Để thấy rõ về vai trò của SCIC trong nền kinh tế Việt Nam thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của SCIC, đồng thời làm sáng tỏ thêm về mặt lý luậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ KINH
DOANH VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC)
TÁC GIẢ LUẬN VĂN: VÕ THANH THẾ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ KINH
DOANH VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC)
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Tiến sỹ VŨ ĐẶNG HẢI YẾN
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được công bố tỏ lòng cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Võ Thanh Thế
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, học viên đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình Nhân dịp này học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các tổ chức và các cá nhân dưới đây:
- Học viên xin chân thành biết ơn Ban Giám hiệu nhà trường; Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học- Viện Đại học Mở Hà Nội
- Xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Cô giáo Tiến sĩ luật học Vũ Đặng Hải Yến
- Xin cảm ơn đến các thầy cô giáo, anh chị em đồng nghiệp và gia đình đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Học viên
Võ Thanh Thế
Trang 6MỤC LỤC
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ
3 Cơ sở thực tiễn ra đời của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) 15
nước (SCIC)
19
Chương 2:
TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY
ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC)
Trang 7doanh vốn Nhà nước (SCIC)
41
1 Đầu tư và quản lý vốn đầu tư vào các lĩnh vực theo nhiệm vụ do Thủ
tướng Chính phủ giao
41
tại các doanh nghiệp theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
44
Người đại diện
47
tướng Chính phủ
52
Chương 3:
MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH
VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC)
57
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
57
đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
59
doanh vốn Nhà nước (SCIC)
59
doanh vốn Nhà nước (SCIC)
61
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO và là thành viên thứ 150 của tổ chức này ngày 07/11/2006 Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu
đi theo quỹ đạo chung của nền kinh tế thế giới, đồng nghĩa với việc nền kinh tế nước ta phải tuân theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, hoàn toàn khác với một nền kinh tế mang nặng tính trì trệ trong giai đoạn bao cấp trước đây Từ sau khi Đất nước đổi mới năm 1986, Đảng và Nhà nước đã thay đổi mục tiêu phát triển nền kinh tế nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp và đưa Việt Nam phát triển theo hướng là một quốc gia có nền kinh
tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế dần mất đi sự bảo hộ của Nhà nước và có nguy cơ bị đào thải nếu không có khả năng cạnh tranh Vì vậy, cải cách lại hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước để có khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường luôn luôn biến động
là việc làm cấp thiết đối với Nhà nước mà trước tiên là phải cải cách hệ thống chính sách, pháp luật liên quan điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu điều tiết nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngày 20/6/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (gọi tắt là SCIC) SCIC ra đời là việc làm cần thiết để thực hiện mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp theo nguyên tắc tách bạch chức năng quản lý Nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương với chức năng đầu tư, kinh doanh vốn thông qua một tổ chức tài chính chuyên nghiệp, đại diện cho phần vốn chủ sở hữu là Nhà nước hoạt động theo cơ chế thị trường, góp phần nâng cao hiệu quả, quyền tự chủ của doanh nghiệp Để tổ chức và quản lý tổ chức kinh tế đặc biệt này, Nhà nước phải có cơ chế đặc thù quy định về địa vị pháp lý, cơ cấu
tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), để từ đó phát huy hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Trang 10Vậy cơ cấu tổ chức và hoạt động của SCIC hiện nay được pháp luật quy định như thế nào? SCIC có thể thay mặt Nhà nước thực hiện quyền chủ sở hữu đối với các DNNN trước đây trong nền kinh tế thị trường không? Việc tổ chức quản lý của SCIC có đảm bảo sự minh bạch khi mà đại diện cho chủ sở hữu quản lý và sử dụng nguồn vốn lớn của Đất nước? Hay những hoạt động “siêu tổng công ty” này được phép làm có thực sự trọng tâm để biến nó thành “bánh lái” chủ đạo của nền kinh tế? Hệ thống pháp luật quy định về những vấn đề đó như thế nào? Các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề cơ cấu tổ chức và hoạt động của SCIC hiện nay ra sao? Đã có công trình khoa học nào nghiên cứu về đề tài này chưa? Qua quá trình
rà soát và nghiên cứu các vấn đề có liên quan về tổ chức SCIC, tác giả nhận thấy
hiện nay chưa có một công trình hoặc đề tài khoa học nào nghiên cứu về “Những
vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)” một cách thống nhất, đầy đủ và toàn diện Để thấy rõ về
vai trò của SCIC trong nền kinh tế Việt Nam thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của SCIC, đồng thời làm sáng tỏ thêm
về mặt lý luận - khoa học về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà Nhà nước, qua đó làm nổi bật vai trò của SCIC trong nền kinh tế Việt Nam phù hợp với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX của Đảng về sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả DNNN đã xác định cần đổi mới phương thức quản lý vốn Nhà nước theo hướng tách biệt chức năng quản lý Nhà nước khỏi chức năng quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đổi mới cơ chế quản
lý vốn Nhà nước từ phương thức hành chính (cấp phát vốn) sang kinh doanh vốn thông qua mô hình công ty đầu tư tài chính Nhà nước Các Bộ, ngành, ủy ban nhân dân các địa phương sẽ tập trung vào việc hoạch định và thực thi các chính sách, trong khi các quyền và lợi ích của Nhà nước với tư cách một cổ đông sẽ do một tổ chức kinh tế đặc biệt thực hiện trên cơ sở luật nghiệp, đáp ứng mục tiêu chính sách của Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản quốc gia, thực hiện tốt chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước
Trang 11Tất cả những điều nêu trên là lý do luận chứng để tác giả lựa chọn vấn đề
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)” làm đề tài nghiên cứu khoa học cho luận văn
thạc sỹ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có khá nhiều công trình khoa học, đề tài khoa học, luận văn và bài viết chuyên sâu có liên quan đến Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) Tuy nhiên, chưa có giáo trình, sách chuyên khảo, bình luận khoa học mang tính chất hệ thống có liên quan đến Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Về các công trình khoa học nghiên cứu liên quan có:
1) Cử nhân Nguyễn Thị Hồng Vân “Tổng công ty Nhà nước những quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng” Khóa luận tốt nghiệp, bảo vệ năm 1997; 2) ThS Phạm Thị Minh Châu “Một số vấn đề về địa vị pháp lý của tổng
năm 1997;
3) ThS Trần Thị Lệ Thu “Địa vị pháp lý cùa Tổng công ty đầu tư và kinh
4) Nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học Đại học ngoại thương 2008 -
Nhóm ngành XH1a “Mô hình Temasek Holdings của Singapore trong thực tiễn
viên nghiên cứu khoa học Đại học Ngoại thương năm 2008;
5) Cử nhân Bùi Thị Minh Trang “Cơ chế quản lý vốn Nhà nước trong Tổng
công ty đầu tư và kinh dọạnh vốn Nhà nước (SCIC)” Khóa luận tốt nghiệp, bảo vệ
Trang 12động SCIC, tác động của các quy định pháp luật đó đối với cơ cấu tổ chức và hoạt động trong thực tiễn của SCIC ra sao? Vai trò, vị trí của SCIC trong nền kinh tế Việt Nam như thế nào vv ? Để giải quyết những vấn đề trên tác giả nhận thấy nếu
có một đề tài nghiên cứu sâu hơn về “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)” thì càng có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn liên quan tới Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
M ục đích nghiên cứu của đề tài: Thông qua việc nghiên cứu một cách tương đối
toàn diện các quy định của pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công
ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) trong luận văn này, các văn bản pháp luật hiện hành về SCIC và thực tiễn thi hành các văn bản pháp luật, chúng tôi mong muốn làm sáng tỏ các cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của SCIC hiện nay Nhằm phát huy hơn nữa vai trò của pháp luật đối với hoạt động của SCIC nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung, tạo môi trường pháp lý bình đẳng cho cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện nay
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài đi sâu vào nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư
và kinh doanh vốn Nhà nước; đồng thời luận văn cũng tìm hiểu các khái niệm, đặc điểm, bài học kinh nghiệm, tham khảo mô hình hoạt động của tổ chức tương tự trên thế giới, từ đó kiến nghị bổ sung, sửa đổi hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của SCIC
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và tác động của qui định pháp luật đó đối với cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) từ khi thành lập theo Quyết định thành lập số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ cho đến nay
Trang 13Đề tài sẽ đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản của các quy định pháp luật về
cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC); thực tiễn cơ cấu tổ chức, bộ máy và hoạt động của SCIC hiện nay Trên
cơ sở đó có kiến nghị, bổ sung hoàn thiện pháp luật với hy vọng Tổng công ty đầu
tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) ngày càng lớn mạnh trong tương lai
4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu đề tài
4.1 Phương pháp luận
Luận văn đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa được thể hiện trong “Cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội” tại Đại hội Đảng lần thứ VII tháng 6 năm 1991 và tiếp tục được khẳng trong các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về sau để giải quyết những nhiệm vụ mà đề tài
đã đặt ra
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận như trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù, phổ biến của khoa học luật kinh tế như: phân tích, tổng hợp và thống
kê, phương pháp so sánh vv trong luận văn nhằm mục đích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC); Phân tích các tri thức khoa học luật kinh tế và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu
5 Nhiệm vụ, ý nghĩa của luận văn
5.1 Nhiệm vụ của luận văn
Do tính chất rộng lớn của vấn đề nên trong luận văn này học viên không tham vọng giải quyết tất cả những vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ cấu tổ chức và hoạt động Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước Học viên chỉ tập trung vào nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của pháp luật có liên quan đến tổ chức và hoạt động của SCIC, từ đó rút ra những kết luận cần thiết nhằm hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) hiện nay
Trang 14Vấn đề hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công
ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) của Việt Nam hiện nay đang được Đảng và Nhà nước quan tâm Do SCIC mới được thành lập và đi vào hoạt động được một thời gian nên các quy định pháp luật về SCIC còn ít, các văn bản hướng dẫn về bộ máy và hoạt động của SCIC còn thiếu Điều lệ hoạt động của SCIC hiện nay còn chưa hoàn thiện Theo lãnh đạo của SCIC trong Quý I năm 2013 ban lãnh đạo của SCIC đang xem xét soạn thảo dự thảo Điều lệ, Nghị định quy định cơ cấu
tổ chức và hoạt động của SCIC trình Chính phủ phê duyệt Trước đó đã có một số công trình nghiên cứu về SCIC dưới góc độ khác nhau về góc độ kinh tế cũng như
về góc độ pháp lý, nhưng có thể nói đây là đề tài đầu tiên đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về mô hình tổ chức, hoạt động của SCIC
Do thời gian nghiên cứu có hạn, do hạn chế về khả năng và kiến thức, các quy định của pháp luật có liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của SCIC là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau Do vậy, luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được thầy cô và các bạn đồng nghiệp góp ý và giúp đỡ
5.2 Ý nghĩa của luận văn
Góp phần vào việc xây dựng cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện pháp luật về cơ cấu
tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước SCIC Góp phần hoàn thiện pháp luật để tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho các hoạt động thực tiễn của SCIC với tư cách là một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường với các doanh nghiệp khác
* Lu ận văn có những đóng góp mới:
Trong lu ận văn, tác giả nghiên cứu một cách tổng thể và có hệ thống cơ sở lý luận
pháp lu ật về cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh
doanh v ốn Nhà nước (SCIC) do chưa có hệ thống văn bản pháp luật thống nhất điều chỉnh toàn bộ hoạt động của SCIC
Ch ỉ ra một số đặc thù của pháp luật về những điểm phù hợp, những điểm chưa
hình t ổ chức, cơ chế hoạt của SCIC Từ đó nêu ra một số kiến nghị nhằm sửa đổi,
b ổ sung, xây dựng hoàn thiện pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng
Trang 15công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước với hy vọng SCIC sẽ trở thành một tổ
ch ức tài chính lớn mạnh trong tương lai
6 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Nhà nước (SCIC)
Ch ương 2: Tổng quan về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu
tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Ch ương 3: Một số định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Trang 16CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔNG CÔNG TY
ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC)
1 Khái niệm về Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là một tổ chức kinh tế đặc biệt của nhà nước, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước và các luật khác có liên quan, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong nước, nước ngoài theo quy định của pháp luật Tổng công ty có trụ sở chính đặt tại thành phố Hà Nội và có các công ty thành viên, chi nhánh, văn phòng đại diện tại một số khu vực trong nước và ngoài nước Nhìn chung, các nước trên thế giới hiện nay đều tồn tại khu vực kinh tế Nhà nước và do đó đều có các cơ sở kinh tế của Nhà nước hay còn gọi là DNNN Sự tồn tại của DNNN bắt nguồn từ yêu cầu giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội và yêu cầu điều tiết vĩ mô trong nền kinh tế thị trường Ở Việt Nam, trước khi đổi mới, Nhà nước phải ôm toàn bộ chức năng nhà đầu tư, thống nhất điều hành từ sản xuất đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng, nghĩa là thực thi cơ chế bao cấp với toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội DNNN, được Nhà nước tạo nhiều điều kiện
và ưu tiên trong quá trình hoạt động do đó hoạt động của các DNNN thường kém hiệu quả kinh tế, khả năng cạnh tranh kém so với các hoạt động của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong điều kiện kinh doanh như nhau Chính sách và cơ chế ấy đã đưa nền kinh tế Việt Nam khủng hoảng, suy sụp trong một thời gian dài, điều này tất yếu mở ra cuộc đổi mới phát triển một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần
DNNN ở Việt Nam được phát triển từ năm 1948 theo sắc Lệnh số 104-SL
do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 01/01/1948, doanh nghiệp Nhà nước được hiểu là doanh nghiệp quốc gia, theo đó tại Điều 2 sắc lệnh quy định “Doanh
nghi ệp quốc gia là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển” Sau đó thuật ngữ doanh nghiệp Nhà nước được sử dụng chính thức
trong Nghị định số 338-HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành
Trang 17Quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước, tại Điều 1 quy định
“doanh nghiệp Nhà nước là một tổ chức kinh doanh do Nhà nước thành lập, đầu
t ư vốn và quản lý tư cách chủ sở hữu”
Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995 có định nghĩa về doanh nghiệp Nhà nước tại điều 1 như sau: “Doanh nghiệp Nhà nước là một tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư
v ốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích
nh ằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao”
Như DNNN theo quy định của Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995 được hiểu là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ
Phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế của đất nước, Luật doanh nghiệp Nhà nước 1995 đã bị thay thế bởi Luật doanh nghiệp Nhà nước 2003 thì khái niệm và
cách hiểu về DNNN đã thay đổi đáng kể, theo đó “Doanh nghiệp Nhà nước là tổ
ch ức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi
ph ối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty
nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ mà còn là những doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước
Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 trước đây cũng đã quy định về các loại hình tổng công ty Nhà nước Trước đây, từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, ở nước
ta cũng đã tồn tại những cơ sở kinh tế lớn của Nhà nước, được thành lập dưới dạng liên hiệp các xí nghiệp quốc doanh nhằm liên kết lại với nhau để mở rộng hợp tác, phân công sản xuất kinh doanh, tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, liên hiệp các xí nghiệp được
tổ chức thành các tổng công ty Nhà nước theo Quyết định số 90/TTg và Quyết định số 91/TTg ngày 7/3/1991 của Thủ tướng Chính phủ và đã được quy định cụ thể trong Luật doanh nghiệp năm 2003
Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời cũng có một định nghĩa về DNNN tương tự như Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 và hiện nay Luật doanh nghiệp mới 2015 có hiệu lực ngày 01/07/2015 đã có bổ sung thêm điều kiện về tỷ lệ phần trăm vốn góp của Nhà nước vào DNNN Theo quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật doanh nghiệp
Trang 182005: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên
điều kiện để một doanh nghiệp được coi là DNNN mà còn chưa có những quy định cụ thể, chi tiết về cơ cấu tổ chức quản lý cũng như cơ cấu tổ chức hoạt động của loại hình doanh nghiệp này
Nhằm khắc phục thiếu sót, hạn chế đó của Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2015 do Quốc hội ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2015
đã bổ sung một chương hoàn toàn mới về doanh nghiệp nhà nước Đây là nội dung lâu nay chưa có luật nào quy định cụ thể Trong đó, quy định về các lĩnh vực kinh doanh của nhà nước Ngoài ra luật còn quy định về cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động, công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 2015 cũng đưa ra một định nghĩa hoàn toàn mới của DNNN tại
khoản 8 Điều 4 Luật DN 2015: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà
n ước nắm giữ 100% vốn điều lệ” Như vậy, DNNN ở đây được hiểu là doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư thành lập và sở hữu toàn bộ 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp chứ không chỉ là sở hữu trên 50% vốn điều lệ theo như quy định tại luật cũ
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hòa nhập cùng với nền kinh tế thế giới, các nhà đầu tư nước ngoài xâm nhập vào thị trường Việt Nam với tiềm năng kinh tế lớn, công nghệ tiên tiến, trình độ quản lý cao, cạnh tranh với các doanh nghiệp Việt Nam, thì hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước đều có quy
mô nhỏ, hiệu quả đầu tư thấp dẫn đến sự đầu tư dàn trải, thiếu tập trung gây lãng phí nguồn vốn của Nhà nước, cơ chế quản lý của Nhà nước lại chưa thực sự đồng
bộ so với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Để khắc phục tình trạng nguồn vốn Nhà nước manh mún, nhỏ lẻ ở các DNNN, tập trung nguồn vốn Nhà nước ở một đầu mối, năm 2005 Chính phủ đã phê duyệt và ra quyết định thành lập Tổng cồng ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước, gọi tắt là SCIC được thành lập theo Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc thành lập Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước
Trang 19Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước Việt Nam có tên viết tắt là SCIC; Tên tiếng Anh là STATE CAPITAL INVESTMENT CORPORATION ra đời nằm trong kế hoạch cải cách kinh tế chung của Nhà nước SCIC là đại diện duy nhất của chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện quyền đầu
tư tài chính, kinh doanh vốn theo nguyên tắc và quy luật thị trường
Theo quy định tại Điều 2 Quyết định 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà
nước quy định: “Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (sau đây gọi
t ắt Tổng công ty) là một tổ chức kinh tế đặc biệt của Nhà nước, hoạt động theo
cách pháp nhân theo pháp lu ật Việt Nam, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại
kho b ạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại trong nước, nước ngoài theo quy định của pháp luật Tổng Công ty có trụ sở chính đặt tại Hà Nội và có các công ty
thành viên, chi nhánh, v ăn phòng đại diện tại một số khu vực trong nước và ngoài
n ước”
Như vậy, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) là một
tổ chức có tư cách pháp nhân, nghĩa là SCIC là một tổ chức do Nhà nước thành lập, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ SCIC có tài sản độc lập tự chịu trách nhiệm về tài sản của mình và nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập
2 Đặc điểm của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
- Do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (theo quy định tại khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2015) hoặc cổ phần vốn góp chi phối
- Nhà nước toàn quyền định đoạt đối với doanh nghiệp hoặc quyền định đoạt đối với các vấn đề quan trọng khác của doanh nghiệp
- Có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh doanh, có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm về tài sản của mình;
Trang 20- Tồn tại dưới hình thức khác nhau như công ty cổ phần, công ty TNHH một thành viên (theo quy định tại Điều 89 Luật Doanh nghiệp 2015), DN có cổ phần chi phối, vốn góp chi phối của Nhà Nước
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) là một tổ chức tài chính đặc biệt, nhân danh Nhà nước quản lý, đầu tư và kinh doanh phần vốn của Nhà nước, do vậy SCIC có những đặc điểm riêng như sau:
Một là, SCIC là một tổ chức tài chính đặc biệt do Chính phủ thành lập
nhằm thực hiện mục tiêu đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước
- Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động chịu sự điều chỉnh của Luật DNNN năm 2003 và theo Quyết định số 151 ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ Với tư cách là tổ chức chuyên quản lý, đầu tư và kinh doanh vốn của Nhà nước, SCIC ra đời nằm trong tiến trình cải cách kinh tế nói chung và cải cách DNNN nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước SCIC thực hiện chức năng đại diện chủ
sở hữu vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện đầu tư tài chính, kinh doanh vốn theo nguyên tắc, quy luật của thị trường
- Để phù hợp với tình hình thực tế và thực trạng pháp luật sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005 có hiệu lực pháp luật Ngày 30/6/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 992/QĐ- TTG về việc Chuyển đổi Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước thành Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu (gọi tắt là Quyết định số 992) thì SCIC hiện nay đang được thiết kế theo mô hình là công ty đối vốn, tổ chức và hoạt động dưới hình thức công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản đã cấp cho Tổng công ty và chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn mà Tổng công ty quy định
Hai là, SCIC hoạt động theo mô hình công ty đầu tư và kinh doanh vốn
Nhà nước
- Trước khi thành lập SCIC, Bộ Tài chính đã xây đựng đề án và mô hình hoạt động
là theo mô hình của tập đoàn Temasek Holdings của Singapore, với mục đích ban đầu khi thành lập SCIC sẽ đầu tư vào những lĩnh vực công nghệ cao, lĩnh vực mới
Trang 21nhằm khuyến khích chuyển đổi nền kinh tế Khi mới thành lập các nhà lãnh đạo của SCIC đã khẳng định SCIC không phải là một cơ quan hành chính mà SCIC là một doanh nghiệp có chức năng đầu tư và kinh doanh vốn của Nhà nước, đại diện cho phần vốn của Nhà nước, giữ vai trò cổ đông tại các doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước
- Trong thời gian đầu hoạt động đầu tư và kinh doanh của SCIC chưa nhiều vì trọng tâm là thoái vốn, cơ cấu lại vốn và củng cố vai trò tại các doanh nghiệp được chuyển giao Chủ trương của Chính phủ đã định hướng là đồng vốn giữ lại phải là vốn đầu tư thực sự tại những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, thay cho việc cấp phát vốn như trước đây và là một cổ đông bình đẳng thay cho một “hình ảnh” về một đầu mối chỉ tiếp nhận, thoái vốn và đại diện cho phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp
Ba là, SCIC thực hiện việc quản lý vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp
thông qua người đại diện cho phần vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp
- Có thể nói đây là một trong những điểm đặc thù của SCIC Từ năm 2006 khi SCIC chính thức đi vào hoạt động thì cơ chế bộ chủ quản trước đây coi như không còn nữa Thay vào đó cơ chế Người đại diện được hy vọng là chấm dứt được tình trạng
“3 trong 1” trước đây, các Bộ, Ngành và Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố thực
hiện đồng thời cả ba chức năng là quản lý Nhà nước về kinh tế, chủ quản cấp trên đối với doanh nghiệp và đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, cơ chế này đã làm cho vốn của Nhà nước vào các doanh nghiệp dàn trải, manh mún, các quyết định đầu tư vốn Nhà nước được thực hiện qua nhiều cấp khác nhau nhưng không đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả đầu tư vốn chưa cao là do bộ máy quản lý Nhà nước đồng thời là bộ máy thực hiện quyền sở hữu, cùng lúc đó nhiều cơ quan,
tổ chức và cá nhân thực hiện chức năng chủ sở hữu Nhà nước và đều được coi là đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp, hệ quả là không rõ cơ quan nào đại diện chủ sở hữu chính Định hướng mà Chính phủ đặt ra khi thành lập SCIC là hướng tới chấm dứt tình trạng trên, cơ quan hành chính Nhà nước không can thiệp trực tiếp, cụ thể vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp mà phân định
Trang 22- Với các quy định pháp luật về quy chế Người đại diện cho tài sản của chủ sở hữu – Nhà nước tại các các doanh nghiệp thì phần nào giúp minh bạch hóa giữa các năng quản lý và chức năng hành chính; khiến các DNNN bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác trong các hoạt động kinh tế
Bốn là, hoạt động của SCIC phụ thuộc quá nhiều vào Chính phủ
- Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước Nhà nước (SCIC) là doanh nghiệp hoạt động theo hình thức Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Là một doanh nghiệp, SCIC cũng phải chịu sự tác động chung của nền kinh tế thị trường, cũng có chức năng kinh doanh như các doanh nghiệp khác Tuy nhiên, SCIC còn mang thêm nhiệm vụ chính trị trong tổ chức và hoạt động của mình, tại điều lệ của SCIC quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 7 Nghị định 152 quy định về quyền và nghĩa vụ của SCIC “Lựa chọn và quyết định lĩnh vực đầu tư và
kinh doanh v ốn theo nguyên tắc thị trường, đảm bảo hiệu quả và khả năng sinh lời
trong t ương lai
Tr ường hợp thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ giao, nếu không có hiệu quả thì được thực hiện các chính sách ưu đãi thích hợp và Nhà nước hỗ trợ về tài chính”
- Vậy thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ giao là gì? Mục đích thực hiện các hoạt động của Chính phủ giao cho nhằm mục tiêu lợi nhuận hay thực hiện các mệnh lệnh hành chính đơn thuần? Nếu các nhiệm vụ do Chính phủ giao không có hiệu quả thì lại trông đợi vào Ngân sách Nhà nước cho hoạt động của mình? Như vậy, trong quá trình hoạt động liệu SCIC có toàn tâm toàn ý để kinh doanh?
- Có thể thấy Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước dù là một doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm
Trang 233 Cơ sở thực tiễn ra đời của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định giữ lại sở hữu Nhà nước trong một số ngành, doanh nghiệp quan trọng của nền kinh tế Tuy nhiên, đóng góp của DNNN nói chung cho sự phát triển của kinh tế Đất nước là chưa tương xứng với nguồn lực
mà các DNNN đang quản lý và sử dụng; hiệu quả sử dụng các nguồn lực đó thấp hơn khá nhiều so với kinh tế tư nhân trong và nước ngoài Các DNNN nói chung, nhất là các tập đoàn, tổng công ty chưa thực hiện đầy đủ các chức năng được giao cũng như kỳ vọng của Nhà nước vào họ
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chế
độ ưu ái, phân bổ nguồn lực quốc gia như nguồn nhân lực, công nghệ, nguồn vốn
và tài nguyên thiên nhiên cho các DNNN, các DNNN được trao quá nhiều đặc quyền, trong đó có cả độc quyền trong sản xuất và thị trường tiêu thụ Việc quản
lý, giám sát nguồn vốn Nhà nước, quản lý hoạt động của doanh nghiệp bị buông lỏng Các DNNN, xuất phát từ đặc thù của mình không phải chạy theo sức ép lợi nhuận như doanh nghiệp các khu vực khác, nghĩa là DNNN chưa thực sự hoạt động theo cợ chế thị trường Ngoài ra, lợi thế chính sách và hỗ trợ của chủ sở hữu
Trang 24Nhà nước đã phần nào triệt tiêu động lực hiệu quả kinh doanh của DNNN Cơ chế quản lý của Nhà nước đối với các DNNN thiếu hẳn những động thái cảnh báo để ngăn ngừa việc sử dụng kém hiệu quả, nguy cơ thất thoát đồng vốn của Nhà nước, với
cơ chế này đã tạo cho DNNN nhiều đặc quyền, không sợ phá sản vì được bảo hộ, làm
ăn thua lỗ thì được Nhà nước hỗ trợ tiếp nguồn vốn, không sợ cạnh tranh vì độc quyền, không sợ thiếu vốn kinh doanh vì có nguồn vốn Nhà nước cấp cho và luôn luôn được tiếp cận vay vốn từ nhiều nguồn
Với mong muốn tìm ra một mô hình quản lý phù hợp để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý vốn Nhà nước Ngày 20/6/2005 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 152 về việc thành lập Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) Đến ngày 01/8/2006 Tổng công ty chính thức đi vào hoạt động Với tư cách là một tổ chức tài chính đặc biệt, chuyên đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước, sự ra đời của SCIC nằm trong tiến trình cải cách kinh tế nói chung và cải cách doanh nghiệp nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện quyền đầu tư tài chính, kinh doanh vốn theo những nguyên tắc và quy luật của thị trường Cũng có thể nói SCIC ra đời như làm một sự kết hợp giữa quản lý Nhà nước với kinh tế thị trường, và là tất yếu
vì hình thức “Bộ chủ quản” trước đây không còn phù hợp Trong khi đó thì các tổng công ty, hay các tập đoàn ngày càng bành trướng sang các lĩnh vực kinh doanh không thuộc thẩm quyền của bộ chủ quản nữa ví dụ như Tổng công ty hàng hải, Tập đoàn Bưu chính viễn thông tham gia vào lĩnh vực ngân hàng hay việc Tổng công ty Điện lực tham gia vào lĩnh vực bất động sản vv , ngay trong bản thân các hoạt động kinh doanh của họ cũng phức tạp hơn rất nhiều, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên sâu chứ không phải các mệnh lệnh hành chính như trước đây
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) của Việt Nam được thành lập dựa trên nghiên cứu khoa học về các mô hình tổ chức tài chính tiên tiến trên thế giới mà điển hình là mô hình Tập đoàn Temasek Holdings của Singapore do Chính phủ Singapore thành lập nhằm phục vụ yêu cầu tách biệt vai trò điều hòa và đề ra chính sách của Chính phủ với vai trò kinh doanh Việt Nam
Trang 25xuất phát từ yêu cầu thực tiễn là thành phần kinh tế Nhà nước làm chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân với mục tiêu tập trung nguồn vốn Nhà nước, sử dụng hiệu quả nguồn vốn Nhà nước và từ những những thành quả Temasek Holdings đạt được đã khiến tất cả các quốc gia có mô hình kinh tế doanh nghiệp Nhà nước có ý định thành lập loại hình doanh nghiệp này phải nghiên cứu học tập
t ư Nhà nước
Temasek Holdings được thành lập từ năm 1974 với mục đích ban đầu là để nguồn vốn của Chính phủ đầu tư ra nước ngoài, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả về mặt kinh tế
Có thể nói ở Singapore khác với các nước công nghiệp phát triển khác thì thành phần kinh tế đóng vai trò chủ chốt và là người quyết định nền kinh tế là phần kinh
tế Nhà nước, trong đó tập đoàn Temasek Holdings cũng là một trong những thành phần chủ chốt đó Sau khi thành lập, tập đoàn Temasek Holdings đã thực sự lớn mạnh so với ý định thành lập ban đầu của nó, không những kiểm soát thị phần của mình trong phạm vi Đất nước mà còn vươn ra khắp các châu lục Cổ phần và danh mục đầu tư năng động của tập đoàn này được thể hiện ở hầu hết các ngành, lĩnh vực đóng vai trò chủ chốt, có tính chất quyết định đến nền kinh tế quốc gia như: tài chính ngân hàng, bất động sản, giao thông vận tải, năng lượng, kỹ thuật vv….Đây đều là những ngành chủ chốt có tính chất quyết định đến nền kinh tế quốc gia, tập đoàn Temasek Holdings không những thực hiện nhiệm vụ của mình
mà còn thực hiện cả những nhiệm vụ vĩ mô đối với nền kinh tế quốc gia Trong khi Chính phủ các nước vẫn đang đi tìm một đường lối để thay đổi thành phần doanh nghiệp Nhà nước thì sau bao thăng trầm, thay đổi về cơ cấu tổ chức tập đoàn Temasek Holdings vẫn là một tổ chức có uy tín thuộc bộ phận đầu tư của chính phủ Singapore và thuộc sở hữu của Bộ tài chính - Singapore
* Chi ến lược kinh doanh của tập đoàn Temasek Holdings: kinh doanh theo kiểu tư
nhân
Trên Website chính thức của tập đoàn Temasek Holdings “Chúng tôi hoạt động
Trang 26thu ần dựa trên các mối quan tâm thương mại Cả Thủ tướng và Chính phủ
Singapore đều không liên quan đến các quyết định đầu tư, rút vốn hoặc các hoạt động kinh doanh khác của chúng tôi”
Tuy toàn bộ vốn của Temasek Holdings đều do Bộ tài chính của Singapore cấp và quản lý nhưng hoạt động của nó lại đi theo hướng như một công ty tư nhân, ban lãnh đạo của tập đoàn Temasek Holdings đã thuyết phục làm cho các nhà đầu tư tin tưởng việc dù 100% vốn của họ đều là vốn Nhà nước nhưng họ không làm theo cách của Nhà nước và cũng không bị Nhà nước chi phối trong hoạt động của mình Cam kết và hành động của Temasek Holdings đã thuyết phục được các nhà đầu tư trong và ngoài nước tin tưởng họ Từ năm 2002 đến năm 2008, tập đoàn Temasek Holdings đã mua được 1,5 tỷ đô la Mỹ cổ phần của các ngân hàng Indonesia, Hàn Quốc và Ấn Độ; 5% cổ phần Telekom Malaysia; 62% cổ phần của Global Crossing (một tập đoàn viễn thông Hoa Kỳ) vv… Từ những thành quả hoạt động kinh doanh của mình ngay cả ở những nước phát triển với thành phần kinh tế
tư nhân là chủ đạo như Mỹ, Nhật Bản và các nước phương tây đều phải công nhận
về tính năng động và hiệu quả của tập đoàn Temasek Holdings như một công ty tư nhân
t ối đa hóa lợi nhuận
Đây là một nguyên tắc chủ đạo và có thể coi là tôn chỉ hoạt động của tập đoàn Temasek Holdings “Tối đa hóa lợi nhuận” của tập đoàn có nghĩa là kinh doanh có hiệu quả trên từng lĩnh vực mà tập đoàn tham gia hoạt động trên thị trường và phải đạt được lợi nhuận cao nhất có thể Thông qua việc nâng cao giá trị các khoản đầu
tư trong danh mục, thước đo hiệu quả hoạt động của Temasek Holdings cũng chính là mức lợi tức do doanh mục đầu tư mang lại Cụ thể từ số vốn ban đầu 354 triệu đô la Singapore nhận từ Bộ tài chính, sau gần 40 năm hoạt động Temasek có tổng giá trị tài sản hơn 100 tỷ đô la Mỹ Hiện nay, Temasek Holdings là một trong rất ít các hãng trên toàn cầu nhận được xếp hạng tín dụng cao nhất của cả Standard
& Poor và Moody ở mức độ AAA/Aaa
Trang 27Từ những thành công của Temasek Holdings, qua nghiên cứu những quy định pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của SCIC, chúng ta có thể thấy SCIC của Việt Nam đã nghiên cứu và học tập từ mô hình của Temasek Holdings những nét tương đồng như sau:
* Th ứ nhất, về mục tiêu thành lập
Như ở một số nước trong khu vực, thành phần kinh tế giữ vai trò quyết định trong nền kinh tế như của Singapore là thành phần kinh tế Nhà nước, Temasek Holdings của được thành lập từ nguồn vốn của chủ sở hữu là Nhà nước và đã đạt được những thành quả vô cùng to lớn Thành phần kinh tế giữ vai trò chủ đạo của Việt Nam cũng là thành phần kinh tế Nhà nước, với mong muốn nâng cao vai trò và vị thế của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Việt Nam đã thành lập Tổng công ty kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), trong đó vốn của chủ sở hữu là Nhà nước và từ các doanh nghiệp thành viên đã làm cho SCIC có những điểm gần giống với Temasek Holdings Cả SCIC và Temasek Holdings đều thành lập dựa trên ý tưởng của Nhà nước với mục đích kiểm soát nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, làm cho chúng có hiệu quả cao hơn
* Th ứ hai, về cách thức xây dựng và quản lý
Về cơ cấu tổ chức và cách thức xây dựng đội ngũ cán bộ, cả SCIC và Temasek Holdings đều có những nét tương đồng về thành lập, thành phần tổ chức, ban lãnh đạo và các danh mục đầu tư Temasek Holdings và SCIC đều là tổ chức tài chính
do Chính phủ thành lập, do Nhà nước làm chủ sở hữu, Chính phủ có sự kiểm soát nhất định đối với các hoạt động của công ty thông qua quyền của chủ sở hữu Các hoạt động đầu tư chủ yếu đều nhắm tới những ngành, lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
* Th ứ ba, hoạt động đều nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị đầu tư
Từ chiến lược hoạt động kinh doanh và từ các hoạt động thực tế của Temasek Holdings đã thể hiện mục tiêu khi tham gia đầu tư vốn vào các hoạt động kinh tế trong và ngoài Singapore, họ đã tạo lòng tin từ các nhà đầu tư bằng chính hiệu quả kinh doanh của Temasek Holdings, còn đối với SCIC của Việt Nam trong chiến
Trang 28lược phát triển hiện nay của mình, SCIC cũng quyết tâm hướng tới mục tiêu “tối
đa hóa giá trị đầu tư”
4 Cơ sở pháp lý ra đời của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Tổng Công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) được thành lập theo quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ là
mô hình cải cách, đổi mới quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước từ phương thức quản lý mang tính chất hành chính sang phương thức đầu tư và kinh doanh vốn thông qua tổ chức chuyên nghiệp là Tổng công ty đầu tư
và kinh doanh vốn Nhà nước, phù hợp với nguyên tắc thị trường và xu thế hội nhập, tạo động lực, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước, thúc đẩy thị trường vốn và thị trường chứng khoán phát triển
Hoạt động của SCIC khi mới ra đời chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp 2003 và các luật khác có liên quan Tuy nhiên, trong suốt quá trình tồn tại của Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 có thể thấy rõ do bị chi phối bởi quan điểm phân loại nghiệp dựa trên tiêu chí tính chất sở hữu và thành phần kinh tế các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam được ghi nhận gồm: DNNN, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, tương ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp nói trên sẽ do một luật điều chỉnh như DNNN do Luật doanh nghiệp Nhà nước điều chỉnh; công
ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh do Luật doanh nghiệp điều chỉnh; doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài do Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam điều chỉnh Ngoài ra, các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành hay lĩnh vực nhất định được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành Vì vậy, có những doanh nghiệp có cùng loại hình pháp lý nhưng lại khác nhau về tính chất sở hữu, thành phần kinh tế hay quốc tịch của doanh nghiệp thì được quy định hay đối xử khác nhau và không bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp Sự phân biệt đó là không phù hợp với xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu hóa, quá hội nhập kinh tế vào nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới Nhằm khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết của hệ thống về doanh nghiệp, để đáp
Trang 29ứng yêu cầu nội tại của nền kinh tế và nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời là hệ thống pháp luật thống nhất điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp, đây là việc làm cần thiết để tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi, ổn định, minh bạch, phù hợp với việc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
SCIC ra đời khi mà Luật doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 vẫn đang còn hiệu lực, do vậy trong Quyết định số 151 ngày 20/06/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc thành lập Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước khẳng định Tổng công ty hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước Sau khi Luật doanh nghiệp
2005 ra đời, là hệ thống pháp luật thống nhất điều chỉnh các doanh nghiệp Để phù hợp với thực trạng pháp luật và tình hình thực tế không còn phù hợp Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 992 quy định về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty, theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Quyết định số 992 thì tổ chức
và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005, các quy định pháp luật có liên quan, Điều lệ tổ chức và hoạt động do Thủ tướng chính phủ phê duyệt Sau khi Luật doanh nghiệp năm 2005 có hiệu lực pháp luật, cùng với Quyết định
số 992, địa vị pháp lý của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) được quy định như đối với Công ty TNHH một thành viên theo quy định của Lúật doanh nghiệp năm 2005
Luật Đầu tư năm 2005 cũng được ban hành nhằm mục đích thống nhất việc quản
lý và điều chỉnh các hoạt động đầu tư trong và ngoài nước Tại Điều 68 Luật đầu
tư năm 2005 cũng có quy định về tổ chức và hoạt động của Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn Nhà nước “Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp Nhà nước và các quy định về
t ại công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên, công ty trách nhiệm
h ữu hạn Nhà nước hai thành viên trở lên, công ty cổ phần được chuyển đổi từ
công ty Nhà n ước độc lập hoặc được thành lập mới”
Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2005 không quy định cụ thể về mô hình tổng công
ty như Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 trước đây, vì vậy mọi quyền hạn,
Trang 30nghĩa vụ của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước - SCIC đều thực hiện theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, là một tổ chức tài chính đặc thù của Nhà nước, SCIC còn thay mặt Nhà nước với mục tiêu trở thành nhà đầu tư chiến lược của Chính phủ Việt Nam thông qua việc đem lại giá trị tối đa và sự tăng trưởng bền vững cho các khoản đầu tư
Nhằm khắc phục những hạn chế của Luật Doanh nghiệp 2005 đó là không có những quy định cụ thể giới hạn về ngành, lĩnh vực kinh doanh của DNNN mà cụ thể ở đây là SCIC, Luật Doanh nghiệp 2015 đã bổ sung thêm một số quy định về những lĩnh vực DNNN được kinh doanh Cụ thể, đó là những lĩnh vực sau:
- Cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội
- Ho ạt động trong lĩnh vực trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh
- Ho ạt dộng trong lĩnh vực độc quyền tự nhiên
- Ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực cho sự phát triển các ngành,
l ĩnh vực khác và nền kinh tế
Theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Quyết định số 992 vốn điều lệ của SCIC tại thời điểm chuyển đổi là: 19.000 tỷ đồng (Mười chín nghìn tỷ đồng) (hiện nay đã tăng lên 85% so với thời điểm nhận chuyển giao) Để thực hiện cho mục tiêu của mình, SCIC có những nhiệm vụ, quyền hạn riêng:
- SCIC th ực hiện việc tiếp nhận, đầu tư và quản lý vốn đầu tư vào các ngành, lĩnh
v ực theo nhiệm vụ do Thủ tưởng Chính phủ giao;
nghi ệp theo quy định của Thủ tưởng Chính phủ;
- Qu ản lý, sử dụng, hỗ trợ, sắp xếp doanh nghiệp theo quy định của Thủ tướng
Chính ph ủ;
- Th ực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh vốn;
- Cung c ấp các dịch vụ tài chính: tư vấn đầu tư, tư vấn tài chính, tư vấn
c ổ phần hoá, tư vấn chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; nhận uỷ thác các nguồn
lu ật;
Trang 31- T ổ chức huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước theo quy định của pháp
lu ật Đầu tư và kinh doanh vốn vào các ngành, lĩnh vực đem lại hiệu quả kinh tế
cao;
- Cung c ấp các dịch vụ tư vấn: đầu tư, tài chính, chuyển đổi các doanh nghiệp,
qu ản trị doanh nghiệp, mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ
khác theo quy định của pháp luật; ,
Chính ph ủ;
- Vi ệc đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề có liên quan đến ngành, nghề kinh
doanh chính ph ải tuân theo các quy định hiện hành
Để quản lý và kiểm soát phần vốn của Nhà nước trong các hoạt động của SCIC thì Thủ tướng Chính phủ và các bộ theo sự ủy quyền của Chính phủ thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước
Như vậy, có thể thấy các quy định của pháp luật về ngành nghề kinh doanh của DNNN rất đa dạng, DNNN có thể đầu tư, kinh doanh trên rất nhiều ngành, lĩnh vực, song các hoạt động của SCIC với tư cách là một DNNN thực tế hiện nay lại rất khiêm tốn so với vai trò mà SCIC được kỳ vọng trong nền kinh tế quốc dân Trong quá trình nghiên cứu, rà soát văn bản pháp luật, tác giả nhận thấy đối với các quy định pháp luật về Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước - SCIC hiện nay, có sự chồng chéo và không thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động của SCIC Vấn đề đặt ra là Tổng công ty đầu
tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đang cần một hành lang pháp lý ổn định,
rõ ràng để làm cơ sở cho SCIC hoạt động và phát triển
Trang 32CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN
NHÀ NƯỚC (SCIC)
I CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH
VỐN NHÀ NƯỚC (SCIC)
1 Chủ sở hữu
Theo Quyết định số 992/QĐ- TTg ngày 30/6/2010 của Thủ tướng Chính
phủ về việc Chuyển tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước thành Công
ty trách nhiệm Hữu Hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở h
ữu đã khẳng định mô hình hoạt động của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn
Nhà nước - SCIC là Công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu
tương ứng với tỷ lệ góp vốn
Công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở hữu được quy định tại Điều
78 Luật Doanh nghiệp 2015“Công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ sở
h ữu được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây:
a) Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và Kiểm soát viên;
b) Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Kiểm soát viên;
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) cũng là công ty TNHH
do Nhà nước làm chủ sở hữu Như vậy, chủ sở hữu của SCIC cũng là một tổ chức
Luật Doanh nghiệp năm 2015 đã quy định rất cụ thể về sở hữu là tổ chức loại hình
Công ty TNHH một thành viên nói chung và SCIC nói riêng, dù SCIC đại diện
cho phần vốn nhà nước, thay mặt Nhà nước quản lý và kinh doanh vốn Nhà nước
Trang 33giao cho nhưng SCIC vẫn phải chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 2015 và pháp luật có liên quan, có nghĩa là dù chủ sở hữu của SCIC là Nhà nước thì Nhà nước cũng phải tuân thủ quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên
* Chủ sở hữu có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của SCIC:
- Quy ết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ của SCIC;
- Quy ết định chiến lược phát triển và kết hoạch kinh doanh hàng năm của SCIC;
- Quy ết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các
ch ức danh quản lý SCIC;
- Quy ết định các dự án đầu tư có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài
s ản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của SCIC hoặc một tỷ lệ khác nhỏ
h ơn quy định tại điều lệ SCIC;
- Quy ết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
giá tr ị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài
chính g ần nhất của SCIC hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ SCIC;
- Quy ết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của SCIC hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn
quy định tại Điều lệ SCIC;
v ốn điều lệ của SCIC cho tổ chức, cá nhân khác;
- Quy ết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác;
- T ổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của SCIC;
- Quy ết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các
ngh ĩa vụ tài chính khác của SCIC;
- Quy ết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản SCIC;
- Thu h ồi toàn bộ giá trị tài sản của SCIC sau khi SCIC hoàn thành giải thể hoặc
phá s ản;
- Các quy ền khác của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật và Điều lệ SCIC
Trang 34Chủ sở hữu công ty bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền với nhiệm kỳ không quá 5 năm để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Người đại diện theo ủy quyền phải đáp ứng quy định pháp luật
và Điều lệ của công ty Chủ sở hữu công ty có quyền thay thế người đại diện bất
cứ khi nào
Trường hợp có ít nhất 2 người được bổ nhiệm làm đại diện theo ủy quyền thì cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm: Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; trong trường hợp này Hội đồng thành viên gồm tất cả người đại diện theo ủy quyền
Luật Doanh nghiệp 2015 có quy định doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn thì có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật và phải đảm bảo luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam Trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch Công ty là người đại điện theo pháp luật Theo quy định tại Điều lệ hiện hành của SCIC tại Quyết định 152 thì người đại diện theo pháp luật của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) là Tổng giám đốc Người đại diện theo pháp luật của SCIC phải thường trú tại Việt Nam và nếu vắng mặt quá 30 ngày thì phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác làm người đại diện theo pháp luật cho SCIC
Sau khi chuyển đổi hình thức pháp lý theo Quyết định số 992 ngày 30/06/2010 thì SCIC hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên do Nhà hữu gồm: Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Kiểm soát viên và bộ phận giúp việc cho hoạt động của SCIC Chủ sở hữu cho phần vốn của Nhà nước mà đại diện là Chính phủ trực tiếp quản lý toàn bộ hoạt động của SCIC, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất về mọi vấn đề quan trọng của SCIC Song vấn đề đặt ra
là SCIC là một tổ chức tài chính quản lý và sử dụng nguồn vốn vô cùng to lớn của Đất nước, mỗi “bước đi” của SCIC có thể tác động đến nền kinh tế Đất nước, vậy
ai sẽ là người giám sát đối với chủ sở hữu của SCIC? Cần phải có một cơ chế giám sát đảm bảo sự minh bạch đối với SCIC nói riêng và chủ sở hữu Nhà nước nói chung cho hoạt động của SCIC để tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho hoạt
Trang 35ty Nhà nước thành công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu
* Nhân sự của HĐTV:
+ Số lựợng của HĐTV: số lượng thành viên không quá 07 người, thành viên HĐTV làm việc theo chế độ chuyên trách và do cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc khen thưởng, kỷ luật Hiện nay, HĐTV của SCIC có 7 thành viên, trong đó Bộ trưởng Bộ Tài chính là Chủ tịch HĐTV
Đối với quy định Bộ trưởng Bộ Tài chính kiêm nhiệm chức Chủ tịch HĐTV của SCIC là không phù hợp Bộ trưởng Bộ Tài chính là người đứng đầu cả một Bộ, ngành của Nhà nước mang tính chất mệnh lệnh hành chính, lại còn kiêm nhiệm công việc Chủ tịch HĐTV của SCIC với các quyết định mang tính chất kinh doanh, thì việc kiêm nhiệm có thể sẽ gây ra sự chồng chéo trong việc ra các quyết định của người đứng đầu, khi nào là quyết định của Chủ tịch HĐTV của SCIC còn khi nào thì với tư cách là người đứng đầu Bộ Tài chính? Xem xét quy định pháp luật về nhân sự của HĐTV của SCIC hiện nay có thể thấy hầu hết các thành viên trong HĐTV của SCIC đều là quan chức Nhà nước lâu năm Nếu Chính phủ muốn giữ quyền kiểm soát SCIC và rộng hơn là các DNNN do SCIC quản lý thiết nghĩ
Trang 36nên học theo cơ chế của Temasek Holdings, đó là Chính phủ chỉ có một người đại diện nhưng quyền phủ quyết tất cả các vấn đề của HĐTV nếu cần Đây là điểm mà tác giả nhận thấy SCIC nên học tập Song song với cơ chế này cần phải xây dựng một HĐTV chuyên nghiệp và phi hành chính
* Về tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên HĐTV:
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2015 và Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/03/2010 về chuyển đổi Tổng công ty Nhà nước thành công TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, thì thành viên của Hội đồng thành viên SCIC phải đáp ứng điều kiện sau:
- Phải thường trú tại Việt Nam Chủ tịch HĐTV phải là công dân Việt Nam;
- Tốt nghiệp đại học và có năng lực kinh doanh và quản lý doanh nghiệp Chủ tịch HĐTV phải có kinh nghiệm ít nhất 3 năm quản lý, điều hành doanh nghiệp thuộc ngành nghề chính của công ty;
- Có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết, hiểu biết pháp luật và
có ý thức chấp hành pháp luật;
- Không là cán bộ lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước hoặc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc các chức chức vụ quản lý, điều hành tại các doanh nghiệp thành viên:
- Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty
- Chưa từng bị cách chức Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc của doanh nghiệp nhà nước
- Không thuộc đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý điều hành doanh nghiệp như sau:
+ Là cán b ộ công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức;
Trang 37+ S ĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các
c ơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
trong các c ơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;
n ăng lực hành vi dân sự;
doanh;
+ Các tr ường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản;
+ Ngoài ra để đủ điều kiện là thành viên của HĐTV còn phải đáp ứng các điều
ki ện khác theo quy định của Điều lệ Tổng công ty
Đối với các quy định về tiêu chuẩn của HĐTV đã được cụ thể hóa, nhất là quy định về trình độ học vấn, năng lực kinh doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp Hiện nay, pháp luật chỉ quy định về Chủ tịch HĐTV phải là công dân Việt Nam
mà không quy định cụ thể đối với các thành viên còn lại trong HĐTV, đây có thể được coi là điểm tiến bộ của SCIC, học tập từ các mô hình tương tự khác, thực tiễn có rất nhiều Việt kiều không có quốc tịch Việt Nam nhưng họ có năng lực, trình độ và muốn đóng góp cho Đất nước hoặc những người nước ngoài nếu có đầy đủ năng lực và điều kiện thì SCIC cũng có thể thuê họ làm việc cho SCIC nhằm thu hút những người có năng lực và kinh nghiệm để tham gia trong HĐTV nhằm mục đích để SCIC thực hiện được đúng mục tiêu đề ra trong điều kiện kinh
tế hiện nay
Trường hợp “Không là cán bộ lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước hoặc tổ chức
chính tr ị, tổ chức chính trị xã hội hoặc các chức vụ quản lý, điều hành tại các
doanh nghi ệp thành viên” Mặc dù, thành viên của HĐTV có thể hoạt động
chuyên trách và không chuyên trách như đã quy định, song hiện nay trong cơ cấu của HĐTV thì Bộ trưởng Bộ Tài chính là Chủ tịch HĐTV, ngoài ra còn có cả Thứ trưởng Bộ kế hoạch & Đầu tư, Thứ trưởng Bộ Tài chính, Thứ trưởng Bộ Công thương đều là thành viên của HĐTV thì quy định này là không rõ ràng Có thể
hiểu “Không là cán bộ lãnh đạo trong bộ máy quản lý Nhà nước hoặc tổ chức
chính trị ” thì Bộ trưởng Bộ Tài chính và các Thứ trưởng khác đều là các quan
Trang 38chức cao cấp của Chính phủ quản lý Bộ, ngành của Nhà nước thì có vi phạm quy định này không? Hoặc khi các thành viên của HĐTV quyết định các vấn đề quan trọng của SCIC liên quan đến phần vốn Nhà nước họ tham gia với tư cách nào? Là thành viên trong HĐTV? Hay với tư cách lãnh đạo Bộ, ngành? Và những quyết định đó có chắc chắn vì lợi ích của SCIC hay vì lợi ích cục bộ của nhóm ngành vv ? Từ những phân tích trên chúng tôi đề nghị cần phải quy định cụ thể đối với những trường hợp lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước hoạt động chuyên trách là thành viên của HĐTV để đảm bảo tính minh bạch, khách quan trong việc quản lý
và điều hành SCIC
* Về cơ cấu của HĐTV:
- HĐTV gồm có các thành viên chuyên trách và thành viên không chuyên trách, nhiệm kỳ của HĐTV được quy định trong Điều lệ nhưng không quá 5 năm
Chủ tịch HĐTV và các thành viên của HĐTV do chủ sở hữu SCIC bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc khen thưởng, kỷ luật
Thành viên của HĐTV có thể được bổ nhiệm lại nhưng chỉ được bổ nhiệm làm thành viên của HĐTV không quá 2 nhiệm kỳ
Thành viên của HĐTV có thể bị miễn nhiệm trong những trường hợp sau:
- Không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện đối với thành viên HĐTVtại Điều 92 Luật
- Có đơn xin từ chức và được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận bằng văn bản;
- Có quy ết định điều chuyển, bố trí công việc khác hoặc nghỉ hưu;
- Không đủ năng lực, trình độ đảm nhận công việc được giao; bị mất hoặc bị hạn chế
n ăng lực hành vi dân sự;
- Không đủ sức khoẻ hoặc không còn uy tín để giữ chức vụ thành viên Hội đồng thành
viên
Ngoài ra, thành viên HĐTV còn có thể bị cách chức trong những trường hợp sau:
- Công ty không hoàn thành các m ục tiêu, chỉ tiêu kế hoặc hằng năm, không bảo toàn
và phát tri ển vốn đầu tư theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu mà không giải
trình được nguyên nhân khách quan hoặc giải trình nguyên nhân không được cơ
quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận;
Trang 39- B ị truy tố và bị Toà án tuyên là có tội;
- Không trung th ực trong thực thi quyền, nghĩa vụ hoặc lạm dụng địa vị, chức vụ, sử
d ụng tài sản của công ty để tư hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; báo
cáo không trung th ực tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của công ty
Pháp luật hiện hành chỉ quy định về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức HĐTV đối với những trường hợp trên, tuy nhiên, xem xét tầm quan trọng của SCIC, có thể thấy đối với SCIC bất kể hoạt động liên quan đến vốn của SCIC cũng đều mang tầm ảnh hưởng to lớn tới các doanh nghiệp thành viên, bản thân SCIC nói riêng cũng như nền kinh tế Việt Nam nói chung
Đối với quy định “Không trung thực trong khi thực thi các quyền hạn hoặc lạm dụng
địa vị, quyền hạn để thu lợi cho cá nhân hoặc cho người khác”, nếu thu lợi cho cá
nhân hoặc một nhóm nào đó từ nguồn vốn của Nhà nước chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng chỉ bị thay thế hoặc bổ nhiệm lại thì liệu có đảm bảo được
sự minh bạch trong hoạt động của HĐTV chứ chưa nói đến việc chịu trách nhiệm hình sự Vì vậy, cần quy định rõ các trường hợp bị thay thế hoặc bổ nhiệm lại trong Điều lệ của SCIC Pháp luật hình sự có quy định cụ thể đối với những trường hợp tham nhũng phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng cũng cần quy định rõ về chế tài đối với lạm dụng địa vị quyền lợi thu lợi cho cá nhân hoặc cho người khác của HĐTV nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa
* Về chế độ làm việc của HĐTV của SCIC theo quy định tại Điều 97 Luật Doanh nghiệp 2015 và Điều lệ của SCIC theo đó:
HĐTV làm việc theo chế độ tập thể và họp ít nhất một lần trong một quý để xem xét, quyết định những vấn đề thuộc quyền, nghĩa vụ của mình Đối với những vấn
đề không yêu cầu thảo luận thì HĐTV có thể lấy ý kiến các thành viên bằng văn bản theo quy định tại Điều lệ công ty Cuộc họp của HĐTV được tiến hành theo quy định tại Điều 97 Luật Doanh nghiệp 2015 Cuộc họp của HĐTV được tiến hành khi
có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham dự Nghị quyết của HĐTV được thông qua khi có quá nửa số thành viên tham dự biểu quyết tán thành; trường hợp có
số phiếu ngang nhau thì nội dung có phiếu tán thành của Chủ tịch HĐTV hoặc người được Chủ tịch HĐTV uỷ quyền chủ trì cuộc họp là nội dung được thông qua
Trang 40Thành viên HĐTV có quyền bảo lưu ý kiến của mình và kiến nghị lên cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty.Nghị quyết của HĐTV có hiệu lực kể từ ngày được thông qua hoặc từ ngày có hiệu lực ghi trong Nghị quyết đó, trừ trường hợp Điều lệ SCIC quy định phải được chủ sở hữu là Nhà nước chấp thuận
Các cuộc họp của HĐTV phải được ghi biên bản
Chi phí hoạt động của HĐTV được tính vào chi phí quản lý của công ty
Đối với các quy định về chế độ làm việc của HĐTV thì Luật Doanh nghiệp 2015
và các văn bản hướng dẫn có liên quan cũng đã có quy định, tuy nhiên SCIC vẫn cần một hệ thống pháp luật thống nhất điều chỉnh đối với hoạt động đặc thù của mình
* Về chế độ lương, thưởng và lợi ích khác của thành viên HĐTV:
Các thành viên chuyên trách của HĐTV, Kiểm soát viên chuyên trách, Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng hưởng chế độ lương theo năm
Các thành viên không chuyên trách của HĐTV và Kiểm soát viên không chuyên trách hưởng thù lao theo công việc, thời gian làm việc
Các thành viên HĐTV, Kiểm soát viên, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng hưởng chế độ thưởng theo nhiệm kỳ
Mức tiền lương và tiền thưởng tương ứng với kết quả, hiệu quả kinh doanh của Công ty và kết quả hoạt động quản lý, điều hành hoặc kiểm soát
Cụ thể chế độ chi trả tiền lương, tiền thưởng như sau:
- Hàng tháng, các thành viên chuyên trách của HĐTV được tạm ứng 70% của số tiền lương tạm tính cho tháng đó, 30% số còn lại chỉ được quyết toán và chi trả cho cuối năm
- Hàng năm, các thành viên của HĐTV được tạm ứng 70% tổng số thưởng của năm,
số 30% còn lại chỉ được quyết toán và chi trả sau khi kết thúc nhiệm kỳ
Số 30% tiền lương, thưởng còn lại được chi trả cho các HĐTV căn cứ vào quy chế quản lý tài chính của SCIC và quy chế giám sát đánh giá đối với các thành viên của HĐTV do Bộ Tài chính ban hành Nếu không đáp ứng được quy chế quản lý tài chính thì họ không được nhận số 30% tiền lương còn lại hàng tháng và 30% thưởng còn lại của nhiệm kỳ