1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực hiện tại địa bàn thành phố hà nội

108 2,1K 42

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: "Pháp lệnh thi hành án sự năm 2004 với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi hành án" của tác giả Nguyễn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LÊ DƯƠNG HƯNG

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI

ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LÊ DƯƠNG HƯNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS LÊ HỒNG HẠNH

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu

trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví

dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi

đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính

theo qui định của Viện Đại học Mở Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Viện Đại học Mở Hà Nội xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Dương Hưng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội

đã tận tình dạy dỗ em trong thời gian vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn GS.TS Lê Hồng Hạnh đã hướng dẫn tận tình để

em hoàn thành luận văn đề tài “Pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại từ

thực tiễn thực hiện tại địa bàn thành phố Hà Nội”

Em xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp số liệu, giúp đỡ

em để em có thể phản ánh chính xác thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC THỰC HIỆN 7

1.1 Khái niệm thi hành án kinh doanh thương mại 7

1.2 Đặc điểm của thi hành án kinh doanh thương mại 12

1.3 Ý nghĩa của thi hành án kinh doanh thương mại 13

1.4 Các yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại 15

1.4.1 Bảo đảm về pháp lý 15

1.4.2 Bảo đảm về chính trị 17

1.4.3 Bảo đảm về kinh tế, xã hội 18

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 22

2.1 Các yếu tố cơ bản của thi hành án kinh doanh thương mại theo pháp luật hiện hành 22

2.1.1 Đối tượng thi hành án kinh doanh thương mại 22

2.1.2 Việc ra quyết định thi hành án kinh doanh thương mại 23

2.1.3 Ủy thác thi hành án kinh doanh thương mại 29

2.1.4 Thủ tục THAKDTM 32

2.1.5 Giải quyết khiếu nại, tố cáo thi hành án kinh doanh, thương mại 42

2.2 Thực tiễn thực hiện thi hành án kinh doanh, thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội 44

2.2.1 Những đặc điểm về kinh tế, xã hội của thành phố Hà Nội tác động trực tiếp đến việc THAKDTM 44

2.2.2 Thực tiễn thi hành án kinh doanh thương mại tại địa bàn thành phố Hà Nội trong những năm qua 47

Trang 6

2.2.3 Đánh giá kết quả từ thực tiễn thực hiện pháp luật THA KDTM tại Hà Nội 52 2.2.4 Những tồn tại, hạn chế từ thực tiễn thực hiện pháp luật THA KDTM tại Thành phố Hà Nội 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH VỀ THI HÀNH ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 79 3.1 Một số giải pháp chung và hướng hoàn thiện pháp luật 79 3.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án kinh doanh thương mại 81

3.2.1 Đảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong quá trình thi hành án kinh doanh, thương mại 81 3.2.2 Hoàn thiện các điều kiện luật định về thi hành án kinh doanh, thương mại 84 3.2.3 Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho các chủ thể có liên quan đến thi hành án kinh doanh, thương mại 90 3.2.4 Phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong THA KDTM 91

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94 KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 CQTHA Cơ quan thi hành án

3 CQTHADS Cơ quan thi hành án dân sự

6 THADS Thi hành án dân sự

7 VKSND Viện Kiểm sát nhân dân

8 THAKDTM Thi hành án kinh doanh thương mại

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Bảng số liệu tổng số vụ THA KDTM so với tổng số vụ thi hành án dân sự trong giai đoạn năm 2011-2015 tại Hà Nội 53 Bảng 2: Bảng số liệu tổng số án kinh doanh thương mại đã thi hành với tổng số án kinh doanh thương mại phải thi hành giai đoạn năm 2011-2015 tại Hà Nội 54 Bảng 3: Bảng số liệu về tổng số tiền THA KDTM so với tổng số tiền THADS giai đoạn năm 2011-2015 tại Hà Nội 55 Bảng 4: Bảng số liệu về tổng số tiền án kinh doanh thương mại đã thi hành so với tổng

số tiền án kinh doanh thương mại cần THA giai đoạn năm 2011-2015 tại Hà Nội 56

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành án dân sự là hoạt động nhằm thực thi các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật Bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà nước khi được chấp hành nghiêm chỉnh có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân đối với pháp luật Vì vậy, hoạt động thi hành án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ vững kỷ cương phép nước, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi trên thực tế

Nhận thức tầm quan trọng của công tác thi hành án, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về thi hành án như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1997), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của

Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (2004) và nhất là trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 Thể chế hoá đường lối của Đảng, từ năm 1993 đến nay, các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về thi hành án dân sự (trong đó có công tác THAKDTM), tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành, phát triển tổ chức, hoạt động của hệ thống cơ quan thi hành án dân sự

Mặc dù, công tác thi hành án dân sự trong những năm qua đạt được một số kết quả đáng khích lệ, công tác thi hành án dân sự có tăng lên nhưng chưa thực sự bền vững, án dân sự vẫn còn tồn đọng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, và sự quan tâm, mong mỏi của Đảng, Nhà nước và nhân dân; hoạt động thi hành án chưa thật sự đảm bảo được tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật Đây là vấn đề rất bức xúc đặt ra trong công tác

Trang 10

thi hành án dân sự hiện nay Thực trạng này, có một phần xuất phát từ nguyên nhân: trong lĩnh vực thi hành án dân sự ở nước ta đã có sự cắt khúc, tách rời hầu như hoàn toàn giữa cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thi hành án bị chậm, tồn đọng, nhiều vụ việc gây khiếu kiện bức xúc, kéo dài; quá trình tổ chức thi hành án vẫn còn một số khó khăn vướng mắc do thi hành án dân sự là lĩnh vực có liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác, liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều cơ quan nhà nước khác nhau; chưa có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa cơ quan pháp luật trong việc xử lý các hành vi không chấp hành án, chống đối, cản trở thi hành án 1

Tồn tại lớn nhất trong công tác thi hành án dân sự những năm qua là tình trạng án "tồn đọng" kéo dài, với số lượng lớn ngày càng tăng, song chưa có biện pháp hữu hiệu để giải quyết, nhất là đối với THAKDTM Bởi lẽ, tính chất của công tác THAKDTM rất phức tạp (thường có lượng tiền phải thi hành rất lớn); nhận thức

về công tác THAKDTM của các cấp, các ngành còn hạn chế; tại một số địa phương, các cấp chính quyền chưa thực sự quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác này; tổ chức

bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự chưa được kiện toàn, đào tạo và bồi dưỡng kịp thời, cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện làm việc chưa được đầu tư tương xứng với nhiệm vụ mới được giao

Chính vì vậy, để giải quyết tình trạng "án tồn đọng", nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự nói chung và thi hành án dân sự trong lĩnh vực kinh doanh thương mại nói riêng cần phải nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực tế Cần nghiên cứu tình hình này trên địa bàn phức tạp, sẽ cho thấy toàn cảnh bức tranh

về thi hành án kinh doanh thương mại Có thể thấy một trong những địa bàn phù hợp đó là Thành phố Hà Nội, vì đây là một trong hai đơn vị có số lượng các vụ việc phải thi hành án lớn nhất trong cả nước (đứng sau Thành phố Hồ Chí Minh), hơn nữa với vai trò là thủ đô của đất nước, tính chất các vụ việc khó khăn phức tạp

1

Bộ Tư pháp (2013), Báo cáo kết quả tổng kết công tác thi hành án dân sự giai đoạn 1993-2012 và công tác thi hành án hành chính giai đoạn 1996-2012 thuộc trách nhiệm của Bộ Tư pháp

Trang 11

Từ những phân tích trên, tác giả lựa chọn đề tài "Pháp luật thi hành án

kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực hiện tại địa bàn thành phố Hà Nội"

làm luận văn thạc sĩ luật học là cấp thiết và có ý nghĩa trong thực tiễn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, đã và đang có những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài những năm gần đây Trước những đòi hỏi khách quan của công tác thi hành án dân sự, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề thi

hành án dân sự, cụ thể là: Đề tài cấp Nhà nước “Luận cứ khoa học của việc đổi mới

tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mớí ” do TS.Nguyễn

Đình Lộc làm chủ nhiệm; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất

công tác thi hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư

pháp chủ trì thực hiện; Đề tài cấp Nhà nước đang thực hiện: "Luận cứ khoa học của

việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" do

Bộ Tư pháp chủ trì; Đề tài: "Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện

của Dự án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án

Một số luận án và công trình nghiên cứu khác như: Luận án tiến sĩ "Hiệu quả

áp dụng pháp luật trong thi hành án dân sự Việt Nam" của tác giả Đặng Đình Quyền

(năm 2012); Luận án Tiến sỹ luật học "Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động

thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay " (năm 2008) của TS Nguyễn Quang

Thái;Luận văn thạc sĩ luật học "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự tại Việt

Nam " của tác giả Nguyễn Thanh Thủy (năm 2008); Luận văn thạc sĩ luật học "Xã

hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam" của tác giả Lê Xuân Hồng; Luận văn thạc sĩ

luật học "Đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Quang Thái;Luận văn thạc sĩ luật học: "Các biện pháp cưỡng chế thi hành

án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Công Long;

Luận văn thạc sĩ luật học "Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam" của tác giả Lê

Anh Tuấn

Trang 12

Bên cạnh đó, còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:

"Pháp lệnh thi hành án sự năm 2004 với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thi

hành án" của tác giả Nguyễn Thanh Thuỷ, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên

đề về nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2005; "Các biện pháp cưỡng chế thi hành án

dân sự " của tác giả Trần Phương Thảo, Tạp chí Luật học số 7/2007; "Một số kiến

nghị từ thực tiễn hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự ở xã, phường, thị trấn" của

tác giả Nguyễn Ngọc Kiên, Tạp chí Kiểm sát số 19/2006; "Hòa giải - biện pháp nâng

cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong THADS" của tác giả Phạm Quốc Toản,

Tạp chí Dân chủ và pháp luật số chuyên đề tháng 7/2006; "Thi hành án dân sự phải

là công việc, nhiệm vụ của cấp uỷ, chính quyền đoàn thể nhân dân" của tác giả

Trương Vĩnh Trọng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 8/2005; "Biện pháp tự nguyện

trong thi hành án dân sự" của tác giả Phạm Quang Dũng, Tạp chí Dân chủ và pháp

luật số 4/2005; "Vai trò của công tác hòa giải trong thi hành án dân sự" của tác giả

Đỗ Xuân Lợi, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 01/2005; "Tổ chức và hoạt động thi

hành án dân sự trong cải cách tư pháp" của PGS.TS Nguyễn Văn Luyện

Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân sự ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau Ở một số công trình cũng đã đề cập đến vấn đề thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả THADS, nhưng chưa nghiên cứu vấn đề riêng biệt và chuyên sâu về THADS trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ở Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn

đề lý luận và thực tiễn thực hiện việc áp dụng các quy định về thi hành án dân sự trong các vụ án kinh doanh, thương mạitừ thực tiễn tại địa bàn Thành phố Hà Nội, luận văn phân tích, đặt ra các trường hợp để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thi hành án kinh doanh, thương mại nói riêng và thi hành án dân

sự nói chung Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:

Trang 13

- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về thi hành án dân sự nói chung, đặc biệt các quy định về thi hành án kinh doanh, thương mại;

- Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng các quy định về thi hành án dân sự trong các vụ án kinh doanh, thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

- Phân tích những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định

về thi hành án dân sự trong các vụ án kinh doanh, thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra hướng hoàn thiện và giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện pháp luật về thi hành án kinh doanh, thương mại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về thi hành án dân sự; thực trạng thi hành án dân sự trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại; và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về THAKDTM trên địa bàn Thành phố Hà Nội từ năm 2011 đến nay.Từ đó rút ra những giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự nói chung, thi hành án kinh doanh, thương mại nói riêng

5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên phương pháp luận khoa học xã hội ở Việt Nam

mà nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về mối quan hệ giữa pháp luật và đời sống thực tiễn, giữa thực thi pháp luật và xây dựng pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, tác giả đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, và kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp lịch sử được sử dụng ở các chương của luận

án nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái quát hóa, đánh giá thực trạng và đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về THAKDTM;

Trang 14

- Phương pháp lịch sử, thống kê, so sánh được sử dụng để đánh giá về thực tiễn thực hiện pháp luật về THAKDTM trên địa bàn Thành phố Hà Nội;

- Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh pháp luật cũng được sử dụng trong việc xác định quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về THAKDTM

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn

Các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung vào lý luận về THADS nói chung và thi hành án dân sự trong các vụ án kinh doanh thương mại nói riêng nhằm thống nhất nhận thức về bản chất, nội dung THADS và thấy được tính đặc thù trong việc thi hành án dân sự đối với các vụ án kinh doanh, thương mại Trên cơ sở đó có cách nhìn nhận, đánh giá khoa học, thấy rõ những mặt được, những vướng mắc bất cập của các quy định về thi hành án trong các vụ án kinh doanh, thương mại cũng như thực trạng áp dụng các quy định này Kết quả của việc nghiên cứu luận văn là các luận cứ khoa học và thực tiễn có giá trị trực tiếp đóng góp vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về THADS trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ở Việt Nam Luận văn có thể là tài liệu tham khảo của các cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS, các cơ quản lý nhà nước có quan tâm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 03 Chương Cụ thể như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại và việc thực hiện;

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về thi hành án kinh doanh, thương mại trên địa bàn thành phố Hà Nội;

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định về thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thành phố Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN KINH DOANH THƯƠNG MẠI VÀ VIỆC THỰC HIỆN

1.1 Khái niệm thi hành án kinh doanh thương mại

Trong quá trình thực hiện chức năng của Nhà nước, để bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định về dân sự của Toà án, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhiều quy phạm pháp luật đã được ra đời để điều chỉnh các mối quan hệ nêu trên, trong đó có pháp luật thi hành án

Thi hành án được hiểu là việc đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để thi hành trên thực tế Hoạt động thi hành án một mặt bảo đảm việc thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, mặt khác là công cụ hữu hiệu để khôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân khi bị xâm hại

Để làm rõ khái niệm thi hành án kinh doanh thương mại thì trước hết cần phải hiểu rõ khái niệm về thi hành án dân sự Liên quan đến vấn đề này, hiện nay đã

có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về thi hành

án dân sự Cụ thể:

Quan điểm 1: Thi hành án dân sự không phải một thủ tục tố tụng dân sự mà

là hoạt động mang tính chất chấp hành và điều hành.Như vậy, theo quan điểm này thì thi hành án dân sự là thủ tục hành chính

Tác giả không đồng tình với quan điểm này bởi lẽ bản chất của THADS là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Và mục đích cuối cùng của THADS là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản

Trang 16

áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động THADS mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng trước đó - chấp hành các quy định của pháp luật

Do đó, quan điểm cho rằng THADS là hoạt động mang tính chất chấp hành

và điều hành vẫn chưa phản ánh chính xác và đầy đủ bản chất của hoạt động THADS

Quan điểm 2: thi hành án dân sự là dạng hoạt động hành chính - tư pháp2 Theo tác giả, quan điểm này là hợp lý nhất, phản ánh đầy đủ bản chất của THADS đó là vừa mang tính chất của hoạt động hành chính, vừa có những yếu tố của hoạt động tư pháp, bởi lẽ: THADS không phải là một giai đoạn tố tụng, có mục đích khác với mục đích của tố tụng Tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định của pháp luật Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ và phải bảo đảm các nguyên tắc như bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng và khi có phán quyết của Tòa án thì quá trình tố tụng kết thúc Trong khi đó, THADS là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khác với trong thủ tục tố tụng dân sự, mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động THADS là tổ chức thi hành, có tính hành chính, mệnh lệnh liên quan Theo đó, quan điểm cho rằng THADS mang tính hành chính - tư pháp là thích hợp hơn cả

Tính hành chính thể hiện ở chỗ: THADS là dạng hoạt động chấp hành, quản lý (i) Là dạng hoạt động chấp hành vì THA chỉ được tiến hành trên cơ sở các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ luật định; toàn bộ quá trình THA với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật

2 Nguyễn Thanh Thủy (2001), Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Tr 14

Trang 17

Thi hành án dân sự là một giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng tại Tòa án trước đó Giai đoạn THADS có thể bắt đầu ngay từ khi việc xét xử vụ án chưa kết thúc như việc thi hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Tòa án (Điều 130 Luật THADS) hoặc những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay như bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị (khoản

2 Điều 2 Luật THADS) Ngay cả khi việc xét xử chấm dứt, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng mối quan hệ giữa cơ quan xét xử và cơ quan THADS vẫn tồn tại như việc cơ quan THADS yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại bản án, quyết định khi phát hiện

có sai lầm hoặc án tuyên không khả thi, không thể thi hành được (khoản 2, khoản 3 Điều 179 Luật THADS) Trong quá trình tổ chức THADS, Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện Kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ quan THADS hoãn THA (điểm d, khoản 1, Điều 48 Luật THADS); tạm đình chỉ THADS để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm; tái thẩm hoặc Tòa án thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản đối với người phải THA (khoản 1, khoản 2 Điều 49 Luật THADS) Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THADS Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để THADS đạt hiệu quả

(ii) Là dạng hoạt động quản lý vì THADS là sự tác động của pháp luật, của các cơ quan THADS tới đối tượng phải THA để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án; phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng kỉ luật nhà nước

Tính tư pháp thể hiện ở chỗ: căn cứ để THA là các bản án và quyết định của Tòa án và có sự tham gia của các cơ quan tư pháp vào quá trình THA Về mặt hình

Trang 18

thức, bên cạnh các chủ thể là Tòa án, Viện Kiểm sát, các chủ thể tham gia vào giai đoạn THADS đông đảo và đa dạng hơn so với các giai đoạn tố tụng tại Tòa án trước

đó Ví dụ: tham gia thi hành án dân sự còn có tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân cấp xã (nơi người phải THA cư trú), Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh; cơ quan, tổ chức nơi người phải THA làm việc; ngân hàng, tổ chức tín dụng nơi người phải THA mở tài khoản, giao dịch Các chủ thể này có đặc điểm khác với các chủ thể trong giai đoạn tố tụng trước đó về địa vị pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, tác giả đồng tình với quan điểm coi thi hành án là một hoạt động quản lý hành chính- tư pháp Do đó, thi hành

án được hiểu là hoạt động hành chính - tư pháp mang tính quyền lực nhà nước, do

các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành theo trình tự thủ tục do pháp luật quy

định, thông qua đó bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền được thi hành trên

thực tế

Từ khái niệm về thi hành án dân sự nói chung, phải khẳng định thi hành án kinh doanh thương mại là một bộ phận của hoạt động thi hành án dân sự Để có một khái niệm chính xác về thi hành án kinh doanh thương mại, ta cần hiểu thế nào là kinh doanh thương mại, hoạt động thương mại, án kinh doanh thương mại từ đó mới

có khái niệm về thi hành án kinh doanh thương mại cụ thể

Trong phạm vi điều chỉnh của Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 sửa đổi 2014 (Luật thi hành án dân sự) yếu tố "kinh doanh thương mại" chưa được thể hiện rõ (ngoài đối tượng là quyết định của trọng tài thương mại) Tuy nhiên, án kinh doanh thương mại là loại án có vị trí quan trọng trong lĩnh vực thi hành án, xuất phát

từ tính chất và giá trị cần được thi hành án Vậy, căn cứ nào để cơ quan THADS thụ

lý, tổ chức thi hành các bản án, quyết định có yếu tố "kinh doanh thương mại"?

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 "hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nhuận, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" Ngày

nay xã hội ngày càng phát triển thì các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nhuận

Trang 19

càng nhiều, các hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng đa dạng và phong phú, cũng vì vậy các tranh chấp, các vụ viêc liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại xảy ra nhiều hơn

Theo Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án gồm có:

(1) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm: (i) Mua bán hàng hoá; (ii) Cung ứng dịch vụ; (iii) Phân phối; (iv) Đại diện, đại lý; (v) Ký gửi; (vi) Thuê, cho thuê, thuê mua; (vii) Xây dựng; (viii) Tư vấn, kỹ thuật; (ix) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; (x) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; (xi) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; (xii) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; (xiii) Bảo hiểm; (xiv) Thăm dò, khai thác;

(2) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân,

tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;

(3) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;

(4) Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định Bên cạnh đó, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 cũng quy định những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, bao gồm: (1) Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại;

(2) Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

Trang 20

(3) Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài;

(4) Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định Cần hiểu rằng bản án, quyết định dân sự được đề cập trong Luật thi hành án dân sự là bao hàm cả bản án, quyết định về kinh doanh, thương mại Do tính chất tương đồng giữa vụ án và việc dân sự với vụ án và việc kinh doanh, thương mại nên pháp luật THADS không tách bạch giữa pháp luật THADS với pháp luật THAKDTM Những quy định của pháp luật THADS cũng chính là các quy định của pháp luật THAKDTM Do đó, không tồn tại một hệ thống pháp luật THAKDTM chuyên biệt, độc lập so với hệ thống pháp luật thi hành án dân sự nói chung

Như vậy, thi hành án kinh doanh thương mại là hoạt động hành chính - tư

pháp, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm thi hành phần tài sản, lợi ích của các bên trong bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án kinh doanh thương mại

1.2 Đặc điểm của thi hành án kinh doanh thương mại

Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì thi hành án trong lĩnh vực kinh doanh thương mại là một hình thức cụ thể của hoạt động thi hành án dân sự

Đó cũng là hoạt động hành chính - tư pháp, do các cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật thi hành án quy định.Thi hành án kinh doanh thương mại mang đầy đủ những đặc điểm của thi hành án dân sự, tuy nhiên,thi hành án kinh doanh thương mại vẫn có có một số đặc trưng riêng, cụ thể:

Thứ nhất, chủ thể thi hành án kinh doanh thương mại chủ yếu là các doanh nghiệp Xuất phát từ quy định của Luật thương mại, Luật tố tụng dân sự Theo đó, đặc điểm để xác định các vụ án kinh doanh thương mại là tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh với nhau là vì mục đích lợi nhuận Hiện nay, chủ yếu là tranh chấp giữa một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh nghiệp Ví dụ, ngân hàng với công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc cũng có thể giữa ngân hàng với

Trang 21

các hộ kinh doanh cá thể vấn đề quan trọng là lý do của tranh chấp xuất phát từ hoạt động kinh doanh, mục đích của việc vay vốn nhằm kinh doanh

Thứ hai, tài sản để đưa ra thi hành trong án kinh doanh thương mại thường có giá trị lớn Tài sản của các chủ thể kinh doanh thương mại tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: tài khoản tại ngân hàng, sản phẩm hàng hóa, và nhiều tài sản tương đối đặc biệt như: dây chuyền công nghệ, thương hiệu kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa Đây đều là những tài sản có giá trị lớn

Trong quá trình hoạt động, để có được vốn hoạt động thì các doanh nghiệp phải thực hiện huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó vay vốn ngân hàng

để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp là hình thức được các doanh nghiệp sử dụng khá phổ biến Do đó, doanh nghiệp thường sử dụng chính tài sản sẵn có của mình để đảm bảo các khoản vay có giá trị, các hợp đồng tín dụng trong hoạt động kinh doanh, thương mại thường có giá trị lớn Dẫn tới khi đưa ra thi hành án, các tài sản trong THA KDTM cũng là những tài sản “khổng lồ” của doanh nghiệp

1.3 Ý nghĩa của thi hành án kinh doanh thương mại

Hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại là hoạt động thực thi phán quyết của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền liên quan đến các vấn đề về tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại Với đặc thù là hoạt động hành chính - tư pháp, do các cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật thi hành án quy định thì hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại có

ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bao gồm ý nghĩa của hoạt động thi hành án dân sự nói chung như:

Thông qua hoạt động thi hành án, những phán quyết của Tòa án nhân danh Nhà nước, thể hiện ý chí của Nhà nước được trở thành hiện thực, công lý và công bằng xã hội được thực hiện trên thực tế Quá trình giải quyết một vụ án chỉ kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời và đầy đủ Phán quyết của

Trang 22

Tòa án có trở thành hiện thực hay không tuỳ thuộc vào quá trình thực thi nó trong cuộc sống Thông qua giai đoạn thi hành án, các bản án, quyết định của Tòa án mới

có hiệu lực trên thực tế, công lý mới được thực hiện Với ý nghĩa đó, thi hành án dân sự là một hoạt động không thể thiếu được của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự Thông qua thi hành án, kết quả của công tác xét xử được củng cố, hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa án được bảo đảm thực thi Khi công tác thi hành án dân sự được thực hiện nhanh chóng, kịp thời sẽ có tác dụng tích cực đối với hoạt động xét xử; góp phần củng cố, tăng cường uy tín của cơ quan xét xử trước xã hội Không tổ chức tốt và kịp thời công tác thi hành án, thì các phán quyết của tòa

án chỉ là công lý trên giấy

Mặt khác, thi hành án dân sự còn là giai đoạn kiểm nghiệm qua thực tiễn những phán quyết của Tòa án, phản ánh trung thực chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử Thông qua hoạt động thi hành án, các thẩm phán TAND có thể rút ra cho mình những bài học bổ ích, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xét xử 3

Ngoài ra, thi hành án dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục ý thức pháp luật của nhân dân Đặc thù của thi hành án dân sự nước ta là sự kết hợp chặt chẽ giữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của CHV, cơ quan THA Trong THA còn có sự chỉ đạo sát xao, cụ thể của chính quyền địa phương, sự phối hợp của các cơ quan tổ chức có liên quan, sự đồng tình của quần chúng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong hoạt động thi hành án dân sự

Do vậy, thi hành án không chỉ là hoạt động nghiệp vụ riêng của cơ quan THA, CHV mà còn là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, đoàn thể

xã hội và mọi thành viên trong cộng đồng Nói cách khác đó còn là trách nhiệm của

cả hệ thống chính trị

Thông qua các quy định của pháp luật thi hành án dân sự và áp dụng trong việc xử lý các hành vi chống đối, cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án, mọi người càng thấy được thái độ cụ thể của pháp luật đối với những người cố ý vi phạm Cũng từ đó nhận thức pháp luật được nâng lên, ý thức pháp luật

3 Nguyễn Thanh Thủy (2001), Hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Tr 19-20

Trang 23

của nhân dân, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức được nâng cao Tổ chức tốt công tác thi hành án còn tạo niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân vào tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật và sức mạnh của Nhà nước ngày càng được củng cố vững chắc

Bên cạnh những ý nghĩa chung của hoạt động thi hành dân sự, hoạt động THAKDTM có ý nghĩa đặc trưng Cụ thể:

Kinh doanh, thương mại là môi trường hiện đang có nhiều bất cập, nhất là trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh và đảm bảo khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, thương nhân Việc doanh nghiệp này chiếm dụng vốn của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp, được Tòa án ra bản án mà không thực hiện được sẽ khó thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế Vì vậy đòi hỏi phải thực thi nhanh và hiệu quả bản án, quyết định của Tòa án trong lĩnh vực này

Đó là một trong những yêu cầu cơ bản của việc phát triển kinh tế thị trường

Tài sản để đưa ra thi hành trong án kinh doanh, thương mại thường có giá trị lớn Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh thương mại hiệu quả đem lại khoản lợi nhuận khổng lồ cho doanh nghiệp, các chủ sở hữu bao giờ cũng cần nguồn vốn lớn đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế đất nước càng ngày càng phát triển

Hơn nữa, hầu hết các vụ thi hành án đều tập trung vào lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhất là trong tình hình án tín dụng ngân hàng tồn đọng rất nhiều, do đó, hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại ngày càng phát triển sẽ giảm bớt phần nào số lượng án tồn đọng trên tổng số vụ việc thi hành án dân sự

1.4 Các yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động thi hành án kinh doanh thương mại

Các yếu tố bảo đảm hiệu quả hoạt động THA kinh doanh thương mại là những yếu tố, những điều kiện cần thiết để hoạt động này chắc chắn được thực hiện

Có nhiều yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thi hành song những yếu tố dưới đây có thể được coi là những yếu tố chính:

1.4.1 Bảo đảm về pháp lý

Trang 24

Một là, chất lượng pháp luật về THAKDTM.Trong mọi lĩnh vực chỉ phát triển được khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ, thể chế hóa được các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước THAKDTM cũng vậy, muốn thực hiện tốt công tác THAKDTM phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, dễ tiếp cận Pháp luật tTHAKDTM phải tạo ra được một hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động thi hành án, đồng thời là cơ sở để đánh giá sự tuân thủ pháp luật của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và cũng là công cụ để phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, khôi phục và bảo đảm trật tự quản lý Nhà nước Có thể nói, một hệ thống pháp luật về tTHAKDTM hoàn chỉnh là điều kiện cần, bảo đảm cho việc nâng cao hiệu quả công tác THAKDTM được đúng đắn

Hai là, bản án, quyết định dân sự phải thật sự rõ ràng, có tính khả thi Bản án là

cơ sở pháp lý để ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan Vì vậy, để các bản án có thể thi hành trên thực tế thì trước hết bản án, quyết định của Tòa án về kinh doanh, thương mại phải cụ thể về nội dung Quyền và nghĩa vụ được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án phải có khả năng thực thi trên thực tế Ngoài ra, để tránh hiểu sai, hiểu không đúng thì lời văn của bản án, phải rõ ràng, dễ hiểu và chỉ hiểu theo một nghĩa

Bản án, quyết định của Tòa án phải đảm bảo tính chung thẩm cao Có như vậy mới hạn chế được tình trạng bản án, quyết định kinh doanh thương mại có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành nhưng sau đó lại được hoãn, tạm đình chỉ, kháng nghị, huỷ hoặc cải sửa làm ảnh hưởng tới quá trình thực thi bản án của các bên có liên quan

Ba là, công tác tổ chức thực hiện pháp luật trong hoạt động THA kinh doanh,

thương mại phải bảo đảm thực sự có hiệu quả Khi tổ chức thực hiện pháp luật có liên quan đến hình thức tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật Việc đã có hệ thống pháp luật thống nhất đồng bộ dễ hiểu nhưng khi áp dụng pháp luật lại không đúng tinh thần quy định thì việc đó cũng không đảm bảo hiệu quả của

Trang 25

hoạt động THAKDTM đúng Có thể nói, việc thi hành án kinh doanh thương mại rất khó khăn vì tính chất án kinh doanh, thương mại thường rất phức tạp Do đó, việc tuân thủ pháp luật, hiểu và áp dụng quy định đó là việc rất quan trong trong quá trình THAKDTM

Bốn là, công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật phải thực hiện thật sự có hiệu quả. Giám sát, kiểm tra nhằm mục đích uốn nắn, chấn chỉnh hoạt động chấp hành và thực thi pháp luật, kịp thời có những biện pháp để bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh, chính xác trong thực tế

1.4.2 Bảo đảm về chính trị

Thứ nhất, phát huy vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc bảo đảm hiệu quả hoạt động THAKDTM Đặc trưng của hệ thống chính trị ở nước ta là một đảng duy nhất cầm quyền Trong khi đó THA kinh doanh, thương mại có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại nói riêng Bản án, quyết định của Toà án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế Hoạt động THAKDTM là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước

Vì vậy, không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng

Ngoài ra, với vai trò lãnh đạo của mình, việc phát huy vai trò của các cấp uỷ Đảng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức phối hợp, chỉ đạo giải quyết những

vụ việc thi hành án kinh doanh thương mại phức tạp có liên quan đến đường lối của Đảng và tình hình an ninh chính trị ở địa phương

Thứ hai, Nhà nước cần phải tạo ra một hệ thống cơ quan THA đủ mạnh để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động THAKDTM Việc tổ chức hệ thống các cơ quan THA cũng cần bảo đảm cho CHV có thể chủ động trong việc đưa ra các quyết định

Trang 26

nhằm thi hành theo đúng nội dung bản án, quyết định dân sự của Toà án Ngoài ra, còn phải đáp ứng một số yêu cầu đó là: (i) Xây dựng hệ thống cơ quan THA theo hướng giảm bớt các khâu trung gian, làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn đi đôi với việc xác định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thi hành án; (ii) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thi hành án, nâng cao kỷ luật, kỷ cương pháp luật của Nhà nước; (iii) Bảo đảm tập trung, thống nhất trong quản lý nhà nước đối với hoạt động thi hành án;

Thứ ba, Trong xu hướng hội nhập quốc tế, quan điểm của Đảng, của nhà nước đối với việc thi hành án dân sự nói chung và THAKDTM nói riêng không có sự phân biệt, đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Các bản án, quyết định của cơ quan tài phán nước ngoài đều được công nhận và tổ chức thi hành tại Việt Nam khi quốc gia nước ngoài đó và Việt Nam đã thực hiện việc ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế có liên quan Chính quan điểm và quy định không phân biệt đối xử đã

và đang góp phần tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch thu hút Việt

Nam trong thời gian qua

1.4.3 Bảo đảm về kinh tế, xã hội

Trong mối quan hệ với pháp luật thì yếu tố kinh tế giữ vai trò quyết định Điều kiện kinh tế - xã hội của một quốc gia chính là yếu tố quyết định đến nội dung pháp luật của quốc gia ấy Các quy định, điều lệ của pháp luật về hoạt động kinh tế -

xã hội, hoạt động phân phối, quản lý sản xuất, quyền và nghĩa vụ của công dân trong quá trình tham gia và hoạt động kinh doanh Tất cả đều xuất phát từ điều kiện kinh tế của đất nước

Hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, hoàn thiện sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ổn định và phát triển kinh tế Sự phối hợp của kinh tế và pháp luật đã ảnh hưởng lớn tới đạo đức, hành vi cư xử của cá nhân, tổ chức trong xã hội

Kinh tế được xem là một trong các yếu tố của kiến trúc hạ tầng làm nền tảng cho việc xây dựng các văn bản luật, trong đó có pháp luật THA KDTM Tùy thuộc

ở mức độ phát triển nền kinh tế đất nước trong mỗi thời kỳ mà pháp luật được ban

Trang 27

hành cho phù hợp Yếu tố kinh tế không chỉ tác động đến việc xây dựng các văn bản pháp luật ở tính định hướng mà còn tác động đến việc thực hiện các văn bản pháp luật sau khi ban hành Ở góc độ nào đó, nếu như nền kinh tế phát triển, thì các chủ thể trong THA KDTM sẽ có điều kiện để thực hiện nội dung bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền Nhưng nếu như điều kiện kinh tế khó khăn, sẽ dẫn tơi tâm lý trốn trách, chây ỳ trong hoạt động THA Kinh tế phát triển, “cục máu đông” của nền kinh tế là nợ xấu ngân hàng ít xảy ra, đồng nghĩa với việc các tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa doanh nghiệp với ngân hàng cũng hạn chế Nền kinh tế xã hội phát triển, doanh nghiệp phát triển sẽ là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có điều kiện thực hiện đúng nội dung thi hành án, cơ quan thi hành án có cơ

sở về mặt tài sản để tiến hành cướng chế THA, không để vụ việc THADS rơi vào tình trạng chờ đợi, kéo dài Ngược lại, nền kinh tế xã hội chậm phát triển, kém năng động và kém hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật

Trong các vụ việc THA KDTM , một trong các bên THA là doanh nhân,

doanh nghiệp Do vậy, nhận thức của các đối tượng này về việc thực thi pháp luật nói chung và pháp luật THADS nói riêng thường cao hơn các đối tượng là cá nhân, công dân Trong xã hội, nền kinh tế phát triển năng động, hoạt động và trình độ của các doanh nghiệp có tính chuyên nghiệp cao; khi phát sinh vụ việc về THA kinh doanh thương mại, nhận thức về việc THA của các đối tượng này đối với vụ việc thường tốt hơn Ngược lại, với một xã hội mà nền kinh tế kém phát triển, kém năng động, các doanh nghiệp hoạt động manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp, trình độ nhận thức của các doanh nghiệp đối với pháp luật nói chung hạn chế sẽ dẫn đến việc nhận thức và thực hiện pháp luật THA KDTM bị hạn chế khi có vụ việc phát sinh

Vai trò của xã hội còn được thể hiện thông qua các cơ quan, tổ chức, đoàn thể Thực tiễn cho thấy, hầu hết mỗi người đều tham gia các cơ quan, đoàn thể và tổ chức riêng Ví dụ như có người là công chức nhà nước, có người là Đảng viên, có người là hội viên Hội phụ nữ Nhiều đơn vị doanh nghiệp cũng có mối liên hệ phối

Trang 28

hợp trong nhiều hoạt động Trong khi đó trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức này không chỉ thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật mà còn có nghĩa vụ tuyên truyền, giáo dục cán bộ, nhân viên, hội viên của mình sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật Hơn nữa, trong một số trường hợp hoạt động THAKDTM

có liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ phối hợp với các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp với nhau Vì vậy, có thể coi các cơ quan, tổ chức vừa có trách nhiệm giáo dục, thuyết phục người phải THAKDTM tự nguyện thực hiện bản án, quyết định của Toà án, vừa thể hiện nghĩa vụ của mình trong việc phối hợp với Chấp hành viên

để THAKDTM Yếu tố văn hóa-xã hội có vai trò quan trọng trong việc hình thành quan điểm ý thức, thái độ của con người đối với các vấn đề của đời sống xã hội, trong đó có THA KDTM Yếu tố văn hóa –xã hội có tác động hai chiều đối với hoạt động THA KDTM Văn hóa, xã hội có những tác động tích cực đến việc thực thi pháp luật nếu như các chủ thể có trình độ nhận thức, ý thức tuân thủ, hiểu biết về pháp luật THA Khi xảy ra vi phạm và đã có phán quyết của cơ quan có thẩm quyền, hành vi vi phạm lại chịu sự lên án của cộng đồng, dư luận thì ít nhiều tác động đến ý thức của các chủ thể kinh doanh thương mại, tác động làm các chủ thể

tự nguyện hơn trong hoạt động THA Ngược lại, cũng có trường hợp yếu tố văn hóa-xã hội cũng là yếu tố cản trở việc thực hiện hoạt động THA Khi trình độ nhận của các chủ thể trong lĩnh vực THA KDTM chưa cao thì các chủ thể còn gây khó

dễ, thiếu hợp tác trong vấn đề THA

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Thi hành án dân sự là giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm thực thi các bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật Vấn đề bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là yêu cầu tất yếu khách quan trong hoạt động Nhà nước, là nguyên tắc Hiến định chỉ đạo toàn bộ tổ chức và hoạt động thi hành án ở nước ta

THAKDTM cũng là một khái niệm mới chưa dược định nghĩa Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay, tác giả cho rằng THAKDTM là hoạt động hành chính - tư pháp, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo đảm thi hành phần tài sản, lợi ích của các bên trong bản án, quyết định của Tòa án trong vụ án kinh doanh, thương mại

Là một dạng của hoạt động thi hành án, THAKDTM ngoài những dấu hiệu đặc trưng chung của thi hành án, còn có những nét riêng, đặc thù phân biệt với các loại hình thi hành án khác như chủ thể có thể là doanh nghiệp, hoặc cá nhân, nhưng phải mang mục đích lợi nhuận Trên thực tế, chủ thể của việc THAKDTM chủ yếu

là doanh nghiệp, trách nhiệm về tài sản của các doanh nghiệp này chỉ trong phạm vi vốn góp vào doanh nghiệp Vì vây, việc xác minh tài sản của doanh nghiệp dựa trên

số vốn các thành viên cam kết góp vào doanh nghiệp và các văn bản, giấy tờ ghi nhận quá trình góp vốn đó để xác định trách nhiệm của các thành viên công ty đối với các khoản nợ; tài sản để đưa ra thi hành trong án kinh doanh, thương mại thường có giá trị lớn,

THAKDTM có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại nói riêng và trong hoạt động tư pháp nói chung Bản án, quyết định của Tòa án chỉ là những phán quyết trên giấy, nếu nó không được thực thi trên thực tế Hoạt động thi hành án dân sự nói chung và THAKDTM nói riêng có hiệu quả sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, THAKDTM phải được thực hiện theo hướng: Xây dựng được bộ máy cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự thống nhất, tập trung, tinh gọn, đảm bảo hoạt động hiệu lực, hiệu quả; thiết lập được cơ chế xã hội hóa từng bước hoạt động thi hành án dân sự; làm giảm những chi phí cho nhà nước, phát huy tính tự nguyện của công dân trong quá trình tổ chức thi hành án

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN

KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Các yếu tố cơ bản của thi hành án kinh doanh thương mại theo pháp luật hiện hành

2.1.1 Đối tượng thi hành án kinh doanh thương mại

Theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì đối tượng THAKDTM chính là bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền bao gồm Hội đồng

xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại

Tòa án là cơ quan duy nhất được quyền xét xử tranh chấp kinh doanh thương mại Thông thường các chủ thể nền kinh tế khi có tranh chấp kinh doanh thương mại cũng thường lựa chọn Tòa án giải quyết Số lượng vụ việc Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Trọng tài thương mại xử lý thường ít Vì vậy, các bản án quyết định về kinh doanh, thương mại cần đưa ra thi hành chủ yếu do Tòa án ban hành

Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có quyền xem xét đưa ra các quyết định, phán quyết khi giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại Đây có thể nói là nét đặc thù chỉ có trong đối tượng THAKDTM Thực tế các loại vụ việc khác không được Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh giải quyết Ví dụ như án hôn nhân gia đình, án lao động luôn được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án Trọng tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh được ra đời khi nền kinh tế phát triển, hạn chế nảy sinh nhiều tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh, trong hợp đồng kinh tế giữa các bên thường đã ghi nhận việc lựa chọn tổ chức trọng tài thương mại nào có thẩm quyền giải quyết Đối với Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh chỉ giải quyết khi có hoạt động hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp vi phạm quy định của Luật cạnh tranh

Trang 31

2.1.2 Việc ra quyết định thi hành án kinh doanh thương mại

* Về thẩm quyền ra quyết định THAKDTM

Không phải bất cứ cơ quan thi hành án nào trong hệ thống cơ quan thi hành

án được tổ chức theo ngành dọc cũng đều có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định kinh doanh thương mại có hiệu lực pháp luật của Tòa án Tùy từng loại vụ việc, tùy tính chất của đương sự và bản chất của tài sản mà việc thi hành án lại thuộc thẩm quyền của một cơ quan thi hành án nhất định Cụ thể:

- Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định kinh doanh, thương mại sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở; Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản

án, quyết định sơ thẩm của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện

có trụ sở; Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện nơi cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện có trụ sở; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi khác, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác

- Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại sơ thẩm của Toà án cấp tỉnh trên cùng địa bàn; Bản án, quyết định của Toà án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành

án dân sự cấp tỉnh; Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Toà án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý

vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định kinh doanh thương mại do cơ quan thi hành

án dân sự nơi khác hoặc cơ quan thi hành án cấp quân khu ủy thác; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thi hành của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện mà cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh thấy cần thiết lấy lên để thi hành theo quy định của pháp luật; Bản án, quyết định quy định có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp về thi hành án

Trang 32

- Cơ quan thi hành án cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại trong bản án, quyết định hình sự của Toà án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn; Bản án, quyết định dân sự của Toà

án nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; Bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện, cơ quan thi hành án cấp quân khu khác ủy thác

* Các trường hợp ra quyết định THAKDTM

Quyết định THADS là văn bản đầu tiên, được đánh số bút lục 01 trong mỗi hồ

sơ THA Việc ra quyết định thi hành án đúng sẽ làm cơ sở vững chắc, là kim chỉ nam cho những giai đoạn THA tiếp theo và ngược lại Do đó, các quy định về việc ra quyết định THADS cần phải chuẩn chỉ, rõ ràng, cụ thể để việc áp dụng pháp luật được thuận lợi

Thứ nhất, pháp luật THADS quy định hai trường hợp cơ quan THA phải ra quyết định THAKDTM Cụ thể là:

Trường hợp 01: Cơ quan THA chủ động ra quyết định THA kinh doanh, thương mại

Trên cơ sở Điều 36 Luật THADS năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm

2014 quy định, thì cơ quan THA chỉ chủ động ra quyết định THA kinh doanh, thương mạiđối với trường hợp sau: (i) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; (ii) Trả lại tiền, tài sản cho chủ thể kinh doanh thương mại; (iii) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; (iv) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; (v) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; (vi) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản

Như vậy, trong một số trường hợp cần thiết, xét thấy cần tiến hành ngay việc THA để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, của Nhà nước thì không cần

có yêu cầu của bất kỳ chủ thể nào trong THA kinh doanh, thương mại, cơ quan THA cũng vẫn có quyền ra quyết định THA Đặc biệt, việc các chủ thể trong án

Trang 33

kinh doanh, thương mại phải THA cố tình tìm cách tẩu tán tài sản, nên thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vừa chặt chẽ, vừa linh động, cơ quan THA cần chủ động áp dụng các biện pháp này

Trường hợp 02: Người được THA yêu cầu thi hành án kinh doanh, thương mại.

Khoản 2 Điều 36 Luật THADS năm 2008 quy định: "Ngoài các trường hợp

quy định tại khoản 1 Điều này, Thủ trưởng cơ quan THADS chỉ ra quyết định THA khi có đơn yêu cầu THA" kinh doanh, thương mại kèm theo trích lục bản án, quyết định và các giấy tờ cần thiết khác gửi cho cơ quan THA Luật sửa đổi, bổ sung một

số điều của Luật THADS năm 2008 quy định cởi mở hơn về thủ tục doanh nghiệp yêu cầu THA Theo đó, doanh nghiệp không nhất thiết phải có đơn bằng văn bản (đơn yêu cầu) gửi cho cơ quan THA, mà có thể bằng nhiều hình thức khác nhau,

phù hợp với thông lệ quốc tế, vì vậy, thuật ngữ "yêu cầu THA" đã ra đời thay thế cho "đơn yêu cầu" (Khoản 1 Điều 36)

Quyền "yêu cầu THA" được ghi nhận cụ thể tại Điều 31 Luật THADS đã được

sửa đổi, bổ sung năm 2014, theo đó, doanh nghiệp tự mình hoặc có thể ủy quyền cho người khác yêu cầu THA, có thể trực tiếp nộp đơn, gửi qua đường bưu điện, trình bày bằng lời nói Các chủ thể yêu cầu THA kinh doanh, thương mại thường có tư cách pháp nhân, theo đó, đơn yêu cầu phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp, và đóng dấu của pháp nhân Người đại diện hợp pháp có thể là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, nếu không thì sẽ là người được người đại diện theo ủy quyền, nội dung ủy quyền liên quan đến hoạt động THA kinh doanh, thương mại Cá biệt, trường hợp người yêu cầu THA trực tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ quan THADS phải lập thành biên bản có nội dung như đơn yêu cầu THA, có chữ ký của người yêu cầu THA

Pháp luật THADS hạn chế các trường hợp cơ quan THA từ chối yêu cầu THA kinh doanh, thương mại của người yêu cầu THA, Việc từ chối yêu cầu THA KDTM phải được thực hiện bằng văn bản, chỉ từ chối trong các trường (i) Chủ thể không có quyền yêu cầu THA hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung

Trang 34

của bản án, quyết định; (ii) Bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự; (iii) Cơ quan THADS được yêu cầu không có thẩm quyền THA kinh doanh, thương mại đó; (iv) Hết thời hiệu yêu cầu THA Việc từ chối yêu cầu THA kinh doanh, thương mại của cơ quan THA phải được thực hiện bằng văn bản

và phải thông báo cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu THA

Thủ trưởng cơ quan THA phải ra quyết định THA kinh doanh, thương mại trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định của Tòa án hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu THA kinh doanh, thương mại của người yêu cầu, nếu yêu cầu THA của người yêu cầu không thuộc các trường hợp phải từ chối THA

Trong trường hợp nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thì cơ quan THA phải ra ngay quyết định THA; đối với trường hợp nhận được quyết định của Tòa án giải quyết phá sản thì cơ quan THA phải ra quyết định THA trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;

Thứ hai, thời hiệu yêu cầu THA kinh doanh, thương mại

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm

2014 thì: “Thời hiệu yêu cầu thi hành án là thời hạn mà người được THA, người

phải THA có quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức THA; hết thời hạn đó thì mất quyền yêu cầu cơ quan THADS tổ chức THA”.Như vậy, thời hiệu yêu cầu THA kinh doanh, thương mại là thời hạn do pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó người được THA, người phải THA có quyền yêu cầu cơ quan THA tổ chức thi hành bản án, quyết định của Toà án Hết thời hạn đó, nếu người được THA, người phải THA vẫn không có yêu cầu THA, thì người được THA không còn quyền yêu cầu thi hành phần bản án, quyết định chưa yêu cầu THA nữa, còn người phải THA không còn nghĩa vụ phải thi hành phần bản án, quyết định đó cho người được THA nữa Bản án, quyết định hết hiệu lực thi hành (đối với phần thi hành theo đơn yêu cầu)

Trang 35

Luật Thi hành án dân sự chỉ quy định thời hiệu yêu cầu THA chứ không quy định thời hạn thi hành một bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật là bao lâu, khi đã có yêu cầu THA kinh doanh, thương mại trong thời hiệu nêu trên thì bất

cứ khi nào có điều kiện THA thì phải thi hành

Tuy nhiên, thời hiệu yêu cầu THA kinh doanh, thương mại chỉ áp dụng đối với trường hợp THA theo yêu cầu của người được THA, người phải THA Vì vậy, trong trường hợp nếu người phải THA phải thi hành các khoản không thuộc trường hợp cơ quan THA chủ động ra quyết định THA theo quy định tại Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì khi hết thời hạn

05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật mà người được THA không có yêu cầu THA, thì người phải THA có quyền chứng minh thời hiệu THA đã hết

Quyền yêu cầu THA chỉ được thực hiện trong thời hạn 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (hoặc nghĩa vụ đến hạn hay đến định kỳ quy định trong bản án) Quá thời hạn này, nếu nguời yêu cầu THA không chúng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu THA kinh doanh, thương mại đúng thời hạn thì hết quyền yêu cầu THA Việc THA quá hạn là do Thủ trưởng cơ quan THADS xem xét chấp nhận hay không chấp nhận

Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 hướng dẫn chi tiết Luật THADS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan được hiểu như sau:

- Sự kiện bất khả kháng là trường hợp thiên tai, hỏa hoạn, địch họa;

- Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ; đương sự đi công tác ở vùng biên giới, hải đảo mà không thể yêu cầu THA đúng hạn; tai nạn, ốm nặng đến mức mất khả năng nhận thức hoặc đương sự chết mà chưa xác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hóa mà chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới

Trang 36

có quyền yêu cầu THA theo quy định của pháp luật hoặc do lỗi của cơ quan xét xử,

cơ quan THA hoặc cơ quan, cá nhân khác dẫn đến việc đương sự không thể yêu cầu THA đúng hạn

Hoạt động hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, cổ phần hóa hiện nay của các doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến, các doanh nghiệp là người được THA ở giai đoạn đang trong quá trình cơ cấu lại doanh nghiệp dưới các hình thức này nên không thể xác định chính xác chủ thể yêu cầu THA, do đó, pháp luật đã tạo điều kiện cho phép xác định việc các doanh nghiệp, tổ chức hợp nhất, cổ phần hóa là trở ngại khách quan làm cản trở quyền yêu cầu THA là hoàn toàn phù hợp với xu hướng kinh tế trong nước và thế giới

Thứ ba, thông báo THAKDTM

Các hoạt động liên quan đến THA kinh doanh, thương mại như quyết định THA, giấy triệu tập, giấy báo đều được thông báo cho đương sự để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan đến hoạt động THA Việc thông báo được thực hiện dưới các hình thức sau:

- Thông báo trực tiếp: Quy định riêng tại Điều 41 Luật THADS được sửa đổi,

bổ sung năm 2014, theo đó, chỉ được coi là thông báo trực tiếp cho các chủ thể THA kinh doanh, thương mại khi văn bản được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật, hoặc người có chức năng nhận văn bản của doanh nghiệp, cơ quan tổ chức Nếu doanh nghiệp ủy quyền cho cá nhân thay mặt công ty thực hiện các công việc liên quan đến THA, thực hiện việc nhận các thông báo về THA, thì việc thông báo phải do người này ký nhận trực tiếp

- Niêm yết công khai: hình thức này chỉ được thực hiện khi không tiến

hành thông báo trực tiếp được hoặc không rõ địa chỉ của các chủ thể THA kinh doanh, thương mại Ví dụ như công ty đã đóng cửa không thấy làm việc, đã chuyển địa chỉ kinh doanh đi nơi khác nhưng không báo với Sở kế hoạch đầu tư

về sự thay đổi địa chỉ

Trang 37

- Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Việc thông báo trên phương

tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi luật có quy định hoặc doanh nghiệp có yêu cầu Nếu doanh nghiệp xác định đang còn hoạt động tại địa phương thì tiến hành đăng báo trên 02 số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh truyền hình của tỉnh đó trong hai lần liên trên 02 ngày liên tiếp Nếu xác định doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa phương thì đăng trên báo hoặc đài phát thanh, truyền hình của trung ương

2.1.3 Ủy thác thi hành án kinh doanh thương mại

Uỷ thác THA kinh doanh, thương mại là hoạt động của Thủ trưởng cơ quan THA bằng một quyết định để chuyển hồ sơ vụ việc THA thuộc thẩm quyền của mình cho một cơ quan THA khác có điều kiện để tổ chức thi hành Có thể hiểu rằng việc uỷ thác THA kinh doanh, thương mại là trách nhiệm của cơ quan THA nơi có thẩm quyền nhưng không có điều kiện để tổ chức thi hành mà phải chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan THA khác có điều kiện tổ chức thi hành vụ việc

Để việc uỷ thác thực sự có hiệu quả và đúng với ý nghĩa của nó là để thuận lợi hơn trong việc tổ chức THA kinh doanh, thương mại, nhằm làm giảm chi phí từ ngân sách Nhà nước cũng như chi phí do đương sự phải chịu thì cần phải nắm và hiểu rõ bản chất của các quy định có liên quan

Về cơ sở pháp lý, hiện nay việc uỷ thác THA được quy định tại các Điều 55,

56, 57 Luật THADS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và Điều 22 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP, ngày 13/7/2009 của Chính phủ đối với uỷ thác thi hành quyết định

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Ngoài ra, uỷ thác còn được quy định tại khoản 5 Điều 3 Thông tư số 144/2010/TTLT-BTC-BTP, ngày 23/9/2010 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp đối với uỷ thác liên quan đến thu phí thi hành án

Thứ nhất, các căn cứ thực hiện uỷ thác THAKDTM.heo quy định tại Điều

55 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì:

1 Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải uỷ thác thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc

có trụ sở

Trang 38

2 Trường hợp người phải thi hành án có tài sản, nơi làm việc, nơi cư trú hoặc có trụ sở ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác thi hành án từng phần cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành

án có điều kiện thi hành án để thi hành phần nghĩa vụ của họ

Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ trưởng

cơ quan thi hành án dân sự ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sản hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người phải thi hành án thì ủy thác đến nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó

Trong trường hợp phải thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành

án cư trú hoặc có tài sản ở các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan thi hành án dân

sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án Quy định về chủ thể thi hành án đối với các nghĩa vụ liên đới tương tự như quy định về chủ thể của nghĩa vụ liên đới trong luật dân sự 3 Việc ủy thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác Trường hợp cần thiết phải ủy thác việc thi hành quyết định của Tòa án về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thì việc uỷ thác phải thực hiện ngay sau khi có

đầy đủ căn cứ uỷ thác

Quy định trên được hiểu rằng khi thực hiện việc uỷ thác THA kinh doanh, thương mại cần xác định rõ các căn cứ sau đây:

Một là, uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải THA là doanh nghiệp và/hoặc thành viên góp vốn của doanh nghiệp có tài sản.

Việc xác định người phải THA là doanh nghiệp và/hoặc thành viên góp vốn của doanh nghiệp có tài sản ở địa phương nào được thực hiện thông qua công tác xác minh điều kiện THA và để việc uỷ thác được chính xác thì công tác xác minh cũng phải đúng và đầy đủ

Trang 39

Hai là, uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải THA là doanh nghiệp

có trụ sở.

Trong trường hợp người phải THA là cơ quan, tổ chức thì việc uỷ thác có thể

thực hiện đến cơ quan THADS nơi có trụ sở của cơ quan, tổ chức đó.Thứ hai, thẩm

quyền uỷ thác THAKDTM

Trong phạm vi Điều 56 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thẩm quyền ủy thác THA kinh doanh, thương mại của cơ quan THA như sau:

Một là, cơ quan THADS cấp tỉnh được uỷ thác thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại sau:

- Uỷ thác cho cơ quan THADS cấp tỉnh nơi khác thi hành bản án, quyết định

có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Điều này cũng phải được hiểu vừa là thẩm quyền uỷ thác đi và cũng vừa là thẩm quyền nhận uỷ thác của cơ quan THADS cấp tỉnh

- Ủy thác cho cơ quan THA cấp quân khu thi hành vụ việc mà đương sự hoặc tài sản có liên quan đến quân đội đóng quân trên địa bàn;

- Ủy thác cho cơ quan THADS cấp huyện vụ việc còn lại

Hai là, cơ quan THADS cấp huyện ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền THA của mình cho cơ quan THA dân sự cấp tỉnh nơi khác, cơ quan THA cấp quân khu, cơ quan THA dân sự cấp huyện khác có điều kiện thi hành

Ba là, cơ quan THA cấp quân khu ủy thác vụ việc thuộc thẩm quyền THA của mình cho cơ quan THA cấp quân khu khác, cơ quan THADS cấp tỉnh hoặc cơ quan THADS cấp huyện có điều kiện thi hành

Cơ quan THA khi thực hiện việc uỷ thác THA kinh doanh, thương mại cần bám sát và thực hiện đúng quy định trên đây vì nếu uỷ thác không đúng thẩm quyền sẽ là căn cứ để cơ quan THA nhận uỷ thác gửi trả lại hồ sơ uỷ thác (theo

Trang 40

quy định tại khoản 2 Điều 57 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014) Điều đó làm cho việc THA kinh doanh, thương mại bị kéo dài và mục đích, ý nghĩa của việc uỷ thác sẽ không đạt được

Thứ hai, thực hiện ủy thác THAKDTM

Trước khi ủy thác, cơ quan thi hành án dân sự phải xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên tại địa bàn có liên quan đến khoản uỷ thác Trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng xét thấy cần ủy thác thì phải ra quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành

án và ra quyết định ủy thác cho nơi có điều kiện thi hành

Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác không được trả lại quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác mà phải tiếp tục thực hiện việc thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự Trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót rõ ràng về thẩm quyền của cơ quan nhận ủy thác thi hành án, nội dung thi hành án Cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác về những sai sót

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác phải ra quyết định thi hành án nếu không có sai sót và phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân

sự đã ủy thác về việc nhận được quyết định ủy thác

2.1.4 Thủ tục THAKDTM

Thủ tục THAKDTM là trình tự thi hành các bản án, quyết định kinh doanh, thương mại theo quy định của pháp luật thi hành án Quá trình THAKDTM trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, được quy định tương ứng với trình tự thi hành án dân sự nói chung Phần lớn là các vụ việc chỉ được giải quyết khi có yêu cầu thi hành án, trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án không nhiều Khi cơ quan thi hành án đã tiến hành thi hành án theo yêu cầu của người được thi hành, thì thực tế ít trường hợp doanh nghiệp phải thi hành tự nguyện thi hành án,

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp (1996), Về mô hình quản lý thống nhất công tác THA, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ề" mô hình qu"ả"n lý th"ố"ng nh"ấ"t công tác THA
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1996
2. Bộ Tư pháp (1998), Báo cáo của Đoàn nghiên cứu, khảo sát do Phó Cục trưởng Cục Quản lý THADS làm trưởng đoàn về kinh nghiệm THADS tại Cộng hoà liên bang Đức từ ngày 15/4 đến ngày 25/4/1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo c"ủ"a "Đ"oàn nghiên c"ứ"u, kh"ả"o sát do Phó C"ụ"c tr"ưở"ng C"ụ"c Qu"ả"n lý THADS làm tr"ưở"ng "đ"oàn v"ề" kinh nghi"ệ"m THADS t"ạ"i C"ộ"ng hoà liên bang "Đứ"c t"ừ" ngày 15/4 "đế"n ngày 25/4/1998
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 1998
3. Bộ Tư pháp (2004), Báo cáo phúc trình "Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động THA ở Việt nam trong giai đoạn mới", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức và hoạt động THA ở Việt nam trong giai đoạn mới
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2004
4. Bộ Tư pháp (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện các tiêu chuẩn chức danh tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ơ" s"ở" lý lu"ậ"n và th"ự"c ti"ễ"n c"ủ"a vi"ệ"c hoàn thi"ệ"n các tiêu chu"ẩ"n ch"ứ"c danh t"ư" pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2005
5. Bộ Tư pháp (2005), Báo cáo của Đoàn khảo sát liên ngành do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thị Thu Ba làm trưởng đoàn về kết quả khảo sát, tìm hiểu Luật thi hành án tại Hoa Kỳ từ ngày 27/9/2005 đến ngày 6/10/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo c"ủ"a "Đ"oàn kh"ả"o sát liên ngành do Th"ứ" tr"ưở"ng B"ộ" T"ư" pháp Lê Th"ị" Thu Ba làm tr"ưở"ng "đ"oàn v"ề" k"ế"t qu"ả" kh"ả"o sát, tìm hi"ể"u Lu"ậ"t thi hành án t"ạ"i Hoa K"ỳ" t"ừ" ngày 27/9/2005 "đế"n ngày 6/10/2005
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2005
6. Bộ Tư pháp (2012), Quyết định số 2659/QĐ-BTP, ngày 03/10/2012 về việc ban hành Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy"ế"t "đị"nh s"ố" 2659/Q"Đ"-BTP, ngày 03/10/2012 v"ề" vi"ệ"c ban hành Chu"ẩ"n m"ự"c "đạ"o "đứ"c ngh"ề" nghi"ệ"p c"ủ"a cán b"ộ", công ch"ứ"c, viên ch"ứ"c ngành T"ư" pháp
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
7. Chính phủ (2014), Báo cáo công tác Thi hành án dân sự 5 năm (từ năm 2010 đến 2014), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác Thi hành án dân s"ự" 5 n"ă"m (t"ừ" n"ă"m 2010 "đế"n 2014)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
10. Chính phủ (2009), Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 74/2009/N"Đ"-CP ngày 09/9 quy "đị"nh chi ti"ế"t và h"ướ"ng d"ẫ"n m"ộ"t s"ố đ"i"ề"u c"ủ"a Lu"ậ"t Thi hành án dân s"ự" v"ề" c"ơ" quan qu"ả"n lý thi hành án dân s"ự", c"ơ" quan thi hành án dân s"ự" và công ch"ứ"c làm công tác thi hành án dân s
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
11. Chính phủ (2009), Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, ngày 24/7/2009 quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 61/2009/N"Đ"-CP, ngày 24/7/2009 quy "đị"nh v"ề" t"ổ" ch"ứ"c và ho"ạ"t "độ"ng c"ủ"a Th"ừ"a phát l"ạ"i th"ự"c hi"ệ"n thí "đ"i"ể"m t"ạ"i Thành ph"ố" H"ồ" Chí Minh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
12. Chính phủ (2010), Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 và Nghị định số 93/2010/NĐ-CP ngày 31/8/2010 về tuyển dụng và quản lý công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 24/2010/N"Đ"-CP ngày 15/3/2010 và Ngh"ị đị"nh s"ố" 93/2010/N"Đ"-CP ngày 31/8/2010 v"ề" tuy"ể"n d"ụ"ng và qu"ả"n lý công ch"ứ"c
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
13. Chính phủ (2010), Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/2/2010 về quản lý biên chế công chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 21/2010/N"Đ"-CP ngày 08/2/2010 v"ề" qu"ả"n lý biên ch"ế" công ch"ứ"c
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
15. Chính phủ (2014), Nghị định số 125/2014/NĐ-CP về chính sách tinh giản biên chế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 125/2014/N"Đ"-CP v"ề" chính sách tinh gi"ả"n biên ch
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
16. Cục THADS thành phố Hà Nội, Báo cáo tổng kết hàng năm, từ năm 2010 đến năm 2015 của Cục THADS thành phố Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t hàng n"ă"m, t"ừ" n"ă"m 2010 "đế"n n"ă"m 2015 c"ủ"a C"ụ"c THADS thành ph"ố" Hà N"ộ"i
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n H"ộ"i ngh"ị" l"ầ"n th"ứ" n"ă"m Ban Ch"ấ"p hành Trung "ươ"ng khóa X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ "XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng số liệu tổng số vụ THA KDTM so với tổng số vụ thi hành án dân - Pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực hiện tại địa bàn thành phố hà nội
Bảng 1 Bảng số liệu tổng số vụ THA KDTM so với tổng số vụ thi hành án dân (Trang 61)
Bảng 2: Bảng số liệu tổng số án kinh doanh thương mại đã thi hành với tổng số - Pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực hiện tại địa bàn thành phố hà nội
Bảng 2 Bảng số liệu tổng số án kinh doanh thương mại đã thi hành với tổng số (Trang 62)
Bảng 4: Bảng số liệu về tổng số tiền án kinh doanh thương mại đã thi hành so  với tổng số tiền án kinh doanh thương mại cần THA giai đoạn năm 2011-2015 - Pháp luật thi hành án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực hiện tại địa bàn thành phố hà nội
Bảng 4 Bảng số liệu về tổng số tiền án kinh doanh thương mại đã thi hành so với tổng số tiền án kinh doanh thương mại cần THA giai đoạn năm 2011-2015 (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm