1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở việt nam

100 629 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nguy ện ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Tiến Phú, đề tài cấp Bộ năm 2001, trong đó tác giả mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện loại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ANH PHONG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ANH PHONG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Mã số: 60 34 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN THỊ THU PHONG

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận được đưa ra trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Phong

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được hoàn thành được công trình nghiên cứu này, ngoài sự nỗ

lực của bản thân, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ TS Trần Thị Thu

viên tác giả trong quá trình thực hiện nghiên cứu của mình Tác giả xin gửi lời cảm

ơn chân thành tới TS Trần Thị Thu Phong

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô trong Khoa Đào tạo sau Đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội, gia đình, các bạn đồng nghiệp, các bạn lớp Cao học QTKD- 13K4 đã giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu luận văn của mình

Để đạt được những kết quả nghiên cứu tốt hơn trong tương lai, tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ của các nhà chuyên môn, của các thầy cô trong Viện Đại học Mở Hà Nội về phương pháp luận, cách thức tiếp cận khoa học và hợp lý

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Phong

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ CHÍNH SÁCH BHXH TỰ NGUYỆN 7

1.1 Những vấn đề chung về BHXH tự nguyện 7

1.1.1 Khái niệm về BHXH tự nguyện 7

1.1.2 Đặc điểm, phân loại BHXH tự nguyện 8

1.1.3 Nguyên tắc của BHXH tự nguyện 10

1.1.4 So sánh BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc 11

1.2 Chính sách BHXH tự nguyện 13

1.2.1 Mục đích, của chính sách 13

1.2.2 Điều kiện thực hiện chính sách 16

1.2.3 Tổ chức thực hiện chính sách 18

1.2.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính sách 18

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách BHXH tự nguyện 21

1.3.1 Các nhân tố vĩ mô 21

1.3.2 Các nhân tố vi mô 25

1.4 Kinh nghiệm về chính sách BHXH tự nguyện của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 26

1.4.1 Bảo hiểm xã hội cho nông dân ở Indonesia: 26

1.4.2 Bảo hiểm xã hội tự nguyện của Trung Quốc: 27

1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 30

1.5 Sự cần thiết và quan điểm hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2020 34

Kết luận chương 1 38

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BHXH TỰ NGUYỆN VÀ VIỆC

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BHXH TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM 39

2.1 Giới thiệu khái quát về chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam 39

2.1.1 Lịch sử hình thành và ra đời của chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam 39

2.2 Thực trạng thực hiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam 40

2.2.1 Nội dung cơ bản của chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam 40

2.1.3 Tổ chức thực hiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam 51

2.2.1 Thực trạng về quy mô 53

2.2.2 Thực trạng về chất lượng 59

2.3 Đánh giá thực trạng chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam 63

2.3.1.Những ưu điểm của chính sách BHXH tự nguyện của Việt Nam 63

2.3.2 Những hạn chế của chính sách BHXH tự nguyện của Việt Nam 64

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 67

2.3.4 Nguyên nhân tác động của nhân tố ảnh hưởng bên trong và bên ngoài 71

Kết luận chương 2 75

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH BHXH TỰ NGUYỆN Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2015 – 2020 76

3.1 Một số giải pháp hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 76

3.1.1 Giải pháp hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện 76

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam 80

3.3 Điều kiện cần thiết để thực hiện giải pháp 84

3.3.1 Về phía cơ quan Nhà Nước 84

3.3.2 Về phía đối tượng tham gia bảo hiểm 86

Kết luận chương 3 88

KẾT LUẬN 89

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ

BẢNG:

Bảng 2.1: Số người tham gia BHXH tự nguyện qua các năm 55

Bảng 2.2: Số người tham gia và số tiền đóng BHXH tự nguyện năm 2013, 2014, ước 2015 56

Bảng 2.3 Thống kê thu BHXH tự nguyện theo địa phương năm 2014 58

Bảng 2.4: Tỷ trọng lao động tham gia BHXH tự nguyện trong lực lượng lao động 59

Bảng 2.5: Tổng số tiền thu BHXH tự nguyện qua các năm 60

Bảng 2.6: Mức đóng bình quân BHXH tự nguyện giai đoạn 2011 - 2015 61

Bảng 2.7: Tổng số Thu/Chi/Đối tượng hưởng BHXH tự nguyện từ 2012 – 2015 63

BIỂU: Biểu 2.1: Mức độ công việc đầy đủ thời gian và công việc bán thời gian theo số lượng tuần làm việc trong năm Đơn vị: % 73

SƠ ĐỒ: Sơ đồ 2.1: Sơ đồ phân cấp quản lý BHXH tự nguyện 51

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ phân cấp quản lý với đối tượng tham gia BHXH tự nguyện 51

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Bảo hiểm xã hội (BHXH) luôn là một chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, đồng thời luôn là một công cụ hữu hiệu được các quốc gia sử dụng rất hiệu quả góp phẩn ổn định chính trị và phát triển

kinh tế - xã hội

Ở nước ta, bên cạnh việc ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng thực hiện các chính sách xã hội đối với người lao động Chính vì vậy, ngay từ khi thành lập nước, Chính phủ đã ban hành các Đạo luật về BHXH Điều 56 - Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội cũng

đã ghi rõ: "Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ

ngh ỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức Nhà nước và những người làm

công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với

ng ười lao động" Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lẩn thứ IX của Đảng chỉ rõ “Từng bước mỏ rộng vững chắc hệ thống BHXH và an sinh xã hội

Ti ến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân

dân ”. Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện loại hình BHXH tự nguyện Luật BHXH ra đời có hiệu lực từ năm 2007 quy định về chế độ chính sách BHXH tự nguyện áp dụng từ năm 2008 Theo đó, người lao động không thuộc phạm vi tham gia BHXH bắt buộc sẽ là đối tượng của chính sách BHXH tự nguyện Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng thực hiện BHXH tự nguyện cho người lao động Tuy nhiên trên thực tế độ bao phủ của BHXH tự nguyện còn rất thấp Tính đến cuối năm 2014, cả nước mới có khoảng gần

200 ngàn lao động tham gia BHXH tự nguyện, chiếm 0,31% lao động khu

Trang 9

vực ngoài nhà nước Điều này cho thấy việc thực hiện BHXH tự nguyện trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn, do đặc điểm của lao động thuộc đối tham gia BHXH tự nguyên là: trình độ học vấn và nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế, lao động phẩn lớn chưa qua đào tạo, việc làm bấp bênh, thu nhập thấp Bên cạnh đó, chính sách BHXH tự nguyện cũng còn nhiều bất cập, chưa tạo sức hấp dẫn và lan tỏa đối với người lao động

Ngoài ra, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh

tế quốc tế hiện nay, thu nhập và mức sống của một bộ phân lớn người lao động được nâng cao, một bộ phân doanh nghiệp sản xuất phát triển, người lao động có thu nhập cao hơn chắc chắn sẽ phát sinh nhu cẩu tham gia BHXH ở mức cao hơn để được hưởng lương hưu cao khi họ hết khả năng lao động Đây là nhu cẩu chính đáng của người lao động, làm tăng thêm tính bền vững cho quỹ BHXH, nhưng lại chưa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật BHXH Xuất phát từ nhận thức trên với mong muốn góp một phần tri thức nhỏ của mình để tìm ra những giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện các chính sách về BHXH, nhất là BHXH tự nguyện Vì vậy, tôi

quyết định chọn đề tài: "Giải pháp hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện

ở Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ

2 Tổng quan nghiên cứu

Ở nước ta, BHXH đã được hình thành ngay từ những năm đầu thành lập nước, tuy nhiên chỉ áp dụng hình thức BHXH bắt buộc Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi cần phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống BHXH theo cả hai hình thức bắt buộc và tự nguyện Chính vì vậy những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, tuy nhiên tập trung chủ yếu về lĩnh vực BHXH bắt buộc

Đối với BHXH tự nguyện, các công trình nghiên cứu đã đề cập tới phải

kể đến là: "Cơ sở lý luận về việc thực hiện các loại hình bảo hiểm xã hội tự

Trang 10

nguy ện ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Tiến Phú, đề tài cấp Bộ năm 2001,

trong đó tác giả mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm cơ

sở khoa học cho việc thực hiện loại hình BHXH tự nguyện ở Việt Nam, chứ chưa nghiên cứu sâu về nội dung, hình thức, tổ chức quản lý quá trình phát triển loại hình BHXH tự nguyện;

Hai công trình nghiên cứu tiếp theo là: "Nghiên cứu mở rộng đối tượng

tham gia b ảo hiểm xã hội đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập" của tác giả Bùi Văn Hồng, đề tài cấp Bộ năm 2002; "Giải pháp mở rộng đối

t ượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân theo đường

l ối đổi mới của Đảng và Nhà nước" của tác giả Kiều Văn Minh, đề tài cấp Bộ

năm 2003 tập trung nghiên cứu các giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, chưa đề cập đầy đủ mối quan hệ lợi ích giữa người lao động khu vực phi chính thức và chế độ BHXH tự nguyện;

Đề tài "Cơ sở khoa học quản lý và tổ chức thu bảo hiểm xã hội tự

nguy ện" của tác giả Nguyễn Anh Vũ, đề tài cấp Bộ năm 2003, mới chỉ đề cập

đến vấn đề thu BHXH tự nguyện;

Công trình "Nghiên cứu xây dựng lộ trình tiến tới thực hiện bảo hiểm xã

h ội cho mọi người lao động" của tác giả Nguyễn Tiến Phú, đề tài cấp Bộ năm

2004, đã tập trung nghiên cứu lộ trình và các bước tiến hành thực hiện BHXH

tự nguyện, nhưng nghiên cứu này thực hiện trong bối cảnh chưa có Luật

BHXH; Đề tài "Mô hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nước

trên th ế giới và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam" của

tác giả Đào Thị Hải Nguyệt, đề tài cấp Bộ năm 2007, tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài trong việc thực hiện BHXH tự nguyện;

Đề tài "Khảo sát về triển vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

cho khu v ực phi chính thức ở Việt Nam: Kiến nghị chính sách", đề tài cấp

Bộ năm 2007 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Ngân hàng thế

Trang 11

giới, đề tài tập trung nghiên cứu và đưa ra cơ sở để triển khai Luật BHXH

về BHXH tự nguyện;

Đề tài "Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính

sách an sinh xã h ội ở nước ta giai đoạn 2007-2015", đề tài cấp bộ của tác giả

Mai Ngọc Cường - Trường Đại học Kinh tế quốc dân, đề tài này nghiên cứu tổng thể hệ thống ASXH ở nước ta Từ trước năm 2008 có đề cập đến một số

cơ sở để xây dựng chính sách về BHXH tự nguyện

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và thực hiện BHXH tự nguyện ở nước ta những năm qua, nhưng vẫn mới là những nghiên cứu bước đầu, còn chưa đầy đủ, thiếu hệ thống, đặc biệt chưa cập nhật được những xu hướng phát triển mới của hệ thống BHXH tự nguyện, trong bối cảnh đất nước chuyển mạnh sang nền kinh

tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực và điểm cần nhấn mạnh đó là các nghiên cứu trên thực hiện trong điều kiện Luật BHXH,

về BHXH tự nguyện chưa được thực thi

3 Mục đích nghiên cứu

- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách bảo hiểm xã hội

tự nguyện

- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện

áp dụng ở Việt Nam trong thời gian qua

- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách bảo hiểm

xã hội tự nguyện ở Việt Nam giai đoạn 2016-2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Các quy định về chính sách Bảo hiểm xã hội

tư nguyện và việc thực thi chính sách BHXN tự nguyện

Phạm vi nghiên cứu:

+ V ề không gian: Nghiên cứu chính sách BHXH tự nguyện và việc

thực thi chính sách BHXH tự nguyện tại Việt Nam

Trang 12

+ Về thời gian: Đề tài nghiên cứu việc thực hiện chính sách BHXH tự

nguyện trong thời gian 2008 – 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Quy trình nghiên cứu

Bước 1: Tổng hợp tài liệu, khái quát những vấn đề lý luận về chính sách BHXH tự nguyện và kinh nghiệm về chính sách BHXH tự nguyện của các nước trên thế giới

Bước 2: Khảo sát thực trạng thực thi chính sách BHXH tự nguyện tại Việt Nam trong thời gian qua, từ đó phân tích, đánh giá và chỉ ra những bất cập trong chính sách BHXH tự nguyện tại Việt Nam

Bước 3: Đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách BHXH

tự nguyện tại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020

5.2 Cách thức thu thập dữ liệu nghiên cứu

- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Các văn bản pháp luật và các tài liệu quản lý liên quan đến chính sách BHXH tự nguyện thu thập từ cơ quan BHXH, các sách, báo, tạp chí, website của Bộ Lao động Thương binh và Xã Hội, BHXH Việt Nam, Tổng Cục Thống kê

5.3 Phương pháp xử lý dữ liệu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên các phương pháp sau: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống, khái quát, đối chiếu và so sánh, thống kê để phân tích, đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu Đề tài nghiên cứu trên dựa trên các quan điểm, chính sách, định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và ASXH ở nước ta hiện nay

6 Dự kiến những đóng góp của đề tài nghiên cứu

- Về mặt lý luận:

+ Hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận cơ bản về chính sách BHXH tự nguyện; xác định vai trò của BHXH tự nguyện đối với người lao động

Trang 13

+ Phân tích, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện đối với người lao động ở Việt Nam đến cuối năm 2014

- Về mặt thực tiễn: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện đối với người lao động ở Việt Nam đến năm 2020

7 Nội dung, kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục

sơ đồ hình vẽ bảng biểu, phụ lục…luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH tự nguyện và chính sách BHXH tự nguyện

Chương 2 Thực trạng chính sách BHXH tự nguyện và thực hiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện chính sách BHXH tự nguyện ở Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020

Trang 14

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Những vấn đề chung về BHXH tự nguyện

1.1.1 Khái niệm về BHXH tự nguyện

Bảo hiểm xã hội (BHXH) ra đời, tồn tại và phát triển là một tất yếu khách quan cùng với sự phát triển của xã hội loài người Hiện nay, qua nhiều tài liệu và qua thực tế, có nhiều cách hiểu khác nhau về BHXH Theo Tổ chức Lao động quốc tế theo Công ước 102 (ILO năm 1984 Quy phạm tối thiểu về An sinh xã hội) thì "BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và

sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội" Theo khái niệm nêu tại Chương I, Điều 3 Luật BHXH ban hành ngày 29/6/2006 là: “Bảo hiểm xã hội: là

sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ

bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”

BHXH có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và quá trình phát triển của mỗi nước, nhưng tựu trung lại có hai loại hình cơ bản của BHXH là: BHXH theo hình thức bắt buộc

và BHXH theo hình thức tự nguyện Như vậy về thực chất, BHXH tự nguyện chính là một loại hình của BHXH nói chung, bởi vậy nó mang trong mình đẩy

đủ bản chất của BHXH

Trang 15

Từ cách hiểu trên, có thể đưa ra khái niệm về BHXH tự nguyện theo quy định của Luật BHXH tại Chương I, Điều 3 ban hành ngày 29/6/2006 là: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội”

1.1.2 Đặc điểm, phân loại BHXH tự nguyện

Trên thực tế, BHXH tự nguyện thực chất là một loại hình của BHXH, bởi vậy về bản chất BHXH tự nguyện cũng có những nội dung cơ bản của BHXH theo quy định tại Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quy định quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội Theo đó, BHXH tự nguyện cũng có thể bao gồm tất cả 9 chế độ như trong Công ước Tuy nhiên, ILO cũng khuyến cáo không bắt buộc các quốc gia phải thực hiện cả 9 chế độ đó mà chỉ khuyến khích các nước thành viên thực hiện ít nhất 3 chế độ trong các chế độ trợ cấp tuổi già, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp TNLĐ- BNN, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tử tuất

Việc các quốc gia lựa chọn chế độ nào trong thực thi BHXH tự nguyện là căn cứ vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi giai đoạn Tuy nhiên, việc thiết kế nội dung của chính sách BHXH tự nguyện cần xác định rõ các vấn đề sau:

- Th ứ nhất, các chế độ của BHXH tự nguyện Đây là nội dung rất quan trọng

khi thiết kế xây dựng chính sách BHXH tự nguyện của mỗi quốc gia, bởi nó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội Cũng có quốc gia thực hiện ngay một lúc nhiều chế độ trong chính sách BHXH tự nguyện nhưng cũng có quốc gia chỉ thực hiện 1 đến 2 chế độ Trong đó, chế độ BHXH hưu trí bổ sung cũng được nhiều quốc gia thực hiện, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển

- Thứ hai, đối tượng của BHXH tự nguyện Về nguyên tắc mọi người lao

động có nhu cầu đều được tham gia BHXH tự nguyện Tuy nhiên, hầu hết ở các nước đều thực hiện cách tiếp cận từ từ để mở rộng đối tượng trong một hệ thống BHXH tự nguyện Khi xác định đối tượng của BHXH tự nguyện, cần thiết xác

Trang 16

định phạm vi và đối tượng tham gia và những đối tượng bị loại trừ khỏi hệ thống Việc xác định này phải dựa trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, trình độ quản lý của cơ quan BHXH và các điều kiện khác như truyền thống, đất đai, những hệ thống sở hữu đất đai, mùa vụ và những thiện tai, giá cả được đảm bảo và ổn định, hỗ trợ khuyến mãi, cải thiện dịch vụ y tế Do

đó, đối với lao động trong nông nghiệp và nông thôn, trên thế giới không có mô hình đơn độc, có phạm vi quốc tế rộng khắp, thống nhất Ngay cả khi chúng ta nghiên cứu chính sách BHXH tự nguyện đối với người lao động trong khu vực nông, ngư và tiểu thủ công nghiệp cũng cần thiết xác định nhóm người lao động nào được tham gia, nhóm người lao động nào phải loại trừ khỏi hệ thống BHXH

tự nguyện

- Thứ ba, mức đóng BHXH tự nguyện theo loại hình áp dụng: BHXH tự

nguyện áp dụng với nhiều loại lao động có các hình thức thu nhâp khác nhau, nên phải xác định mức đóng BHXH tự nguyện sao cho nhiều đối tượng có thể tham gia, đảm bảo cho việc hạch toán cân đối thu chi BHXH tự nguyện được thống nhất, dễ dàng, đảm bảo khả năng thanh toán của quỹ BHXH tự nguyện

- Thứ tư, xác định mối quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng: đây là một vấn đề rất quan trọng đảm bảo việc thực hiện BHXH tự nguyện đạt kết quả tốt

- Th ứ năm, xây dựng cơ chế đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH tự nguyện

* Các loại hình của BHXH tự nguyện:

Hiện nay các nước trên thế giới đang áp dụng thực hiện hai loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện, đó là:

- Bảo hiểm xã hội tự nguyện áp dụng cho bất cứ người lao động nào tự nguyện tham gia theo các chế độ của chính sách BHXH

- Bảo hiểm xã hội tự nguyện áp dụng như là một hình thức bảo hiểm xã hội bổ sung cho bảo hiểm xã hội bắt buộc, mà các nước chủ yếu đang thực hiện

là BHXH hưu trí bổ sung

Trang 17

BHXH hưu trí bổ sung thực chất là loại hình BHXH tự nguyện được thực hiện trên cơ sở nền tảng của BHXH bắt buộc Điểm mấu chốt trong thực hiện hình thức BHXH này là những người tham gia BHXH bắt buộc có mức thu nhập cao có thể tham gia BHXH hưu trí bổ sung tự nguyện để có mức trợ cấp cao hơn khi về hưu

Đối tượng tham gia BHXH hưu trí bổ sung là những người lao động và doanh nghiệp đăng ký tham gia BHXH bắt buộc tự nguyện đóng góp phần thu nhập của mình vào quỹ BHXH theo chế độ tự nguyện

Do dựa trên nền tảng là BHXH bắt buộc nên độ tuổi quy định được nhận trợ cấp hưu trí bổ sung cũng trùng với độ tuổi nhận trợ cấp hưu trí theo quy định trong BHXH bắt buộc Chính vì vậy, khi nghỉ hưu bên cạnh trợ cấp hưu trí theo BHXH bắt buộc người tham gia BHXH hưu trí bổ sung còn được nhận một khoản trợ cấp hưu trí bổ sung tự nguyện

Việc tham gia BHXH hưu trí bổ sung là do người lao động hoàn toàn tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của mình Tham gia vào BHXH hưu trí bổ sung, mức đóng góp lại được chia cho các bên là người lao động và người sử dụng lao động, song tỷ lệ đóng góp của các bên cũng khác nhau ở mỗi quốc gia, thậm chí không có tỷ lệ đóng cố định chung mà tuỳ thuộc vào sự thoả thuận khi tham gia của người lao động và người sử dụng lao động

Theo cơ chế tự nguyện nên trong điều kiện hưởng của loại hình bảo hiểm này không quy định thời gian tối thiểu tham gia BHXH như khi tham gia BHXH bắt buộc Song cũng như BHXH bắt buộc mức trợ cấp hưu trí bổ sung tự nguyện phụ thuộc vào thời gian tham gia đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện

và thu nhập trung bình hàng tháng trên mức thu nhập quy định được quyền tham gia BHXH bổ sung tự nguyện Chính vì vậy mức sống của người về hưu nói chung có phần được đảm bảo hơn

1.1.3 Nguyên tắc của BHXH tự nguyện

Việc xây dựng và thực thi chính sách BHXH tự nguyện phải được dựa vào các nguyên tắc cơ bản sau:

Trang 18

- Việc tham gia BHXH tự nguyện dựa trên cơ sở tự nguyện của người lao động, không mang tính bắt buộc

- Tài chính của BHXH tự nguyện được hình thành chủ yếu từ việc đóng góp của người tham gia

- Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập

do người lao động lựa chọn, nhưng mức thu nhập này không thấp hơn mức lương tối thiểu chung

- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội

- Các loại trợ cấp chủ yếu được thực hiện bằng tiền

- Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ

tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội (nguyên tắc liên thông)

- Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập

- Việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội

- Nhà nước có trách hiệm bảo hộ đối với quỹ BHXH tự nguyện

- BHXH tự nguyện phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế- xã hội của đất nnước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể

- Ngoài các nguyên tắc trên, BHXH tự nguyện cũng như các loại bảo hiểm thương mại đều phải thực hiện nguyên tắc số đông bù số ít

1.1.4 So sánh BHXH tự nguyện và BHXH bắt buộc

Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc liên thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, chính sách BHXH tự nguyện đã được quy định cơ bản giống như chính sách đối với BHXH bắt buộc(về phương thức đóng, chế độ hưởng) Tuy nhiên, do đặc điểm riêng của BHXH tự nguyện, nên giữa BHXH tự nguyện

và BHXH bắt buộc có một số nội dung khác nhau về quy định của chính sách và thực hiện, cụ thể như sau:

Trang 19

1 Để đảm bảo cho những người ở độ tuổi trung niên (40- 45 tuổi), khi có

khả năng về kinh tế để tham gia BHXH đủ thời gian tối thiểu đóng BHXH được hưởng chế độ hưu trí (20 năm) và một số người lao động tham gia BHXH bắt buộc khi hết tuổi lao động (nam 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) nghỉ việc nhưng thời gian đóng BHXH còn thiếu không nhiều mới đủ để hưởng chế độ hưu trí hàng tháng

2 Quá trình tham gia thực hiện BHXH tự nguyện chỉ gồm có người tham

gia BHXH và tổ chức BHXH, nên người tham gia BHXH tự nguyện hoặc thân nhân phải trực tiếp thực hiện: Việc đóng BHXH cho cơ quan BHXH với mức đóng theo quy định; lập thủ tục tham gia BHXH và tự quản lý sổ BHXH, hóa đơn nộp BHXH trong suốt quá trình tham gia BHXH; lập thủ tục hưởng chế độ BHXH khi đủ điều kiện theo quy định

3 Tùy thuộc vào khả năng kinh tế và thu nhập trong từng thời gian (nhất

là những sản phẩm thu hoạch theo thời vụ) của từng người, BHXH tự nguyện quy định người tham gia được lựa chọn và thay đổi:

- Mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH với mức thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ mỗi mức tiếp theo tăng thêm 50.000đ và mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH cao nhất bằng 20 lần mức lương tối thiểu chung;

- Phương thức đóng BHXH theo hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần Ngoài ra, người tham gia BHXH tự nguyện được tạm dừng đóng BHXH tự nguyện mà không cần nêu lý do

4 Do đối tượng tham gia BHXH tự nguyện không phải là người có quan

hệ lao động (làm công, ăn lương) và không nhất thiết phải là người có khả năng lao động do vậy BHXH tự nguyện quy định người tham gia chỉ đóng góp vào quỹ hưu trí và tử tuất để hưởng 2 chế độ BHXH là chế độ hưu trí và chế độ tử tuất (không thực hiện chế độ ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN)

5 Để đảm bảo mối tương quan trong tham gia BHXH với nguyên tắc liên

thông giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện, chế độ hưu trí và tử tuất được quy định cụ thể cho phù hợp

Trang 20

6 Về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng BHXH: Người tham gia BHXH

tự nguyện khi đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí, ngoài sổ BHXH phải lập tờ khai

cá nhân (có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú); Người tham gia BHXH hoặc thân nhân trực tiếp nộp và nhận hồ sơ hưởng lương hưu, trợ cấp tử tuất tại BHXH cấp huyện nơi đang đóng BHXH hoặc nơi cư trú (đối với trường hợp bảo lưu) hoặc nơi chi trả lương hưu Thời hạn giải quyết chế độ BHXH đối với người tham gia BHXH tự nguyện là 20 ngày đối với hồ sơ hưởng hưu trí hàng tháng, 10 ngày đối với hồ sơ hưởng trợ cấp BHXH 1 lần và trợ cấp tử tuất

Như vậy, loại hình BHXH tự nguyện nhằm thực hiện cho những người lao động không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng và về cơ bản tương ứng với chế độ hưu trí và tử tuất của BHXH bắt buộc Việc quy định đóng góp như nhau để được hưởng như nhau giúp cho người lao động được bình đẳng trong chính sách BHXH, không phân biệt BHXH bắt buộc hay tự nguyện

Thực hiện loại hình BHXH tự nguyện và có sự liên thông với BHXH bắt buộc đã giúp cho người lao động yên tâm hơn, có thể tự do di chuyển, lựa chọn nơi làm việc từ đơn vị này đến đơn vị khác thuộc mọi thành phần kinh tế hoặc tự tạo việc làm hoặc lao động tự do cho phù hợp với khả năng và nguyện vọng cá nhân Đó là một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của thị trường lao động, phát huy và sử dụng triệt để năng lực của từng người lao động, tạo ra nhiều của cải xã hội

có thu nhập để đảm bảo cuộc sống

Trang 21

- Giúp cho những người lao động làm nghề tự do có thể tham gia và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội đem lại cho người lao động có thể nhận lương hưu hàng tháng khi về già

- Tạo điều kiện cho người lao động chưa đủ điều kiện nhận lương hưu hàng tháng có thể tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho đủ điều kiện

để hưởng lương hưu hàng tháng

b Nội dung

- Đối tượng tham gia: Về nguyên tắc mọi người lao động có nhu cầu đều được tham gia BHXH tự nguyện Tuy nhiên, ở hầu hết các nước đều thực hiện cách tiếp cận từ từ để mở rộng đối tượng trong một hệ thống BHXH tự nguyện Khi xác định đối tượng của BHXH tự nguyện, cần thiết xác định phạm vi và đối tượng tham gia và những đối tượng bị loại trừ khỏi hệ thống Việc xác định này phải dựa trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, trình độ quản lý của cơ quan BHXH tự nguyện và các điều kiện khác như truyền thống, đất đai, những hệ thống sở hữu đất đai, mùa vụ và những thiên tai, giá cả được đảm bảo và ổn định, hỗ trợ khuyến mãi, cải thiện dịch vụ y tế Do đó đối với lao động trong nông nghiệp và nông thôn, trên thế giới không có mô hình đơn độc, có phạm vi quốc tế rộng khắp, thống nhất Ngay cả khi chúng ta nghiên cứu chính sách BHXH tự nguyện đối với người lao động trong khu vực nông, ngư và tiểu thủ công nghiệp cũng cần phải dựa trên tính đặc thù của từng nhóm người lao động, mà đưa ra những chính sách phù hợp cho từng đối tượng

Người tham gia BHXH tự nguyện có các quyền: Được cấp sổ BHXH; nhận lương hưu hoặc trợ cấp BHXH tự nguyện đầy đủ, kịp thời, thuận tiện theo quy định; hưởng BHYT khi đang hưởng lương hưu; yêu cầu tổ chức BHXH cung cấp thông tin về việc đóng, quyền được hưởng chế độ, thủ tục thực hiện BHXH; khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền khi quyền lợi hợp pháp của mình bị vi phạm hoặc tổ chức, cá nhân thực hiện BHXH

tự nguyện có hành vi vi phạm pháp luật về BHXH; ủy quyền cho người khác nhận lương hưu và trợ cấp BHXH tự nguyện

Trang 22

- Về mức đóng góp: theo loại hình BHXH tự nguyện bao gồm nhiều loại hình lao động có các hình thức và mức thu nhập khác nhau, nên phải xác định mức đóng BHXH tự nguyện sao cho nhiều đối tượng có thể tham gia, đảm bảo cho việc hạch toán cân đối thu chi BHXH tự nguyện được thống nhất, dễ dàng Người tham gia BHXH tự nguyện có trách nhiệm: Đóng BHXH tự nguyện theo phương thức và mức đóng theo quy định; thực hiện quy định về việc lập hồ sơ BHXH tự nguyện; bảo quản sổ BHXH theo đúng quy định.

- Về chế độ: đối với loại hình BHXH tự nguyện, lựa chọn mức độ đóng góp để chi các chế độ và nhu cầu của số người tham gia

BHXH tự nguyện thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia Để được hưởng BHXH, người lao động phải đóng BHXH theo phương thức hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần Mức đóng BHXH bằng tỷ lệ % đóng BHXH nhân với thu nhập tháng của người tham gia BHXH Người tham gia BHXH tự nguyện được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình Mức đóng này tính trên cơ sở mức thu nhập tháng đóng BHXH nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung

Người vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc, vừa có thời gian đóng BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí, tử tuất trên cơ sở tổng thời gian đã đóng cả hai loại bảo hiểm nói trên

- Xác định mối quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng: đây là một vấn đề rất quan trọng đảm bảo việc thực hiện BHXH tự nguyện đạt kết quả tốt

- Quỹ BHXH tự nguyện phải được đầu tư tăng trưởng Đây là nội dung rất quan trọng, bởi nó đảm bảo quỹ BHXH tự nguyện được bảo toàn, tăng trưởng, hoạt động đầu tư của quỹ BHXH không phải chịu thuế

- Nguyên tắc lấy số đông bù số ít: phải tạo nên sự ràng buộc mối quan hệ lâu dài vững chắc giữa đóng và hưởng BHXH tự nguyện

Trang 23

Ở nước ta, việc xây dựng và thực hiện BHXH tự nguyện cho người lao động khu vực phi chính thức đã được Đảng và Nhà nước có chủ trương và ban hành nhiều văn bản quy định thực hiện, như: Nghị quyết đại hội VIII, đặc biệt là Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: "phải thực hiện chế độ BHXH đối với mọi người lao động ở các thành phần kinh tế"

1.2.2 Điều kiện thực hiện chính sách

1.2.2.1 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước:

Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình Cùng với sự tăng trưởng, sự phát triển của kinh tế - xã hội, cũng có những kết quả bất lợi không mong muốn Những kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người lao động Khi xảy ra tình trạng như vậy, nếu không có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chi Ngân sách để giúp đỡ người lao động dưới một dạng khác Sự giúp đỡ đó chẳng những làm cho đời sống người lao động ổn định mà còn làm cho sản xuất ổn định, kinh tế - xã hội của đất nước phát triển Vì vậy, khi xã hội loài người xuất hiện BHXH, một dạng bảo hiểm đời sống tiến bộ hơn đối với người lao động so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì Nhà nước càng có điều kiện và càng có trách nhiệm tổ chức và tham gia hoạt động đó Trong điều kiện nước ta hiện nay, chắc chắn quỹ BHXH tự nguyện không nằm trong NSNN, nhưng vẫn cần phải có sự bảo trợ của Nhà nước về nguồn tài chính, để bảo đảm cho quỹ BHXH không bị mất giá do trượt giá, hoặc do biến động về chính trị - xã hội, thiên tai, chiến tranh… Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới quản lý về BHXH nói chung, cần phải chia tách ưu đãi

xã hội và BHXH Do vậy đối với nhóm người lao động yếu thế, cần có những chính sách ưu đãi riêng để giúp họ vượt qua khó khăn

Bên cạnh đó, cũng cần phải nhìn nhận trách nhiệm của Nhà nước thông qua cơ quan BHXH - cơ quan nhà nước quản lý quỹ BHXH Trong quá trình

Trang 24

quản lý quỹ BHXH từ sự đóng góp của người lao động, cơ quan BHXH phải thực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ nhằm bảo toàn quỹ, đảm bảo tài chính để chi trả các chế độ BHXH Trách nhiệm này rất quan trọng, bởi suy đến cùng chỉ có những đóng góp của người lao động khi gặp rủi ro sẽ không đảm bảo chi trả cho bản thân họ Do đó cơ quan BHXH phải có trách nhiệm thực hiện các biện pháp đầu tư để bù đắp thiếu hụt đó Tuy nhiên, tài chính để chi trả các chế

độ BHXH chủ yếu phải từ đóng góp của người tham gia BHXH

1.2.2.2 Đối với người lao động:

Khi gặp phải những rủi ro không mong muốn và không hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi

ro của mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh chiu trực tiếp và trước hết đã Điều đó có nghĩa là bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình

Người lao động khi sử dụng thu nhập của mình, trước hết họ phải dành phần lớn chi cho các nhu cầu sinh sống hàng ngày của bản thân và gia đình, phần còn lại mới có thể xem xét để đóng phí BHXH Giả sử thu nhập của người lao động giữ nguyên, nếu đóng phí BHXH thấp thì lợi ích trước mắt của người lao động sẽ tăng lên, nhưng khi họ có nhu cầu được BHXH thì đương nhiên chỉ nhận được trợ cấp thấp Nếu muốn được hưởng trợ cấp BHXH cao, lẽ đương nhiên sẽ phải đóng phí cao hơn, phần chi cho đời sống hàng ngày lại phải giảm đi Nếu người tham gia BHXH đóng phí BHXH thấp mà hưởng trợ cấp BHXH cao, sẽ ảnh hưởng đến mức độ an toàn của quỹ BHXH Tính chất lâu dài của chính sách BHXH sẽ ít có khả năng thực thi, còn nếu buộc Nhà nước phải bù đắp toàn bộ chênh lệch đó, thì ảnh hưởng đến Ngân sách Nhà nước Đặc biệt là ở nước ta hiện nay đang trong tình trạng bội chi Ngân sách Nếu Nhà nước không có trách nhiệm đối với quỹ BHXH tự nguyện thì ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH tự nguyện, bởi lẽ tiền lương hưu và trợ cấp BHXH thực tế sẽ

Trang 25

thấp hơn danh nghĩa do đó tính hấp dẫn của chính sách cũng như khả năng thực thi của chính sách BHXH tự nguyện về lâu dài là không thể thực hiện được

1.2.3 Tổ chức thực hiện chính sách

Theo luật định, BHXH Việt Nam là tổ chức sự nghiệp Nhà nước có nghĩa

vụ thực hiện thu – chi BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH, kể cả BHXH tự nguyện

Căn cứ và Luật, Chính phủ và các cơ quan bộ, ngành ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn, từ đó BHXH Việt Nam sẽ phải ban hành các quy trình, thủ tục thu, chi và giải quyết các chế độ cho các đối tượng Để triển khai BHXH tự nguyện, BHXH Việt Nam phải hình thành tổ chức chuyên quản lý BHXH tự nguyện từ Trung ương đến địa phương, nên bộ máy và cán

bộ sẽ phải lớn hơn và nhiều hơn mới đảm đương được công việc Hiện nay, việc thu BHXH tự nguyện không có hỗ trợ cơ chế trích tỷ lệ % trên tổng mức thu nên không khuyến khích đơn vị BHXH cũng như cán bộ tích cực mở rộng đối tượng Vì vậy cần phải có sự hỗ trợ kinh phí cho việc mở rộng khai thác đối tượng tham gia BHXH tự nguyện

Tổ chức để triển khai thực hiện BHXH tự nguyện là hình thành mạng lưới cộng tác viên ở cơ sở, để tiếp cận từng hộ gia đình để nắm tình hình, khả năng đóng, vận động và khi họ tham gia thì theo dõi, tư vấn Xây dựng mô hình liên kết với các hội quần chúng, tổ chức xã hội nghề nghiệp và phi chính phủ, đồng thời thiết lập hệ thống cộng tác viên ở cấp cơ sở để thực hiện

Xây dựng phần mềm quản lý, xét duyệt hồ sơ để thực hiện giải quyết chế

độ cho các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện được nhanh chóng, thuận tiện

1.2.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính sách

Để đánh giá hiệu quả của chính sách BHXH tự nguyện là tốt hay chưa tốt hoặc phát triển hay chưa phát triển cần thiết phải có bộ công cụ Theo các chuyên gia của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) để đánh giá hệ thống

Trang 26

BHXH cần sử dụng hai chỉ số quan trọng đó là chỉ số bao phủ và chỉ số tác động Tuy nhiên, các chuyên gia UNDP cho rằng, sự chỉ số bền vững về tài chính cũng

là một chỉ số quan trọng để xem xét tính bền vững của hệ thống Vì thế, ở Viêt Nam việc đánh giá hệ thống BHXH tự nguyện hiện hành được xem xét dưới ba vấn đề là mức độ bao phủ, mức độ tác động và mức độ bền vững của hệ thống

+ Mức độ bao phủ của hệ thống BHXH tự nguyện Mức độ bao phủ của

hệ thống BHXH tự nguyện là sự phản ánh mức độ tham gia của người lao động đối với chính sách BHXH tự nguyện

Tỷ lệ tham gia càng cao thì mức độ an toàn cho tuổi già hoặc khi gặp rủi

ro khác càng cao Mặt khác nó cũng phản ánh sự tiến bộ xã hội của một quốc gia Xu hướng chung là BHXH tự nguyện đều hướng tới đảm bảo an toàn cho mọi thành viên trong xã hội, phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro Tỷ lệ dân số tham gia BHXH tự nguyện cao điều đó cũng đồng nghĩa với khả năng phòng ngừa rủi ro của dân số cao, vì đa số người dân chủ động tiết kiệm được số tiền cần thiết để phòng ngừa lúc rủi ro và mức độ an toàn của họ sẽ cao hơn Chính từ lẽ đó mà nhiều quốc gia quan tâm đến việc phát triển BHXH

Để đo mức độ bao phủ của hệ thống BHXH, người ta dùng chỉ số sau: Chỉ

s ố bao phủ bảo hiểm xã hội tự nguyện: đó là tỷ lệ phần trăm dân số trong độ tuổi

trong độ tuổi quy định trở lên tham gia BHXH tự nguyện

Trong đó:

Cbhxh: Là chỉ số bao phủ của BHXH tự nguyện

Sbhxh: Là số người tham gia BHXH tự nguyện

Dld: Là số người trong độ tuổi quy định trở lên, không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc

+ Mức độ tác động của hệ thống BHXH tự nguyện

Mức độ tác động của hệ thống BHXH tự nguyện phản ánh mức độ tác

Trang 27

động đến cuộc sống của những người tham gia BHXH tự nguyện bằng cách so sánh mức hưởng BHXH tự nguyện bình quân hàng tháng mà các nhóm đối tượng nhận được với mức chi tiêu bình quân của dân cư tính theo tháng trong từng thời kỳ tương ứng

Mức độ tác động có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng và tính hiệu quả của hệ thống BHXH tự nguyện và trong việc tính toán chế độ trợ cấp hay lương hưu nhằm bảo vệ các thành viên trong xã hội có được mức sống ngang bằng với mức sống trung bình của cộng đồng dân cư, giảm thiểu bất bình đẳng xã hội Việc đặt ra mục tiêu giảm bất bình đẳng xã hội, bảo đảm mức sống của đối tượng tham gia hệ thống BHXH tự nguyện tuỳ thuộc vào từng thời kỳ, từng quốc gia

Hay

Trong đó:

IPjy : Là chỉ số tác động của đối tượng năm y

Tcjy hay Lhjy : là trợ cấp hoặc lương hưu trung bình của đối tượng năm y

Msy : Là mức sống trung bình dân cư năm thứ y

Muốn biết tỷ lệ phần trăm thì lấy tỷ lệ tuyệt đối của chỉ số nhân với 100% Xét về mặt lý thuyết, tỷ số này dao động từ 0 đến một bội số K nào đó, bội

số K lớn hay nhỏ tuỳ thuộc tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và thể chế chính sách BHXH tự nguyện, sự đóng góp trước đây vào quỹ BHXH

Ở Việt Nam chỉ số tác động của BHXH tự nguyện luôn lớn hơn 1 vì mức lương hưu thấp nhất cũng bằng lương tối thiểu theo quy định của Luật BHXH,

mà lương tối thiểu có xu hướng ngang bằng hoặc lớn hơn mức sống trung bình của dân cư

Trang 28

+ Mức độ bền vững về tài chính của hệ thống BHXH tự nguyện

Mức độ bền vững về tài chính của hệ thống BHXH tự nguyện là sự so sánh tổng chi và tổng thu trong từng năm hoặc trong kỳ kế hoạch về BHXH tự nguyện Nếu tổng chi nhỏ hơn tổng thu thì được coi là bền vững về tài chính, ngược lại tổng chi lớn hơn tổng thu thì được coi là thiếu tính bền vững về tài chính

Sự bền vững về tài chính của BHXH tự nguyện phụ thuộc vào mối quan

hệ giữa mức đóng và mức hưởng, thời gian đóng và thời gian hưởng, mức độ sinh lời từ đầu tư phần nhàn rỗi của quỹ, số lượng người tham gia

Công thức tính mức độ bền vững về tài chính của BHXH tự nguyện:

Trong đó:

I : Là chỉ số tài chính năm hay thời kỳ y Nếu It <1 thì tính bền vững của

hệ thống tài chính BHXH tự nguyện cao và ngược lại

y : Là tổng chi tài chính năm hay thời kỳ y

y : Là tổng thu tài chính năm hay thời kỳ y

Muốn biết tỷ lệ phần trăm thì lấy giá trị tuyệt đối của chỉ số nhân với 100% Chỉ số tài chính của BHXH tự nguyện phản ánh tính bền vững của BHXH

tự nguyện, thông qua đó phản ánh tính hợp lý của thể chế chính sách và thể chế tài chính Thông qua chỉ số tài chính cho phép người ta điều chỉnh thể chế chính sách, thể chế tài chính cho phù hợp với tình hình thực tế

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách BHXH tự nguyện

1.3.1 Các nhân tố vĩ mô

1.3.1.1 Các nhân t ố về đặc điểm kinh tế, xã hội

BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh tế - xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý, đặc biệt là với sự đồng

bộ, hoàn chỉnh của nền pháp chế nước đó Trong khi nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang hình thành, nhiều lĩnh vực

Trang 29

kinh tế - xã hội đang chuyển mạnh Vì vậy việc xây dựng và phát triển BHXH

tự nguyện phải đảm bảo chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có bước đi phù hợp

Sự phát triển của BHXH nói chung biểu hiện trên nhiều mặt: cơ cấu các

bộ phận của hệ thống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức trợ cấp, thời gian nghỉ việc để hưởng trợ cấp, mức đóng phí BHXH… Nếu không cân nhắc thận trọng và lựa chọn bước đi hợp lý sẽ có thể phát sinh trục trặc không thể kiểm soát được

Khả năng tham gia BHXH của người lao động phụ thuộc vào mối quan

hệ giữa phát triển kinh tế với chính sách BHXH ở tầm vĩ mô; mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển chính sách BHXH trong nội dung kinh tế của BHXH (tức là vấn đề kinh tế bảo hiểm) và khả năng đóng vào quỹ BHXH

của người lao động

- Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và chính sách BHXH được phản ánh trong mối quan hệ cơ bản nhất giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội

mà Đảng ta đã xác định Đó là: Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi cho phát triển xã hội; Ngược lại, phát triển xã hội là động lực, là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế, Mỗi chính sách kinh tế đều phải nhằm mục tiêu phát triển xã hội; Mỗi chính sách xã hội đều bao chứa nội

dung và ý nghĩa kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài

- Mối quan hệ phát triển kinh tế với chính sách BHXH, như là chính sách cơ bản của hệ thống chính sách xã hội, cần phải rất coi trọng nguyên tắc công bằng trong hoạch định chính sách BHXH để mọi người trong các khu vực, các thành phần kinh tế đều được có cơ hội tham gia BHXH, mặt khác chính sách đó lại phải phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ phát triển

Trang 30

- Kinh tế bảo hiểm, thì vấn đề cốt lõi nhất của mối quan hệ này là ở hình thành nguồn đóng BHXH Nguồn này được hình thành trong sản xuất kinh doanh (nếu là khu vực sản xuất kinh doanh), từ thu nhập của người lao động (nếu là khu vực phi chính thức) và từ ngân sách Nhà nước, mà chủ yếu

là thu từ thuế (nếu là khu vực hành chính sự nghiệp) Các nguồn này về thực chất đều liên quan đến bài toán về tài chính và hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp (khái niệm Doanh nghiệp ở đây theo nghĩa rộng, hợp tác xã phi nông nghiệp cũng được hiểu như là một chủ thể sản xuất kinh doanh), của người sản xuất cá thể, kinh tế hộ gia đình

1.3.1.2 Các nhân t ố về chính sách, chiến lược phát triển của Nhà nước

Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến chính sách BHXH tự nguyện tạo điều kiện cơ bản nhất để người lao động tham gia BHXH tự nguyện là phải có việc làm với giá trị cao và thu nhập cao, có tích lũy để có khả năng đóng BHXH tự nguyện Do vậy, chiến lược mở rộng độ bao phủ của BHXH tự nguyện phải gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế, chiến lược việc làm, xóa đói giảm nghèo và nhất là phối hợp với chương trình việc làm, chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia… Các chương trình này tập trung vào hỗ trợ người lao động khu vực phi chính thức học nghề, vay vốn tự tạo việc làm hoặc hỗ trợ tìm việc làm, xóa đói giảm nghèo Trong đó, về quan điểm cần

xã hội đối với cán bộ, công chức và các đối tượng xã hội khác

Trang 31

- Tăng cường các biện pháp chính sách thúc đẩy tạo thêm việc làm mới bao gồm khuyến khích đầu tư, kinh doanh, thành lập doanh nghiệp mới, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động; phát triển thị trường lao động; tăng cường cho vay giải quyết việc làm; duy trì mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm…

- Chính sách đối với doanh nghiệp, hộ gia đình… phải hoạt động có hiệu quả, phải có lãi và tích lũy để tái sản xuất (giản đơn và mở rộng), thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước và đóng đủ BHXH theo quy định Nhưng cái chốt, chìa khóa ở đây là khả năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch

vụ của doanh nghiệp, của hộ gia đình, trong cơ chế thị trường Muốn cạnh tranh doanh nghiệp, hộ gia đình, phải nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ chi phí sản xuất Bởi vậy, chi phí BHXH trong cơ cấu giá trị sản phẩm và dịch vụ không thể tách rời với các yếu tố chi phí khác của sản xuất và càng không thể quy định tùy tiện, mà phải được tính toán, cân đối chặt chẽ Nếu không sẽ trở thành gánh nặng không chịu nổi cho doanh nghiệp, cho hộ gia đình

Các chính sách thuế vừa là một công cụ phân chia phúc lợi, nhưng đồng thời cũng là một công cụ cải cách khu vực tư nhân Trên quan điểm hạn chế sự bất bình đẳng, mà vẫn khuyến khích tăng trưởng kinh tế, phân tích tác động các chính sách thuế hiện hành

BHXH tự nguyện hiện nay không có sự chia sẻ đóng góp giữa nhà nước và người lao động Tuy nhiên, nhà nước có vai trò bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết, nhất là trong các trường hợp rủi ro của Quỹ (do Nhà nước thay đổi chính sách, do lạm phát phi mó, khủng hoảng kinh tế…) để đảm bảo Quỹ không bị vỡ Quỹ có nguồn bổ sung từ sinh lời do kết quả hoạt động đầu tư là rất quan trọng Nguồn tiền sinh lời này đảm bảo cho quỹ tăng trưởng Tuy nhiên, Nhà nước phải quy định các hình thức đầu tư của quỹ để đảm bảo an toàn, có hiệu quả cao và thu hồi được khi cần thiết (đầu tư vào các lĩnh vực có

Trang 32

tỷ suất lợi nhuận cao và giá trị gia tăng cao) Muốn vậy, phải hình thành một

tổ chức chuyên kinh doanh đầu tư quỹ BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng Trong trường hợp để đảm bảo an toàn cho quỹ, tránh rủi ro trong đầu tư có thể áp dụng các biện pháp như mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của ngân hàng thương mại nhà nước; cho ngân hàng thương mại nhà nước vay; đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm quốc gia hoặc các hình thức đầu tư khác theo quy định của Chính phủ ưu tiên cho quỹ này tham gia

1.3.2 Các nhân tố vi mô

1.3.2.1 Nhân t ố thuộc về cơ quan BHXH

Cần phải có cơ chế quản lý, đầu tư bảo tồn và phát triển quỹ BHXH tự nguyện sao cho có hiệu quả Nhiều nước áp dụng biện pháp hạch toán theo tài khoản cá nhân để làm cơ sở tính lương hưu cho họ sau khi hết tuổi lao động

và đủ điều kiện về hưu hoặc nếu không đủ điều kiện nghỉ hưu thì trả trợ cấp một lần cho họ

Nhà nước cần hỗ trợ qua chính sách thuế, hoặc tổng quan hơn là các chính sách khuyến khích và hỗ trợ các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa Những biện pháp tổng thể nhằm khuyến khích khu vực tư nhân ở Việt Nam dường như chủ yếu hướng tới các doanh nghiệp lớn cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ Vì vậy, các cơ sở xuất kinh doanh vi mô cần phải được đặc biệt quan tâm Chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng một khuôn khổ chính thức để phát triển các cơ sở tài chính vi mô đang trong quá trình hình thành và các hộ xuất kinh doanh cá thể với quy mô rất nhỏ có thể là đối tượng được hưởng lợi từ biện pháp như vậy

1.3.2.2 Nhân t ố thuộc về đối tượng tham gia

Nhân tố quan trọng của việc nhiều người lao động chưa quan tâm hoặc

không muốn tham gia BHXH tự nguyện là họ chưa có hiểu biết, chưa thấy lợi

Trang 33

ích của việc tham gia BHXH tự nguyện và chưa tin tưởng vào hệ thống BHXH hiện nay Bên cạnh những nguyên nhân do việc làm, thu nhập thấp ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH tự nguyện ít còn có nguyên nhân lớn là

do nhận thức của người dân đối với BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng còn rất hạn chế Do đó, vấn đề đặt ra là phải tăng cường tuyên truyền để người lao động hiểu rõ về chính sách, chế độ BHXH tự nguyện, lợi ích của nó, cơ cấu tổ chức bộ máy của BHXH… để họ hiểu, tin tưởng và tự

nguyện tham gia Hình thức tuyên truyền có thể là:

- Tổ chức các cuộc tập huấn cho các báo cáo viên thuộc hệ thống tuyên giáo cấp cơ sở để họ tuyên truyền lại cho người dân;

- Tổ chức các lớp đào tạo về BHXH cho người lao động và cho người

- Đưa nội dung BHXH tự nguyện vào nội dung hoạt động của tổ chức

tư vấn pháp luật cho nông dân, người nghèo…

1.4 Kinh nghiệm về chính sách BHXH tự nguyện của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trên thế giới, đã có nhiều nước thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện, tuy nhiên mỗi nước có cách thức tổ chức thực hiện và chế độ riêng, phù hợp với đặc điểm của từng nước, sau đây là kinh nghiệm tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội

tự nguyện của một số nước:

1.4.1 Bảo hiểm xã hội cho nông dân ở Indonesia:

Người dân nông thôn chiếm đại đa số trong dân cư ở Indonesia và đa số trong số họ có thu nhập ở mức tối thiểu, thậm chí dưới mức tối thiểu Vì vậy

Trang 34

BHXH cho nông dân là một chương trình không thể thiếu trong phát triển nông nghiệp và nông thôn của Chính phủ Indonesia BHXH cho nông dân ở Indonesia gồm chăm sóc y tế, tuất, trợ cấp mất sức lao động và trợ cấp hưu Chăm sóc y tế bao gồm cả chăm sóc trong các trường hợp ốm đau, thai sản Đối tượng hưởng chăm sóc y tế không chỉ người lao động mà cả vợ/chồng và những người con phụ thuộc Chế độ thai sản chỉ áp dụng cho những nữ nông dân tham gia BHXH

Trợ cấp tuất áp dụng cho những người vợ góa và con nhỏ của người chết

và được thanh toán một lần

Trợ cấp hưu được áp dụng cho những người đã đạt đến độ tuổi nào đó (thông thường là 55 tuổi cho cả nam và nữ) và không còn khả năng làm việc Bảo hiểm hưu trí được thực hiện dưới dạng một hệ thống tiết kiệm Khi đến tuổi nghỉ hưu người nông dân mới được rút tiền ra (gồm cả phần lãi)

Mức đóng góp được thực hiện đồng nhất đối với mọi người tham gia BHXH, không phụ thuộc vào thu nhập cá nhân của họ Người nông dân có thể lựa chọn hình thức đóng góp 1 lần hoặc nhiều lần trong năm, tùy thuộc vào thời

vụ và thu nhập của họ Đối với những người làm công trong nông nghiệp, trừ chế độ hưu trí, các chế độ còn lại do chủ sử dụng phải đóng góp cho họ

Việc chi trả bảo hiểm được thực hiện thông qua các quầy của các Hợp tác

xã, hoặc thông qua thư ký hợp tác xã hoặc các trưởng thôn, trưởng làng

1.4.2 Bảo hiểm xã hội tự nguyện của Trung Quốc:

Bên cạnh việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, ở Trung Quốc

đã thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện thông qua 2 chương trình: chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung và bảo hiểm xã hội đối với nông dân

* Chương trình hưu trí bổ sung: được Chính phủ Trung Quốc thực hiện từ năm 1991 Đó là một hình thức bảo hiểm tự nguyện được bổ sung trong chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc nhằm đảm bảo cho người hưởng khi nghỉ hưu có mức trợ cấp cao hơn

Trang 35

Năm 1995, Bộ Lao động và bảo hiểm xã hội Trung Quốc đã ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình hưu trí bổ sung, trong đó quy định rõ quy trình và điều kiện để các doanh nghiệp tham gia đóng quỹ, theo đó chương trình hưu trí bổ sung dựa trên các nguyên tắc cơ bản, đó là:

- Phải có tài khoản cá nhân

- Quản lý quỹ theo định hướng kinh tế thị trường

- Mức đóng góp hoàn toàn tự nguyện theo sự thoả thuận của người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn của doanh nghiệp

Chính phủ tổ chức thực hiện chương trình hưu trí bổ sung và có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp và người lao động tham gia Trên cơ sở chính sách chung của quốc gia, mỗi địa phương cũng đã xây dựng chương trình riêng phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của mình, ví dụ:

* Ch ương trình hưu trí bổ sung ở Bắc Kinh:

Trên cơ sở những quy định chung của Quốc gia, Bắc Kinh đã xây dựng và thực hiện quỹ hưu trí bổ sung từ năm 1991

+ Đối tượng tham gia: Là những người đã tham gia chương trình hưu trí bắt buộc bao gồm người lao động ở khu vực thành thị làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, hợp tác xã, lao động

tự làm việc, lao động nông thôn di cư ra độ thị

+ Cơ chế đóng, hưởng:

- Không quy định mức đóng hay tỷ lệ đóng quỹ, mức đóng quỹ là tự nguyện, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, hoặc phúc lợi của doanh nghiệp Hình thức tham gia quỹ bổ sung cũng khá đa dạng, phần lớn các doanh nghiệp tham gia vào quỹ chung do cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện, một số doanh nghiệp

tự xây dựng quỹ hưu trí bổ sung của riêng mình, một số doanh nghiệp thực hiện thông qua việc mua bảo hiểm thương mại cho người lao động

- Mức hưởng của người lao động khi về hưu dựa trên cơ sở mức đóng được thể hiện bằng số tiền có trong tài khoản do doanh nghiệp và người lao động

Trang 36

đã đóng góp Hình thức hưởng cũng khá linh hoạt, người lao động có thể nhận một lần hoặc có thể nhận hàng tháng, tuỳ theo yêu cầu của người lao động Bắc Kinh có chủ trương khuyến khích các doanh nghiệp tham gia chương trình hưu trí bổ sung cho người lao động thông qua chính sách miễn giảm thuế (được trừ giảm tỷ lệ thuế phải đóng hàng năm)

* Ch ương trình bảo hiểm tự nguyện nông thôn

Bảo hiểm xã hội cho nông dân ở Trung Quốc được thực hiện thí điểm từ năm 1986 và đến năm 1992 được thực hiện đại trà ở gần 200 địa phương Sau đây là một số đặc điểm về chương trình bảo hiểm xã hội tự nguyện nông thôn tại Nam Kinh

Nam Kinh thực hiện chương trình bảo hiểm xã hội tự nguyện nông thôn (Nông bảo) từ năm 1992 Chương trình Nông bảo như một chương trình tiết kiệm cá nhân, có đối tượng tham gia là những lao động làm việc trong các hợp tác xã ở khu vực nông nông

Mức đóng hay tỷ lệ đóng của chương trình này do người lao động tự chọn Các hợp tác xã ở nông thôn Nam Kinh cũng khuyến khích người lao động tham gia quỹ và đóng góp với mức tương ứng của hợp tác xã

Phương thức đóng: Việc đóng góp của người lao động là tự nguyện, không hạn chế tuổi tác, có thể đóng nhiều lần và cũng có thể được đóng một lần, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của người lao động

Mức hưởng và phương thức hưởng: Người lao động được nhận trợ cấp khi

60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ Mức hưởng hàng tháng được xác định trên cơ sở lấy tổng số tiền đóng góp của hợp tác xã và người lao động trong tài khoản cá nhân chia cho 216 tháng (18 năm) Người lao động cũng có thể nhận một lần toàn bộ số tiền có trong tài khoản nếu mức nhận hàng tháng quá thấp

Trong quá trình đóng quỹ, người lao động có thể nhận lại số tiền đóng góp của mình trong các trường hợp như: phải di chuyển chỗ ở sang tỉnh khác hoặc có

lý do chính đáng nhưng chỉ được nhận lại số tiền do bản thân đóng góp còn phần của hợp tác xã không được nhận lại

Trang 37

Nam Kinh thực hiện chính sách khuyến khích thông qua lãi suất tài khoản

cá nhân được tính cao hơn so với lãi suất tiết kiệm Người lao động chỉ phải trừ chi phí quản lý 3% trong năm đầu đóng quỹ, từ năm thứ 2 không phải trừ chi phí nào khác Trong trường hợp thiếu chi phí quản lý sẽ được bổ sung từ ngân sách của địa phương

Bộ máy quản lý chương trình Nông bảo của tỉnh được chia thành 4 cấp, với chức năng, nhiệm vụ sau đây:

Cấp tỉnh: Có trách nhiệm xây dựng chương trình, ban hành cơ chế, chính sách chung của địa phương

Cấp huyện: Có trách nhiệm cụ thể hoá cơ chế, chính sách do tỉnh ban hành Cấp cơ sở (thị trấn): Thực hiện việc đăng ký tham gia quỹ Nông bảo đối với các hợp tác xã và người lao động

Cấp làng: Thực hiện công tác thu tiền đóng của hợp tác xã và người lao động Giữa các cấp có mối quan hệ rất chặt chẽ và thường xuyên có sự trao đổi, liên hệ với nhau trong công việc Nhờ đó đã góp phần thúc đẩy hoạt động của chương trình được đồng bộ

Qua thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân của Trung Quốc cho thấy, người nông dân với sự tham gia của các HTX đã có được sự đảm bảo nhất định trong cuộc sống Tuy nhiên, theo đánh giá, việc tham gia tự nguyện của người dân còn rất nhỏ, mức hưởng chưa đảm bảo cuộc sống, trong khi đó phần lớn nông dân Trung Quốc thu nhập còn thấp và không ổn định Nhưng việc thực hiện BHXH cho nông dân là chính sách quan trọng của Trung Quốc, góp phần hạn chế gia tăng dân số, đặc biệt là thay đổi được quan niệm truyền thống người già sống dựa vào con trai của Trung Quốc

1.4.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

- Thứ nhất, về sự cần thiết:

Không một nước nào cùng một lúc ban hành một chính sách bảo hiểm xã hội duy nhất để áp dụng chung cho đồng loạt mọi đối tượng lao động Sự ra đời,

Trang 38

phát triển và từng bước mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội phải phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta với thu nhập, quan hệ lao động, khả năng đóng góp khác nhau thì việc ban hành nhiều hình thức bảo hiểm xã hội theo đặc điểm từng loại đối tượng lao động là phù hợp với kinh nghiệm quốc tế

- Thứ hai, về đối tượng tham gia:

Rất nhiều nước trên thế giới đã thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện, đối tượng tham gia loại hình bảo hiểm này là những người nông dân, lao động trong nông nghiệp và lao động độc lập, những người chưa tham gia loại hình bảo hiểm bắt buộc Một số ít nước, cũng cho phép các đối tượng đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được tham gia loại hình tự nguyện, để tăng khả năng an toàn trong cuộc sống Như đã nêu ở trên, việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội

tự nguyện tự nguyện cần phải thực hiện thận trọng, từng bước Cần dự báo số lượng người tham gia (kể cả đối tượng tiềm năng, đối tượng khả thi và những rủi

ro có thể có) để điều chỉnh chính sách cho phù hợp

Tuỳ theo từng nước, nhưng đa số đối tượng của BHXH tự nguyện là mọi đối tượng kể cả đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc Thông thường ở các nước áp dụng đối với người lao động trong khu vực nông nghiệp, lao động trong khu vực phi kết cấu, lao động tự do Đối với những người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện áp dụng đối với những người có thu nhập vượt mức tiền lương trần tính tỷ lệ thu BHXH và những người có nguyện vọng muốn tham gia BHXH bổ sung Chẳng hạn ở Mỹ hầu hết lao động làm việc trong

bộ máy Nhà nước, các doanh nghiệp Nhà nước và một số hãng lớn vẫn tham gia

cả hai hình thức bắt buộc và tự nguyện để đảm bảo mức lương khi về hưu

- Thứ ba, về các chế độ bảo hiểm:

Tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước có thể thực hiện một hay một số các chế độ bảo hiểm Các chế độ được đa số các nước thực hiện theo thứ tự ưu tiên là bảo hiểm tuổi già (hưu trí), chế độ tử tuất, chế độ mất

Trang 39

sức lao động Có một số ít nước thực hiện cả chế độ bảo hiểm ốm đau và thai sản Việc mở rộng các chế độ bảo hiểm cũng cần phải được thực hiện thận trọng, từng bước

Tất cả các nước đều không áp dụng cả 9 chế độ theo Công ước 102 của

Tổ chứ Lao động quốc tế đối với BHXH tự nguyện Các chế độ được nhiều nước

áp dụng là trợ cấp tuổi già (trợ cấp hưu trí), trợ cấp mất người nuôi dưỡng (trợ cấp tuất) Ở một số nước còn áp dụng thêm chế độ chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau hoặc trợ cấp tai nạn lao động

- Thứ tư, về tài chính bảo hiểm:

Do đặc thù của các nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm tự nguyện đa số có thu nhập không ổn định, đặc biệt là lao động trong nông nghiệp và nông thôn thu nhập thường gắn với mùa vụ, nên các nước thực hiện rất linh hoạt về mức đóng và hình thức đóng bảo hiểm Mức đóng thường được áp dụng mức đồng nhất, tuỳ theo điều kiện của từng nơi, gắn với mức sống chung của dân cư và có điều chỉnh theo từng giai đoạn Có một số nước quy định nhiều mức đóng góp khác nhau để người tham gia có thể lựa chọn, phù hợp với điều kiện thu nhập của bản thân

Vì là bảo hiểm tự nguyện, nên việc đóng góp chủ yếu do người tham gia bảo hiểm đóng góp, nhưng ở một số nước, nhất là ở các nước phát triển, nhà nước hoặc hợp tác xã cũng có sự hỗ trợ cho quỹ bảo hiểm Đây là điều rất quan trọng để duy trì

sự hoạt động của hệ thống bảo hiểm với mục tiêu an sinh xã hội chung

Hình thức đóng góp có thể theo tháng hoặc theo quý hoặc 6 tháng một lần tuỳ theo điều kiện ở từng nơi

Mức hưởng bảo hiểm thường không gắn với thu nhập và dựa vào mức đóng và khả năng thanh toán của quỹ, nhưng không thấp hơn mức sống tối thiểu của dân cư Để được hưởng bảo hiểm tuổi già thì điều kiện tuổi đời là căn cứ để xem xét Tuổi nghỉ hưu của bảo hiểm tự nguyện ở các nước cũng tương tự như bảo hiểm bắt buộc hoặc thấp hơn không đáng kể, nhưng không cao hơn

Trang 40

Việc chi trả bảo hiểm rất linh hoạt có thể thông qua tài khoản cá nhân, thông qua hệ thống bưu điện hoặc thông qua đại diện hợp tác xã, đại diện thôn, xóm

- M ức đóng BHXH tự nguyện: Tính mềm dẻo trong BHXH tự nguyện

được các nước thực thi thông qua mức đóng góp Các nước đều áp dụng các mức đóng đa dạng để đáp ứng nhu cầu người tham gia, không giới hạn, không khống chế mức tối đa Riêng ở Mỹ, quỹ BHXH tự nguyện được hình thành từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động (đối với lao động làm thuê không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc) Mức đóng góp tối thiểu được quy định trong Luật BHXH và Luật thuế do Quốc hội ban hành, các mức khác

do người tổ chức BHXH tự nguyện quy định, được Bộ Lao động chấp thuận Luật cũng quy định những người nhân lương hưu cao cũng phải chịu thuế cho khoản lương hưu của họ

- M ức hưởng: ở một số nước áp dụng hai hình thức xác định mức

hưởng: (1) Trợ cấp xác định: mức trợ cấp được xác định theo số năm đóng góp, tỷ lệ đóng góp; (2) Mức đóng góp xác định theo hình thức tài khoản cá nhân: trợ cấp xác định theo số tiền đóng góp và hiệu quả tăng trưởng, không quy định trước tỷ lệ hưởng Số tiền đóng góp của người lao động, lãi thu được

từ đầu tư được thông báo hàng năm đồng thời thông báo mức trợ cấp sẽ được nhận theo số tiền đóng góp tương ứng Người lao động có quyền xem xét quá trình đầu tư số tiền của mình Mức trợ cấp theo dạng này không cố định, phụ thuộc vào đóng góp của người lao động và hiệu quả đầu tư Người lao động

có quyền lựa chọn nhận trợ cấp một lần, hàng tháng Chẳng hạn ở Mỹ, hiện nay một nửa số lao động tham gia BHXH đang ở dạng xác định trợ cấp và một nửa ở dạng xác định mức đóng, nhưng xu hướng đang chuyển dần sang mức đóng góp Người tham gia BHXH tự nguyện có quyền thừa kế quyền BHXH của mình cho người khác

Ngày đăng: 20/06/2016, 21:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam - IOS Partners (2005), Báo cáo kết quả điều tra nhu cầu và khả năng tham gia bảo hiểm xã hội của lao động khu vực phi chính thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo k"ế"t qu"ả đ"i"ề"u tra nhu c"ầ"u và kh"ả "n"ă"ng tham gia b"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i c"ủ"a lao "độ"ng khu v"ự"c phi chính th"ứ"c
Tác giả: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam - IOS Partners
Năm: 2005
2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2007), Điều tra hộ gia đình khu vực phi chính thức tại 12 tỉnh, thành phố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: i"ề"u tra h"ộ" gia "đ"ình khu v"ự"c phi chính th"ứ"c t"ạ"i 12 t"ỉ"nh, "thành ph
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2007
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Bảo hiểm xã hội các nước trên thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i các n"ướ"c trên th"ế" gi"ớ"i
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2008
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện bảo hiểm xã hội giai đoạn 2012-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo "đ"ánh giá tình hình th"ự"c hi"ệ"n b"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i giai "đ"o"ạ"n 2012-2015
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2008
5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2013), Báo cáo quyết toán năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quy"ế"t toán n"ă"m 2013
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2013
6. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2014), Báo cáo quyết toán năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quy"ế"t toán n"ă"m 2014
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2014
7. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2012), Báo cáo tình hình thực hiện Luật bảo hiểm xã hội 2007- 2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình th"ự"c hi"ệ"n Lu"ậ"t b"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i 2007-"2011
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2012
8. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Ngân hàng Thế giới (2007), Khảo sát về triển vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Kiến nghị chính sách, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kh"ả"o sát v"ề" tri"ể"n v"ọ"ng "tham gia b"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i t"ự" nguy"ệ"n cho khu v"ự"c phi chính th"ứ"c "ở" Vi"ệ"t Nam: Ki"ế"n ngh"ị "chính sách
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Ngân hàng Thế giới
Năm: 2007
9. Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2002) (2006) Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B"ộ" lu"ậ"t Lao "độ"ng c"ủ"a n"ướ"c C"ộ"ng hòa xã h"ộ"i ch"ủ" ngh"ĩ"a Vi"ệ"t Nam (s"ử"a "đổ"i, b"ổ" sung n"ă"m 2002)
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
10. Chính phủ (2007), Nghị định số 190/2007/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngh"ị đị"nh s"ố" 190/2007/N"Đ"-CP h"ướ"ng d"ẫ"n m"ộ"t s"ố đ"i"ề"u c"ủ"a Lu"ậ"t b"ả"o hi"ể"m "xã h"ộ"i v"ề" b"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i t"ự" nguy"ệ"n
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
11. Chính phủ, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: nh h"ướ"ng chi"ế"n l"ượ"c phát tri"ể"n b"ề"n v"ữ"ng "ở" Vi"ệ
12. Mai Ngọc Cường (Chủ nhiệm đề tài), Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2007-2015, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C"ơ" s"ở" khoa h"ọ"c c"ủ"a vi"ệ"c xây d"ự"ng, hoàn thi"ệ"n h"ệ" th"ố"ng "chính sách an sinh xã h"ộ"i "ở" n"ướ"c ta giai "đ"o"ạ"n 2007-2015
13. Nguyễn Hữu Dũng (1999), "Bảo hiểm xã hội cho lao động nông thôn", Bảo hiểm xã hội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội cho lao động nông thôn
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 1999
14. Trần Công Dũng (2007), "Một số vấn đề về quyền lựa chọn và khả năng kết nối của loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện", Bảo hiểm xã hội, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền lựa chọn và khả năng kết nối của loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện
Tác giả: Trần Công Dũng
Năm: 2007
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: V"ă"n ki"ệ"n "Đạ"i h"ộ"i "đạ"i bi"ể"u toàn qu"ố"c l"ầ"n th"ứ" X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Bùi Văn Hồng (Chủ nhiệm đề tài) (2002), Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên c"ứ"u m"ở" r"ộ"ng "đố"i t"ượ"ng tham gia b"ả"o hi"ể"m "xã h"ộ"i "đố"i v"ớ"i ng"ườ"i lao "độ"ng t"ự" t"ạ"o vi"ệ"c làm và thu nh"ậ"p
Tác giả: Bùi Văn Hồng (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2002
18. Hồ Xuân Hùng (1999), "Bảo hiểm xã hội cho nông dân là cần thiết trong tình hình hiện nay", Bảo hiểm xã hội, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội cho nông dân là cần thiết trong tình hình hiện nay
Tác giả: Hồ Xuân Hùng
Năm: 1999
19. Luật Bảo hiểm xã hội và những quy định pháp luật hiện hành về chế độ bảo hiểm xã hội (2006), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lu"ậ"t B"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i và nh"ữ"ng quy "đị"nh pháp lu"ậ"t hi"ệ"n hành v"ề" ch"ế độ" b"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i
Tác giả: Luật Bảo hiểm xã hội và những quy định pháp luật hiện hành về chế độ bảo hiểm xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2006
20. Kiều Văn Minh (Chủ nhiệm đề tài) (2003), Giải pháp mở rộng đối tượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gi"ả"i pháp m"ở" r"ộ"ng "đố"i t"ượ"ng lao "độ"ng tham gia "b"ả"o hi"ể"m xã h"ộ"i khu v"ự"c kinh t"ế" t"ư" nhân theo "đườ"ng l"ố"i "đổ"i m"ớ"i c"ủ"a "Đả"ng và Nhà n"ướ"c
Tác giả: Kiều Văn Minh (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ phân cấp quản lý với đối tượng tham gia BHXH tự nguyện - Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở việt nam
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ phân cấp quản lý với đối tượng tham gia BHXH tự nguyện (Trang 58)
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ phân cấp quản lý BHXH tự nguyện - Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở việt nam
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ phân cấp quản lý BHXH tự nguyện (Trang 58)
Bảng 2.1: Số người tham gia BHXH tự nguyện qua các năm - Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở việt nam
Bảng 2.1 Số người tham gia BHXH tự nguyện qua các năm (Trang 62)
Bảng 2.3. Thống kê thu BHXH tự nguyện theo địa phương năm 2014 - Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở việt nam
Bảng 2.3. Thống kê thu BHXH tự nguyện theo địa phương năm 2014 (Trang 65)
Bảng 2.4: Tỷ trọng lao động tham gia BHXH tự nguyện trong lực lượng lao động - Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở việt nam
Bảng 2.4 Tỷ trọng lao động tham gia BHXH tự nguyện trong lực lượng lao động (Trang 66)
Bảng 2.7: Tổng số Thu/Chi/Đối tượng hưởng BHXH tự nguyện từ 2012 – 2015  STT  Nội Dung  Năm 2012  Năm 2013  Năm 2014  Ước 2015 - Giải pháp hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện ở việt nam
Bảng 2.7 Tổng số Thu/Chi/Đối tượng hưởng BHXH tự nguyện từ 2012 – 2015 STT Nội Dung Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Ước 2015 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w