp nhận, nghiêncứu, sáng tác phần nào giúp cho đông đảo giáo viên văn có được cái nhìn mới mẻ,phong phú về thể loại Tuy vậy, những giáo trình, những chuyên luận về
giảng dạy văn học trong nhà trường theo thể loại không nhiều Mấy vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể (1970) của PGS.TS Trần Thanh Đạm,
Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể (2001) của
PGS.TS Nguyễn Viết Chữ là những tài liệu vẫn thường được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên Ngữ văn và học viên cao học ngành Lí luận và phương pháp dạy học văn
Gần đây, đã có một số chuyên đề đặc biệt về đặc trưng thể loại PGS Đỗ
Bình Trị có chuyên đề Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian PGS, TS Nguyễn Thành Thi có chuyên đề về Đặc trưng truyện ngắn Thạch Lam, Đặc trưng truyện ngắn giai đoạn 1930 - 1945 Hiện nay,
trên các tạp chí, các đợt tập huấn đổi mới phương pháp dạy học văn, tập huấn
thay sách đều có đề cập đến vấn đề giảng dạy văn theo đặc trưng thể loại Đời sống thể loại văn học Việt Nam nửa đầu thế lỉ XX - Vũ Tuấn Anh;
Mô hình đọc hiểu theo đặc trưng thể loại với việc hình thành và bồi dưỡng
Trang 16kĩ năng đọc hiểu văn bản văn chương cho học sinh trung học phổ thông -
Trần Thị Thu Hồng Các chuyên luận, bài viết đã đi sâu vào tìm hiểu đặc trưng củamột bộ phận văn học, một giai đoạn văn học Đó là một sự vận dụng cụ thể,
có đóng góp nhiều cho dạy học văn Những vấn đề các tác giả đặt ra một mặt giúp cho người giáo viên văn ở trường phổ thông có được những kiến thức cơ bản, hệ thống về đặc trưng thi pháp của các thể loại từ đó giúp cho công việc giảng dạy thuận lợi và có hiệu quả Mặt khác, các tài liệu cũng đã trình bày những quan điểm mới mẻ bổ sung cho những quan điểm thường thấy trong những công trình lí luận đang lưu hành ở nước ta
2.2 Các công trình nghiên cứu về Thạch Lam và truyện ngắn Hai đứa trẻ
Thạch Lam là tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn 1930-
1945 Tên tuổi ông đã gắn bó lâu dài với chương trình SGK phổ thông Sau nhiều lần thay đổi chương trình và SGK, Thạch Lam vẫn đứng vững ở vị trí của mình, được độc giả nâng niu trân trọng Vì vậy, ông được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
Trước khi các công trình nghiên cứu khoa học về Thạch Lam ra đời, tác giả này đã nhận được nhiều lời khen ngợi của dư luận, trong đó có Khái Hưng
đã ca ngợi tập truyện Gió đầu mùa; Thế Lữ đã từng ca ngợi Thạch Lam qua bài Tính cách tạo tác của Thạch lam; Vũ Ngọc Phan trong nhà văn hiện đại
đánh giá truyện của Thạch Lam là loại truyện tâm tình và xếp ông vào những nhà tiểu thuyết tình cảm: "Có một ngòi bút lặng lẽ và điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả những cái rất đẹp, những tình cảm, cảm giác con con nảy nở và biểu lộ ở đủ hạng người mà ông tả một cách tinh vi" [32,106]
Nhiều tác giả cũng đề cập đến thủ pháp phản ánh nghệ thuật trong truyện ngắn Thạch Lam như cốt truyện, cấu tứ, ngôn ngữ trần thuật Trần Ngọc
Dung trong bài Phong cách truyện ngắn Thạch Lam; Bích Thu; Nguyễn
Hoành Khung
Trang 17Còn với, GS Nguyễn Đăng Mạnh thì ghi nhận đóng góp của Thạch Lam trên hai phương tiện là tình cảm với quê hương sâu nặng và chất hiện thực bàng bạc Những tác phẩm của Thạch Lam chứa đựng những dung cảm sâu sắc với quê hương đất nước và phản ánh một cách chân thật, những quan hệ xãhội nhất định và số phận của những người nghèo khổ" [31,74] Hay với Phong
Lê, trong lời giới thiệu cho một tuyển tập công phu về tác phẩm của Thạch Lam, ông đã công bố các kết quả nghiên cứu đầy nhiệt huyết của mình với nhiều kết luận xác đáng: "Thạch Lam nhìn sâu vào cuộc sống ở các mặt khuấtcủa nó và do vậy ít có ánh sáng mà làm ta khắc khoải, lo âu Ngòi bút Thạch Lam tinh tế và trân trọng biết bao trước số phận phụ nữ và trẻ em Câu văn của Thạch Lam là một lối văn nhuần nhị, tinh tế, gọn và gợi được thật rõ ràng những trạng thái của sinh hoạt xúc cảm và tâm tồn" Bên cạnh đó, có một nhận xét cũng rất đáng lưu tâm: "Nếu Tự lực văn đoàn đã có công đóng góp cho sự phát triển của câu văn tiếng Việt thì Thạch Lam, theo tôi, là
người giữ được, bảo tồn được tính hiện đại cho đến hôm nay" [33,69]
Những điều phát hiện này cũng được các nhà nghiên cứu tiếp tục hành
trình khám phá về Thạch Lam như: Đào Trường Phúc với bài Những lời thủ thỉ của truyện ngắn; Nguyễn Nhật Duật với Hương thơm và nỗi u hoài; Phạm Phú Phong với Thi pháp truyện ngắn Thạch Lam Các bài viết của Văn Giá, Lê
Dục Tú, Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Tuấn Anh, Vương Trí Nhàn được tập hợp
trong các cuốn sách: Truyện ngắn Thạch Lam- tác phẩm và dư luận; Thạch lam về tác gia và tác phẩm; Thạch Lam - văn chương và cái đẹp Tên tuổi của
Thạch Lam còn xuất hiện nhiều trên các báo và tạp chí như văn học; văn học tuổi trẻ; ngôn ngữ
Bên cạnh các bài nghiên cứu phê bình là luận án của PTS Trần Ngọc
Dung về đề tài Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam thời kì đầu những năm 1930-1945: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao Gần
đây đã có một số nghiên cứu, hướng tiếp cận như;
Trang 18Ngô Thị Lùng Em (2009) Hệ thống câu hỏi cảm thụ trong dạy học truyện ngắn của Thạch Lam ở lớp 11, luận văn thạc sĩ, Đại học sư phạm
Tác phẩm Hai đứa trẻ cũng được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, nhiều
thầy cô tìm tòi, khám phá để tìm ra phương hướng dạy học phù hợp nhất
Trong số các bài viết phong phú phải kể đến: Ấn tượng Hai đứa trẻ của Lê Huy Bắc; Nguyễn Thanh Hồng với truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam; Văn Tâm với Giảng bình truyện Hai đứa trẻ; Nguyễn thị Lơ với hướng dẫn học sinh trung học phổ thông xác định chủ đề tư tưởng thông qua việc phát hiện, phân tích bình giá biểu tượng bóng tối và ánh sáng trong dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ; Lê Thị Thi giảng dạy tác phẩm Hai đứa trẻ của thạch Lam theo hướng đối thoại
Qua các công trình nghiên cứu có thể thấy điểm gặp gỡ ở các tác giả là
sự thừa nhận thế mạnh về cảm xúc, nội tâm trong phạm vi phản ánh hiện thực
và những nét bản sắc riêng ở truyện ngắn Thạch Lam Vì vậy ông được mệnh danh là nhà văn của cảm giác và luôn thành thực với chính mình Nhưng đó mới chỉ là những thành quả nghiên cứu của ngành lịch sử văn học Còn sử dụng thành quả đó vào giảng dạy truyện ngắn Thạch Lam thì còn nhiều hạn chế Hơn thế đặt vấn đề dạy học truyện ngắn Thạch Lam từ góc độ thể loại thì còn mới mẻ Mong rằng trong khuân khổ của một luận văn thạc sĩ này phần nào
sẽ đáp ứng được yêu cầu ấy
Trang 193 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện luận văn này tôi muốn đưa ra một hướng tiếp cận tác phẩm Hai đứa trẻ bằng cách hướng dẫn HS THPT qua đặc trưng thể loại, khẳng định ưu
điểm và tính khả thi của hướng dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của tác phẩm văn chương theo thể loại
Nghiên cứu cách thức tổ chức dạy học tác phẩm văn chương theo thể loại
Vận dụng lí thuyết vào thiết dạy học truyện ngắn trữ tình Hai đứa trẻ của
Thạch Lam nhằm kiểm chứng, đánh giá, đề xuất, kết luận, Khuyến nghị
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hoạt động dạy và học tác phẩm văn chương, vận dụng cách thức tiếp cận tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại vào dạy truyện ngắn trữ tình Việt Nam hiện đại ở trường THPT lớp 11 ban cơ bản
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam có nhiều vấn đề để khai thác trong
phạm vi luận văn tôi chỉ nghiên cứu tiếp cận tác phẩm theo đặc trưng thể loại có
trong chương trình Ngữ văn 11 ban cơ bản 6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp loại hình: Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu: luận văn đề cập đến loại truyện ngắn trữ tình, vì thế cần vận dụng
phương pháp loại hình để tìm ra những đặc trưng của tác phẩm
Phương pháp thực nghiệm: Nhằm soi sáng cho lí thuyết đã được trình
bày, chúng tôi tiến hành thực nghiệm ở các lớp 11A8, 11A9 trường THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông - Hà Nội Trước khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôithiết kế giáo án, sau đó giáo án được sử dụng để dạy thực nghiệm Trong
Trang 20quá trình thực nghiệm, học sinh được làm bài kiểm tra, phát phiếu thăm dò ý
kiến để làm căn cứ đánh giá hiệu quả
Phương pháp thống kê số liệu: Sau khi thu lại tất cả các bài kiểm tra,
phiếu khảo sát của hai lớp thực nghiệm và đối chứng, thông qua biên bản dự giờ, chúng tôi bắt đầu thống kê số lượng bài học sinh đạt điểm theo các mức độkhác nhau, chúng tôi đánh giá được kết quả giữa các lớp có áp dụng phương pháp dạy học theo đặc trưng thể loại và lớp không áp dụng
Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Thông qua bài kiểm tra, bài
tập nhóm, phiếu thăm dò ý kiến học sinh, biên bản dự giờ cùng với các số liệu thống kê, chúng tôi tiến hành phân tích để đánh giá phương pháp dạy của giáo viên, hoạt động học tập của học sinh Đồng thời so sánh kết quả bài làm của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để từ đó rút ra kết luận
Phương pháp, kiểm tra, đánh giá: Trong quá trình thực nghiệm, chúng
tôi có nghi lại nhật kí các cuộc thảo luận nhóm, phiếu thu bài tập của một số nhóm để làm cơ sở đánh giá việc vận dụng vào dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như quan sát, điều tra, khảo sát, phân loại làm cơ sở để đánh giá tính đúng đắn và khả thi của đề tài
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Định hướng dạy học tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam
theo đặc trưng thể loại
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm dạy học
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Quan niệm chung về thể loại văn học
Để việc tiếp nhận đúng hướng, chính xác và giảng dạy đạt hiệu quả một tác phẩm văn chương thì sự hiểu biết những kiến thức về đặc trưng thể loại rất cần thiết Bởi lẽ khi tìm hiểu kiến thức về đặc trưng thể loại sẽ giúp ta có căn cứ
để xác định được những tính chất của loại ở trong một thể nào đó và khai thác đúng trọng tâm nội dung tác phẩm và tư tưởng mà nhà văn gửi gắm trong tác
phẩm đó
Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (đồng chủ biên) xác định thể loại văn học như sau:
Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy [12,125]
Trong quá trình sáng tác, các nhà văn thường sử dụng những phương pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mĩ khác nhau đối với hiện thực, có những cách thức xây dựng hình tượng khác nhau Các phương thức ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau của con người - hoặc trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung đột, làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu vàhình thức lời văn Người ta có thể tập hợp thành từng nhóm những tác phẩm văn học giống nhau về phương thức miêu tả và hình thức tồn tại chỉnh thể ấy
Đó là cơ sở khách quan tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xây dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học
Trang 22Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền của văn học và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa cũ,vừa mới, vừa biến đổi, vừa ổn định
Lí luận văn học dựa vào yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học thành các loại và thể (hoặc thể loại, thể tài) Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Bất
kì tác phẩm nào cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là có một hình thức thể nào đó Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có ba loại: tự sự, trữ tình, kịch Mỗi loại lại bao gồm một số thể
Nguyễn Văn Long trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại, Nxb Giáo dục Việt Nam cũng chỉ rõ:
Thể loại là một phạm trù cơ bản và phổ biến của văn học, chi phối cả sáng tác, lưu truyền, tiếp nhận văn học.[21; 30]
Bất kì tác phẩm văn học nào cũng đều tồn tại trong một dạng thức nhất định Đó là sự thống nhất mang tính chỉnh thể của một loại nội dung với những phương thức biểu đạt và hình thức tổ chức tác phẩm, tổ chức lời văn Thể loại văn học chính là sự phân chia loại hình tác phẩm theo những căn cứ nêu trên Thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loại nội dung với một dạng hình thức văn bản và phương thức tái hiện đời sống
Đọc và phân tích một tác phẩm văn học không thể không quan tâm đến đặc điểm thể loại của tác phẩm ấy Bởi vì thể loại chính là cơ sở tạo nên tính thống nhất chỉnh thể của một tác phẩm, tổ chức liên kết các yếu tố nội dung và hình thức, từ đề tài, chủ đề, cảm hứng đến hệ thống nhân vật, kết cấu và lời văn nghệ thuật Thể loại không những quy định cách thức tổ chức tác phẩm mà còn địnhhướng cho việc tiếp nhận của độc giả, tạo nên kênh giao tiếp giữa tác phẩm vàngười đọc Thể loại của tác phẩm vừa có tính kế thừa, tính liên tục, lại vừa có tính độc đáo, tính biến đổi do sự sáng tạo của tác giả Vì thế, phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại không thể chỉ dừng lại ở những
Trang 23đặc điểm chung của một thể loại thể hiện trong tác phẩm, mà còn cần phải chỉ
ra nét riêng biệt, độc đáo, thể hiện sự sáng tạo không lặp lại của tác giả
Các tác giả trong cuốn Lý luận văn học (tập 2): Phương Lựu, Trần Đình
Sử, Nguyễn Xuân Nam quan niệm thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật, loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một nội dung nhất định có một hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể
Từ những điều trên, chúng tôi cùng thống nhất cách hiểu về khái niệm thể loại văn học như sau:
Thể loại văn học là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo vănbản
Tên gọi thể loại của tác phẩm cho ta biết: phạm vi và phương thức tiếp xúc, tái hiện đời sống; hệ thống các phương tiện, phương pháp thể hiện tương ứng
Phân loại tác phẩm văn chương chủ yếu dựa vào phương thức tái hiện đời sống; cấu tạo tác phẩm; loại đề tài; chủ đề; thể văn Tác phẩm văn học được chia ra làm ba loại chính: loại tác phẩm tự sự, loại tác phẩm trữ tình, loại tác phẩm kịch Mỗi loại tác phẩm văn học lại có một phương thức kết cấu hình riêng
Thể loại chi phối tất cả các yếu tố của hình thức tác phẩm Không phải ngẫu nhiên mà sách giáo khoa hiện hành sắp xếp tác phẩm theo thể loại và mỗi khi dạy - học tới một thể loại nào đó sách giáo khoa thường nêu chú thích
về đặc trưng thể loại đó Có một số thể loại có thể nói lướt qua nhưng cũng có một số thể loại cần phải được học thật kỹ trên lớp
Các thể loại văn học đã nhiều lại luôn ở trong sự vận động, thay đổi, pha trộn vào nhau Trong tiến trình đời sống, một số thể loại do không thích hợp đã
bị loại bỏ, một số thể loại mới nảy sinh và thay thế Các hiện tượng đó làm khó cho việc phân loại Tiêu chí phân loại cũng rất nhiều Phân loại về ngôn ngữ,
về phương thức cấu tạo hình tượng, về dung lượng dài ngắn Các tiêu chí làm cho việc phân loại không khỏi chồng chéo, và nhìn chung sự phân loại chỉ có thể mang tính chất tương đối
Trang 24Lí luận văn học dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học
thành các loại và các thể Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Bất kì tác
phẩm văn học nào cũng thuộc một loại nhất định, và quan trọng hơn là có một
hình thức thể nào đó Loại và thể mang tính chất biện chứng của cái biểu đạt và cái được biểu đạt Về phương diện cấu trúc nội dung của tác phẩm văn học thì loại
là chất mà thể là hình thức biểu hiện cụ thể của loại, không có thể thì loại không không biểu hiện ra được Nhưng khi đã biểu hiện ra thành thể thì nó lại có tính
độc lập tương đối Cuốn Lí luận văn học của GS Hà Minh Đức, khẳng định
rằng: Tính chất tương đối của ranh giới thể loại còn biểu hiện ở sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại trong quá trình phát triển Có khi các tác phẩm khác nhau thuộc một thể tài lại biểu hiện tính chất của những loại khác nhau Ví dụ thể thơ thì có thơ tự sự, thơ trữ tình, kịch thơThực tế các tác phẩm văn chương cho thấy rằng khó có thể xác định máy móc tác phẩm này là thể loại tự sự, trữ tình hay kịch Trong tác phẩm trữ tình có yếu tố tự sự và ngược lại Một tác phẩm
văn chương luôn chịu sự ràng buộc từ hai phía loại và thể Loại và thể phụ
thuộc chặt chẽ với nhau nhưng vẫn có tính độc lập tương đối.Nhiều nhà nghiêncứu cho rằng có ba loại Mỗi loại trên gồm một
số thể nhỏ:
* Loại tự sự: phản ánh đời sống trong tính khách quan (tương đối) của nó -
qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó
Loại tự sự bao gồm: Tự sự dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười.Tự sự trung đại và hiện đại: truyền kì, tiểu thuyết, truyện vừa, kí
* Loại trữ tình: biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người Trong
tác phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Tác giả có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân của mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố,
sự kiện nào
Trang 25Loại trữ tình gồm: Trữ tình dân gian: tục ngữ, ca dao, dân ca, vè, câu đối Trữ tình trung đại và hiện đại: thơ cổ thể truyền thống, thơ tự do
* Loại kịch gồm: Kịch bản văn học: chỉ là một yếu tố, dù đó có thể là một trong
những yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất của kịch Nghệ thuật sân khấu: mang tính chất tổng hợp bao gồm nhiều hoạt động của diễn viên, đạo diễn,
hoá trang, ánh sáng, âm thanh Có hai loại kịch đó là:
+ Sân khấu dân gian: gồm các thể loại chèo, tuồng, múa rối
+ Kịch hiện đại: gồm các thể loại bi kịch, hài kịch, chính kịch
Trên thực tế cụ thể, sinh động của tác phẩm, các loại tự sự, trữ tình và kịch thường xâm nhập vào nhau, kết hợp với nhau, đảm bảo những khả năng vôtận trong việc mô tả hiện thực cuộc sống, bộc lộ nội tâm con người, làm cơ sở để nảy sinh nhiều thể tài văn học khác nhau Cho nên trong thực tiễn, không nên xác định và khẳng định một cách tuyệt đối một tác phẩm nào đó chỉ là tự sự, chỉ
là trữ tình hoặc chỉ là kịch Thường trong các tác phẩm tự sự có bao hàm những yếu tố trữ tình và ngược lại, trong tác phẩm trữ tình vẫn có yếu tố tự sự, còn trong kịch thì thường kết hợp cả hai Sự kết hợp đó là yêu cầu có tính quy luậtcủa sự sáng tác văn học và nhiều khi đó là dấu hiệu về phẩm chất nghệ thuật của một tác phẩm Và gianh giới giữa ba loại không phải tuyệt đối rạch ròi, dứt khoát Khi xác định một tác phẩm thuộc loại này hay loại kia là chúng ta căn cứ vào đặc trưng thể loại chủ đạo của nó mà thôi đồng thời phải thừa nhận khả năng các yếu tố thuộc thể loại khác vẫn song song tồn tại trong tác phẩm
1.1.2 Dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại
Từ lâu, vấn đề dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại đã được các nhà lí luận nghiên cứu về phương pháp quan tâm PGS Nguyễn Thị Thanh Hương khẳng định đặc trưng thể loại quy định phương thức lĩnh hội và việc lựa chọn những hoạt động chính của học sinh Tác giả chỉ rõ: với tác phẩm tự sự, GV hướng dẫn HS đi sâu vào phân tích các nhân vật chính, nhân
Trang 26vật phụ, lý giải số phận nhân vật chính thông qua hành động và xung đột Còn
với tác phẩm thơ phải định hướng cho HS tập chung phân tích nhịp điệu, luật thơ, nhạc tính, hình tượng thơ (nếu có), nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình Tác giả còn có một chuyên luận về dạy học truyện ngắn trong nhà trường THPT Từ đặc trưng thi pháp thể loại tác giả chỉ ra các bước phân tích một truyện ngắn: đọc dựng chân dung tác phẩm, xác định nhân vật chính phụ; tiếp cận đồng bộ tác phẩm; phân tích nhân vật; bình giá các chi tiết đặc sắc
Trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, tác giả Nguyễn Viết Chữ đã xuất phát từ quan niệm văn học là trò diễn bằng ngôn từ, ngôn từ trong văn học là môt thứ ngôn ngữ đặc biệt được chưng cất từ
hiện thực ngôn ngữ toàn dân nên ngôn ngữ văn học có tính hình tượng, có tínhchính xác, tính hệ thống, tính biểu cảm sinh động, tính hàm súc đa nghĩa, tính cá thể hóa cao, tác giả đã nhấn mạnh bằng ngôn ngữ, mỗi thể loại lại xây dựng hình tượng theo đặc trưng riêng và như vậy ngôn ngữ trong văn học vừa được
sử dụng như những tín hiệu thẩm mỹ và đến lượt mình tác phẩm văn chương cũng chính là một tín hiệu thẩm mỹ Tác giả kết luận: Một tác phẩm văn
chương đích thực không phải chỉ đem đến thông tin mà phải là một hệ thống
tín hiệu kích thích để bùng nổ thông tin
Vấn đề dạy học theo đặc trưng thể loại đã được các nhà lý luận nghiên cứu phương pháp quan tâm Không thể có chung một loại phương pháp, cách thức dạy và học cho tất cả các loại tác phẩm nói chung và từng tác phẩm nói riêng Tác phẩm thuộc thể loại nào đòi hỏi cách dạy theo đặc trưng của thể loại ấy Thực tế giảng dạy tác phẩm khó khăn, phức tạp như vậy đòi hỏi GV
và HS cần trang bị những kiến thức về thể loại, đặc biệt là thi pháp loại thể để hiểu sâu sắc về thơ trữ tình hơn Khi xác định đúng đặc trưng thể loại của tác phẩm cần phân tích GV sẽ lựa chọn được cách tổ chức, hướng dẫn định hướng phù hợp để giúp HS nắm được chiều sâu, chiều xa của tác phẩm để quá trìnhdạy học thực sự đạt kết quả
Trang 27Tuy nhiên cũng cần lưu ý là: Tìm hiểu thi pháp thể loại là cơ sở để phát hiện nét độc đáo của thi pháp tác giả, thi pháp tác phẩm Tiếp cận thi pháp thể loại không tách rời với việc tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường Thi pháp thể loại là vấn đề có tính nguyên tắc chi phối quá trình đến với tác phẩm, giải mã tác phẩm nhưng những hiểu biết về hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, tư tưởng thời đại và cá nhân con người, tiểu sử nhà văn thì có thể lý giải đượccác yếu tố mờ ẩn trong tác phẩm.Vận dụng thi pháp vào giảng dạy tác phẩm văn chương phải gắn liền với lý luận dạy học hiện đại: phải đọc kỹ văn bản, xác định được "chất của loại" của tác phẩm; phải nắm được những đặc điểm của hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn chương; giáo viên văn vừa là nhà khoa học, nhà sư phạm vừa là người nghệ sĩ
Có thể nói, đặc trưng thể loại của tác phẩm là điều kiện đầu tiên quyết định hiệu quả của quá trình tiếp nhận của HS Người GV khi định hướng dạy học tác phẩm văn chương phải biết xuất phát từ đặc trưng thể loại của tác phẩm, đối tượng tác động, đối tượng tiếp nhận để tổ chức hướng dẫn học sinh phân tích, cảm thụ tác phẩm, từ đó tìm ra khả năng tác động đặc biệt của tác phẩm đó đối với HS trong lớp, đề ra yêu cầu về hoạt động của HS và GV soạn giáo án và lập kế hoạch giảng dạy, tránh lối dạy rập khuôn, đơn điệu
1.1.2.1 Đặc trưng của thể loại trữ tình
Loại trữ tình biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con người Trong tác phẩm trữ tình, tình cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Tác giả có thể biểu hiện cảm xúc cá nhân mình mà không cần kèm theo bất cứ một sự miêu tả biến cố, sự kiện nào
Nói đến trữ tình là nói đến thơ, chất thơ trong thi ca Tính trữ tình là đặc trưng nổi bật nhất của nội dung thơ Đúng như vậy, thơ không chỉ lại việc miêu tả, kể lại sự vật bên ngoài mà chủ yếu bộc lộ tâm trạng cảm xúc rung động của con người trước sự vật xung quanh
Trang 28Điều cần thiết để phân biệt trữ tình với lãng mạn Lãng mạn trong văn
học bao gồm các thuật ngữ liên quan: chủ nghĩa lãng mạn, phương thức lãng mạn, hình thái lãng mạn Trong đó ta cần phân biệt yếu tố trữ tình và yếu tố lãng mạn Yếu tố lãng mạn có thể hiểu là mang thuộc tính thẩm mĩ biểu hiện chủ yếu ở chỗ vươn lên Lãng mạn cùng với trữ tình là hai phạm trù nghệ thuật nằm trên những phương diện khác nhau mà đối lâp với lãng mạn là hiện thực, nhưng đối lập với trữ tình là tự sự Trữ tình là kết quả của việc biểu hiện cảm xúc và tâm trạng của thế giới nội tâm chủ quan, lại cũng có thể theo cách riêng của mình phản ánh thực tế khách quan Chính vì thế mà trữ tình và lãng mạn
dù khác nhau nhưng thường đi đôi với nhau Tuy nhiên, sự gắn bó này dù thường xuyên nhưng không tất yếu Chúng hoàn toàn có thể đi đôi với mặt đối lập của nhau Trữ tình có thể rất hiện thực, trái lại, tự sự có thể rất lãng mạn
[37;143]
Theo giáo trình lí luận văn học tập 2 (tác phẩm và thể loại văn học) của
Trần Đình Sử chủ biên thì trữ tình được xác định là một trong những phương thức nhằm tạo dựng hình tượng trong văn bản văn học cùng với các phương thức khác như: trần thuật, miêu tả, nghị luận Trữ tình là biện pháp cơ bản nhất nhằm bộc lộ, tư tưởng, tư tưởng của tác giả Theo đó các tác giả chia các yếu
tố trữ tình thành: trữ tình trực tiếp và trữ tình gián tiếp
Trữ tình trực tiếp là cách thức dùng ngôi thứ nhất để giãi bày, bộc lộ, thái
độ quan điểm trực tiếp của tác giả
Trữ tình gián tiếp cách thức tác giả giấu ngôi thứ nhất, mượn cảnh mượn người, mượn việc nào đó để bộc lộ thái độ, quan điểm, tình cảm của bản thân
Chất trữ tình là một đặc trưng của thơ ca nhưng không vì thế văn xuôi lại thiếu đi yếu tố này đặc biệt là với một số tác giả tiêu biểu như: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thanh Tịnh, Thạch Lam, Nguyễn Tuân Trong văn xuôi trữ tình các đoạn độc thoại hay phát biểu trực tiếp của người kể chuyện đều có chứa các yếu tố trữ tình trực tiếp Những đoạn tả cảnh thường có sắc thái trữ tình
Trang 29gián tiếp Điều đó thể hiện qua mạch vănvăn giàu cảm xúc, giàu hình ảnh,
ngôn ngữ mềm mại, nhẹ nhàng giàu chất thơ và nhịp điệu
1.1.2.2 Đặc trưng của thể loại tự sự
Khác hẳn loại trữ tình, tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó Tác phẩm tự sự hầu như không bị hạn chế bởi không gian và thời gian Nó có thể kể về những khoảnh khắc hay những sự kiện xảy ra hàng trăm năm Tầm bao quát cuộc sống trong tác phẩm rộng lớn Nhân vật tự sự được khắc họa đầy đặn nhiều mặt: bên trong, bên ngoài, cả điều nói ra và không nói ra, cả ýnghĩ và cả cái nhìn, cả cảm xúc, tình cảm, ý thức và vô thức, cả quá khứ, hiện tại và tương lai Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người trần thuật Hình tượng người trần thuật, kể chuyện rất đa dạng: khách quan, ngôi thứ nhất, thông suốt, thông suốt có chọn lựa và cũng có khi người kể chuyện như một nhân vật khi nhập thân, khi gián cách, khi đứng ngoài, khi hòa nhập ít nhiều ta vẫn nhận ra thái độ của họ
Điều này cho thấy phương thức cơ bản của tác phẩm tự sự là kể Tuy
nhiên để làm cho văn học phong phú, đa dạng không thể để cho một tác phẩm tự
sự chỉ có các yếu tố tự sự mà không có các yếu khác như biểu cảm, miêu tả hay nghị luận Ngược lại ở các phẩm văn học khác như nghị luận, miêu tả, hành chính - công vụ ta có thể sử dụng các yếu tố tự sự để làm tăng hiệu quả văn bản Theo từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi chủ
biên thì Tự sự là phương thức phản ánh hiện thực quan các sự kiện, biến cố trong cuộc sống làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay
về một cái gì đó [12;129]
Nhiều tác phẩm văn xuôi lãng mạn khác cũng sử dụng phương thức tự sự tuy nhiên tính tự sự trong những tác phẩm này lại được thể hiện độc đáo và khác biệt Tất cả được hòa quyện chung với yếu tố trữ tình tạo nên sự đồng
Trang 30điệu Lê Quý Đôn đã từng nói "Ta cho thơ có ba điều chính một cảnh, hai
tình, ba sự" Điều đó chứng tỏ cho thấy ngoài yếu tố trữ tình thì yếu tố tự sự góp một phần không thể thiếu
Vì vậy, không phải bao giờ cũng có sự rạch ròi tuyệt đối truyện vẫn có thể tái hiện phương diện tình cảm của con người, Thơ vẫn có thể kể về một cuộc đời ai đó như một hiện tượng bên ngoài tác giả
1.1.2.3 Sự giao thoa của thể loại trữ tình và tự sự
Bất cứ một tác phẩm văn chương nào cũng mang tính chất của một loại văn học nhất định (tự sự, trữ tình, kịch) và tồn tại trong một thể nhất định (truyện, thơ, kí, ) Trên thực tế, ít có một tác phẩm văn học nào chỉ phản ánh một tính chất: tự sự, trữ tình, kịch Mỗi tác phẩm đều chứa trong nó một hoặc hai hay
cả ba tính chất của ba loại văn học tuy vậy vẫn có tính chất của một loại tiêu biểu và xuyên suốt tác phẩm
Theo cách hiểu thông thường, trữ tình thường gắn liền với thơ ca còn tự sựgắn liền với văn xuôi Tuy nhiên không vì thế chúng không giao thoa thâm nhập lẫn nhau Ta vẫn thấy thơ vẫn mang yếu tố tự sự, vẫn có thể kể về một cuộc đời
ai đó Và ngược lại truyện vẫn có thể thể hiện phương diện tình cảm của con người vẫn có những dòng văn dào dạt cảm xúc thấm đẫm chất thơ Điều này ta
có thể xem xét thơ và văn xuôi trong mối tương quan loại hình và trong các tươngquan khác
Thơ ca cũng có yếu tố tự sự Để đạt hiệu quả nghệ thuật cao, tự sự phải
thể hiện qua đặc trưng và những ưu thế của thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, kí Chúng là môi trường tốt nhất để yếu tố này vượt trội qua cách kể,dẫn dắt cốt truyện, miêu tả chân dung ngoại hình và số phận nhân vật Tuy vậy, trong thơ ca cũng không ít những vần thơ mang yếu tố tự sự Chất tự sự
đi vào thơ ca ngoài các tác phẩm thơ tự sự như trường ca, anh hùng ca, truyện
thơ (Truyện kiều - Nguyễn Du, truyện Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu, Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm ) mà còn được thể hiện
Trang 31trong các bài thơ trữ tình như (Hầu trời
- Tản Đà, Tiểu đội xe không kính-
Phạm Tiến Duật, Mẹ tơm- Tố Hữu, Đò lèn- Nguyễn Duy )
Yếu tố tự sự được nhìn nhận qua sự kể, tả, ngôn ngữ gần gũi, mộc mạc, giản dị, giọng điệu tâm tình, suy tư trầm lắng thấm đượm trong những vần thơ
Văn xuôi cũng chứa đựng các yếu tố trữ tình Chất trữ tình trong văn
xuôi không chỉ là thứ ngôn ngữ bóng bảy, giàu cảm xúc, giàu nhạc điệu và hình ảnh, có tính nhạc trong văn xuôi giàu sắc thái miêu tả Chất trữ tình trong văn xuôi được biểu hiện cả nội dung và hình thức
Về nội dung: văn xuôi tữ tình thường hướng tới cái thi vị lãng mạn, nên thơ của cuộc sống và con người Điều đó thể hiện qua khía cạnh cảnh và người
Đối với cảnh tác phẩm văn xuôi trữ tình cơ bản tập trung miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên có thể trong sáng, tinh khôi, huyền ảo, cũng có thể chia lìa tan tác, buồn thương Qua cảnh vật gợi lên cảm xúc cho con người Đối với con người thường được khám phá những vẻ đẹp sâu xa tiềm ẩn, những rung động sâu kín
và khát khao tự do, hạnh phúc Con người đặt trong mối quan hệ giao cảm với thiên nhiên và hiện thực mà nó tồn tại Chính vì thế trong những trang văn thườngmượt mà, nhẹ nhàng, đi sâu vào cảm xúc và thấm đẫm chất thơ
Về hình thức: Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu biểu tượng không trình bày
vấn đề bằng những khái niệm, phán đoán, suy luận, trừu tượng khô khan mà cần có những bức tranh về cuộc sống và con người cụ thể, sinh động, nhiều màu sắc, âm thanh và nhạc điệu
Tóm lại, đây là hình thức thơ trong văn xuôi bởi có sự xâm nhập các yếu
tố trữ tình vào văn xuôi, khiến cho văn xuôi tự sự trở thành những áng thơ - văn xuôi trở nên hấp dẫn Tính lưỡng phân ở cấp độ đồng đẳng giữa thơ và văn xuôi cũng như sự đan xen giữa yếu tố hiện thực và lãng mạn, giữa tính tự sự và trữ tình đã làm nên đặc trưng thẩm mỹ riêng biệt khó lẫn cho loại hình này
Sự thâm nhập yếu tố trữ tình vào tác phẩm tự sự là một hiện tượng khá
phổ biến trong yếu tố trữ tình vào văn học tác phẩm tự sự là một hiện Đã có
Trang 32nhiều nhà văn nổi tiếng trên thế giới với những tác phẩm của họ đã hình thành
nên phong cách độc đáo: truyện ngắn thơ, tiểu thuyết thơ như Vichto Huygô, pautôpxki, A.Đôđê Trong văn học Việt Nam Thạch Lam là người tiêu biểu nhất sau đó là Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Tô Hoài, Anh Đức
Sự thâm nhập chất thơ vào văn xuôi phải kể đến sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn Đây là một văn phái xây dựng nền tiểu thuyết có cốt truyện
thường ít sự kiện, hành động, nhưng lại phong phú sự kiện nội tâm, lối kể chuyện hấp dẫn duyên dáng, ngôn ngữ trong sáng gợi cảm và giàu chất thơ Những trang miêu tả tâm lí tinh tế có khả năng đi sâu vào thế giới nội tâm của con người Đặc biệt sự thâm nhập chất thơ vào văn xuôi đã tạo nên dòng truyện ngắn trữ tình đặc sắc 1932-1945 Có thể nói rằng thông qua bút pháp trữ tình và cảm xúc trữ tình của nhà văn, truyện ngắn trữ tình đã đưa vào nghệ thuật văn xuôi Việt Nam một chất thơ man mác bàng bạc rất riêng
1.1.3 Đặc trưng thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn là một thể loại văn học Nó thường là các câu chuyện được kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích; nắm bắt cuộc sống của thể loại, tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người, thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Nó là một loại văn tự sự, kể chuyện và trình bày sự việc.Truyện thường có cốt truyện, nhân vật và lời kể Mặc dù cũng
có một số truyện viết bằng văn vần nhưng phần lớn được viết bằng văn xuôi
Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ Như vây, ấn tượng mà truyện ngắn để lại, thứnhất nằm ở hình thức (dung lượng), thứ hai nằm ở khả năng tác động mạnh
mẽ, tức thì Từ trước đến nay tồn tại nhiều cách phân loại truyện ngắn tùy ở chỗ dựa vào nội dung hay hình thức
Trang 33Dựa vào nội dung phân chia ra truyện ngắn sử thi: Nguyễn Trung Thành, M.Sôlôkhôp Truyện ngắn thế sự: có các tác giả tiêu biểu như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan Truyện ngắn đời tư: Với các tác giả tên tuổi Nam Cao,
Dựa vào khuynh hướng cảm xúc phân chia ra: truyện ngắn trào phúng với tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Công Hoan; truyện ngắn trữ tình có Thạch Lam Dựa vào cốt truyện phân chia thành: truyện ngắn sự kiện: Nguyễn Công Hoan; truyện ngắn tâm lý: Nam Cao Căn cứ vào hướng tiếp cận và khám phá cuộc sống ta có truyện hướng ngoại tiêu biểu như Nguyễn Công Hoan truyện hướng nội như Nam cao Hoặc căn cứ vào số chữ của tác phẩm: truyện ngắn, truyện rất ngắn, truyện siêu ngắn
Trên cơ sở dựa vào nội dung, hình thức của tác phẩm mà có nhiều cách phân chia loại trong thể truyện ngắn như vậy Song chúng ta cũng cần hiểu rằng: truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự, cái chính của truyện ngắn không phải là ở hệ thống các sự kiện mà ở cái nhìn tự sự với cuộc đời Đặc điểm chung của truyện ngắn là có tình huống truyện, cốt truyện, nhân vật, kết cấu,ngôn ngữ, giọng điệu, lời kể của người kể chuyện
1.1.3.1 Cốt truyện
Cốt truyện là hệ thống các sự kiện (biến cố) xảy ra trong đời sống của nhânvật, có tác dụng bộc lộ tính cách, số phận nhân vật Cốt truyện thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó là nói lên điều gì đó sâu sắc về cuộc sống xã hội và con người
Cốt truyện thành phần quan trọng, cốt yếu của tự sự, đặc biệt có vai trò quan trọng trong truyện ngắn S.Maugham đã từng chỉ ra rằng nhà văn sống bằng cốt truyện, y như họa sĩ sống bằng bút vẽ vậy Điều này chứng tỏ cốt truyện là nơi thử thách sự sáng tạo của nhà văn Với chức năng chính là bộc lộ các mâu thuẫn quan trọng trong đời sống, từ các tác phẩm văn học, từ kinh nghiệm sống của bản thân tác giả hoặc tưởng tượng hoàn toàn nhưng đều
Trang 34được nhào nặn qua sự hư cấu nghệ thuậtcủa nhà văn.Việc sáng tạo ra cốt
truyện từ những sự kiện trong đời sống của nhà văn khiến họ ngang hàng với công việc của những người thợ làm ra ngọc quý
Theo các nhà văn viết truyện ngắn thì truyện ngắn thường có hai loại cốt
truyện là cốt truyện sắc nhọn và cốt truyện tâm tình Truyện ngắn có cốt truyện sắc nhọn là loại mà nhà văn sáng tạo ra cốt truyện li kì hấp dẫn: Tô Hoài,
Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Thiệp là những tác giả thành công về loại
truyện kể về một trường hợp đặc biệt nào đó Truyện ngắn có cốt truyện tâm tình là loại truyện mà dường như không có cốt truyện: Nguyễn Thành Long,
Đỗ Chu, Thạch Lam là những nhà văn thành công với loại truyện dường như chẳng có chuyện gì xảy ra, mà người đọc vẫn thấy thích thú Truyện ngắn
Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam là một tác phẩm có cấu trúc phi cốt truyện vì
trong đó các sự vật hiện tượng chỉ được liệt kê, sắp xếp nhưng không có sự vận động chuyển hóa nào Nhà văn đã khai thác những biến cố tâm lí lòng trắc ẩn
thương người của Hai đứa trẻ để làm nét thi pháp cốt truyện
So với tiểu thuyết cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, con người Nếu như tiểu thuyết cho phép nhà văn tái hiện xâydựng nhiều mâu thuẫn, nhiều xung đột trong cuộc sống với các chiều kích khônggian và thời gian mở rộng thì truyện ngắn lại tập trung vào một khoảnh khắc trong cuộc đời nhân vật Do đó việc sáng tạo truyện ngắn yêu cầu nhà văn phải tìm ra được một tình huống truyện
1.1.3.2 Chi tiết
Chi tiết chiếm dung lượng lớn trong truyện ngắn, vì nó sẽ góp phần cụ thểhóa cảnh trí, không khí, tính cách, hành động và tâm tư nhân vật Tiểu thuyết trong giới hạn rộng rãi của nó có thể chứa đựng nhiều cuộc đời, chứa đựng những suy tư của nhân vật về thế giới, về cuộc đời, về toàn bộ sự tồn tại
Trang 35của con người Còn truyện ngắn thì không phải như vậy Chính dung lượng
ngắn đã buộc nhà văn khi sáng tác phải tránh lối kể chuyện vòng vo, tránh những câu, những đoạn kể cho trôi câu chuyện Truyện ngắn luôn đòi hỏi nhà văn phải không ngừng sáng tạo trong việc quan sát, tìm tòi, chọn lựa và xây dựng các chi tiết nghệ thuật Nhà văn Nguyễn Công Hoan đã từng nhấn mạnh
rằng: "muốn cái lò xo bật cao, ta phải dùng sức mạnh ấn cái cần xuống, rồi hãy buông ra Cho nên, muốn triển khai một ý, một vấn đề thì cần phải tìm những chi tiết để ấn cái lò xo tình cảm của độc giả xuống mạnh, rồi để cái lò
xo bật cao Ở đây kinh nghiệm càng cho thấy rằng phải đạt được ý, được vấn
đề mới chọn đúng chi tiết cần thiết, không tham lam, không lông bông Bố trí không chặt, truyện ngắn không viết được ngắn" [16, tr.305 - 306] Như vậy,
chi tiết là nội dung của truyện ngắn Chính chi tiết sẽ cụ thể cho chủ đề chung màtác giả muốn diễn đạt Nhà văn cần phải làm chủ ngòi bút của mình một cách thận trọng để tránh đi trật hướng chủ đề mình đã chọn Nhà văn chọn chi tiết nào thì chi tiết đó phải mang lại ý nghĩa gì đối với sự phát triển của hành động trong truyện, tức là hướng đến cái chủ đề mình đã định hướng Như vậy, chi tiết vừa là phương tiện cho nhà văn khắc họa nhân vật vừa góp phần thể
hiện chủ đề, tư tưởng của truyện:
Sự chọn lọc chi tiết trong truyện ngắn là rất cần thiết, nếu nhà văn sử dụng quá nhiều chi tiết thì truyện ngắn sẽ ôm đồm, chồng chất, ngược lại thiếu chi tiết thì truyện ngắn khó thành công Chi tiết hình thành do quá trình tích lũy của nhà văn trong cuộc sống Họ cần có khả năng quan sát hiện thực sâu sắc, tích lũy chi tiết, thậm chí ghi chép cẩn thận để khi nguồn cảm hứng hình thành, khi nhà văn có nhu cầu sáng tác thì chi tiết đời sống mới có khả năng trởthành chi tiết nghệ thuật Sức hấp dẫn của truyện ngắn chính một phần là ở các chi tiết, đặc biệt là các chi tiết điển hình sâu sắc trong truyện ngắn có vai trò quan trọng như mạch máu nuôi cơ thể con người Ấn tượng mà mỗi truyện ngắn đem lại chính là độc giả phát hiện ra các chi tiết thú vị
Trang 36Trên thực tế có thể độc giả quên tên một truyện ngắn nhưng họ có thể kể lại
truyện ngắn đó qua các chi tiết tiêu biểu và ấn tượng Trong truyện ngắn Một bữa no của Nam Cao, chi tiết bà lão nghèo vì quá đói khổ đã cố ăn hết những
hạt cơm còn sót lại trong nồi để rồi thổ tả mà chết, để lại những ấn tượng lâu bền và sức ám ảnh trong lòng độc giả Chi tiết quan huyện ăn bẩn hai đồng hào
lẻ của người dân nghèo đi kiện ngay tại chốn công đường trong truyện ngắn Đồng hào có ma của Nguyễn Công Hoan đã để lại dư vị ngậm ngùi trong tâm
hồn người đọc về thân phận người nông dân nghèo nước ta trước Cách mạng
1.1.3.3 Kết cấu
Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục tác phẩm, là
sự tổ chức sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định Theo
giáo sư Trần Đình Sử Nguyên tắc quan trọng nhất của kết cấu là nguyên tắc
tổ chức cái nhìn sao cho bằng cảm thụ hình tượng nghệ thuật, cũng
như biểu hiện được niềm rung cảm và đánh giá của tác phẩm [36, tr.153]
Kết cấu là yếu tố tất yếu của tác phẩm Kết cấu có nhiệm vụ góp phần thểhiện chủ đề tư tương của tác phẩm Nhà văn khi sáng tạo truyện ngắn cũng rất chú ý đến cách tổ chức tác phẩm Kết cấu là cách tổ chức tác phẩm, nó đa dạng
và phong phú như chính cuộc sống muôn màu trong thực tế Truyện ngắn có thể được kết cấu xâu chuỗi theo trình tự thời gian hoặc theo hành động, sự kiện, kết cấu tâm lí, kết lắp ghép hoặc kết cấu đồng hiện Nhìn chung thì các thủ pháp kết cấu trong truyện ngắn thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn và quyết định sự thành công của truyện ngắn
Kết cấu không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Trong cách xây dựng
truyện ngắn nhà văn chú ý đến phần mở đầu và đoạn kết của truyện bởi vì truyện ngắn đòi hỏi không có cái gì được thừa cũng y như trên một boong tàu
Trang 37quân sự, ở đó tất cả phải đâu vào đấy
Có vô số cách mở đầu truyện ngắn
Nhưng quan trọng nhất là câu mở đầu phải là một thứ âm chuẩn giúp cho việc tạo
nên âm hưởng chung cho toàn bộ truyện ngắn Nhà văn một khi đã tìm ra được cách vào truyện tức là họ đã tìm ra cách dẫn câu chuyện đó theo một nhịp điệuriêng Vì hướng tới hiệu quả tác động duy nhất truyện ngắn cũng cần phải xây dựng một đoạn kết độc đáo và ấn tượng Cách chấm dứt câu chuyện của mỗi nhà văn sẽ thể hiện tài năng sáng tạo của họ Trước đây truyện ngắn thường kết thúc bằng một kết thúc có hậu, giải quyết hoàn toàn các vấn đề Truyện ngắn hiện đại thường chọn kết thúc mở, để cho người đọc suy ngẫm Câu
chuyện dừng lại nhưng vấn đề, sự kiện nhân vật do nhà văn nêu ra vẫn ám
ảnh, day dứt người đọc Nhà văn không phải là người hướng dẫn, răn dạy bạn
đọc mà họ chỉ gợi ra vấn đề bằng cách kể câu chuyện đó, còn người đọc thì tiếp cận câu chuyện như một cuộc đối thoại ngầm về cuộc sống đang từng ngày biến động không ngừng Tác giả Tạ Duy Anh cho nhân vật của mình trong những
truyện ngắn Bước qua lời nguyền, Vòng trầm luân trần gian nổi loạn, kết thúc
khi nhân vật đang trong quá trình đi vào tìm hiểu hành trang sống của mình, và
trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như: Khách ở quê ra, Chiếc thuyền ngoài xa tác giả cũng chọn kiểu kết thúc như vậy Truyện ngắn cũng có kết thúc
bằng cách đưa ra nhiều kiểu kết thúc để hướng độc giả tự do lựa chọn do vậy họ
cũng đồng sáng tạo như trường hợp Vàng lửa, Trương Chi của Nguyễn Huy Thiệp, Một chuyện cổ điển của Phạm Thị Hoài
Ngoài ra phần mở đầu và phần kết thúc phải có sự phối hợp để tạo ra ý nghĩa của tác phẩm Sự sắp xếp các chi tiết đời sống có tác dụng làm nổi bật ý nghĩa của tác phẩm Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn
và lối hành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết.Mỗi chi tiết dù bé nhỏ cũng ẩn chứa hơi thở của thời đại, nỗi đau, niềm vui của nhân thế
Trang 381 1.3.4 Nhân vật
Có thể nói, thế giới nhân vật bao cũng là sự thể hiện tập trung và trực tiếp cảm quan nghệ thuật của nhà văn Nhà văn sáng tạo ra nhân vật bao giờ cũng theo cách hình dung và cảm nhận riêng của mình Bởi vì sự sáng tạo nghệ thuật là một sự thống nhất biện chứng giữa khách thể và chủ thể, hướng nội
và hướng ngoại Bêlinxiki nhận xét rằng Các nhân vật của tác phẩm không phải đơn giản là những bản dập của những con người sống mà là
những hành động được khắc họa phù hợp với ý đồ, tư tưởng của tác giả
Nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu của thể loại này Một tác phẩm thường có nhiều nhân vật, trong đó phải có nhân vật chính sống động, sắc nét, có
ý nghĩa sâu xa, thường là một hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức
xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Nhân vật thường biểu hiện qua các phương diện như ngoại hình, nội tâm, hành động, biến cố, ngôn ngữ, mối quan
hệ giữa các nhân vật và giữa nhân vật với hoàn cảnh xung quanh
Ngoại hình của nhân vật được giới thiệu trong tác phẩm, hành động là những việc làm của nhân vật, bộc lộ tính cách hay đánh dấu sự thay đổi tính cách nhân vật Nội tâm nhân vật thường có nét riêng cho thấy những bí ẩn của tâm hồn, phẩm chất, lí tưởng của nhân vật Đặc biệt là những đổi thay trong ý thức, thái độ sống và tâm lí của nhân vật qua các giai đoạn Ngôn ngữ thường có cách nói riêng, bởi đó là sự bộc lộ trực tiếp của tâm hồn, tính cách nhân vật
Hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người, vì thế truyện ngắn thường ít có nhân vật, ít sự kiện phức tạp Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt tương quan với hoàn cảnh
1.1.3.5 Ngôn ngữ và giọng điệu
"Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Ngôn ngữ đã cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của cuộc
Trang 39đời, tư tưởng, tính cách và cốt truyện Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà
văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm; nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người đọc với tác phẩm'' [37;14]
M.Goorki từng cho rằng: yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nhà văn và cùng với sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của văn học
Mỗi truyện ngắn là một công trình sáng tạo của nhà văn mà ngôn ngữ là một trong các nhân tố đặc trưng tạo thành tác phẩm Sự tổ chức truyện ngắn còn phụ thuộc vào nghệ thuật sử dụng ngôn từ nghệ thuật của tác giả Chính thứ ngôn ngữ này truyền đạt tư tưởng, xây dựng tính cách, khiến cho truyện ngắn tràn đầy nhạc điệu Cùng quan điểm như thế, nhà văn Paustovski đã đưa ra một
số quy tắc vàng để nhắc nhở người viết cần lưu ý khi sáng tạo là ngôn ngữ truyện ngắn không chỉ kể ngắn gọn, khắc họa nhân vật, chủ đề mà còn tạo cho
nó cái nhịp điệu riêng thể hiện cá tính tác giả Như vậy, chúng ta có thể hiểu ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ được ý thức cao độ Trong chuẩn mực cô đọng, ngắn gọn của mình truyện ngắn buộc nhà văn phải cẩn trọng trong việc
sử dụng câu chữ
Như vậy, việc xác định tính chất của thể loại trong tác phẩm văn học là việc làm vô cùng quan trọng không chỉ trong công việc giảng dạy tác phẩm vănchương trong nhà trường mà còn là khâu quan trọng, cần thiết trong nghiên cứu Xác định tính chất của loại trong thể, biết được tác phẩm đó thuộc về thể nào chúng ta sẽ có cách tiếp cận và giảng dạy tác phẩm đó phù hợp đạt kết quả.Truyện ngắn là một thể loại có đặc trưng loại biệt nhưng trong tiến trình chung của văn học, tính loại biệt của đặc trưng truyện ngắn không làm cho truyện ngắn đứng xa rời, đứng biệt lập với các thể loại khác mà chính sự tác động qua lại mạnh mẽ của các loại hình thể loại đã làm cho truyện ngắn càng trở nên hoàn hảo và gắn bó chặt chẽ với các thể loại khác Hình hài của truyện ngắn hiện đại như ta thấy hiện nay là một kiểu tư duy
Trang 40mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng, mang đặc
Trong chương trình Ngữ văn 11 THPT tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch
Lam có vị trí khá quan trọng và tiêu biểu cho truyện ngắn Việt Nam Từ trước đếnnay vị trí của một tác giả văn học trong chương trình và SGK phổ thông
vẫn được xác định với ba mức độ khác nhau:
Nhìn chung về chương trình và Sách giáo khoa
Ở mức cao nhất là được viết thành một bài giới thiệu khái quát về tiểu
sử, tác phẩm chính, phân tích tương đối đầy đủ các đặc điểm trong sáng tác - đặc biệt là những nét độc đáo trong phong cách nghệ thuật, những đóng góp của tác giả đó vào giai đoạn văn học nói riêng và lịch sử văn học nói chung Những bài viết ấy được học trong một hay một vài tiết Lịch sử văn học Đằng saucác bài khái quát là một số tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn đó được biên soạn thành bài giảng văn và đọc thêm
Trong Sách giáo khoa Văn học Việt Nam các lớp 10, 11, 12 (Nxb Giáo dục) những năm gần đây thì chỉ có chín tác giả có được vinh dự này là: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du (ở lớp 10), Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu, Nam Cao (ở lớp 11), Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân, Tố Hữu (ở lớp 12) Thứ hai là những nhà văn có một hay một vài tác phẩm được giảng dạy và
một hay một vài tác phẩm được soạn trong phần đọc thêm Trước mỗi bài soạn giảng đều có phần tiểu dẫn giới thiệu sơ lược về nhà văn về tác phẩm của họ và kết thúc thì có phần hướng dẫn đọc bài
Thứ ba là một nhà văn hiện diện trong SGK chỉ với các bài đọc thêm