Có thể hiểu, quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói một cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
HỨA HẢI QUANG
HÀ NỘI – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
HỨA HẢI QUANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
tư liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của Luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hứa Hải Quang
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Vũ Văn Cương đã tận
tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô giáo trong 2 năm học đã đem lại cho tôi những kiến thức vô cùng có ích để tôi vận dụng trong quá trình nghiên cứu của mình Xin cám ơn Ban Giám Hiệu Khoa sau đại học Viện Đại Học Mở
Hà Nội Đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thiện luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn của mình
Trang 51.1.1 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 5 1.1.2 Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu 8
1.2 Những vấn đề chung về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu 11
1.2.1 Khái niệm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu 11 1.2.2 Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về thủ tục hải quan 14 1.2.3 Cấu trúc pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 16 1.2.4 Những yếu tố chi phối đến pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu 18
1.3 Kinh nghiệm và xu hướng đổi mới hoạt động quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở một số nước trên thế giới 24
1.3.1 Kinh nghiệm của Singapore trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 24 1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 26 1.3.3 Kinh nghiệm của Đài Loan trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 27 1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong việc hoàn thiện pháp luật quản
lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
Trang 6Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP
LUẬT QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM 31
2.1 Đánh giá chung về hệ thống các quy phạm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 31
2.2 Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay 33
2.2.1 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu 33
2.2.2 Thủ tục hành chính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 36
2.2.3 Quản lý thông tin người nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 51
2.2.4 Kiểm tra thuế, thanh tra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 55
2.2.5 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 62
2.2.6 Cưỡng chế nợ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM 67 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu 67
3.1.1 Đảm bảo sự phù hợp với các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước 68
3.1.2 Đảm bảo yêu cầu, mục tiêu của hoạt động quản lý thuế nói chung và quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng 70
3.1.3 Đảm bảo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 71
3.2 Các giải pháp hoàn thiện nội dung quy định pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 72
3.2.1 Đối với các quy định về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu 73
3.2.2 Đối với các quy định về thủ tục hành chính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 75
3.2.3 Đối với các quy định về quản lý thông tin người nộp thuế 76
3.2.4 Đối với các quy định về kiểm tra thuế, thanh tra thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 77
3.2.5 Đối với các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 78
Trang 73.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam 79
3.3.1 Nhóm giải pháp tạo lập và nuôi dưỡng nguồn thu 79 3.3.2 Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ công chức Hải quan 80 3.3.3 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về hải quan 82 3.3.4 Triển khai ứng dụng mạnh mẽ kỹ thuật hiện đại phục vụ công tác quản lý thuế XNK 83 3.3.5 Tăng cường công tác chống buôn lậu, chống gian lận thương mại, thanh tra, kiểm tra sau thông quan 84 3.3.6 Tăng cường phối kết hợp với chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan chức năng trên địa bàn để quản lý và chống thất thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 86 3.3.7 Tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ nhận thức cho đối tượng nộp thuế chấp hành tốt nghĩa vụ nộp thuế XNK 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87 KẾT LUẬN 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất kỳ một chế độ xã hội nào, thuế luôn là một công cụ tạo dựng nguồn tài chính chủ yếu để phục vụ nhu cầu chi tiêu của quốc gia Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là những sắc thuế có ý nghĩa quan trọng, vừa là nguồn động viên ngân sách quốc gia, vừa là công cụ để điều tiết sản xuất trong nước, đồng thời cũng là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế trong nước và thương mại quốc tế phát triển
Với tốc độ hội nhập quốc tế nhanh chóng và sâu rộng, hoạt động XNK trở nên năng động hơn và có ảnh hưởng to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế - chính trị - xã hội của Việt Nam Các luồng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, kim ngạch XNK tăng mạnh, hàng hóa và dịch vụ trong XNK ngày càng trở nên đa dạng hơn, số thu thuế đối với hàng hóa XNK ngày một tăng, năm sau cao hơn năm trước Bên cạnh đó, cùng với yêu cầu của xu thế hội nhập quốc tế, là yêu cầu cần phải nhanh chóng triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác quản
lý để nâng cao hiệu quả, đáp ứng yêu cầu hiện đại thế giới Ngành Hải quan - cơ quan được trao nhiệm vụ “ Tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu” (Điều 11 Luật Hải quan) cũng đang trong quá trình triển khai hiện đại hóa các thủ tục hải quan Theo đó, công tác quản lý thu thuế của ngành cũng có những bước cải tiến nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ cho NSNN nhưng vẫn tạo thuận lợi cho doanh nghiệp XNK
Để phát huy tối đa vai trò của TXK, TNK, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý TXK, TNK để đáp ứng yêu cầu mới của sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, khi xem xét hệ thống pháp luật thuế nói chung và các quy định pháp luật về quản lý TXK, TNK nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện thông qua việc các quy định còn bất cập, chồng chéo, gây khó khăn cho các chủ thể trong hoạt động XNK Thực tế áp dụng cho thấy tình trạng trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế vẫn còn nhiều trong khi Nhà nước chưa có biện pháp nào tỏ ra thực sự hiệu quả để giải quyết các vấn đề này
Trang 9Xuất phát từ những lý do nêu trên, việc tìm hiểu thực trạng các quy định pháp luật quản lý TXK, TNK, tình hình thực thi pháp luật quản lý TXK, TNK ở Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý TXK, TNK dường như là một yêu cầu hoàn toàn khách quan Đó cũng chính là lý do tôi đã lựa chọn đề
tài: “Hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam” làm đề tài cho luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài tìm hiểu về nội dung sắc TXK, TNK là một đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả cả ở phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, nghiên cứu về pháp luật quản lý TXK, TNK trên phương diện chuyên sâu trong lĩnh vực này thì chưa có nhiều
Trong chuyên ngành kinh tế có một số công trình nghiên cứu về quản lý
thuế như: “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ
thu ế của doanh nghiệp”- Nguyễn Thị Lệ Thuý, Luận án tiến sỹ kinh tế (2009), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội; “Cơ chế tự khai, tự nộp thuế và những
v ấn đề đặt ra ở Việt Nam” của TS Nguyễn Văn Hiệu - TS Nguyễn Việt Cường, NXB Tài Chính, HN, 2007
Trong khoa học pháp lý chuyên ngành có một số luận văn và luận án đã có
đề cập đến vấn đề quản lý TXK, TNK dưới giác độ nghiên cứu toàn bộ quá trình quản lý thuế nói chung, chẳng hạn như: Luận án tiến sĩ Luật học (2012) của Vũ Văn
Cương: “Pháp luật Quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – Những
v ấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thùy Liên:
“Hoàn thiện công tác Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế ở Việt Nam hiện nay” năm 2012; Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thu Hồng: “Pháp luật quản lý nợ thuế ở Việt Nam –
th ực trạng và giải pháp” năm 2013; Luận văn thạc sỹ luật học “Đổi mới và hoàn
thi ện pháp luật về thuế ở Việt Nam’’ của tác giả Trần Trung Nhân
Ngoài ra, có một số bài viết nghiên cứu trên báo, tạp chí liên quan đến quản
lý TXK, TNK như bài viết: “Các nguyên tắc của pháp luật thuế và mô hình cấu
trúc c ủa hệ thống pháp luật thuế” của TS Nguyễn Văn Tuyến đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2008; “Thông tin về người nộp thuế trong luật quản lý
thu ế ở nước ta hiện nay” của ThS.Vũ Văn Cương đăng trên Tạp chí Luật học số
Trang 104/2009; “Luật quản lý thuế và những vấn đề cần bàn thêm” của TS Nguyễn Thị Thương Huyền Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 19/2008, (tr 51 – 55) Hoặc “Về
b ảo vệ quyền của người nộp thuế trong Luật Quản lý thuế” của TS Nguyễn Thị Lan Hương Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Tập 29, (số 1);, “Một vài
v ấn đề về hiệu quả của Luật Quản lý thuế trong vai trò bảo đảm ổn định nguồn thu
NSNN trong giai đoạn kinh tế hiện nay ở Việt Nam”, của Th.S Nguyễn Đức Ngọc,
Chuyên đề, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (2007), Trường Đại học Luật Hà
Nội “Pháp luật kiểm tra, thanh tra thuế ở Việt Nam”, của Th.S Vũ Ngọc Hà-Th.S
Vũ Văn Cương, Tạp chí Luật học Số 04 (107)/2009, Tr 13-22; “Báo cáo về chấp
hành các v ăn bản quy phạm pháp luật trong quản lý và thu thuế giai đoạn 2011 –
2014 c ủa ngành hải quan” của Tổng cục Hải quan – Bộ Tài chính, ngày 17 tháng 4
năm 2015
Các công trình nghiên cứu trên phần nhiều đề cập đến một khía cạnh trong công tác quản lý thuế nói chung mà chưa đề cập chuyên sâu, có hệ thống về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu nói chung và pháp luật quản lý thuế xuất nhập khẩu nói riêng
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của Luận văn là đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về các vấn đề quản
lý TXK, TNK và pháp luật quản lý thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu; thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng về vấn đề này Trên cơ sở đó có sự so sánh, đối chiếu pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam qua các thời kỳ, so sánh đối chiếu pháp luật về quản lý TXK, TNK ở Việt Nam với pháp luật nước ngoài, các Cam kết quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia
có liên quan Đồng thời Luận văn cũng đưa ra một số ý kiến đóng góp, kiến nghị với hy vọng góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK ở Việt Nam
Với mục đích như trên, Luân văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về TXK, TNK; quản lý TXK, TNK và pháp luật quản lý TXK, TNK, xác định luận cứ cho việc đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý TXK, TNK
Trang 11- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật của Việt Nam trong lĩnh vực quản lý TXK, TNK cũng như thực tiễn thi hành các quy định pháp luật quản lý TXK, TNK để từ đó chỉ ra những khó khăn, hạn chế của hoạt động quản lý TXK, TNK ở Việt Nam
- Đóng góp những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện các biện pháp bảo đảm thực thi có hiệu quả pháp luật quản lý TXK, TNK
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cở sở phương pháp luận các quan điểm của triết học Mác- Lênin về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, chính sách của nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả sử dụng phương pháp so sánh bằng cách đối chiếu từng giai đoạn lịch sử phát triển, đối chiếu với pháp luật nước ngoài, cam kết quốc tế liên quan; phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu từ các báo cáo định kỳ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đánh giá một cách chính xác, khách quan thực trạng quản lý
nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK
5 Kết của của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có
3 chương sau đây:
Ch ương 1: Những vấn đề chung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp
luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Ch ương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
Ch ương 3: Phương hướng và các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
1.1 Những vấn đề chung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.1.1.1 L ịch sử phát triển của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
TXK, TNK có tên gọi chung mà các nước thường dùng là thuế quan Thuế quan là một biện pháp tài chính mà các nước dùng để can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán, trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các quốc gia
Thuế quan ra đời vào thời kỳ cổ đại, tồn tại và phát triển cho đến ngày nay Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, thái độ đối với sử dụng thuế quan trong quá trình phát triển quan hệ ngoại thương, buôn bán giữa các quốc gia cũng có những đặc điểm khác trong từng giai đoạn lịch sử
Vào buổi bình minh của chủ nghĩa tư bản, được khuyên khích bởi các học thuyết kinh tế thuộc trào lưu tự do kinh tế, người ta cho rằng thuế quan là một cản trở lớn cho quá trình phát triển kinh tế và đấu tranh đòi xoá bỏ hàng rào thuế quan
Bước vào giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, hầu hết các nước đế quốc đều sử dụng thuế quan như một công cụ quan trọng trong chính sách ngoại thương
để giành lấy ưu thế trong lĩnh vực buôn bán Hàng rào thuế quan mới dựng lên, nhưng không phải bảo hộ cho nền sản xuất yếu kém trong nước mà để trợ giúp cho các ngành có thế lực mang tính chất độc quyền
Ở thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thuế quan được coi là công cụ quan trọng của Nhà nước dùng để điều chỉnh hoạt động ngoại thương Sự mất cân đối kinh tế của các nước tham chiến và sự tan rã của việc buôn bán quốc tế sau chiến tranh, đặc biệt là cuộc khủng khoảng kinh tế vào những năm 30, người ta cảm thấy chỉ sử dụng riêng rẽ thuế quan không đủ sức điều chỉnh quá trình hoạt động
Trang 13ngoại thương Vì vậy, Nhà nước của các quốc gia đó còn kết hợp hàng rào thuế quan với các công cụ khác như hạn mức ngoại tệ trong thanh toán, hạn ngạch xuất, nhập khẩu, quy định danh mục hàng hoá XNK,
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự phát triển tương đối nhanh chóng nền kinh tế của các nước phát triển đã đưa đến sự ổn định trong buôn bán quốc tế và sự
ra đời hệ thống tiền tệ thế giới Trong xu thế đó, hầu hết các nước dần dần từ bỏ các biện pháp quản lý hành chính trong hoạt động ngoại thương, hạ thấp hoặc xoá bỏ hàng rào thuế quan (ở các nước tham gia hiệp định GATT) Còn đối với các nước đang phát triển, công cụ thuế quan vẫn được chú trọng Điều này xuất phát từ hai lý
do chủ yếu Một là, nền công nghiệp của các nước đang phát triển còn yếu chưa đủ khả năng cạnh tranh Hai là, nguồn tài chính của các nước này eo hẹp, trong khi nhu
cầu chi tiêu ngày càng lớn
Tóm lại, tuỳ theo tình hình kinh tế, chính trị của thế giới và mỗi nước, ở từng giai đoạn khác nhau, thái độ sử dụng thuế quan ở mỗi nước có những điểm khác nhau Xu hướng chung khi nền kinh tế phát triển, khả năng cạnh tranh lớn thì hàng rào thuế quan không được coi trọng Đặc biệt đối với các nước có nền kinh tế phát triển thì mục tiêu bảo hộ nền sản xuất trong nước bằng công cụ thuế quan ít được đặt ra
1.1.1.2 Định nghĩa thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Có nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa TXK, TNK, tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận
Xét về phương diện kinh tế, TXK, TNK được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của tổ chức, cá nhân vào NSNN theo quy định của pháp luật, khi họ có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một nước Với cách tiếp cận này, TXK, TNK được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là Nhà nước Mặt khác, TXK, TNK còn có thể được hiểu là đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế để Nhà nước điều tiết đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm
vi mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm
vi khu vực và toàn cầu
Trang 14Xét về phương diện pháp lý, TXK, TNK có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa Nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hành thu TXK, TNK Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật TXK, TNK do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các tổ chức, cá nhân là người nộp thuế Việc tiếp cận định nghĩa TXK, TNK từ góc độ pháp lý có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta nhận diện rõ hơn về bản chất của thuế nói chung và TXK, TNK nói riêng, thực chất là một quyết định hành chính đơn phương của quốc gia với người đóng thuế, hay là một “thỏa thuận” song phương giữa người thu thuế và người nộp thuế? Trên cơ sở lý thuyết đó, giúp cho Nhà nước hoạch định và thực thi chính sách thuế TXK, TNK phù hợp hơn với quyền lợi của quốc gia và người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với các quốc gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế [43,tr.59]
Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là
m ột yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa; do các tổ chức, cá nhân XNK hàng hóa
thu ộc đối tượng chịu thuế, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp cho Nhà nước
theo lu ật định
1.1.1.3 Các đặc trưng cơ bản của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
So với các loại thuế nội địa thì thuế TXK, TNK có nhiều điểm khác biệt Những khác biệt này có nguồn gốc sâu xa từ bản chất và chức năng của TXK, TNK Các đặc trưng này bao gồm:
Th ứ nhất, TXK, TNK có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận
chuyển qua biên giới [43,tr.61] Khái niệm “hàng hóa” là đối tượng chịu TXK, TNK có thể hiểu theo nghĩa thông thường, bao gồm các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng do con người sản xuất ra và được lưu thông trên thị trường bằng cách chuyển vào hoặc chuyển ra khỏi biên giới của một nước
Th ứ hai, TXK, TNK là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương Hoạt động ngoại thương giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, tuy nhiên, hoạt động này đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ
Trang 15của Nhà nước TXK, TNK là một công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm kiểm soát hoạt động ngoại thương thông qua việc kê khai, kiểm tra, tính thuế đối với hàng hóa XNK
Th ứ ba, TXK, TNK chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố quốc tế như: sự
biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế [20,tr.57] …TXK, TNK điều chỉnh vào hoạt động XNK hàng hóa của một quốc gia Sự biến động của kinh
tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa XNK của các quốc gia, nhất là trong xu thế tự do hóa thương mại, mở cửa
và hội nhập kinh tế như hiện nay Từ đó, các yếu tố quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chính TXK, TNK của từng quốc gia Để đạt những mục tiêu đặt ra, đòi hỏi chính sách thuế phải có tính linh hoạt cao, có sự thay đổi phù hợp tùy theo sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế, ngoài ra chính sách TXK, TNK còn phải đảm bảo phù hợp với hiệp định, cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết, tham gia
1.1.2 Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu
1.1.2.1 Định nghĩa của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những lĩnh vực quản lý thuế chuyên ngành Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý TXK, TNK trước hết cần tiếp cận khái niệm quản lý thuế
Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có nhà nước và gắn với quyền lực nhà nước Quản lý thuế trước hết và quan trọng nhất thuộc trách nhiệm của nhà nước cho nên người ta thường quan niệm quản lý thuế là quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế
Điều 3 Luật Quản lý thuế hiện hành của Việt Nam liệt kê các nội dung quản
lý thuế gồm: “Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế,
mi ễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp
thu ế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế;
x ử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế” Có thể hiểu,
quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói một cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể là hệ thống cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế của Nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định theo nghĩa rộng
Trang 16Từ định nghĩa quản lý thuế nói trên, chúng ta có thể rút ra định nghĩa quản lý TXK, TNK Xét theo nghĩa rộng, quản lý TXK, TNK có thể được hiểu là quản lý nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK là việc nhà nước tác động có tổ chức và bằng pháp luật đối với các quá trình kinh tế xã hội và hành vi của con người nhằm thực hiện các mục tiêu chung thông qua công cụ thuế quan
Còn xét trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm quản lý TXK, TNK được hiểu theo nghĩa hẹp là việc cơ quan Hải quan sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các quy định TXK, TNK đối với hàng hoá XNK
1.1.2.2 Vai trò c ủa quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Th ứ nhất, đảm bảo nguồn thu cho NSNN:
Quản lý nhà nước đối với TXK, TNK nhằm đảm bảo nguồn TXK, TNK được đầy đủ, chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định cho NSNN
Nguồn thu TXK, TNK luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu ngân sách quốc gia Đảm bảo nguồn thu từ TXK, TNK là vai trò quan trọng hàng đầu của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nhà nước cần phải tăng thu TXK, TNK bằng mọi giá Một tỉ lệ thu TXK, TNK hợp
lý và ổn định sẽ vừa kích thích nền kinh tế phát triển, hiệu quả vừa đảm bảo nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước Vì vậy, vai trò đảm bảo nguồn thu TXK, TNK là một trong những vai trò quan trọng Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với xu thế hội nhập và cắt giảm thuế quan thì nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ngày càng giảm, vì vậy việc quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu và đảm bảo nguồn thu là rất khó
Th ứ hai, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu:
Kiểm soát hàng hóa XNK là mục tiêu chủ chốt của mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế tự do hóa thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới Thông qua việc quản lý thu TXK, TNK cơ quan nhà nước sẽ quản lý được số lượng, loại hàng hóa thực XNK, từ đó kiểm soát được tất cả hàng hóa xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng để Nhà nước đưa ra chính sách pháp luật phù hợp đối với hoạt động XNK cho phép xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào, cấm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào
Th ứ ba, bảo hộ sản xuất trong nước:
Trang 17Quản lý nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK còn có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ sản xuất trong nước Nhà nước sẽ sử dụng công cụ TXK, TNK theo hướng có lợi cho nền kinh tế Thông qua các chính sách đối với hàng hóa XNK, Nhà nước tác động vào giá cả hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa, làm giảm khả năng cạnh tranh đối với hàng hóa được sản xuất trong nước Và để thay thế, người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng hàng hoá trong nước sản xuất Bảo hộ sản xuất trong nước nhằm hỗ trợ nền sản xuất phát triển, tạo công ăn việc làm và nguồn thu nội địa Bảo hộ cũng làm giảm tính cạnh tranh, lãng phí nguồn lực gây thiệt hại cho người tiêu dùng Chính vì vậy việc lựa chọn ngành nghề bảo hộ, thời gian bảo
hộ phù hợp là điều vô cùng quan trọng Tuy nhiên, về lâu dài thì đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế mới là yếu tố quyết định
Th ứ tư, hạn chế tối đa hành vi vi phạm pháp luật về thuế:
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK có vai trò trong việc hạn chế tối
đa các hành vi trốn thuế, gian lận thuế, các hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, hành vi buôn lậu Đồng thời quản lý nhà nước cũng làm tăng cường
sự tuân thủ pháp luật thuế, bởi tính tuân thủ cao cũng là một trong những biểu hiện của hệ thống thuế phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội
Th ứ năm, thực hiện các chính sách đối ngoại của Nhà nước:
Một trong những vai trò không kém phần quan trọng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK là việc thực hiện các chính sách đối ngoại của Nhà nước Đây là một biện pháp quản lý tiến bộ thay vì sử dụng những biện pháp phi thuế quan như cấm nhập khẩu Trong điều kiện hiện nay, để thực hiện điều chỉnh cơ cấu XNK theo định hướng phát triển kinh tế xã hội thì Nhà nước sẽ sử dụng công cụ thuế quan theo hướng có lợi cho nền kinh tế là một chính sách phù hợp, góp phần cân bằng cán cân thương mại và ổn định được cán cân thanh toán quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với rất nhiều nước và vùng lãnh thổ, tham gia nhiều hiệp định thương mại, là thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Để xác định mức độ chịu thuế của các hàng hóa khác nhau, mỗi nước đều xây dựng một biểu thuế quan Biểu thuế quan là một bảng tổng hợp quy định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh
Trang 18vào các loại hàng hóa chịu thuế khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu Biểu thuế quan có thể được xây dựng dựa trên phương pháp tự định hoặc phương pháp thương lượng giữa các quốc gia Vì vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK có vai trò
quan trọng trong việc thực hiện chính sách đối ngoại với từng quốc gia
1.2 Những vấn đề chung về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Trên thế giới hiện nay, hệ thống pháp luật thuế ở các quốc gia được thiết kế
có cấu trúc khác nhau Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ Trong bộ luật này, nhà làm luật vừa quy định về nội dung cụ thể của các sắc thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình
tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế và cả xử lý vi phạm, giải quyết các tranh chấp về thuế Ngược lại, có những nước lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi sắc thuế được ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính tương thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một đạo luật riêng biệt với các đạo luật quy định sắc thuế, cách làm này đang là một xu hướng chung của nhiều nước Giải pháp này được đánh giá là thích hợp hơn với điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, vì nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh các quy định trong các đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn, so với việc đưa tất cả các quy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế
Theo TS.Nguyễn Văn Tuyến: “Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật
thu ế nói chung của các nước đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm:
- Các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế;
- Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành
thu) h ệ thống thuế Các quy định này thường được quan niệm như là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục
hành thu thu ế và quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp
v ề thuế Hiểu theo nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể được gói gọn trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tùy
thu ộc vào quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ
lu ật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo luật về
qu ản lý thuế.” [47]
Trang 19Như vậy, pháp luật quản lý thuế là một bộ phận quan trọng trong pháp luật thuế ở các quốc gia, là công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để thực hiện công tác quản lý thuế Pháp luật quản lý thuế điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý thuế của Nhà nước, hay nói cách khác là các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế
Từ đó, chúng ta có thể định nghĩa pháp luật quản lý TXK, TNK như sau:
Pháp lu ật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một bộ phận của pháp luật
qu ản lý thuế quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế, cơ
quan qu ản lý TXK, TNK và các chủ thể liên quan đến quản lý thuế; quy định trình
t ự, thủ tục, cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện các qui định pháp luật về
TXK, TNK.
Các quan hệ mà pháp luật quản lý TXK, TNK điều chỉnh khá đa dạng Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ thì pháp luật quản lý TXK, TNK điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế (cơ quan Hải quan) với người nộp thuế phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế liên quan đến hoạt động XNK (thuế XK, NK; thuế giá trị gia tăng; thuế bảo vệ môi trường )
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế (cơ quan Hải quan) với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế XK, NK Nhóm quan hệ này chủ yếu liên quan đến việc cung cấp thông tin về người nộp thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong việc tuyên truyền, hỗ trợ và trong cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế
- Quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế (cơ quan Hải quan) Nhóm quan hệ này liên quan đến việc tổ chức bộ máy quản lý thuế (cơ quan Hải quan) và phân định, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan, bộ phận trong hệ thống cơ quan quản lý thuế (cơ quan Hải quan)
Căn cứ vào nội dung hoạt động quản lý thuế XK, NK; pháp luật quản lý thuế
XK, NK điều chỉnh các quan hệ về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Trang 20Qua nghiên cứu thực tiễn luật pháp nước ta cho thấy việc xây dựng pháp luật quản lý thuế nói chung và quản lý TXK, TNK nói riêng có hai xu hướng:
Một là, các vấn đề về quản lý TXK, TNK được ghi nhận trong các Luật
TNK Ở nước ta trước khi có Luật Quản lý thuế, pháp luật quản lý TXK, TNK được xây dựng theo xu hướng này Bởi vậy, các quy định về quản lý thuế nằm rải rác trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau: trong các văn bản pháp luật quy định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đều có quy định về quản lý TXK, TNK để
áp dụng cho sắc thuế này Ngoài ra, các văn bản pháp luật khác cũng có những quy định liên quan đến công tác quản lý thuế như: Các văn bản pháp luật về kế toán, về hoá đơn chứng từ, về xử phạt vi phạm hành chính, về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; các văn bản pháp luật về thanh tra, kiểm tra, các văn bản pháp luật
về tổ chức bộ máy các cơ quan tài chính
Hai là, các vấn đề về quản lý thuế được quy định riêng trong đạo luật gọi là
Luật Quản lý thuế để quản lý thống nhất đối với tất cả các loại thuế trong đó có quản lý TXK, TNK Cách làm này có ưu điểm bao quát hết các nội dung quản lý thuế, nâng cao tính pháp lý cho các quy định về quản lý thuế, bảo đảm tính đồng bộ, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý thuế (cơ quan Hải quan) và người dân dễ dàng tìm hiểu, nắm bắt và thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật quản lý thuế Đồng thời, nó làm cho hệ thống pháp luật thuế trở nên đơn giản, rõ ràng, minh bạch hơn, tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi để cơ quan quản lý thuế thực hiện việc hiện đại hoá, chuyên nghiệp hoá các hoạt động quản lý thuế của mình Ở nước ta, việc ban hành Luật Quản lý thuế đã khắc phục được một hạn chế lớn mà từng luật thuế trước đây
không thể quy định Theo TS.Nguyễn Thị Thương Huyền nhận xét: “Luật Quản lý
thu ế Việt Nam đã phản ánh, ghi nhận khá đầy đủ, toàn diện các nội dung của quản
lý thu ế và đặc biệt có thêm nhiều nội dung mới như: Nguyên tắc quản lý thuế;
Trách nhi ệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quản lý thuế;
H ợp tác quốc tế về quản lý thuế; Xây dựng lực lượng quản lý thuế; Hiện đại hoá
công tác qu ản lý thuế; Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế; Thông tin về
ng ười nộp thuế; Gia hạn nộp thuế; Xoá nợ thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định
hành chính thu ế v.v Hoặc các vấn đề có quy định tại các Luật thuế và văn bản
h ướng dẫn thi hành nhưng khó có thể quy định được chi tiết, cụ thể như: Thứ tự
thanh toán ti ền thuế, tiền phạt; Xử lý số tiền thuế nộp thừa; Nộp thuế trong thời
Trang 21gian gi ải quyết khiếu nại, khiếu kiện; Trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế;
Các bi ện pháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn
thu ế, gian lận thuế; Cưỡng chế thuế v.v.” [46]
Pháp luật quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý TXK, TNK nói riêng
dù được xây dựng, thiết kế theo xu hướng nào thì giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật về nội dung các sắc thuế bao giờ cũng cần có mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau Điều đó thể hiện qua việc, pháp luật về nội dung các sắc thuế
là cơ sở, là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế Bởi vì, pháp luật quản lý thuế gắn với việc tổ chức thực hiện các luật thuế trong đó có luật TXK, TNK, đưa luật thuế vào cuộc sống, hiện thực hoá các quy định của luật thuế Cho nên, sự thay đổi pháp luật TXK, TNK tất yếu kéo theo sự thay đổi ít nhiều của pháp luật quản lý TXK, TNK Ngược lại, pháp luật quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý TXK, TNK nói riêng có vai trò hết sức quan trọng và tác động rất lớn đến
pháp luật về TXK, TNK “Hiệu quả của các Luật thuế phụ thuộc khá lớn vào pháp
lu ật quản lý thuế Cho dù các luật thuế phản ánh chuẩn xác, khoa học về chính sách
thu ế nhưng nếu pháp luật quản lý thuế không phù hợp và thiếu tính khoa học thì
tính hi ệu quả và mục tiêu của các luật thuế là không đạt được.” [46]
1.2.2 Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật về thủ tục hải quan
Quản lý TXK, TNK được gắn liền với thủ tục hải quan, hoạt động quản lý thu nộp thuế nằm trong hoạt động thông quan hàng hóa, hồ sơ khai thuế nằm trong
hồ sơ khai hải quan Do vậy, pháp luật về quản lý TXK, TNK và pháp luật về thủ
tục hải quan có mối quan hệ khăng khít
So với việc quản lý các loại thuế nội địa thì việc quản lý TXK, TNK có những đặc điểm khác biệt về trình tự, thủ tục hành thu Sự khác biệt này không chỉ được thể hiện ở khía cạnh chủ thể có thẩm quyền thu thuế (đối với quản lý TXK, TNK là cơ quan hải quan, còn đối với quản lý thuế nội địa là cơ quan thuế) mà còn được thể hiện ở những khía cạnh khác như thời hạn tính thuế, thủ tục kiểm tra hàng hóa và giám định hàng hóa XNK, vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp TXK, TNK bằng cam kết bảo lãnh của các ngân hàng Điều đó xuất phát từ những đặc điểm riêng có của hoạt động quản lý XNK hàng hóa Nếu cơ quan thuế chỉ có
Trang 22nhiệm vụ về quản lý thu nộp về thuế, phí và lệ phí; thì cơ quan hải quan được giao nhiệm vụ quản lý chung về hàng hóa XNK Do đó, ngoài nhiệm vụ về quản lý thu nộp thuế đối với hàng hóa XNK, cơ quan hải quan còn phải thực hiện nhiệm vụ về kiểm tra, giám sát hàng hóa XNK; điều tra, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; thống kê hàng hóa XNK Vì vậy, hoạt động quản lý thu nộp thuế đối với hàng hóa XNK được gắn liền với các khâu nghiệp vụ của cơ quan hải
quan khi tiến hành thông quan hàng hóa XNK
Hiện nay, pháp luật về thủ tục hải quan đang dần có những thay đổi cơ bản dưới tác động của các nhân tố khách quan như:
- Quá trình toàn cầu hóa và nhu cầu áp dụng công nghệ thông tin trong thương mại quốc tế;
- Sự tiến bộ của công nghệ thông tin tạo điều kiện cho việc áp dụng phổ biến chứng từ điện tử trên toàn thế giới;
- Việc sử dụng các chuẩn mực quốc tế trong chứng từ điện tử ngày càng phát triển;
- Nhu cầu giảm chi phí giao dịch/ thuận lợi hóa thương mại và cải cách hành chính nói chung
Ngoài ra, những nhân tố chủ quan của ngành hải quan cũng tác động không nhỏ đến pháp luật về thủ tục hải quan như:
- Yêu cầu về hội nhập với thế giới của ngành hải quan;
- Yêu cầu phát triển ngành hải quan hiện đại, minh bạch, giảm phiền hà sách nhiễu
Ngày nay, cơ quan hải quan với vai trò là một trong những cơ quan đóng vai trò quan trọng trong quản lý thương mại và đi tiên phong trong việc áp dụng những
mô hình, phương pháp quản lý mới nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại Vai trò của hải quan ngày nay đã được mở rộng hơn Hải quan đã trở thành cơ quan
có trách nhiệm chính trong việc tạo thuận lợi cho thương mại, đảm bảo an ninh kinh
tế và tăng nhanh lưu lượng lưu thông hàng hóa Vì vậy xu hướng phát triển của thủ tục hải quan hiện đại là xây dựng và triển khai thủ tục hải quan điện tử tức là thủ tục hải quan (bao gồm cả thủ tục quản lý thuế) được thực hiện bằng phương tiện điện
tử Theo đó, hải quan hiện đại sẽ được tổ chức thông qua việc ứng dụng công nghệ
Trang 23thông tin và thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan để quản lý hàng hóa XK, NK nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hải quan, đảm bảo đơn giản, hài hòa, thống nhất và phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn như vậy, pháp luật về thủ tục hải quan cần phải
có những quy định gắn liền với xu hướng phát triển hiện đại hóa của ngành hải quan Và vì pháp luật về quản lý TXK, TNK có quan hệ mật thiết với pháp luật về thủ tục hải quan, nên cũng cần sự cải cách để bắt kịp với nhịp độ phát triển của thủ tục hải quan, góp phần tạo thuận lợi trong hoạt động ngoại thương
1.2.3 Cấu trúc pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.3.1 C ăn cứ vào nguồn quy phạm pháp luật thì pháp luật quản lý TXK, TNK có
c ấu trúc sau:
- Các quy phạm pháp luật quản lý TXK, TNK được quy định ở Luật Quản lý thuế và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Các quy phạm pháp luật này là các quy phạm pháp luật chuyên ngành được áp dụng để thực hiện quản
lý chung các khoản thu NSNN trong đó bao gồm cả việc quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
- Các quy phạm pháp luật quản lý TXK, TNK được quy định trong Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành Nhóm quy phạm pháp luật này là nhóm quy phạm pháp luật quản lý TXK, TNK có tính đặc thù được ưu tiên áp dụng để quản lý mà không áp dụng để quản lý các loại thuế khác
- Các quy phạm pháp luật quản lý TXK, TNK được quy định trong các đạo luật khác có liên quan Các quy phạm pháp luật này sẽ được sử dụng khi các văn bản pháp luật chuyên ngành quản lý thuế không quy định cụ thể Chẳng hạn, các quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế sẽ áp dụng các quy phạm trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo…
1.2.3.2 C ăn cứ vào nội dung quy phạm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
thì pháp lu ật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu có thể sắp xếp theo cấu trúc sau:
- Nhóm quy phạm pháp luật quy định những vấn đề chung có tính nguyên tắc trong quản lý thuế như: Xác định phạm vi, đối tượng áp dụng pháp luật quản lý thuế
XK, NK; Các nguyên tắc trong quản lý thuế; Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người nộp thuế; Quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế; Trách nhiệm của các
Trang 24cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế và những vấn đề
có tính chất chung khác trong quản lý thuế;
- Bộ phận pháp luật quy định cụ thể về từng nội dung trong quản lý thuế XK,
NK như: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; Quản lý thông tin về người nộp thuế; Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; Xử
lý vi phạm pháp luật về thuế; Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và tổ chức hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý thuế Trong đó mỗi nội dung pháp luật quản lý thuế quy định về quyền và nghĩa vụ cụ thể các chủ thể tham gia quan hệ đó và trình
tự, thủ tục mà các chủ thể phải tuân theo trong khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ cụ thể ấy như: thủ tục về kê khai thuế; nộp thuế; quyết toán thuế; thủ tục hoàn thuế; thủ tục miễn giảm thuế ;
1.2.3.3 C ăn cứ vào tư cách chủ thể quản lý và biện pháp áp dụng trong quản lý
thu ế xuất nhập khẩu thì pháp luật quản lý thuế có thể chia thành hai bộ phận sau:
- Bộ phận pháp luật quy định việc thực thi chức năng quản lý thuế của nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực, trong đó cơ quan hải quan quản lý thuế là đại diện thực thi công quyền và biện pháp quản lý được sử dụng là biện pháp hành chính bắt buộc; Chẳng hạn, các quy định về việc ấn định thuế, cưỡng chế thuế, xử
lý vi phạm pháp luật thuế.;
- Bộ phận pháp luật quy định việc thực thi chức năng quản lý mang tính phục
vụ người nộp thuế, cơ quan hải quan quản lý thuế thực hiện vai trò của cơ quan cung cấp dịch vụ thuế cho DN và xã hội Chẳng hạn, các quy định về việc hướng dẫn, tuyên truyền, hỗ trợ, giải đáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết các thủ tục hành chính thuế cho người nộp thuế, biện pháp quản lý được
cơ quan thuế sử dụng mang tính hành chính phục vụ và cung cấp các dịch vụ cho người nộp thuế
1.2.3.4 C ăn cứ vào đối tượng thi hành pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
thì pháp lu ật quản lý thuế được chia thành 3 bộ phận:
- Bộ phận pháp luật quy định về địa vị pháp lý của người nộp thuế; Người nộp thuế là đối tượng được luật thuế XK, NK xác định Ngoài ra, còn có các tổ chức
có trách nhiệm nộp thuế thay người nộp thuế; tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí,
Trang 25lệ phí thuộc NSNN cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế XK, NK
và có các quyền, trách nhiệm nhất định trong việc nộp thuế
- Bộ phận pháp luật quy định về địa vị pháp lý của các cơ quan hải quan Cơ quan hải quan được tổ chức tập trung tại cấp trung ương và khu vực địa bàn hải quan để quản lý thu các khoản thuế, các khoản thu NSNN phát sinh tại cửa khẩu hải quan Pháp luật giao cho (cơ quan hải quan) quản lý thuế các chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn nhất định để tổ chức thực thi chính sách thuế có hiệu lực, hiệu quả
- Bộ phận pháp luật quy định về các tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế XK, NK bao gồm: các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, liên quan đến việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế hoặc liên quan đến công tác quản lý của cơ quan quản lý thuế, đồng thời giám sát cả cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật về thuế
1.2.3.5 C ăn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế xuất
kh ẩu, nhập khẩu được phân thành các bộ phận như sau:
- Bộ phận pháp luật quy định về các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các điều kiện cho người nộp thuế thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuế, bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
- Bộ phận pháp luật quy định về giám sát và bảo đảm việc tuân thủ pháp luật thuế của cơ quan Hải quan đối với người nộp thuế, bao gồm các nội dung: Quản lý thông tin
về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế, Cưỡng chế thi hành quyết định hành
chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
1.2.4 Những yếu tố chi phối đến pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Pháp luật quản lý TXK, TNK chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó gồm một số yếu tố cơ bản sau:
1.2.4.1 Chính sách đổi mới nền kinh tế của Đảng và cơ chế quản lý thuế của Nhà
n ước
Trong thời kỳ bao cấp, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta còn mang tính giản đơn Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là nông lâm sản, được xuất sang các nước XHCN để trả nợ hoặc sang các nước XHCN có hiệp định ưu đãi về thuế quan
Trang 26Vì thế giá xuất khẩu thường thấp, không đủ bù đắp chi phí thu mua sản xuất Còn hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng viện trợ hoặc hàng hoá của các nước XHCN có thuế suất rất thấp Hoạt động xuất nhập khẩu không mang tính chất ngoại thương, không tuân theo quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị của nền kinh tế thị trường Vì vậy, TXK, TNK không phát huy được vai trò của mình, không có khả năng điều tiết hoạt động XNK
Theo tinh thần Đại hội Đảng VI, Nhà nước có chính sách đổi mới nền kinh
tế, phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, đa dạng hoá các thành phần kinh tế Việc mở cửa giao lưu kinh tế với nước ngoài đã làm thay đổi vai trò của xuất nhập khẩu, hoạt động xuất nhập khẩu từ đây mới thực sự được coi trọng và phát huy đúng chức năng của mình Điều này cũng khẳng định sự cần thiết khách quan của công tác quản lý TXK, TNK cũng như các quy định pháp luật quản lý TXK, TNK
Có thể nói, chính sách của Đảng và Nhà nước là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của pháp luật quản lý TXK, TNK được thể hiện qua việc Luật TXK, TNK hàng mậu dịch được ban hành ngày 29/12/1987 và sau này vô số các văn bản pháp luật khác liên quan tới hoạt động quản lý TXK, TNK
Ngoài ra, một yếu tố nữa cũng ảnh hưởng rất lớn tới pháp luật quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý TXK, TNK nói riêng đó là cơ chế quản lý thuế của Nhà nước
Cơ chế quản lý là sản phẩm của ý thức chủ quan của con người, do chủ thể quản lý định ra, nên nó mang tính chủ quan phụ thuộc vào ý chí và lợi ích của chủ thể quản lý Tuy nhiên, việc định ra cơ chế quản lý có hiệu quả thì nhà nước không thể không dựa trên cơ sở các quy luật khách quan và phù hợp với xu thế phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử cụ thể Việc định ra cơ chế quản lý hợp
lý, khoa học là sự biểu hiện rõ nhất về trình độ, khả năng vận dụng các quy luật khách quan vào quá trình quản lý
Pháp luật là yếu tố cơ bản cấu thành trong cơ chế quản lý Mỗi cơ chế quản
lý thuế khác nhau đòi hỏi pháp luật điều chỉnh khác nhau cho phù hợp cơ chế quản
lý thuế đó Hiện nay, nước ta đang áp dụng quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo
Trang 27cơ chế “tự khai, tự nộp thuế” Cụ thể: Pháp luật quản lý thuế quy định đầy đủ trách
nhiệm, quyền hạn của người nộp thuế, của cơ quan quản lý thuế và tổ chức, cá nhân
có liên quan trong quản lý thuế Trong đó đề cao quyền và tính tự chịu trách nhiệm của người nộp thuế; nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, công khai minh bạch các thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế, gắn trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế (cơ quan hải quan), công chức (hải quan) quản lý thuế trong việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ thuế; coi trọng hơn việc kiểm tra, thanh tra, xử
lý các vi phạm pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế; các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch, nhằm nâng cao trách nhiệm, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp thuế, tạo điều kiện cho người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế; Vấn đề xây dựng hệ thống thông tin về người nộp thuế được coi trọng trong pháp luật quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp
1.2.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tại Việt Nam
Pháp luật là sự phản ánh dưới hình thức pháp lý các quan hệ xã hội, một sự phản ánh lệ thuộc vào những biến đổi của xã hội Do đó, việc nghiên cứu đánh giá không chính xác, không đầy đủ những yếu tố khách quan khi ban hành pháp luật cũng dẫn đến pháp luật không phù hợp với những đòi hỏi của cuộc sống và pháp luật không thể phát huy được tác dụng Để pháp luật phản ánh đúng, đầy đủ thực tiễn khách quan, những tiến trình đang diễn ra trong đời sống xã hội thì phải thường xuyên hoàn thiện pháp luật trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội, thực trạng pháp luật hiện hành Từ thực trạng đó phát hiện ra những điểm không phù hợp trong các quy định của pháp luật để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn khách quan Đồng thời, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng kinh tế - xã hội mà phát hiện ra những nhu cầu điều chỉnh mới của pháp luật để kịp thời xây dựng và ban hành pháp luật Nếu không có những khảo sát, đánh giá thực trạng kinh tế xã hội thì không thể có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn xác đáng để xây dựng và thực hiện pháp luật, pháp luật không thể phát huy vai trò của nó trong đời sống, thậm chí pháp luật chỉ “nằm trên giấy” Để pháp luật đi vào cuộc sống, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định về quản lý thuế nói riêng và pháp luật quản lý TXK, TNK cần xuất phát từ thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn để đặt
ra các quy định pháp luật cho phù hợp [24,tr.53]
Trang 281.2.4.3 Các qui định pháp luật về nội dung sắc thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và
các quy định pháp luật liên quan khác
Pháp luật quản lý thuế được xây dựng, ban hành để tổ chức thực hiện các luật thuế, trong đó có TXK, TNK Pháp luật về nội dung sắc TXK, TNK là cơ sở, là tiền đề cho xây dựng pháp luật quản lý thuế TXK, TNK Pháp luật về nội dung sắc TXK, TNK được quy định đơn giản, rõ ràng, ổn định thì pháp luật quản lý TXK, TNK sẽ giảm tính phức tạp, quy trình, thủ tục triển khai thực hiện được dễ dàng, thuận tiện Pháp luật về nội dung sắc TXK, TNK và pháp luật quản lý TXK, TNK
có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau Pháp luật về nội dung sắc TXK, TNK thay đổi thì pháp luật quản lý TXK, TNK ít nhiều cũng thay đổi Xu hướng cải cách phát triển hệ thống thuế ở các nước đều cho thấy: Cải cách hệ thống thuế được kết hợp chặt chẽ và tương thích giữa nội dung pháp luật thuế với công tác quản lý thuế Bởi vì, một hệ thống pháp luật về nội dung các sắc thuế dù có tiên tiến đến đâu cũng không phát huy được tác dụng nếu thiếu vắng quy định của pháp luật quản lý thuế và ngược lại, cải cách quản lý công tác quản lý thuế cần được dựa trên nền tảng một hệ thống pháp luật về nội dung các sắc thuế ổn định và rõ ràng Hệ thống pháp luật quy định các sắc thuế đơn giản, rõ ràng, các thủ tục quản lý thuế đơn giản, thuận tiện cho người nộp thuế sẽ tạo điều kiện tốt cho việc thực thi chính sách thuế
Ngoài ra, pháp luật quản lý TXK, TNK không chỉ có mối quan hệ chặt chẽ, chịu sự chi phối của pháp luật quy định các sắc TXK, TNK mà còn có mối quan hệ
và chịu sự chi phối của các các bộ phận pháp luật khác như: pháp luật hải quan, pháp luật dân sự, pháp luật về tố tụng, pháp luật về thanh tra, pháp luật hình sự, pháp lụât hành chính v.v Vì vậy, khi ban hành, sửa đổi pháp luật quản lý thuế cần đảm bảo tính phù hợp và thống nhất với các bộ phận pháp luật trên
1.2.4.4 V ăn hoá tuân thủ thuế của người nộp thuế
Văn hoá tuân thủ thuế thể hiện ở nhận thức về trách nhiệm của người nộp thuế về nghĩa vụ thuế, ở ý thức chấp hành pháp luật thuế Văn hoá tuân thủ thuế là một yếu tố quan trọng trong việc xác định nội dung điều chỉnh của pháp luật Khi người nộp thuế có kiến thức, hiểu biết đầy đủ về pháp luật thuế có tinh thần đạo đức thuế tốt thì khi đó mới đảm bảo rằng họ tự giác thực hiện được đúng, đầy đủ nghĩa
Trang 29vụ thuế của mình, họ thấy trách nhiệm của mình phải tham gia vào công tác quản lý thuế và mới giám sát quá trình thực hiện pháp luật thuế Trái lại, sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế còn thấp thì tình trạng trốn thuế, lậu thuế còn diễn ra, những tiêu cực trong quản lý thuế vẫn còn có “đất” để tồn tại
Do vậy, việc quy định trong pháp luật quản lý thuế phải tính đến yếu tố này, bởi vì,
ở nước ta hiện nay, ý thức trách nhiệm về nghĩa vụ thuế, sự hiểu biết về các luật thuế và quy trình thủ tục thực hiện các nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nói riêng
và người dân nói chung còn hạn chế
Vì vậy, công tác tuyên truyền, tư vấn giải đáp thắc mắc về chính sách, pháp luật thuế cần được coi trọng mà trách nhiệm trước hết thuộc về cơ quan hải quan và các cơ quan nhà nước có liên quan Bên cạnh đó, cần coi trọng việc hoàn thiện bộ phận pháp luật về giám sát và bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế nhằm giúp cơ quan quản lý thuế tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát để phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm khắc, kịp thời các hành vi gian lận, trốn lậu thuế, chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước Có như vậy, mới tăng cường tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa những hành vi tiêu cực, bảo đảm cho pháp luật thuế được tôn trọng và thực thi nghiêm túc trên thực tế [24,tr.55]
1.2.4.5 Trình độ quản lí của cơ quan quản lí thuế xuất nhập khẩu,cán bộ ngành
h ải quan
Trình độ năng lực quản lí của cơ quan quản lý hải quan, cán bộ hải quan là một yếu tố quan trọng chi phối pháp luật quản lý TXK, TNK Trình độ năng lực quản lí của cơ quan hải quan được thể hiện thông qua việc phân công, phân cấp quản lý, bố trí cán bộ, năng lực còn thể hiện thông qua bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý thuế và thước đo là kết quả đạt được trong hoạt động thực tiễn Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức hải quan thể hiện ở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ứng dụng công nghệ tin học trong công việc, tính chuyên nghiệp hoá, chuyên môn hoá quản lí, thái độ và phong cách làm việc Trong pháp luật quản lý thuế nói chung, các quy định về quy trình, thủ tục, cách thức thực hiện, thời gian giải quyết công việc liên quan đến các nội dung quản
lý thuế phải dựa trên trình độ, năng lực thực tế và điều kiện cơ sở vật chất hiện có Mặt khác, để nâng cao trình độ quản lý thuế ở nước ta hiện nay, pháp luật quản lý
Trang 30thuế cần phải đóng vai trò để bảo đảm bộ máy quản lí thuế được tổ chức xây dựng hợp lí, khoa học hơn, phân công, phân cấp cụ thể rõ ràng, trách nhiệm quyền hạn được quy định cụ thể, đủ để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ; cán bộ được bố trí, phân công hợp lí theo hướng chuyên môn hóa đối với bộ phận nghiệp vụ, thực hiện quản
lí thuế theo chức năng và có sự độc lập tương đối giữa các bộ phận để tạo sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau Đồng thời, pháp luật quản lý thuế phải xây dựng được những khuôn mẫu và tiêu chuẩn chung cho đội ngũ cán bộ thuế Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, tác phong công tác của cán bộ hải quan được đặc biệt quan tâm để đáp ứng được yêu cầu quản lí trong tình hình phát triển mới của xã hội Ngoài ra, vấn đề đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý TXK, TNK cũng cần phải được quan tâm đúng mức
1.2.4.6 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
Pháp lụât thuế ở mỗi quốc gia bao giờ cũng được xây dựng trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của chính quốc gia đó Tuy nhiên, do tác động của xu thế phát triển là cần mở cửa, hợp tác và hội nhập kinh tế toàn cầu, các quốc gia muốn phát triển không thể đóng cửa, biệt lập với thế giới bên ngoài Để mở rộng hợp tác kinh tế với quốc gia và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, các nước đều phải
nỗ lực điều chỉnh chính sách, pháp luật của quốc gia mình cho phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực của luật pháp quốc tế Khi tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, các quốc gia đều đưa ra cam kết của mình với các tổ chức kinh tế quốc tế mà mình là thành viên Để thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế, các quốc gia đều phải sửa đổi hoàn thiện pháp luật để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện cam kết đó Hơn nữa, pháp luật thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế nói riêng là một trong những yếu tố quan trọng để tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn của quốc gia để thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển Với yêu cầu này, pháp luật quản lý thuế nói chung ở nước ta cần hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế, đồng thời nâng cao trình độ quản lý thuế của Việt Nam ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực
Trong lĩnh vực quản lý TXK, TNK, hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra nhưng vấn
đề mang tính đặc thù Một số các cam kết quốc tế ảnh hưởng đến hoạt động quản lý
Trang 31TXK, TNK cũng như pháp luật quản lý TXK, TNK có thể kể tới như: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (Hiệp định GATT); Hiệp định trị giá GATT (Hiệp định thực hiện Điều VII Hiệp định chung về thuế quan và thương mại; Hiệp định về Quy tắc xuất xứ ); Công ước quốc tế về đơn giản và hài hòa thủ tục hải quan (The International Convention on the simplification and harmonization of Customs procedures); Công ước về Hệ thống điều hoà về mô tả và mã hoá hàng hoá (The international convention on Harmonizaed commodity disciption and Coding
system), Hiệp định về Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung để xây dựng Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (CEFT/AFTA)
Trong điều kiện nước ta hiện nay thì việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý TXK, TNK nói riêng cần thiết phải tham khảo, tiếp thu có chọn lọc pháp luật quản lý thuế của các nước tiên tiến trên thế giới nhằm bảo đảm pháp luật quản lý thuế của Việt Nam nhanh chóng tiếp cận được chuẩn mực quản lý thuế của quốc tế, đồng thời bảo đảm phù hợp với điều kiện
cụ thể ở Việt Nam
Những yếu tố nói trên là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng, tác động và chi phối đến pháp luật quản lý TXK, TNK ở nước ta, giữa chúng có mối liên hệ tác động qua lại với nhau rất lớn Để xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý TXK, TNK ở Việt Nam thì không thể không chú trọng đến các yếu tố này
1.3 Kinh nghiệm và xu hướng đổi mới hoạt động quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở một số nước trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm của Singapore trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Đất nước đảo quốc Singapore được ví như là con rồng Châu Á Singapore đã sớm đưa vào áp dụng hệ thống thông quan điện tử trên diện rộng Từ đó đến nay trải qua nhiều giai đoạn xây dựng và củng cố, hệ thống thông quan điện tử đã hỗ trợ tích cực cho công tác tính và thu thuế của Singapore
Về lĩnh vực thuế quan, do Singapore là một cảng tự do, theo đó đa phần các hàng hóa không phải là đối tượng thu thuế quan, vì vậy các nội dung liên quan đến công tác quản lý thuế không quá phức tạp
Trang 32Pháp luật Singapore quy định, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm thu 3 sắc thuế sau:
- Thuế hải quan: Sắc thuế này được áp dụng cho 4 mặt hàng nhập khẩu là: Các sản phẩm thuốc lá; Các sản phẩm dầu khí; Các phương tiện có động cơ (ôtô, xe máy ); Các loại đồ uống có cồn Ngoài ra, thuế hải quan cũng áp dụng cho một số mặt hàng sản xuất trong nước như bia đen, bia, Samsu
- Thuế hàng hóa và dịch vụ (GST): mức thuế hiện tại là 5% áp dụng chung cho các mặt hàng nhập khẩu và hàng hóa được sản xuất trong nước Tuy nhiên đối với các hàng hóa như: hàng hóa nhập khẩu tạm thời sử dụng cho một mục đích nhất định; hàng hóa tái nhập sau khi xuất khẩu tạm thời; hàng hóa được nhập khẩu qua đường bưu điện, hàng không và có trị giá dưới 400 đô la Singapore; hàng của khách
du lịch., Chính phủ cho phép được miễn thuế hàng hóa và dịch vụ chung Về bản chất, thuế hàng hóa và dịch vụ là một dạng của thuế tiêu dùng
- Thuế gián thu (đánh vào các mặt hàng được tiêu dùng trong nội địa)
Về hệ thống tự tính, tự nộp thuế ở Singapore được tổ chức thực hiện như sau: Thông qua hệ thống TradeNet người nhập gửi khai báo tới cơ quan Hải quan và nhận được lệnh thông quan thông qua hệ thống (theo số liệu thống kê thì tới 99,99% việc khai báo hải quan và chấp nhận cho thông quan được thực hiện trên hệ thống Trade Net), theo đó người nhập khẩu sẽ chuẩn bị tờ khai, tự tính thuế trên máy tính tại trụ sở của họ và gửi tới hộp thư của cơ quan Hải quan hoặc chuyển tới các cơ quan quản lý chuyên ngành có liên quan (trong trường hợp lô hàng nhập khẩu cần phải được cấp giấy phép chuyên ngành) Ngay lập tức chỉ sau vài phút người nhập khẩu sẽ nhận được phản hồi từ các cơ quan quản lý Trường hợp chấp nhận cho thông quan, thì lệnh thông quan sẽ được gửi lại cho người nhập khẩu qua hệ thống thư điện tử Lệnh này sẽ được người nhập khẩu in ra giấy và được coi như là chứng
từ hợp pháp cho việc hoàn thành thủ tục hải quan Toàn bộ quy trình này chỉ diễn ra trong vòng 3 phút và được thao tác hoàn toàn trên hệ thống
Về chính sách thuế, để đảm bảo việc thu đủ thuế, Singapore yêu cầu người nhập khẩu phải có được sự bảo lãnh của ngân hàng hoặc nộp một khoản tiền bảo đảm cho cơ quan Hải quan để cơ quan Hải quan có thể thu thuế khi người nhập khẩu không nộp thuế hoặc trường hợp có rủi ro khác Việc nộp tiền bảo lãnh được
Trang 33thực hiện trong thời gian một năm cho tất cả các chuyến hàng của người nhập khẩu Trường hợp chuyến hàng có giá trị lớn và rủi ro không thu được thuế cao, Hải quan Singapore sẽ yêu cầu doanh nghiệp nộp thêm tiền bảo đảm
Ở Singapore, 99% việc thu nộp thuế được thực hiện một cách tự động thông qua hệ thống liên ngân hàng Giro (IBG) Mọi khoản thanh toán cho thuế hàng hóa
và dịch vụ, thuế hải quan được người nhập khẩu nộp cho cơ quan Hải quan thông qua hệ thống này Theo quy định của pháp luật thì các đại lý khai thuê và các tổ chức, cá nhân sử dụng hệ thống Trade Net phải sử dụng một tài khoản theo số đã đăng ký tại cơ quan Hải quan cho mục đích thanh toán các khoản thuế
Dưới dây là mô hình đơn giản của sự kết nối giữa các cá nhân, tổ chức trong
hệ thống thông quan điện tử của Singapore (tính, nộp thuế), bằng hệ thống này người nhập khẩu gửi tờ khai, nộp thuế và nhận được lệnh thông quan một cách nhanh chóng Về phía cơ quan Hải quan vẫn đảm bảo được mục tiêu quản lý, có nhiều cơ hội để tập trung nguồn lực cho việc kiểm tra mục tiêu, kiểm tra trọng điểm
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ kết nối thông quan điện tử của Hải quan Singapore
1.3.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Hàn Quốc là quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 13 trên thế giới với những ưu thế vượt trội về ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin (Thủ đô Seoul là một trong
10 thành phố phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến trên thế giới), với địa hình biên giới không quá phức tạp (phần lớn là đường biên giới trên biển) và
Trang 34chính sách áp dụng công nghệ thông tin đồng bộ của Chính phủ (xây dựng Chính phủ điện tử, phát triển mạng K-Net)
Hiện nay Hải quan Hàn Quốc được đánh giá là cơ quan Hải quan hiện đại với 100% hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện thông qua thủ tục hải quan điện tử Hải quan Hàn Quốc trực thuộc Bộ Tài chính-Kinh tế, đứng đầu Tổng cục Hải quan là Cao uỷ do Tổng thống bổ nhiệm, Phó cao uỷdo Cao uỷ bổ nhiệm, giúp việc cho Cao uỷ có các bộ phận giúp việc và các Cục nghiệp vụ
Nhiệm vụ của Hải quan Hàn quốc là: (1) Tăng cường tạo thuận lợi thương
mại; (2) Thu thuế thông qua áp mã tính thuế chặt chẽ để thu thuế hải quan và thuế khác áp dụng với hàng hóa nhập khẩu; (3) Bảo vệ ngành công nghiệp trong nước bằng cách đẩy mạnh công tác chống buôn lậu; (4) Ngăn chặn buôn bán ma túy và
vũ khí bất hợp pháp để bảo vệ an toàn xã hội và sức khỏe người dân; (5) Kiểm soát các hóa chất độc hại và thực hiện Công ước CITES về bảo vệ môi trường, động thực vật quý hiếm; (6) Thực hiện nguyên tắc cạnh tranh công bằng thông qua ngăn chặn gian lận xuất xứ về nhãn hiệu và các hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (IPR); (7) Kiểm soát toàn diện đối với các giao dịch ngoại hối bất hợp pháp và các hoạt động rửa tiền
Với thế mạnh công nghệ thông tin, Hải quan Hàn Quốc đã sớm áp dụng hệ thống tự tính thuế Theo quy định của pháp luật Hàn Quốc, người khai hải quan thực hiện việc tự tính thuế thông qua hệ thống điện tử Tiền thuế được nộp cho Ngân hàng trung ương Hàn Quốc Trong vòng 15 ngày kể từ ngày thông quan hàng hóa, số thuế phải nộp sẽ được cơ quan Hải quan kiểm tra và ra thông báo nộp bổ sung trong trường hợp nộp thiếu Trên cơ sở thông báo của cơ quan Hải quan, người khai hải quan sẽ nộp bổ sung số thuế còn thiếu đó Nếu quá thời hạn quy định đối tượng nộp thuế không chấp hành nộp thuế bổ sung thì sẽ bị loại khỏi danh sách doanh nghiệp chấp hành tốt và sẽ không tiếp tục được hưởng các ưu đãi về thủ tục
1.3.3 Kinh nghiệm của Đài Loan trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Để đổi mới công tác quản lý thuế, Đài Loan đã ban hành và thực hiện các nhóm công việc sau:
Th ứ nhất: Chuẩn hoá, đơn giản hoá và tự động hoá công tác quản lý thuế:
Để thực hiện công việc này, Đài Loan đã ban hành “Quy trình hoạt động
chu ẩn" (Standard Operation Program - SOP) và áp dụng cho toàn bộ hệ thống Hải
Trang 35quan nhằm hài hoà hoá và đảm bảo quy trình, thủ tục trong các dịch vụ liên quan tới thuế được thông suốt, thuận tiện; với phương châ m công bằng, không thiên vị và minh bạch
Th ứ hai: Đơn giản hoá dịch vụ liên quan tới thuế:
Đơn giản hoá thủ tục hoạt động được triển khai ở mọi công đoạn quản lý thuế nhằm tiết kiệm chi phí thu nộp thông qua việc tối đa hoá chất lượng công tác trong khi nguồn nhân lực hạn chế
Th ứ ba: Tự động hoá toàn bộ dịch vụ liên quan tới thuế:
Hệ thống vận hành nội bộ của cơ quan quản lý thuế đã được vi tính hoá và
tự động hoá toàn bộ nhằm xử lý những dữ liệu phức tạp và khổng lồ theo một trật
tự tích hợp, có hệ thống đối với việc đánh thuế và thu thuế Chất lượng các dịch vụ liên quan tới thuế đã được cải thiện đáng kể và chi phí nguồn nhân lực đã giảm Lợi ích sử dụng dữ liệu cũng được tối đa hoá Người đóng thuế có thể khai nộp thuế qua mạng Internet hoặc hệ thống khai báo Việc đóng thuế có thể được tiến hành qua hệ thống thanh toán của ngành tài chính như thẻ tín dụng, ATM, chuyển khoản điện tử
Th ứ tư: Giảm sai sót về việc phân loại và áp mức thuế; Xây dựng những
trường hợp cần phải kiểm tra và kiểm toán thuế
Cơ quan Hải quan Đài Loan đã xây dựng và thực hiện cơ chế tự động xác định những những trường hợp cần lựa chọn để kiểm tra và kiểm toán Phương pháp
đó đảm bảo cho việc kiểm toán thuế tập trung vào những trường hợp nhạy cảm, có
độ rủi ro cao, không kiểm tra tràn lan, đảm bảo cho người đóng thuế nộp đúng phần thuế phải nộp, tránh lãng phí nguồn nhân lực, cảnh báo trước việc có thể bị rà soát, kiểm tra, ngăn chặn vi phạm
Th ứ năm: chiến lược mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong các dịch
vụ liên quan tới thuế
Đài Loan đã ban hành Chiến lược mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin trong các dịch vụ liên quan tới thuế Chiến lược này được xây dựng nhằm ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ hoạt động nội bộ của cơ quan quản lý thuế cũng như công tác hỗ trợ, giải đáp thắc mắc, tuyên truyền và việc khai thuế, nộp thuế cho người nộp thuế
Trang 36Để thực hiện, người nộp thuế được cấp một thẻ chứng nhận số hoá để có thể vào trang web của một cơ quan quản lý thuế nhằm tìm hiểu thông tin, chính sách có liên quan, các khoản thuế đã nộp, thuế quá hạn v.v Đặc biệt, người nộp thuế có thể hỏi về mọi thông tin liên quan tới thuế và tình trạng hồ sơ/đơn từ của họ đang được
xử lý thế nào vào bất kỳ lúc nào qua trang web “thuế điện tử một cổng vào” (Single
- Entry - Point of E-tax) và chương trình công bố thông tin thuế mới nhất trong kế hoạch e - tax (thuế điện tử) của cơ quan quản lý thuế
Với năm nhóm việc được thực hiện một cách đồng bộ, phối hợp chặt chẽ với nhau đã góp phần tích cực nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý thuế của quốc gia này.[35]
1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong việc hoàn thiện pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Sau khi tham khảo kinh nghiệm một số nước đã thành công trong hoạt động quản lý TXK, TNK, một số bài học rút ra cho Việt nam về vấn đề này trong điều kiện hội nhập là:
Th ứ nhất, công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu trong thời kỳ hội nhập phải
dựa vào sức mạnh của công nghệ thông tin
Th ứ hai, áp dụng quản lý rủi ro trong Hải quan nói chung và trong lĩnh vực
quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nói riêng: xây dựng được bộ tiêu chí cho các hoạt động kiểm tra, kiểm soát của hải quan, nhờ có các tiêu chí xây dựng trước này mà hoạt động kiểm tra đảm bảo được yếu tố tập trung nguồn lực dẫn tới hạn chế rủi ro trong công tác quản lý
Th ứ ba, cần phải triển khai, xây dựng hải quan điện tử, kèm theo đó là một hệ
thống hành lang pháp lý cho hoạt động thông quan điện tử với mục đích phân định
rõ trách nhiệm của các tổ chức, các nhân khi tham gia hệ thống; ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan quản lý có liên quan (các đơn vị ngoài ngành hải quan phải coi việc tham gia và sử dụng hệ thống là nhiệm vụ chung)
Th ứ tư, cần phải xây dựng được một Chính phủ điện tử, xây dựng cơ chế
“M ột cửa” kết nối giữa các cơ quan với nhau, xây dựng được mối quan hệ tương
tác phối hợp với nhau giữa các cơ quan như Hải quan với ngân hàng, góp phần thuận tiện trong việc triển khai hệ thống tính thuế điện tử
Trang 37Th ứ năm, tiến tới thực hiện thu thuế qua hệ thống tự động liên ngân hàng
2 Pháp luật là một công cụ chủ yếu để quản lý TXK, TNK Pháp luật quản
lý TXK, TNK là một bộ phận của pháp luật quản lý thuế quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan quản lý TXK, TNK và các chủ thể liên quan đến quản lý thuế; quy định trình tự, thủ tục, cách thức, phương pháp tổ chức thực hiện các qui định pháp luật về TXK, TNK
3 Pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khác nhau như: Đường lối chính sách của Đảng và cơ chế quản lý thuế của Nhà nước; điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; văn hóa tuân thủ thuế của người nộp thuế; trình độ quản lý của cơ quan Hải quan, cán bộ ngành hải quan… Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng này có ý nghĩa rất lớn trong việc hoàn thiện pháp luật quản lý TXK, TNK
4 Việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý TXK, TNK tại các nước Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan là những quốc gia đã có những kết quả đáng ghi nhận trong hoạt động quản lý TXK, TNK Pháp luật quản lý TXK, TNK ở các quốc gia trên vừa có những điểm tương đồng vừa có những nét khác biệt với Việt Nam, vì việc hoàn thiện pháp luật quản lý TXK, TNK ở Việt Nam cần đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế nhưng vẫn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU,
THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
2.1 Đánh giá chung về hệ thống các quy phạm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Trước khi nước ta tiến hành Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) thì Nhà nước nắm vai trò độc quyền về ngoại thương, chỉ có các công ty quốc doanh mới được quyền XNK hàng hoá trực tiếp Để bảo hộ cho các công ty quốc doanh, Nhà nước không thu bất kỳ khoản thuế nào đối với hàng hoá XNK mậu dịch Giai đoạn này, do hoạt động XNK chủ yếu của Việt Nam được thực hiện đối với các nước trong khối xã hội chủ nghĩa (khối SEV) nên không tổ chức thu thuế một cách có hệ thống, các khoản thu đều là thu thuế phi mậu dịch đối với hàng hoá của các cá nhân mang theo trong quá trình xuất nhập cảnh Phải đến năm 1988, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch được thông qua, được coi là luật thuế đầu tiên trong
hệ thống pháp luật về thuế XNK của Việt Nam Từ năm 1991 trở đi, cùng với việc
mở cửa nền kinh tế, thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, các hoạt động thương mại quốc
tế ở Việt Nam ngày càng mở rộng hơn, đòi hỏi Nhà nước phải thực hiện công tác quản lý ngoại thương một cách sâu rộng Số thu từ thuế đánh vào các hoạt động XNK hàng hoá (trong đó có TXK,TNK) trở thành một nguồn thu quan trọng cho NSNN Chính vì vậy, cơ quan hải quan được giao làm nhiệm vụ tổ chức thu TXK, TNK với hàng hoá XNK
Hoạt động quản lý thu TXK, TNK được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như sau:
- Luật thuế XK, thuế NK năm 1991; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TXK, TNK năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TXK, TNK năm 1998 Hiện nay văn bản đang có hiệu lực là Luật TXK, TNK năm 2005 được
sửa đổi bởi Luật sửa đổi các Luật thuế 2014 (sau đây gọi tắt là Luật TXK, TNK),
cùng với hệ thống các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật TXK, TNK
Trang 39- Luật Quản lý thuế được Quốc hội khoá XI thông qua tại kỳ họp thứ 10 ( tháng 6 năm 2006) và có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007, được sửa đổi bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế 2012; có Luật Hải quan năm
2014 và Luật sửa đổi và các Luật thuế năm 2014 (sau đây gọi tắt là Luật QLT)
Trên cơ sở các đạo luật nêu trên được ban hành, Chính phủ, Bộ Tài chính đã bản hành nhiều văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành đang có hiệu lực thi hành gồm: Nghị định
số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/07/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 sửa đổi,
bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế; Nghị định số
08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; Nghị định 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 hướng dẫn Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế) Thông
tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định 83/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành.Nghị định 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định về xử phạt
vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế Thông tư 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính về thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Nghị định 127/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan Thông tư 190/2013/TT-BTC ngày 12/12/2013 hướng dẫn Nghị định 127/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan Thông
tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám
sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành…
Trước khi có Luật Quản lý thuế, việc quản lý TXK, TNK chủ yếu dựa trên các quy định trong Luật TXK, TNK và các quy định Luật chuyên ngành (Luật Hải quan) và các văn bản dưới luật hướng dẫn chung về thủ tục đối với hoạt động quản lý thuế của ngành hải quan Luật Quản lý thuế năm 2006 ra đời
Trang 40đã tích hợp được các quy định về quản lý thuế vào trong một văn bản, có ý nghĩa hướng dẫn chung cho toàn bộ hoạt động quản lý thuế của cả cơ quan thu thuế nội địa và cơ quan hải quan
Luật QLT, mặc dù đã quy định thống nhất thủ tục thuế với thủ tục hải quan, nhưng các thủ tục này lại được hướng dẫn tại các văn bản riêng của Bộ Tài chính Bên cạnh đó, do các văn bản nêu trên chưa hướng dẫn cụ thể hoặc hướng dẫn còn chưa phù hợp, có sự chồng chéo giữa các văn bản nên trong quá trình thực hiện đã phát sinh một số bất cập, vướng mắc Nhiều trường hợp Tổng cục Hải quan hoặc Bộ Tài chính phải ban hành các văn bản hành chính như: công văn hướng dẫn thực hiện điều này không tạo ra quy chuẩn cho các doanh nghiệp cùng tra cứu, áp dụng Nhằm mục đích tích hợp các quy định về thủ tục hải quan và quản lý thuế nằm rải rác trong các văn bản khác nhau: Luật Hải quan, Luật QLT và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, Ngành Hải quan đã trình Bộ trưởng bộ Tài chính ký ban hành Thông tư quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu Hiện nay, văn bản đang có hiệu lực là Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày
25/3/2015, Thông tư này đã hệ thống lại một cách đầy đủ các quy định liên quan đến thủ tục quản lý thuế, góp phần hướng dẫn thống nhất về thủ tục hải quan và quản lý thuế, giúp DN và cán bộ hải quan dễ tra cứu, áp dụng
2.2 Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ pháp luật
về quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Trong quan hệ pháp luật về quản lý TXK, TNK có 2 đối tượng chủ thể chính là: người nộp TXK, TNK và cơ quan hải quan
2.2.1.1 Ng ười nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Người nộp TXK, TNK là các tổ chức, cá nhân được Nhà nước công nhận về mặt pháp lý phải nộp cho Nhà nước những khoản thu nộp bắt buộc khi có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc diện chiụ thuế XK, NK Việc xác định địa vị pháp lý của người nộp TXK, TNK trong quan hệ pháp luật TXK, TNK có vai trò quan trọng, nếu xác định không đúng thì sẽ dẫn đến hệ quả làm méo mó bản chất đích