Cán bộ công đoàn cơ sở là cán bộ quần chúng, đại diện cho người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho người lao động, vận động công nhân viên chức lao động thực hiện tốt chủ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp
thạc sỹ, đến nay tôi đã hoàn thành bản Luận văn “ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Đinh Thị Thúy Hà
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy, cô giáo trong Viện đại học mở Hà Nội, khoa Đào tạo sau đại học
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của Phó giáo sư, Tiến
sĩ Đinh Thị Ngọc Quyên là cô giáo hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn
Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các công đoàn cơ sở quận Hồng Bàng, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân
Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi sự giúp đỡ quý báu đó!
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- LĐLĐ: Liên đoàn Lao động
- CĐCS: Công đoàn cơ sở
- CNVCLĐ: Công nhân viên chức lao động
- GCCN: Giai cấp công nhân
- CNLĐ: Công nhân lao động
- NLĐ: Người lao động
- BCH: Ban chấp hành
- UBKT: Ủy ban kiểm tra
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ
CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ
13
1.1.1 Quan điểm về cán bộ CĐCS và cơ cấu cán bộ CĐCS 13 1.1.1.1 Lịch sử hình thành tổ chức công đoàn 13 1.1.1.2 Quan điểm về cán bộ CĐCS 15 1.1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ CĐCS 21 1.1.2.1 Vị trí của cán bộ công đoàn cơ sở 22 1.1.2.2 Chức năng của cán bộ CĐCS 22 1.1.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ công đoàn 25
1.2.1 Quan điểm và căn cứ xác định chất lượng cán bộ CĐCS 26 1.2.1.1 Quan điểm về tiêu chuẩn cán bộ công đoàn 26 1.2.1.2 Căn cứ xác định chất lượng cán bộ CĐCS 28 1.2.1.3 Quan điểm đánh giá chất lượng cán bộ CĐCS 29 1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ CĐCS 30
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ công đoàn
cơ sở
36
1.4 Tính tất yếu của việc nâng cao chất lượng cán bộ công 45
Trang 5đoàn cơ sở thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
1.4.1 Xuất phát từ yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế 45 1.4.2 Xuất phát từ yêu cầu bảo vệ quyền lợi NLĐ 46 1.4.3 Xuất phát từ yêu cầu của tổ chức công đoàn 47
2.2 Thực trạng chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở quận
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ công đoàn 64
Trang 6cơ sở quận Hồng Bàng
2.4 Đánh giá về chất lượng cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng 80 2.4.1 Những thành tựu đạt được 80
3.2 Quan điểm, định hướng và mục tiêu nâng cao chất lượng
cán bộ công đoàn cơ sở quận Hồng Bàng đến 2020
91
3.2.1 Quan điểm nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng 91 3.2.2 Định hướng nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng 92 3.2.3 Mục tiêu nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng 93
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở
Trang 73.3.3 Nâng cao chất lượng công tác đào tạo bồi dưỡng, tập huấn
nghiệp vụ công đoàn cho cán bộ CĐCS
98
3.3.4 Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có chính sách bố trí sử dụng
hợp lý và quỹ thời gian hoạt động cho cán bộ CĐCS
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muốn thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Như vậy chúng ta
có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng tinh túy của xã hội, có vị trí vừa là tiên phong vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ
thống chính trị nước ta Bác Hồ đã từng căn dặn: “ Cán bộ công đoàn phải là người hiểu biết sản xuất, đời sống, nguyện vọng của công nhân, viên chức, phải hiểu chính sách của Đảng, phải hiểu quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật….” và trong công tác: “ Cán bộ công đoàn phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc và bàn bạc với công nhân” Người chỉ rõ tầm quan trọng của tổ chức công đoàn: “ Muốn tổ chức và phát triển lực lượng xây dựng to lớn của giai cấp công nhân thì cần có Công đoàn mạnh và cán bộ công đoàn tốt” Chính vì
vậy, để thực hiện tốt chức năng của Công đoàn, cần phải có một đội ngũ cán
bộ có năng lực, trình độ, có bản lĩnh và nhiệt tình với công việc
Cán bộ công đoàn cơ sở là cán bộ quần chúng, đại diện cho người lao động, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho người lao động, vận động công nhân viên chức lao động thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước, phối hợp với chuyên môn phát động các phong trào thi đua; xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay; …là lực lượng quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội, sản xuất, kinh doanh của đơn vị, doanh nghiệp, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội công đoàn các cấp và xây dựng tổ chức Công đoàn ngày càng vững mạnh
Quá trình đổi mới đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải không ngừng hoàn thiện và tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị nước
ta Điều này đòi hỏi các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó có tổ chức công
Trang 9đoàn, không ngừng đổi mới tổ chức hoạt động, nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của mình, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để công đoàn không ngừng đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn đủ về số lượng, đảm bảo về trình độ, năng lực, có bản lĩnh chính trị vững vàng
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân Việt Nam đang có sự chuyển biến quan trọng, phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu và có sự phân hóa về trình độ, mức sống cũng như môi trường, điều kiện làm việc Để công đoàn thực sự là trung tâm đoàn kết giáo dục công nhân, viên chức, lao động và luôn thực hiện tốt chức năng cơ bản của mình, thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn là nhiệm vụ hết sức quan trọng, là yếu tố quyết định bảo đảm cho tổ chức công đoàn thực hiện tốt vai trò, chức năng của mình
Kết Luận số 37 – KL/TW của Hội nghị Trung ương 9 ( khóa X) về tiếp tục
đẩy mạnh thực hiện chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020 nhấn mạnh: “ Cán bộ
là nhân tố quyết định sự thành bại của Cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đổi mới công tác cán bộ gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”
Sau 35 năm phát triển và trưởng thành, đội ngũ công nhân viên chức lao động và cán bộ công đoàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã nỗ lực phấn đấu giành được nhiều thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực Kết quả đó có
sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở Tuy nhiên, cho đến nay chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở quận Hồng Bàng vẫn còn nhiều hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ hoạt động công đoàn, công tác vận động quần chúng, hiểu biết về các chế độ chính sách pháp luật của Nhà nước…Tại Đại hội
XXI Đảng bộ quận Hồng Bàng ( tháng 8/2010 ) chỉ rõ: “ Phải thường xuyên
Trang 10chăm lo công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ, xây dựng bộ máy chính quyền và các đoàn thể nhân dân vững mạnh, hướng về cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho cơ sở”
Chính vì thế, từ những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu tại khoa Sau đại học – Viện đại học mở Hà Nội và từ thực tiễn công tác của bản thân, tôi
quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng”
2 Tổng quan nghiên cứu
Xây dựng tổ chức Công đoàn và nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn, đặc biệt là cán bộ công đoàn cơ sở là vấn đề mà các cấp Công đoàn quan tâm Thời gian qua, công tác này đã được quan tâm và có bước chuyển biến nhất định, tuy nhiên đây là một vấn đề cần phải có những nghiên cứu giữa lý luận và thực tiễn để đưa ra những giải pháp phù hợp để giải quyết vấn
đề này Để giải quyết vấn đề đó, đã có một số bài viết đề cập đến như: “ Xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” của đồng chí Đặng Ngọc Tùng – Chủ tịch TLĐLĐ Việt Nam; “ Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn” của TS Lê
Thanh Hà – Viện Công nhân Công đoàn Những bài viết này đưa ra một số nội dung nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn và cán bộ CĐCS
Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ CĐCS; đồng thời
đề ra những giải pháp cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ CĐCS phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 11Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến cán bộ CĐCS; chất lượng cán bộ CĐCS; phân tích thực trạng chất lượng cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá chất lượng cán
bộ CĐCS trực thuộc Liên đoàn Lao động quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng nhằm đề ra giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở
- Về thời gian: Luận văn phân tích đánh giá thực trạng chất lượng cán
bộ công đoàn cơ sở trực thuộc Liên đoàn Lao động quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2009 – 2013
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS thuộc Liên đoàn Lao động quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Về lý luận: Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về cán bộ công đoàn
cơ sở và chất lượng cán bộ CĐCS, xác định vị trí, vai trò, nhiệm vụ, tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở
- Về thực tiễn: Đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ CĐCS thuộc Liên đoàn Lao động quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng Phân tích tìm ra những hạn chế và nguyên nhân hạn chế về chất lượng cán bộ CĐCS quận, từ
đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra thống kê, phân tích tổng hợp
Cơ sở dữ liệu phân tích được sử dụng để nghiên cứu :
- Qua nghiên cứu báo cáo hàng năm của LĐLĐ quận
Trang 12- Trưng cầu ý kiến của đoàn viên để thu thập thông tin cần thiết về thực trạng năng lực cán bộ công đoàn hiện nay
6 Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chất lượng cán bộ CĐCS, phân tích thực trạng để đánh giá chất lượng cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng, phát hiện được hạn chế, nguyên nhân hạn chế và từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở
Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở thuộc Liên
đoàn Lao động quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở
quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tới năm 2020
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ
1.1 Những vấn đề chung về cán bộ công đoàn cơ sở
1.1.1 Quan điểm về cán bộ CĐCS và cơ cấu cán bộ công đoàn cơ sở
1.1.1.1 Lịch sử hình thành tổ chức công đoàn
Sau khi thôn tính được Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa, tập trung đầu tư vào một số ngành chủ yếu như đường sắt, hầm mỏ, xí nghiệp, đồn điền Từ đó hình thành GCCN Việt Nam Khác với giai cấp công nhân các nước tư bản, GCCN Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị thực dân Pháp bóc lột và bần cùng hóa… Thắng lợi Cách mạng tháng Mười Nga, sự phát triển của phong trào công nhân thế giới đầu thế kỷ XX đã ảnh hưởng đến phong trào công nhân Việt Nam, nhất là từ khi xuất hiện Quốc tế Cộng sản do Lê Nin sáng lập ( năm 1919) và Quốc tế Công hội Đỏ ( năm 1921) Từ đó GCCN Việt Nam nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lê Nin và kinh nghiệm đấu tranh của công nhân các nước
Trước sự bóc lột thậm tệ và đàn áp dã man của thực dân đế quốc, công nhân lao động nước ta đã tự nguyện thành lập các nghiệp đoàn, công hội đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình ở nhiều nơi trong cả nước Tiêu biểu nhất là Công hội Ba Son do người công nhân ưu tú Tôn Đức Thắng sáng lập ( 1920) Đến năm 1925, Công hội đã trở thành linh hồn của phong trào bãi công của công nhân Ba Son, Sài Gòn – Chợ Lớn Tuy Công hội Ba Son phải chấm dứt hoạt động năm 1926 do sự đàn áp của thực dân Pháp nhưng đã tạo cơ sở xã hội cho việc thành lập Công đoàn Cách mạng về sau
Trang 14* Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đặt cơ sở lý luận và tư tưởng cho Công đoàn cách mạng Việt Nam
Quá trình hình thành và ra đời của tổ chức Công đoàn gắn liền với tên tuổi và cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh Những năm tháng hoạt động trong phong trào công nhân và Công đoàn Quốc tế, Người đã nghiên cứu hình thành tổ chức công đoàn ở các nước tư bản, thuộc địa và nửa thuộc địa Từ đó rút ra kinh nghiệm hoạt động công đoàn nói chung và hình thức tổ chức cho Công đoàn Việt Nam nói riêng
Trong tác phẩm “ Đường Kách mệnh”, Người viết: “ Tổ chức Công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có tình cảm, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới” [ Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, Tập 2,
trang 302] Có thể nói, trên bước đường đi tới chủ nghĩa Mác – Lênin và thành lập các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm rất sớm đến tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân Quá trình Người chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự thành lập một chính Đảng vô sản cũng
là quá trình Người xây dựng cơ sở lý luận và biện pháp tổ chức công đoàn cách mạng
Năm 1925 đến 1928 nhiều Công hội bí mật đã hình thành do sự hoạt động mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Đặc biệt từ năm
1928, khi kỳ bộ Bắc kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát động phong trào “ Vô sản hóa” thì phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam ngày càng sôi nổi, thúc đẩy sự phát triển của tổ chức Công hội lên một bước mới cả về hình thức lẫn nội dung hoạt động
Năm 1929 là thời điểm phong trào công nhân và hoạt động công hội ở nước ta phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở miền Bắc các cuộc đấu tranh của
Trang 15công nhân nổ ra liên tục ở nhiều xí nghiệp, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất hành động giữa các cuộc đấu tranh ở xí nghiệp này với xí nghiệp khác trong cùng một địa phương, giữa địa phương này với địa phương khác Sự phát triển của phong trào công nhân và tổ chức Công đoàn đòi hỏi phải có một tổ chức Mác xít, một Đảng thực sự cách mạng của giai cấp công nhân có khả năng tập hợp, lãnh đạo công nhân đấu tranh giành độc lập, tự do Tháng 3/1929 chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời Đông Dương Cộng sản Đảng đã liên kết các Công hội Đỏ ở các cơ sở và giao cho đồng chí Nguyễn Đức Cảnh - ủy viên Ban chấp hành lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ Đại hội thành lập Tổng Công hội miền Bắc Việt Nam diễn ra ngày 28/7/1929, sau Đại hội Tổng Công hội Đỏ tiếp tục tuyên truyền, vận động, phát triển tổ chức vào các tỉnh miền Trung và miền Nam Lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể cách mạng rộng lớn, hoạt động tôn chỉ, mục đích, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo công nhân lao động
1.1.1.2 Quan điểm về cán bộ công đoàn cơ sở
* Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ công đoàn
Cán bộ công đoàn là người đem chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước tuyên truyền cho nhân dân, cán bộ, đoàn viên, hội viên hiểu rõ và thi hành, đồng thời tập hợp những vướng mắc của đông đảo nhân dân, đoàn viên, hội viên phản ánh lại cho Đảng và Nhà nước để Đảng và Nhà nước định ra chính sách cho đúng Cán bộ đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện đường lối và nhiệm vụ chính trị
Là người sớm tham gia phong trào công nhân, dày công nghiên cứu phong trào công đoàn, Bác Hồ đã cụ thể hóa phương pháp hoạt động công
đoàn bằng phương châm dễ nhớ, dễ làm “ Cán bộ công đoàn phải cùng ăn, ở, làm việc và bàn bạc với công nhân” [ Những lời dạy của Bác Hồ đối với
Trang 16Công đoàn] Đó là phong cách cần có của cán bộ công đoàn mà Bác đã rút ra
từ thực tiễn đào tạo, rèn luyện cán bộ cách mạng, cán bộ làm công tác vận
động quần chúng Bởi theo Bác “ Cán bộ công đoàn phải nắm vững chính sách của Đảng, đi đúng đường lối quần chúng, lãnh đạo phải dân chủ, phải cùng công nhân đồng cam cộng khổ, phải hòa mình với công nhân thành một khối, phải gương mẫu Cán bộ công đoàn phải hiểu biết sản xuất, đời sống, nguyện vọng của công nhân, lao động, phải hiểu biết chính sách của Đảng, phải hiểu quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật…” [ Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG,
H.2000, Tập 12, trang 568 ] Mọi việc công đoàn làm phải vì lợi ích của người lao động, mục đích của công đoàn là phải cải thiện dần đời sống công nhân, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa của giai cấp công nhân nói riêng và nhân dân lao động nói chung Lời chỉ dẫn ân cần của Bác với cán bộ công đoàn cần: Phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh
Chính vì vậy, Bác quan niệm cán bộ công đoàn “ Phải giỏi cả về chính trị, thành thạo về kinh tế” [ Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, Tập
12, trang 568, 569 ] thì mới lãnh đạo được đội ngũ công nhân ngày càng phát
triển lại có trình độ cả về tư tưởng văn hóa, kỹ thuật “ Cán bộ công đoàn phải tham gia lao động gần gũi công nhân, viên chức” [ Sách đã dẫn, Tập 12, Tr
568, 569] phải biết dựa vào quần chúng, phát huy sức sáng tạo của quần chúng, học tập kinh nghiệm của quần chúng… thì mới làm tròn được nhiệm
vụ của mình
Cán bộ công đoàn là trung tâm của đoàn kết, phải có trách nhiệm cao, vì
lợi ích giai cấp, vì lợi ích cách mạng “ Muốn giáo dục tốt công nhân, trước hết đội ngũ cán bộ công đoàn phải đoàn kết nhất trí Phải kiên quyết xây dựng cho được sự đoàn kết nhất trí trong hệ thống Công đoàn…” [ Sách đã dẫn, Tập
12, Tr 568, 569]
Trang 17Cán bộ công đoàn cần phải tích cực không ngừng để nâng cao trình độ
về mọi mặt Người nói: “ Kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, hàng ngũ công nhân ngày càng đông Muốn làm tròn nhiệm vụ của mình thì cán bộ công đoàn phải cố gắng học tập vươn lên để không ngừng tiến bộ Có học tập mới hiểu được khoa học, có hiểu được khoa học mới tổ chức được phong trào”
[ Bác Hồ với giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn, Tác giả: Phạm Thị Tuyết Minh]
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước đã ban hành các chính sách, luật pháp liên quan đến GCCN, tổ chức Công đoàn và cán bộ công đoàn như: Luật Lao động, Luật Công đoàn Trong đó xác định rõ cán bộ công đoàn
* Theo Điều 5, Điều lệ Công đoàn Việt Nam: “ Cán bộ công đoàn là người đảm nhiệm chức danh từ tổ phó công đoàn trở lên thông qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn; được cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định, công nhận, bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn” [ Điều lệ Công đoàn Việt Nam, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội –
2014]
Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam khóa XI xác định: “
Cán bộ công đoàn bao gồm: Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, ủy viên ban chấp hành công đoàn, ủy viên ủy ban kiểm tra công đoàn, ủy viên các ban quần chúng công đoàn các cấp thông qua kết quả bầu cử; hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định; cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy của tổ chức công đoàn các cấp” [ Hướng dẫn thi hành Điều lệ
Công đoàn Việt Nam, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội – 2014]
Như vậy cán bộ công đoàn cơ sở: là những cán bộ đảm nhiệm chức danh từ Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, ủy viên ban chấp hành công đoàn, ủy
Trang 18viên ủy ban kiểm tra công đoàn, thông qua kết quả bầu cử; hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định
Vậy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ công đoàn và
quy định của Điều lệ Công đoàn về cán bộ công đoàn không chuyên trách ( cán
bộ CĐCS) đến nay vẫn là định hướng quý báu cho sự phát triển của tổ chức
Công đoàn và việc xây dựng đội ngũ cán bộ CĐCS nước ta
Trang 19* Cơ cấu cán bộ công đoàn cơ sở:
( Nguồn: Văn phòng LĐLĐ quận)
* Sơ đồ số 1.1: Cơ cấu cán bộ CĐCS
Chủ tịch Công đoàn cơ sở
Phó chủ tịch Công đoàn cơ sở
Ủy viên Ban Chấp hành cơ sở
Ủy viên kiểm tra Công đoàn cơ sở
Tổ trưởng Công đoàn cơ sở
Tổ phó Công đoàn cơ sở
Trang 20* Phân loại và đặc điểm của cán bộ CĐCS:
Cán bộ công đoàn chuyên trách
Cán bộ công đoàn không chuyên trách
* Giống nhau: Cán bộ công đoàn chuyên trách và không chuyên trách công
đoàn do tổ chức công đoàn ra quyết định công nhận ( theo phân cấp đối với từng cấp công đoàn)
* Khác nhau:
- Cán bộ công đoàn chuyên trách
hưởng lương từ ngân sách công đoàn
- Do công đoàn trực tiếp quản lý và
thực hiện chính sách cán bộ theo quy
định và phân cấp của Trung ương và
của Tổng Liên đoàn
- Cán bộ công đoàn không chuyên trách không hưởng lương ngân sách công đoàn
- Việc quản lý và thực hiện chính sách cán bộ do tổ chức công đoàn và doanh nghiệp, đơn vị cùng phối hợp thực hiện theo nguyên tắc: Doanh nghiệp, đơn vị thực hiện trả lương, nâng ngạch, bậc lương và các chế độ, chính sách quản lý cán bộ theo quy định chung của doanh nghiệp, đơn vị Công đoàn cấp trên chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về nghiệp vụ và nội dung hoạt động công đoàn; giám sát việc thực hiện chính sách đối với cán bộ công đoàn theo quy định của pháp luật và chế độ phụ cấp theo quy định của Tổng Liên đoàn
[Nguồn: Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam, Nhà xuất bản lao
động, Hà Nội – 2014]
Trang 21Như vậy, việc quản lý và thực hiện chính sách cán bộ do tổ chức công đoàn và doanh nghiệp phối hợp thực hiện Cán bộ CĐCS do Công đoàn cấp
trên ( LĐLĐ quận, huyện) ra quyết định công nhận và chỉ đạo, kiểm tra,
hướng dẫn nghiệp vụ, nội dung hoạt động công đoàn, giám sát việc thực hiện chính sách đối với cán bộ CĐCS theo quy định của Tổng Liên đoàn Cán bộ CĐCS được hưởng lương từ doanh nghiệp, đơn vị chi trả và các chế độ chính sách khác được thực hiện theo quy định chung của doanh nghiệp, đơn vị Chính vì thế, cán bộ CĐCS có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: Cán bộ CĐCS là đoàn viên công đoàn, được lựa chọn thông
qua bầu cử tại đại hội hoặc hội nghị công đoàn
Thứ hai: Cán bộ CĐCS đều là không chuyên trách cùng đồng thời vừa
làm nhiệm vụ chuyên môn của mình, vừa làm công tác công đoàn và phần lớn trưởng thành từ phong trào quần chúng, hiểu biết quần chúng, gắn bó với lợi ích của quần chúng, lấy việc vận động, thuyết phục làm phương pháp hoạt động chủ yếu, nên hầu hết cán bộ CĐCS đều là những người nhiệt tình trong công tác, có kinh nghiệm vận động, tổ chức hoạt động, có uy tín với CNVCLĐ
Thứ ba: Cán bộ CĐCS là người đại diện bảo vệ quyền, lợi ích chính
đáng, hợp pháp của CNVCLĐ trong doanh nghiệp, đơn vị Đặc trưng này phân biệt cán bộ CĐCS khác với cán bộ Đảng, Chính quyền và cán bộ quần chúng khác
1.1.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ CĐCS
Hiến pháp 1992 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013), Điều 10 quy định: “ Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội;
Trang 22tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sửa đổi năm 2013] Đó là những cơ sở pháp lý để tổ chức công đoàn các cấp và cán bộ công đoàn tổ chức thực hiện và tuân thủ theo quy định của Hiến pháp
1.1.2.1 Vị trí của cán bộ công đoàn cơ sở
Là người đại diện cho tập thể người lao động, thay mặt người lao động động có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; tham gia trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, cụ thể là:
- Cán bộ CĐCS tham gia đổi mới và thực hiện cơ chế quản lý kinh tế mới; công đoàn tham gia cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh hoạt động công đoàn trong các thành phần kinh tế, vận động người lao động nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất, kinh doanh, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
- Cán bộ CĐCS góp phần tích cực vào việc xây dựng và nâng cao hiệu quả hệ thống chính trị, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với người lao động
- Cán bộ CĐCS phải tuyên truyền, giáo dục người lao động không ngừng nâng cao trình độ, tính tổ chức, kỷ luật Giáo dục người lao động nâng cao lập trường giai cấp công nhân, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
1.1.2.2 Chức năng của cán bộ công đoàn cơ sở
* Là người đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của
CNVCLĐ
Lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ bao gồm lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần Lợi ích vật chất đối với CNVCLĐ hiện nay là bảo đảm việc
Trang 23làm ổn định, phù hợp với nâng lực, trình độ, sức khỏe, thời gian lao động hợp
lý, có thu nhập tương xứng với kết quả lao động và đảm bảo đời sống của bản thân, gia đình, cải thiện điều kiện lao động Lợi ích tinh thần là mọi người được đối xử bình đẳng, được tạo điều kiện, cơ hội như nhau trong lao động, học tập và công tác, được quan tâm đến đời sống văn hóa
Để thực hiện được chức năng đó cán bộ CĐCS cần:
- Hướng dẫn, giúp đỡ người lao động ký giao kết hợp động với người
sử dụng lao động theo quy định của Bộ Luật lao động
- Đại diện cho CNVCLĐ tham gia xây dựng Thỏa ước lao động tập thể
và thương lượng ký thỏa ước lao động tập thể với người sử dụng lao động và giám sát việc thực hiện những quy định trong Thỏa ước lao động tập thể do các bên đã ký Giám sát việc thực hiện pháp lệnh bảo hộ lao động, vệ sinh an toàn lao động, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm ý tế…
- Tổ chức giúp đỡ CNVCLĐ phát triển kinh tế gia đình, giúp CNVCLĐ được vay vốn từ ngân hàng để tăng gia sản xuất cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho gia đình
* Phải tham gia quản lý trong các đơn vị cơ sở
Tham gia quản lý là một trong những chức năng của tổ chức công đoàn Thực chất của tham gia quản lý là nhằm phát huy quyền làm chủ của người lao động, bảo vệ lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể của người lao động Tham gia quản lý gồm:
- Cán bộ công đoàn phối hợp với thủ trưởng đơn vị, giám đốc doanh nghiệp tổ chức Đại hội công nhân viên chức, hội nghị người lao động, hội nghị cán bộ công chức theo quy định của pháp luật và hướng dẫn liên tịch của Tổng LĐLĐ Việt Nam và Bộ lao động thương binh và xã hội; xây dựng mối quan hệ hài hòa, tiến bộ giữa người sử dụng lao động và người lao động
Trang 24- Tổ chức các phong trào thi đua lao động sản xuất trong công nhân, viên chức, lao động: Giúp công nhân, viên chức, lao động phát huy sáng kiến, sáng tạo, xây dựng các đề tài lao động sáng tạo Vận động CNVCLĐ nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao, đạt năng suất, chất lượng tốt, đoàn kết giúp đỡ nhau trong sản xuất
- Vận động công nhân, viên chức, lao động thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí; đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa, phong trào thi đua người tốt, việc tốt trong cơ quan, doanh nghiệp…
- Tham gia xây dựng và giám sát thực hiện chế độ, chính sách pháp luật liên quan đến người lao động
- Tham gia triển khai thực hiện các chế độ chính sách về tiền lương, về thi hành chế độ Bảo hiểm xã hội, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động cho CNVCLĐ
* Cán bộ CĐCS phải thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục
+ Xây dựng môi trường văn hóa cơ sở lành mạnh, quan hệ ứng xử có văn hóa, có đạo lý, tinh thần dân chủ, bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ
Trang 25+ Cán bộ công đoàn tham gia với đơn vị, doanh nghiệp xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện cho hoạt động văn hóa cơ sở Tổ chức cho đông đảo công nhân, viên chức, lao động tham gia các hoạt động văn hóa thể thao Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục giúp cho công nhân, viên chức, lao động nâng cao nhận thức về mọi mặt góp phần tích cực nâng cao chất lượng đội ngũ công nhân, viên chức, lao động
1.1.2.3 Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ công đoàn
Tại Điều 6, Điều lệ Công đoàn Việt Nam quy định nhiệm vụ và quyền hạn của cán công đoàn như sau:
* Nhiệm vụ của cán bộ công đoàn:
- Liên hệ chặt chẽ với đoàn viên và người lao động; tôn trọng ý kiến của đoàn viên và người lao động Báo cáo, phản ánh và thực hiện thông tin hai chiều giữa các cấp công đoàn, giữa người lao động với người sử dụng lao động hoặc đại diện của người sử dụng lao động
- Tổ chức đối thoại giữa người lao động với người sử dụng lao động trong các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoặc giữa tổ chức công đoàn với đại diện của người sử dụng lao động
- Phát triển đoàn viên và xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh
- Đấu tranh chống những biểu hiện vi phạm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của công đoàn các cấp
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do tổ chức công đoàn phân công
* Quyền hạn của cán bộ công đoàn:
- Là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động
- Được thực hiện các quyền của cán bộ công đoàn trong quan hệ lao động theo quy định của pháp luật, công đoàn
- Tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật
Trang 26- Được bảo đảm điều kiện hoạt động công đoàn tại cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp theo quy định của Luật Công đoàn Được công đoàn bảo vệ, giúp đỡ, hỗ trợ khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do tổ chức công đoàn phân công
- Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ công tác công đoàn
- Được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của Đảng, Nhà nước và tổ chức Công đoàn
- Cán bộ công đoàn không chuyên trách khi có đủ điều kiện theo quy định và có nguyện vọng được xem xét ưu tiên tuyển dụng làm cán bộ công đoàn chuyên trách khi cơ quan tuyển dụng có nhu cầu
1.2 Chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở
1.2.1 Quan điểm và căn cứ xác định chất lượng cán bộ CĐCS
1.2.1.1.Quan điểm về tiêu chuẩn cán bộ công đoàn
Công tác cán bộ chính là việc xác định các tiêu chuẩn cho mỗi chức danh, tuyển chọn cán bộ theo tiêu chuẩn, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ Từ khi ra đời đến nay Đảng ta luôn xem công tác cán bộ là một vấn đề quan trọng, giữ vị trí quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta Đảng đã từng bước xây dựng một đội ngũ cán bộ có đủ sức thực hiện nhiệm vụ trong từng giai đoạn Cách mạng Thông qua đội ngũ cán
bộ, Đảng lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng kẻ thù xâm lược giành lại độc lập
tự do, thống nhất đất nước, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác cán bộ, lựa chọn, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ Người luôn cho rằng vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng và đối với công cuộc xây dựng
Đảng Người luôn dạy “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “ Bất cứ chính
Trang 27sách công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công” Ở mỗi bước phát triển của
cách mạng căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, Người đã ân cần chỉ ra phương hướng phấn đấu và rèn luyện của cán bộ
Một yêu cầu không thể thiếu được của người cán bộ là sự gắn bó mật thiết với quần chúng, gần gũi với công nhân, tri thức, gần gũi với cấp dưới cơ
sở, sâu sát với công việc Như vậy tiêu chuẩn lựa chọn, đề bạt cán bộ là một trong những khâu quan trọng của công tác cán bộ, nắm vững và xác định đúng quan điểm này sẽ tạo cho hệ thống chính trị một đội ngũ cán bộ có đầy
đủ năng lực, phẩm chất, công tác có hiệu quả
Những tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: Phải trung thành với Tổ Quốc với cách mạng, chế độ XHCN; Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi; Phải có mối quan hệ mật thiết với mọi người xung quanh; Dám phụ trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là những tình huống khó; Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, khiêm tốn giản
dị, không ngừng học tập nâng cao trình độ năng lực, phẩm chất của bản thân
Để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, để người cán bộ thực sự là người
lãnh đạo và là người đầy tớ trung thành của dân thì người cán bộ phải: “ Có đạo đức, có tài, có phẩm chất chính trị và năng lực lãnh đạo trong đó đức là gốc” [ Sách đã dẫn, Tập 9, trang 283] Người nhấn mạnh: “ Cái làm nền tảng trước hết là đạo đức cách mạng, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành nhiệm vụ cách mạng một cách vẻ vang” [Sách đã dẫn, Tập 5, trang 252, 253] Người nghiêm khắc phê phán
những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, Người đặc biệt coi trọng việc giữ gìn
và nâng cao đạo đức Cách mạng
Trên cơ sở tiêu chuẩn chung về cán bộ, các cấp các ngành đã chủ động xây dựng tiêu chuẩn cán bộ của ngành mình, đó là căn cứ để làm tốt công tác
Trang 28quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo nguồn để đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới
Nhận định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về công tác cán bộ:
“ Đội ngũ cán bộ công đoàn đều trưởng thành từ phong trào công nhân và công đoàn, có nhiệt tình tâm huyết, được quần chúng tín nhiệm Là những người có phẩm chất đạo đức, tin tưởng, biết vận dụng đường lối quan điểm của Đảng và phong trào công nhân, hoạt động Công đoàn Có trách nhiệm luôn cố gắng trong nhiệm vụ được giao, gắn bó với tổ chức Công đoàn, gắn
bó với người lao động, được đào tạo về chuyên môn, chính trị, công tác Công đoàn, tích cực học tập nâng cao trình độ mọi mặt, bước đầu thích ứng với điều kiện hoạt Công đoàn trong nền kinh tế thị trường Đội ngũ cán bộ công đoàn đã giữ vững vai trò quyết định đẩy mạnh phong trào công nhân và hoạt động phong trào Công đoàn trong thời gian qua, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước.” [ Báo cáo đánh giá về công tác cán bộ của Tổng LĐLĐ Việt Nam, nhiệm kỳ 2008 – 2013]
1.2.1.2 Căn cứ xác định tiêu chuẩn cán bộ CĐCS
Từ yêu cầu thực tiễn Tổng Liên đoàn đưa ra những căn cứ chung để xây dựng tiêu chuẩn cán bộ công đoàn:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng; nhiệt tình, tâm huyết với sự nghiệp xây dựng tổ chức công đoàn; có uy tín và khả năng đoàn kết tập hợp được đông đảo đoàn viên, CNVCLĐ; có tinh thần đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ
- Có năng lực, trình độ tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào các lĩnh vực hoạt động công đoàn; có kiến thức về quản lý kinh tế, xã hội, pháp luật; có kỹ năng hoạt động công đoàn và nghiệp vụ công tác công đoàn
Trang 29- Có sức khỏe, đạo đức, lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị, không cục bộ bản vị, cơ hội; không lãng phí, tham nhũng và bao che cho tham nhũng, kiên quyết chống tham nhũng và lãng phí
Tiêu chuẩn cán bộ là những quy định đối với cán bộ về sức khỏe, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng đoàn kết, tập hợp quần chúng, tác phong, lề lối làm việc Tiêu chuẩn cán bộ
là căn cứ để hoạch định chính sách vĩ mô phục vụ cho việc xây dựng đội ngũ cán
bộ công chức nói chung và cán bộ công đoàn nói riêng Tiêu chuẩn cũng là cơ sở
để từng người cán bộ phấn đấu tự rèn luyện để hoàn thiện bản thân
Từ những tiêu chuẩn chung về cán bộ công đoàn, trên cơ sở đó cấp ủy Đảng và các cấp công đoàn lựa chọn, quy hoạch, bồi dưỡng đào tạo nguồn cho cấp mình theo từng nhiệm kỳ, tuyển chọn những cán bộ có đủ phẩm chất, trình
độ, năng lực xây dựng đội ngũ cán bộ CĐCS có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực
để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn
1.2.1.3 Quan điểm đánh giá chất lượng cán bộ CĐCS
Đánh giá chất lượng cán bộ có thể được xem là khâu quan trọng đầu tiên trong công tác cán bộ Đánh giá cán bộ đúng có ý nghĩa quyết định trong việc tuyển chọn đào tạo, bố trí sử dụng có hiệu quả nguồn cán bộ Đánh giá chất lượng cán bộ công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ công tác làm thước đo phẩm chất, năng lực của cán bộ Đánh giá chất lượng cán bộ phải căn cứ vào hiệu quả công tác, khả năng đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh tập thể, tạo ra sự tiến bộ và kết quả cụ thể trong lĩnh vực mình phụ trách thực hiện
Đánh giá chất lượng cán bộ là vấn đề quan trọng, đánh giá đúng sẽ quy hoạch đúng người, sử dụng đúng đối tượng Đánh giá chất lượng cán bộ đòi hỏi phải công tâm, khách quan tạo đoàn kết nhất trí cao trong tổ chức Đánh giá chất lượng cán bộ cần phải được làm tốt để nâng cao chất lượng các khâu
Trang 30của công tác cán bộ, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Trong đánh giá chất lượng cán bộ phải lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ được giao làm thước đo chính để đánh giá phẩm chất năng lực của cán bộ một cách cụ thể, khoa học, chính xác Khắc phục tình trạng đánh giá chất lượng cán bộ một cách chung chung, cảm tính chủ quan, lẫn lộn giữa điều kiện với tiêu chuẩn, coi bằng cấp học vị cao hơn phẩm chất, năng lực
Chất lượng cán bộ CĐCS là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng đoàn kết tập hợp đoàn viên, công nhân viên chức, lao động; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ; khả năng xây dựng và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước vào lĩnh vực hoạt động công đoàn Đội ngũ cán bộ CĐCS được đánh giá có chất lượng phải được xem xét hiệu quả việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của CĐCS đó, kết quả bình xét công đoàn cơ sở hàng năm có đạt vững mạnh hoặc vững mạnh xuất sắc hay không? Đây là cơ sở để tuyển chọn, bố trí cán bộ cho phù hợp với năng lực thực tiễn của cán bộ công đoàn
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ CĐCS
Khi đánh giá cán bộ CĐCS sẽ dựa trên các tiêu chí Tổng LĐLĐ Việt Nam quy định
* Về nhận thức chính trị, phẩm chất đạo đức:
+ Về chính trị:
- Cán bộ công đoàn phải hiểu biết các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, kiên định với mục tiêu chính trị của Đảng đề ra, nắm vững đường lối của Đảng trong quá trình vận dụng thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Có tư duy chính trị nhạy cảm, năng động, sáng tạo, nhiệt tình ủng hộ và gương mẫu đi đầu trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, tham gia có hiệu quả các nhiệm vụ công tác, sản xuất, kinh doanh
Trang 31- Chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, những quy định của tập thể, vận động cán bộ, đoàn viên chấp hành
- Nhiệt tình, tâm huyết với phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn, gắn bó với tổ chức công đoàn và CNVCLĐ Giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng, gần gũi với công nhân lao động, đại diện, bảo vệ và là chỗ dựa cho công nhân viên chức lao động
- Có đạo đức, lối sống lành mạnh, trung thực, có mối quan hệ mật thiết với đoàn viên và công nhân viên chức lao động, không tham ô, lãng phí, có ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài sản của tập thể
* Tiêu chí về trình độ chuyên môn:
Cán bộ CĐCS có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên
Có trình độ hiểu biết, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, tổ chức thực hiện
có hiệu quả nhiệm vụ được giao Biết phát huy năng lực sở trường công tác
Có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu về ngành, nghề,
có kiến thức am hiểu về kinh tế, kỹ thuật, pháp luật, các kiến thức về xã hội
để vận động quần chúng tham gia hoạt động công đoàn Đồng thời, cán bộ CĐCS cần có cái nhìn tổng quan, biết tiếp nhận thông tin, có khả năng tư duy, phán đoán và xử lý tình huống có hiệu quả, có tính quyết đoán trong giải quyết công việc, không máy móc, cứng nhắc…
Trang 32Khi xét về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ nghiệp vụ công tác công đoàn cần xuất phát từ vị trí, yêu cầu của mỗi cấp công đoàn mà đòi hỏi về trình độ các mặt của công đoàn cũng khác nhau Nghĩa là trên cơ sở vị trí, yêu cầu nhiệm vụ của từng loại hình đơn vị, doanh nghiệp đòi hỏi cán bộ công đoàn phải có tiêu chuẩn nhất định về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công tác công đoàn cho phù hợp Tuy nhiên, trình độ chuyên môn và trình độ nghiệp vụ công tác công đoàn phải gắn với kiến thức thực tiễn và được vận dụng trong công việc hàng ngày Do vậy cần phải kết hợp chặt chẽ giữa tiêu chuẩn bằng cấp với năng lực thực tiễn của cán bộ Trong điều kiện CNH, HĐH và hội nhập quốc tế với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, chuyên môn nghiệp vụ và sự hiểu biết trên các lĩnh vực của người lao động từng bước được nâng lên, do đó đòi hỏi cán bộ công đoàn không ngừng nâng cao trình độ học vấn, hiểu biết pháp luật, am hiểu xã hội… để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của phong trào công nhân và hoạt động công đoàn Chính
vì thế, cán bộ CĐCS đòi hỏi phải có trình độ nghiệp vụ công tác công đoàn,
có kỹ năng vận động CNVCLĐ, tổ chức hoạt động công đoàn Đây là tiêu chuẩn hết sức quan trọng cần phải có ở cán bộ CĐCS
* Tiêu chí về kỹ năng nghề nghiệp:
Hoạt động công đoàn thực chất là hoạt động quần chúng, vì vậy kỹ năng về nghiệp vụ công đoàn của người cán bộ là thể hiện khả năng liên hệ với quần chúng và phát huy tính tự nguyện của quần chúng Người cán bộ CĐCS phải hướng hoạt động công đoàn vào việc phục vụ lợi ích của CNVCLĐ, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ, sâu sát quần chúng, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của người lao động, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong đơn vị, cổ vũ vận động đoàn viên nỗ lực thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
Trang 33Có tác phong làm việc theo quan điểm quần chúng, dân chủ, thực tế Nghĩa là đối với cán bộ công đoàn đòi hỏi phải biết biến ý chí của Đảng, Nhà nước, của tổ chức công đoàn thành ý chí của đông đảo CNVCLĐ, hướng hoạt động của đông đảo CNVCLĐ vào mục tiêu chương tình kế hoạch đã đề ra
Có năng lực quản lý, tổ chức thực hiện, nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó có những đề xuất và giải quyết công việc đảm bảo đúng mục tiêu Có khả năng xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, xây dựng nghị quyết của công đoàn, tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết, chương trình công tác đạt kết quả tốt Xây dựng nội bộ đoàn kết, biết tổ chức và sử dụng người trong tổ chức để làm việc có hiệu quả Biết sử dụng triệt để thông tin hai chiều, nhiều chiều, lắng nghe ý kiến của công nhân viên chức lao động, qua đó tạo sự tin tưởng lẫn nhau trong công việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm của CNVCLĐ, đem lại hiệu quả cao trong hoạt động công đoàn
Tổ chức thực hiện của cán bộ CĐCS phải dựa trên nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, năng lực đó biểu hiện qua phong cách quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện
Khi đánh giá cán bộ CĐCS cũng cần chú ý dựa vào việc: Lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của CNVCLĐ, đoàn viên công đoàn làm thước đo chủ yếu Đây là tiêu chí về chất lượng và năng lực của cán bộ công đoàn thông qua việc làm thực tế của cán bộ CĐCS
Cán bộ công đoàn cũng cần có kiến thức nhất định về lý luận chính trị Yêu cầu trình độ lý luận của cán bộ CĐCS không chỉ đơn thuần là chứng chỉ, bằng cấp, mà vấn đề cốt lõi là đòi hỏi cán bộ công đoàn phải có khả năng biến những vấn đề được học thành nhận thức, hành động cụ thể, thiết thực trong công tác của mình Đó chính là khả năng vận dụng lý luận vào công việc hàng ngày, khả năng tổng hợp thực tiễn, vận dụng lý luận vào tổ chức hoạt động thực tế của đơn vị mình
Trang 34* Tiêu chí về kinh nghiệm kỹ năng thực hiện nhiệm vụ:
Kinh nghiệm công tác là tiêu chí quan trọng đánh giá cán bộ Kinh nghiệm là những vốn sống thực tế mà cán bộ tích lũy được trong thực tiễn công tác Kinh nghiệm phụ thuộc vào sự tích lỹ hàng năm theo độ dài thời gian công tác của cán bộ nói chung và thời gian công tác ở một công việc cụ thể nào đó của cán bộ Thường thì kinh nghiệm công tác được xem xét đánh giá qua thâm niên công tác của cán bộ Tuy nhiên, giữa kinh nghiệm và thâm niên công tác không phải hoàn toàn theo tỷ lệ thuận Thời gian công tác chỉ là điều kiện cần cho tích lũy kinh nghiệm Điều kiện đủ để hình thành kinh nghiệm trong công tác của cán bộ phụ thuộc chính vào khả năng tư duy, nhận thức, phân tích, tổng hợp, tích lũy của bản thân từng người cán bộ
Trong thực tiễn cần bố trí cán bộ công đoàn có tính chuyên nghiệp cao (
hiểu biết pháp luật, hiểu biết về sản xuất kinh doanh, biết cách vận động quần chúng, có thâm niên công tác trong lĩnh vực công đoàn……) để phát huy những
kinh nghiệm họ tích lũy được áp dụng vào công việc đang đảm nhiệm, tránh xáo trộn bố trí cán bộ sang lĩnh vực khác khi không cần thiết Tuy nhiên, đối với cán
bộ trong diện quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý thì việc luân chuyển sang những vị trí khác là hình thức tăng cường kinh nghiệm cho cán bộ đó
Trang 35Tiêu chí sức khỏe đối với cán bộ không những là một tiêu chuẩn chung, phổ thông cần thiết cho mọi nhóm cán bộ, mà tùy theo những hoạt động đặc thù của từng loại cán bộ còn có những yêu cầu tiêu chuẩn riêng Vì vậy, việc xây dựng chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của cán bộ cần xuất phát từ yêu cầu cụ thể đối với hoạt động có tính đặc thù của từng loại cán bộ Yêu cầu sức khỏe không chỉ là một quy định bắt buộc khi tuyển chọn cán bộ, mà là yêu cầu được duy trì trong suốt quá trình công tác của người cán bộ Cán bộ đảm bảo sức khỏe mới có thể thực hiện công việc được liên tục Vì vậy người lãnh đạo cần phải tạo không khí làm việc thân thiện, cởi mở, nghiêm túc để phát huy tốt nhất tính sáng tạo của cán bộ Đồng thời hàng năm đơn vị nên tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho cán bộ, CNVCLĐ để qua đó phát hiện những bệnh tật, nhất là bệnh nghề nghiệp để có biện pháp điều trị kịp thời
Điều 152 Bộ luật lao động năm 2012 đã quy định về “ Chăm sóc sức khỏe cho người lao động”
- Người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại công việc để tuyển dụng và sắp xếp lao động
- Hàng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định
kỳ cho người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề; lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần
* Tiêu chí đánh giá mức độ đảm nhận công việc của cán bộ công đoàn:
Đây là tiêu chí đánh giá năng lực thực tiễn của cán bộ công đoàn; phản ánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ và mức độ đảm nhận chức trách nhiệm vụ của cán bộ công đoàn Để đánh giá chất lượng cán bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quản trị nhân lực của tổ chức Việc đánh giá không có ý
Trang 36nghĩa là thẩm định kết quả thực hiện công việc, công nhận thành tích của cán
bộ đó mà có ý nghĩa đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức đó
Đánh giá thực hiện công việc là phương pháp, nội dung của quản trị nguồn nhân lực trong các tổ chức Đánh giá thực hiện công việc thực chất là xem xét, so sánh giữa thực hiện nhiệm vụ cụ thể của cán bộ với những tiêu chuẩn đã được xác định trong bản mô tả công việc….Kết quả đánh giá thực hiện công việc cho phép phân tích và đánh giá về chất lượng cán bộ trên thực
tế Nếu như cán bộ liên tục không hoàn thành nhiệm vụ mà không phải lỗi của
tổ chức, của những yếu tố khách quan thì có nghĩa là cán bộ đó không đáp ứng được yêu cầu công việc được giao Trong trường hợp này có thể kết luận
là chất lượng cán bộ thấp, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
Để đánh giá được chính xác kết quả thực hiện công việc của cán bộ đòi hỏi đơn vị quản lý cán bộ phải tiến hành phân tích công việc một cách khoa học, xây dựng được bản mô tả công việc, bản tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ thực thi công việc và bản tiêu chuẩn hoàn thành công việc Khi phân tích đánh giá chất lượng cán bộ trên cơ sở tiêu chí này cần phải phân tích làm rõ các nguyên nhân của việc cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ CĐCS
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ CĐCS, song có thể phân loại thành 2 nhóm nhân tố chính: Nhóm nhân tố bên ngoài và nhóm bên trong
1.3.1 Các nhân tố bên ngoài
* Tác động của phong trào công nhân, công đoàn thế giới
Phong trào công nhân, hoạt động công đoàn thế giới ảnh hưởng mang tính chất toàn cầu, trong đó có ảnh hưởng tới Việt Nam nói chung và quận
Trang 37Hồng Bàng nói riêng Quá trình hội nhập quốc tế đem lại lợi ích, nhưng cũng không ít bất lợi đối với nước ta
Quá trình CNH-HĐH và hội nhập quốc tế cũng như sự phát triển của khoa học nói chung và khoa học công nghệ thông tin nói riêng đã tác động mạnh mẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, hành động của công nhân lao động, đoàn viên công đoàn Việt Nam và đang đặt ra cho tổ chức công đoàn phải xây dựng đội ngũ cán bộ CĐCS có khả năng tiếp cận được với khoa học công nghệ hiện đại
Có thể cho rằng phong trào công nhân và công đoàn thế giới sẽ có tác động tới chất lượng cán bộ CĐCS nước ta nói chung, cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng nói riêng
* Đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội thành phố
Từ cuối thế kỷ 19, vùng đất Ninh Hải ven sông Cấm được đô thị hóa nhanh chóng Thực dân Pháp đầu tư xây thành phố Hải Phòng và quận Hồng Bàng trở thành trung tâm đô thị, có khu phố Tây, trụ sở Đốc Lý, Sở Cấm và nhiều cơ sở kinh tế - văn hóa; tiêu biểu là Cảng, nhà máy xi măng, tổng kho xăng dầu, bưu điện, nhà băng, rạp chiếu phim, nhà hát thành phố Cùng với quá trình đô thị hóa và đầu tư của tư sản Pháp, một loạt các nhà máy đã được xây dựng và đi vào sản xuất, số lượng công nhân tăng nhanh Hải Phòng là thành phố cảng biển, cùng với quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đưa đến cho Hải Phòng sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, đúng hướng, trong đó một số ngành như công nghiệp đóng tàu, sản xuất thép, dịch vụ vận tải hàng hóa thông qua cảng có bước phát triển khá nhanh Sự dịch chuyển mạnh về cơ cấu kinh tế và sự gia tăng nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Hải Phòng Dẫn đến tình trạng lao động trong các lĩnh vực kinh tế tăng nhanh về
số lượng, đa dạng về cơ cấu và mối quan hệ lao động có xu hướng phức tạp, tranh chấp lao động và đình công sẽ có chiều hướng gia tăng Chính vì vậy
Trang 38việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho CNVCLĐ của công đoàn gặp nhiều khó khăn
Về văn hóa giáo dục: Hải Phòng có đền thờ nữ tướng Lê Chân là người
có công khai khẩn lập nên vùng đất đời sau phát triển thành phố Về tôn giáo thịnh hành là Phật giáo và Thiên chúa giáo Về giáo dục Hải Phòng có đền thờ Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là nơi đất học trong chế độ phong kiến và hiện nay
Những đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội của thành phố đã tác động tới
tư tưởng, nhân cách của con người Hải Phòng và cán bộ CĐCS quận Hồng Bàng Chính vì thế đòi hỏi cán bộ CĐCS phải có sự đổi mới toàn diện, từ đổi mới tư duy đến nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn, từ đó xác định nội dung, phương pháp hoạt động công đoàn cho phù hợp với từng giai đoạn
* Cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước, hệ thống quản lý của
Tổng LĐLĐ Việt Nam
Nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn là một việc làm cần thiết để tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển nguồn cán bộ Muốn vậy, Đảng và Nhà nước cần có cơ chế chính sách phù hợp Cơ chế chính sách cán bộ của Đảng, Nhà nước là một trong những nhân tố tác động mạnh nhất tới chất lượng cán bộ công đoàn nói chung, cán bộ CĐCS nói riêng Trong đó có những chính sách đảm bảo chế độ ưu đãi về vật chất, tinh thần, chính sách thu hút cán bộ và chính sách bảo vệ cán bộ Nếu chính sách được thực hiện đồng bộ và bảo vệ được cán bộ CĐCS thì sẽ thu hút được cán bộ CĐCS giỏi, tạo điều kiện cho cán bộ CĐCS yên tâm công tác, thực hiện nhiệm vụ được giao, nhất là thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động Chính sách cán bộ phù hợp sẽ là động lực mạnh mẽ, khuyến khích, động viên cán bộ CĐCS gắn bó với tổ chức, không ngừng khắc phục mọi khó khăn,
Trang 39phấn đấu học tập, rèn luyện hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của tổ chức giao Điều này cũng có nghĩa với việc nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 4a/NQ - TLĐ, ngày 04/3/2010 của Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
khóa X về “ tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ công đoàn giai đoạn 2010 – 2020” [Tài liệu lưu tại Văn phòng LĐLĐ quận]
Liên đoàn LĐLĐ Hải Phòng đã có Chương trình số 382/ CTr- LĐLĐ ngày
05/8/2014 về “ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn nhiệm kỳ 2013 – 2018”
[ Tài liệu lưu tại Văn phòng LĐLĐ quận] Công tác đào tạo, bồi dưỡng có vị trí hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức công đoàn, chất lượng cán
bộ CĐCS là yếu tố quyết định sức mạnh của tổ chức
Bên cạnh đó LĐLĐ thành phố có sự phân cấp quản lý đầu mối và cán
bộ CĐCS đối với LĐLĐ quận Hồng Bàng, để chủ động trong việc định hướng cán bộ CĐCS và bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS, phục vụ cho hoạt động công đoàn tại các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn
Các nghị quyết và các quy định của Tổng Liên đoàn, LĐLĐ thành phố Hải Phòng đã góp phần tích cực nâng cao hiệu quả quản lý và nâng cao chất lượng cán bộ CĐCS
* Sự phát triển của khoa học – kỹ thuật.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, việc tiếp thu, vận dụng những thành quả của khoa học công nghệ trên thế giới, việc
sử dụng nhiều trang thiết bị hiện đại, khoa học công nghệ tiên tiến và tiếp cận với phương thức quản lý, phương thức sản xuất mới… Chính vì vậy, đòi hỏi cán bộ công đoàn phải nâng cao trình độ chuyên môn, am hiểu khoa học công nghệ, tin học, ngoại ngữ …để đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ mới
1.3.2 Các nhân tố bên trong
Trang 40* Quan điểm nhận thức của cán bộ CĐCS
- Chất lượng cán bộ CĐCS phụ thuộc vào nhận thức của cán bộ công đoàn đối với tổ chức công đoàn và công tác công đoàn Nếu cán bộ công đoàn
có nhận thức đúng về tổ chức công đoàn thì mới có quan điểm đúng đắn trong việc chỉ đạo hoạt động công đoàn tại đơn vị mình
Đặc biệt trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, cán bộ CĐCS phải có nhận thức mới về tính chất, vị trí, chức năng của công đoàn trong điều kiện mới Trong điều kiện hiện nay, cán bộ CĐCS phải nhận thức rõ về: Chức năng bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng là chức năng hàng đầu, chức năng trung tâm của tổ chức công đoàn Bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân lao động là xuất phát từ mục đích hội nhập và phát triển kinh tế, muốn kinh tế phát triển đạt hiệu quả thì phải phát huy đến mức tối đa nguồn lực con người, khi đó người lao động sẽ làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, tiến tới phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội
Chức năng bảo vệ lợi ích người lao động là chức năng trung tâm, thì chức năng tham gia quản lý và chức năng giáo dục phải bổ trợ cho chức năng này để đạt tới mục tiêu hoạt động của công đoàn
- Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn cán bộ CĐCS cho phù hợp với tình hình thực tiễn
Đối với cán bộ CĐCS khối hành chính sự nghiệp: ngoài tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức còn phải giữ một chức vụ quan trọng trong cơ quan, đơn vị Như trưởng phòng, Phó chủ tịch UBND phường, phó hiệu trưởng các trường; CNVCLĐ, đoàn viên công đoàn khối này có trình độ, nhận thức, am hiểu xã hội cao Chính vì thế cán bộ công đoàn khối hành chính sự nghiệp đòi hỏi phải giữ chức vụ lãnh đạo thì mới điều hành, tổ chức thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn tại đơn vị mình